Home » Hội PTVNTN » Tin Đức Quốc tháng 09.2020

Tin Đức Quốc tháng 09.2020

Mục Hội PTVNTN

Thứ ba ngày 22.09.2020
Điều gì xảy ra trong não khi ngủ.

Giấc ngủ (Schlafen) đôi phần (zum Teil) vẫn còn (immer noch) là một bí ẩn (Mysterium). Vì sao nó quan trọng đến nổi (so wichtig) chúng ta phần lớn (großer Teil) dành nhiều (verbringen) thì giờ cho nó? Những nhà nghiên cứu (Forscher) Hoa Kỳ nay đã tiếp cận (sich nähern) với thắc mắc (Frage) này.

Khoảng (etwa) một phần ba (Drittel) cuộc sống (Leben) được con người dành cho sự ngủ nghỉ. Ngủ quá ít (zu wenig Nachtruhe) lâu dài (dauerhaft) không chỉ ảnh hưởng (trüben) đến tâm thái (Stimmung) mà còn có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng (ernsthaft Folge) cho sức khỏe (Gesundheit).

Hầu như (kaum) cho đến nay (bislang) vẫn chưa được giải thích rõ (geklärt) vì sao chúng ta thật sự (eigentlich) cần (brauchen) ngủ thường xuyên (regelmäßig). Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ nay đã tìm hiểu được tận gốc (auf den Grund) của vấn đề. Kết luận (Fazit) của họ trên tạp chí chuyên khoa (Fachblatt) „Science Advanses“ như sau: Trong khi (während) giấc ngủ quan trọng (wichtig) đối với quá trình học tập (Lernprozess) của não trong thời niên thiếu (frühe Kindheit), nhưng việc sửa chửa (Reparatur) của nó sau này (später) mới được quan tâm đến (im Fokus).

Chuột (Mause) ngủ lâu hơn (länger) voi (Elefant) gấp năm lần (fünfmal), trẻ sơ sinh (Baby) cần ngủ nhiều hơn (mehr Schlaf) người lớn (Erwachsene) và cá heo (Delfinen) và chim di (Zugvogel) chỉ (immer nur) ngủ có một nửa não (Hirnhälfte) và thay đổi luân phiên (abwechselnd), trong khi nửa não kia thức (wachen).

Tất cả mỗi hiện tượng (Phänomene) này đều là những bí ẩn đối với khoa học (Wissenschaft) đôi phần (teilweise) vẫn còn là một bí ẩn (Rätsel).

1) Những hậu quả (Folge) của việc mất ngủ (Schlafentzug).
Rõ ràng (klar) rằng giấc ngủ là điều cần thiết cho việc sống còn (überlebenswichtig): Điều này ít ra (spätesten) đã được xác minh (belegen) qua thí nghiệm (Experiment) của nhà nghiên cứu giấc ngủ (Schlafforscher) Allan Rechtschaffen trong những thập niên 80 đã cho thấy (zeigen) rằng, những con chuột bị ngăn cản (abhalten) không có sự yên nghỉ (Ruhe) lâu dài (dauerhaft) sẽ chết (sterben) sau vài tuần.

Những người mất ngủ ngắn hạn (kurzfristiger Schlafentzug) có nguy cơ (drohen) giảm tốc độ phản ứng (verringerte Reaktionsgeschwindigkeit) và khó tập trung (Konzentrationsproblem), trong khi (während) giấc ngủ có vấn đề mãn tính (chronisches Schlafproblem) liên quan đến trầm cảm (Depression), béo phì (Übergewicht), những bệnh tuần hoàn tim-mạch (Herz-Kreislauf- Erkrankung) và hệ miễn dịch bị suy yếu (geschwächtes Immunsystem).

Điều quan trọng hơn (wichtiger) là câu hỏi rằng, giấc ngủ thật sự (eigentlich) đáp ứng (erfüllen) những chức năng (Funktion) nào. Các nhà khoa học (Wissenschaftler) của đại học (Universität) tại Texas và Kalifornien cũng như Viện (Institut) Santa Fe của nhà toán học Junyu Cao nay đã thực hiện (vornehmen) một phân tích thống kê (statistisches Analyse) gồm những dữ liệu (Daten) của hơn (mehr als) 60 khảo sát giấc ngủ liên quan đến con người lẫn động vật có vú (Säugetiere). Họ đã đánh giá (auswerten) những dữ liệu liên quan đến tổng thời gian ngủ (Gesamtschlafdauer), thời gian trong các giai đoạn khác nhau của giấc ngủ (Schlafphase) cũng như (sowie) kích thước não (Gehirngröße) và chiều cao (Köpergröße).

2) Chức năng (Funktion) ngủ đêm (Nachtruhe) của trẻ sơ sinh.
Đội ngũ (Team) gồm có (bestehend aus) những nhà thần kinh học (Neurologe), nhà sinh học (Biologe) và nhà thống kê (Statistiker) từ đó (daraus) đã phát minh (entwickeln) một mô hình (Modell) giải thích (erklären) vì sao thời gian ngủ (Schlafzeit) giữa các loài khác nhau càng giảm (verringern) khi não (Gehirn) của chúng càng lớn hơn (größer).

Các nhà nghiên cứu đã xác định (identifizieren) một điểm (Punkt) xảy ra (eintreten) ở con người trong độ tuổi 2,4 năm và kể từ đó chức năng của sự ngủ đêm thay đổi (sich verändern) rất cơ bản (fundamental): Từ việc tái tổ chức (Reorganisation) đến việc sửa chữa (Reparatur). Điều này phù hợp (passen) với những kết quả (Ergebnis) của các khảo sát trước đây (frühere Studien) đã xác minh nhiều sự chuyển tiếp quan trọng (wichtige Übergang) trong sự phát triển não (Gehirnentwicklung) ở trẻ em (Kinder) giữa (zwischen) hai (zwei) đến ba (drei) tuổi.

Đến độ tuổi này, não hộ (Hirn) phát triển (wachsen) rất nhanh (rasant). Trong giấc ngủ REM, được đặc trưng (kennzeichnen) của những chuyển động nhanh của mắt (rasche Augenbewegung, gọi là Rapid Eye Movement) và những giấc mơ (Träume) thì não bộ làm việc (beschäftigen) để thành hình (bilden) và làm tăng (stärken) các khớp kết nối thần kinh (Synapsen).

Đây là từng cấu trúc (Struktur) kết nối (verbinden) những tế bào thần kinh (Nervenzellen) và để chúng đàm thoại (kommunizieren) với nhau (miteinander). „Vì thề, không nên đánh thức (wecken) trẻ sơ sinh trong giấc ngủ REM, vì một công việc quan trọng (wichtige Arbeit) đang diễn ra (passieren) trong não của chúng khi chúng đang thiếp (schlummern)“, nhà sinh vật học và đồng tác giả (Koautorin) Gina Poe bình luân (kommentieren) trong một thông báo đã công bố (veröffentliche Mitteilung) của sự khảo sát.

3) Bảo trì (Wartung) và sửa chữa (Reparatur) bộ não.
Tuy nhiên (allerdings), sau khoảng 2,4 năm, mục đích chính (Hauptziel) của giấc ngủ đã tự thay đổi và rất nhanh (rapid). Thay vì xây dựn (aufbauen) những khớp kết nối thần kinh (Synapsen) thì kể từ lúc đó cho đến hết cuộc đời (den rest des Lebens) nó chủ yếu (hauptsächlich) quan tâm đến việc bảo trì và sửa chửa não.

Vì trên thật tế (tatsächlich), một sự tổn thương thần kinh nào đó (gewisse neurologische Schädigung) của não bộ trong giờ thức giấc (Wachstunde) của con người và thú đều bình thường (normal). Giấc ngủ giúp (helfen) sửa chữa những thiệt hại (Schäden) như vậy – ví như những đường ngầm tàu điện (U-Bahnen) được bảo trì và sửa chữa vào ban đêm (nachts) để không cản trở (behindern) sự lưu thông (Verkehr) ban ngày (tagsüber), theo giải thích của nhà vật lý lý thuyết (theoretischer Physiker) cùng đồng tác giả Geoffrey West.

Từng công việc bảo trì (Wartungsarbeit) chủ yếu chỉ được diễn ra trong giấc ngủ KHÔNG-REM (Nicht-REM-Schlaf). Tương ưng như thế (entsprechend), tỷ lệ của nó tăng (zunehmen) từ 2,4 tuổi ở người, trong khi thời gian ngủ nói chung (insgesamt) giảm đi (abnehmen).

Như vậy, trẻ sơ sinh (Neugeborene) dành khoảng 50 phần trăm giấc ngủ của chúng trong giai đoạn REM, trong khi số tuổi từ mười (zehn) chỉ còn 25 phần trăm và ở người trên 50 tuổi cuối cùng (schließlich) chỉ còn 15 phần trăm.

„Cho nên giấc ngủ cũng quan trọng như thức ăn (Nahrung)“, nữ sinh học Poe tóm tắt (zusammenfassen). „Và điều thật ngạc nhiên (erstaunlich) rằng giấc ngủ tương ứng tốt đối với những nhu cầu (Bedürfnisse) cho hệ thần kinh (Nervensystem) của con người. Từ con sứa biển (Quallen) đến con chim (Vogel) cho đến loài cá voi (Walen) cũng phải cần giấc ngủ. Trong lúc chúng ta ngủ thì bô não của chúng ta không nghỉ ngơi (sich ausruhen).“

Tin © dpa-infocom, dpa:200921-99-647710/2, hình Malte Christians/dpa ©

Chủ nhật ngày 20.09.2020
Người xếp có được phép kiểm soát giờ làm việc tại nhà hay không?

Khi công nhân (Beschäftigte) làm việc (arbeiten) mỗi ngày (jeder Tag) trong công ty (Betrieb) thì thủ lãnh (Vorgesetzte) của họ có thể dễ (leicht) thấy được (sehen) ai đến (kommen) và đi (gehen) lúc nào (wann). Vậy người xếp (Chef) có được phép tra hỏi (abfragen) những giờ làm việc (Arbeitszeit) khi tất cả làm việc tại nhà (Homeoffice) hay không?

„Chào buổi sáng“ (Guten Morgen) – „Nghỉ giải lao một tí“ (Kurze Pause) – „Tôi hết giờ làm việc“ (Bin im Feierabend): Những câu tương tự (ähnlich) hiện giờ (derzeit) được thấy trong nhiều cuộc đối thoại trực tuyến của các công ty (Unternehmenschat) khi nhân viên báo cáo có mặt (anmelden) hay báo cáo vắng mặt (abmelden). Ai cũng phải cùng thực hiện (mitmachen) điều này hay không?

Theo ông Johannes Schipp, luật sư chuyên (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Gütersloh „về nguyên tắc (prinzipiell) thì chủ nhân (Arbeitgeber) có quyền (Anspruch) biết (erfahren) một công nhân (Arbeitgeber) làm việc từ lúc nào đến lúc nào (von wann bis wann)“. Và giờ làm việc tại nhà cũng không ngoại lệ (nicht entgrenzen): Nghĩa là, trên nguyên tắc (in der Regel) nhân viên không thể đơn giản (einfach) làm việc bất kỳ lúc nào phù hợp nhất (am bestens) đối với họ. „Theo ông Schipp, „Những công nhân cũng phải tuân theo (binden) giờ làm việc bình thường như ở công ty (betriebsübliche Zeiten) khi họ làm việc tại nhà.“

Khi chủ nhân muốn biết (wissen) nhân viên bắt đầu (beginnen) làm việc lúc nào và nghỉ việc (Feierabend machen) lúc nào thì họ hoàn toàn được phép đòi hỏi (verlangen) những công nhân thông báo điều này mỗi lần (jeweils) qua E-Mail hoặc qua đối thoại (kommunizieren) trực tuyến nội bộ của công ty (unternehmensinterner Chat).

Tuy nhiên, nếu một công ty (Unternehmen) có một hội đồng lao động (Betriebsrat) thì chủ nhân phải được sự chấp thuận (Zustimmung einholen) của hội đồng này về những điều kiện kỹ thuật (technische Vorgaben) như vậy của họ. Trong trường hợp có nghi ngờ (im Zweifel) thì những quy tắc chính xác (genaue Regel) phải được quy định (festhalten) trong một thỏa thuận của công ty (Betriebsvereinbarung).

„Ngoài ra (daneben), điểm thứ ba (dritter Punkt) cũng đóng một vai trò (Rolle) quan trọng (wichtig)“, ông Schipp bổ túc (ergänzen). Tòa Án Tối Cao Châu Âu (Europäisches Gerichtshof) đã quyết định trong năm 2019 rằng, những giờ làm việc thật sự (eigentlich) phải được kiểm soát (Kontrollieren) bằng những quy định kỹ thuật.

„Có những quy định về việc phòng hộ lao động (Arbeitsschutzbestimmung) và chúng cũng có thể được kiểm tra (überprüfbar), vì lẽ điều này cũng có thể phòng vệ (Schutz) chống lại việc tự lạm dụng (Selbstausbeutung)“, theo vị luật sư (Anwalt).

Trong nước Đức vẫn chưa có quyết định (entscheiden) cchung quyết (final) nào, liệu quyết định (Entscheidung) của EU có nên được thực hiện (umsetzen) dưới hình thức (in Form) như một luật riêng (eigenes Gesetz) hay không. Theo ông Schipp, tuy nhiên điều này có dấu hiệu cho thấy cần có một dự thào luật (Gesetzentwurf) về việc ghi chép giờ giấc(Zeiterfassung) làm việc. „Và điều này cũng áp dụng cho công việc làm tại nhà“, theo ông Schipp.

Tin© dpa-infocom, dpa:200911-99-521420/2, hình Zacharie Scheurer/dpa-tmn ©

Thứ bảy ngày 19.09.2020
Những phương pháp chữa bệnh bổ sung không phải lúc nào cũng được khấu trừ thuế.

Chi phí cho tật bệnh (Krankheitskosten) có thể khai thuế (steuerlich absetzen). Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào (nicht immer) cũng cho các phương pháp chữa bệnh bổ sung (alternative Heilmethode). Trong những điều kiện nhất định nào đó (unter gewisse Vorrausetzung) thì nó có thể được khấu trừ vào thuế thu nhập (Einkommensteuer).

Những chi phí cho tật bệnh do bệnh nhân (Patient) tự thanh toán (aus eigener Tasche bezahlen) có thể khai báo (geltend machen) trong mẫu khai thuế thu nhập (Einkommensteuererklärung) như là một gánh nặng bất thường (außergewöhnliche Belastung).

Bà Isabel Klocke thuộc Hiệp Hội Người Đóng Thuế (Bund der Steuerzahler) giải thích (erläutern) rằng: „Nếu liên quan đến những chi phí (Ausgaben) cho các phương pháp chữa bệnh không được khoa học công nhận (wissenschaftliche nicht anerkannte Heilmethode) thì cần (erforderlich) phải có sự giám định y tế chức năng (amtsärztliche Gutachten) hoặc chứng nhận (Bescheinigung) của dịch vụ y tế (medizinischer Dienst) thuộc công ty bảo hiểm sức khỏe (Krankenkasse) cấp (ausstellen) trước khi (vor) bắt đầu (Beginn) việc trị liệu (Therapie)“. Điều này được xác nhận (bestätigen) qua một phán quyết mới nhất (aktuelles Urteil) của Tòa Án Tài Chánh (Finanzgericht) tiểu bang (Bundesland) Niedersachsen – hồ sơ thụ lý: Az.: 9 K 182/19.

Trường hợp (Fall) cậu con trai (Sohn) của nguyên đơn (Kläger) mắc chứng bệnh quá mẫn cảm (krabkhafte Überempfindlichkeit) đối với âm thanh (Schall). Theo gợi ý (Vorschlag) của bác sĩ điều trị tai-mũi-họng (HNO-Arzt), các nguyên đơn đã cho con trai thực hiện (durchführen) thính giác trị liệu (Hörtherapie) theo phương pháp (Methode) Tomatis. Đây là phương pháp lắng nghe và nghe (Horch- und Hörtherapie) do một bác sĩ người Pháp tên Alfred Tomatis phát minh (entwickeln).

Thật tế, bác sĩ tai-mũi-họng đã xác nhận sự thành công (Erfolg) ca điều trị, nhưng công ty bảo hiểm sức khỏe không chịu chi trả (übernehmen) số chi phí (Kosten). Vì vậy (daher) phụ huynh (Eltern) của bé đã khai báo số tiền gần (gut) 4.000 Euro trong tờ khai thuế thu nhập như là một gánh nặng bất thường.

Tuy nhiên (allerdings) vụ kiện (Klage) vẫn không thành công (ohne Erfolg). Theo quan điểm (Auffassung) của Tòa Án Tài Chánh tiểu bang Niedersachsen thì việc trị liệu có liên quan đến một phương pháp chữa bệnh không được khoa học công nhận. Do đó, những chi phí đó phải được xác định (feststellen) bởi một giám định y tế chức năng hoặc có giấy chứng nhận của dịch vụ y tế của một công ty bảo hiểm. Nguyên đơn đã thiếu (fehlen) các bằng chứng (Nachweis) này.

Vì vậy, những bệnh nhân lên kế hoạch (planen) cho một việc chữa bệnh tốn kém nhiều chí phí (kostenintensive Heilbehandlung) hãy nhớ (denken) rằng, trước khi bắt đầu điều trị nên xin cấp một giám định phù hợp (entsprechendes Gutachten) hoặc giấy chứng nhận.

Điều này được áp dụng theo pháp lệnh thực thi thuế thu nhập (Einkommensteuer – Durchführungsordnung) và cũng có giá trị cho những phương pháp điều trị tế bào tươi hoặc khô (Frisch- und Trockenzellenbehandlung) hoặc liệu pháp ứng dụng máu tự thân (Eigenblutbehandlung).

Theo bà Klocke: „Việc trả thêm tiền (Zuzahlung) thuốc (Medikament), răng giả (Zahnersatz) hay mắt kính (Brillen) ngược lại (hingegen) chỉ cần bác sĩ kê đơn (ärztliche Verordnung)“. Trường hợp làm thêm một cặp kính (Folgebrillen) nữa thì tòa án tài chánh thậm chí (sogar) công nhận (anerkennen) giấy xác nhận (Bestätigung) của chuyên gia nhãn khoa (Optiker).

Tin © dpa-infocom, dpa:200915-99-574750/3, hình Frank Rumpenhorst/dpa ©

Thứ sáu ngày 18.09.2020
Lao động ngắn có hậu quả với lương hưu của công ty.

7Lao động ngắn (Kurzarbeit) có nhiều hậu quả (Folge) đối với tiền hưu trí sau này của công ty (spätere Betriebsrente). Những người có đủ khả năng (sich leisten) nên tiếp tục trả (weiterzahlen) những khoản đóng tiền hưu trí (Rentenbeitrag). Nếu không (sonst) sẽ có nguy cơ (drohen) thiếu hụt tiền hưu trí (Versorgungslücke).

Lao động ngắn được chỉ định (angeordnet) hoặc được thỏa thuận (vereinbart) không chỉ (nicht nur) ảnh hưởng (auswirken) đến mức lương ròng (Nettogehalt), mà (sondern) còn ảnh hưởng đến mức (Höhe) tài chánh sau này (spätere Leistung) từ chế độ lương hưu của công ty (betriebliche Altersvorsorge).

„Trên nguyên tắc (in der Regel), chế độ tiền hưu trí được hứa hẹn (zugesagte Versorgungsleistung) tùy thuộc (abhängen) vào mức lương hiện đang có (aktuelle Vergütung)“, ông Erich Nöll, quản đốc (Geschäftsführer) và luật sư (Rechtsanwalt) thuộc Hiệp Hội Giúp Khai Thuế Đức (Bundesverband Lohnsteuerhilfevereine) tại Berlin giải thích (erklären).

Điều đó có nghĩa rằng (bedeuten): Do mức lương thấp hơn nên khoản tiền hưu trí (Versorgungsanwartschaft) cũng giảm theo (sich reduzieren). Bởi vì (denn) trợ cấp cho công nhân lao động ngắn (Kurzarbeitergeld) là khoản tiền lương thay thế miễn đóng bảo hiểm xã hội và thuế (sozialversicherungs- und lohnsteuerfreie Lohnersatzleistung) không được xem (nicht zählen) như là cơ sở (Basis) tính cho khoản tiền hưu trí của công ty sau này. Điều tương tự (Gleiches), cũng được áp dụng (gelten) về nguyên tắc (grundsätzlich) cũng đối với trợ cấp miễn thuế cho chủ nhân (steuerfreie Arbeitgeberzuschuss) đối với trợ cấp lao động ngắn.

Ông Nöll khuyên (raten) rằng: „Nếu tiền hưu trí của công ty cũng được tài trợ (finanzieren) bằng cách (im Wege) chuyển đổi tiền lương (Entgeltumwandlung) thì cần phải cứu xét (prüfen) xem liệu khoản chuyển đổi (Umwandlungsbetrag) đó là một phần trăm (ein Prozentsatz) tiền lương hoặc là một khoản tiều Euro cố định (fester Eurobetrag)“. Khi khoản chuyên đổi là một phần trăm tiền lương thì khoản chuyển đổi tự động (automatisch) giảm đi (sinken) khi lao động ngắn (Kurzarbeit)

Ngược lại (dagegen), khoản chuyển đổi là một số tiền Euro cố định thì người lao động (Arbeitnehmer) cũng có thể hạ (herabsetzen) khoản chuyển đổi trong thời gian (während) lao động ngắn hoặc thậm chí (sogar) hoàn toàn (ganz) ngưng hẳn (aussetzen). Tuy nhiên, người lao động phải tự năng động (selbst aktiv) cho việc này.

„Ông Nöll giải thích thêm rằng: „Điều này chỉ có ý nghĩa (nur sinnvoll) khi người lao động không thể tự trang trải (sich leisten) những chi phí (Ausgaben) này vì lao động ngắn hoặc hiên giờ họ không có mức lương thích ứng (entsprechendes Gehalt), vì trợ cấp lao động ngắn không thể chuyển đổi (umwandeln) được.“

Những người bị ảnh hưởng (Betroffene) nên theo dõi (im Blick behalten) các ảnh hưởng (Auswirkung) của việc lao động ngắn liên quan đến quyền lợi về tiền hưu trí của công ty và nếu cần thiết (gegebenenfalls) phải quân bình (ausgleichen) nó, để sau này (später) không sinh ra những thiếu hụt của tiền hưu trí (Versorgungslücke).

Tin © dpa-infocom, dpa:200917-99-599374/2, hình Karolin Krämer/dpa-tmn ©

Thứ năm ngày 17.09.2020
Corona: Nguy cơ nhiễm trùng khi hiến máu lớn như thế nào?

Việc số lượng người hiến máu (Blutspender) trong mùa hẻ (Sommer) giảm xuống (zurückgehen) không có gì mới lạ (nicht neu). Nhưng Corona khiến (machen) cho tình hình (Lage) còn khó khăn hơn (noch schwieriger). Nhiều người lo lắng (Sorge) về việc có thể bị lây nhiễm (sich infizieren) lúc hiến máu. Như vậy, nguy cơ lây nhiễm (Ansteckungsgefahr) thật sự (wirklich) cao như thế nào (wie hoch)?

Những nhà y khoa truyền máu (Transfusionsmediziner) cảnh báo (warnen) trước sự tắc nghẽn khả thi (mögliche Engpässe) của những sản phẩm máu (Blutprodukt) trong đại dịch (Pandemie) Corona. Việc hiến máu đã giảm xuống ngay (bereits) từ lúc bắt đầu (Beginn) đại dịch, theo báo cáo (Bericht) của Tổ Chức Đức Về Y Khoa Truyền Máu và Miễn Dịch Học (Deutsche Gesellschaft für Transfusionsmedizin und Immunhämatologie, viết tắt là DGTI).

Nhiều người muốn hiến (Spender) lo sợ trước sự lây nhiễm nên lánh xa (fernbleiben), theo ông Hermann Eichler, chủ tịch (Vorsitzender) tổ chức DGTI. Ngoài ra (zugleich) nhiều sản phẩm máu chỉ có thời gian sử dụng (haltbar) rất hạn chế (sehr begrenzt), đôi khi (teils) chỉ (nur) vài ngày (einige Tage).

„Trong bối cảnh (Hintergrund) như vậy, điều quan trọng (wichtig) là chúng ta có thể bổ sung (auffüllen) kho dự trữ (Lager) thường xuyên (regelmäßig) bằng nguồn máu mới hiến để đáp ứng nhu cầu (Bedarf decken)“, ông Eichler nói. Mặt khác, số người hiến máu đang giảm xuống trong mùa hè. Và việc hiến máu không gây ra nguy cơ lây nhiễm (Infektionsgefahr).

Những dịch vụ hiến máu (Blutspendedienst) đã nâng cao (erhöhen) hơn các tiêu chuẩn vệ sinh (Hygienestandard) vốn đã nghiêm ngặt (streng). Các bệnh nhân ngược lại không cần phải lo lắng điều gì về việc bị lây nhiễm vi khuẩn Corona cả. „Cho đến nay chưa có trường hợp nào (Fall) được biết (bekannt) rằng, vi khuẩn Corona được truyền qua máu được hiến.“

Nhìn về (mit Blick) việc điều trị (Behandlung) những bệnh nhân Corona (Coronakranken), vị chủ tịch hội nghị (Tagungspräsident) Hubert Schrezenmeier nói rằng: Việc truyền (verabreichen) huyết tương (Immunplasma) của những người đã bình phục (Genesene) đã được chứng minh (sich erweisen) có triển vọng (aussichtsreich).

„Đã có những báo cáo đầy hứa hẹn (vielversprechend)“, vị chủ tịch thứ hai (zweiter Vorsitzender) của tổ chức DGTI nói. Nhiều người đã bình phục sẳn sàng (bereit) hiến máu để giúp (helfen) những người đang bệnh nặng (schwer Erkrankte). Tuy nhiên (allerdings), ở điểm này (hier) vẫn chưa có những tiêu chí chính xác (genaue Kriterien) để có thể phê duyệt (zulassen) cho tất cả mọi người.

Một sự miễn dịch thụ động (passive Immunisierung) qua huyết tương (Plasma) với kháng thể chống vi khuẩn (antivirale Antikörper) đã được áp dụng (einsetzen) ở những bệnh nhiễm vi khuẩn khác, chẳng hạn (etwa) ở Sars, Mers hoặc cúm (Infuenza).

Nhiều công trình khảo sát (Studie) cho thấy có nhiều dấu hiệu (Hinweise) về việc giảm (Reduktion) tải lượng (Last) vi khuẩn, việc rút ngắn (Verkürzung) thời gian nằm viện (Klinikaufenthalt) và giảm tỷ lệ tử vong (geringe Sterblichkeit).

Tuy nhiên, tác dụng (Wirkung) vẫn chưa được chứng minh (belegen) một cách thuyết phục (abschließend), vì lẽ chưa có một sự khảo sát ngẫu nhiên nào (randomisierte Studie) với những được nhóm kiểm tra (Kontrollgruppe).

Tin © dpa-infocom, dpa:200915-99-566935/4, hình Bernd Wüstneck/dpa-Zentralbild/dpa ©

Thứ tư ngày 16.09.2020
Những nhà tâm lý trị liệu nghi ngờ việc sử dụng vài ứng dụng sức khỏe trên mạng.

Người nào bị (leiden) những vấn đề tâm lý (psychisches Problem) thường chờ đợi rất lâu (oft lange) mới có một chỗ điều trị (Therapieplatz). Vậy những cung cấp kỹ thuật số (digitales Angebot) có thể lấp được (schließen) những chỗ trống (Lücke) này hay không? Các chuyên gia tâm lý trị liệu (Psychotherapeut) cảnh báo (warnen) sự lầm lẫn (Irreführung).

Phòng Tâm Lý Trị Liệu Tiểu Bang (Landespsychotherapeutenkammer) tiểu bang Rheinland-Pfalz cũng đã cảnh báo mọi người không nên kỳ vọng quá nhiều (hohe Erwartung) vào các chương trình và ứng dụng sức khỏe kỹ thuật số (Gesundheits-Apps und – Programme). „Phẩm chất (Qualität) của nó còn phải được cứu xét (prüfen) xem nó có tiến bộ hay chỉ gây làm lẫn“, theo nữ chủ tịch (Präsidentin) đại diện thường trực (Standesvertretung), bà Sabine Maur.

„Một ứng dụng (App) chỉ cần „nhấp chuột“ (per Mausklick) giúp (helfen) chống (gegen) bệnh trầm cảm (Depression) là một điều mơ hồ (Zweifel) đối với những người đang bị tâm lý đè nén (psychisch belastete Menschen) muốn tìm sự hỗ trợ (Hilfe suchen).

Kể từ tháng chín (September) đã có hàng loạt (Reihe) ứng dụng mới cho việc trị liệu (Therapie) những bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) và cũng có vài ứng dụng được phép kê đơn thuốc (verschreiben), bà nói.

Bởi vì (denn), „theo nguyên tắc (in der Regel) những cung cấp kỹ thuật số cho việc tự trợ giúp (digitales Selbsthilfe-Angebot) không thể có (ohne) sự tiếp xúc liên hệ trực tiếp (direkte Kontakt) với các nhà tâm lý trị liệu“, theo bà Mauer. Và, „khi một ai đó bị thất bại (scheitern) việc sử dụng ứng dụng như vậy cho bệnh trầm cảm của họ thì căn bệnh trầm cảm càng tồi tệ hơn (noch schlimmer) trước.“

Cho nên cần phải rất thận trọng (Vorsicht) đối với những cung cấp „trị liệu trực tuyến“ (Onlinetherapie). Bởi vì những quảng cáo gây nhầm lẫn như vậy (irreführende Werbung) có ẩn ý (schüren) một sự hứa hẹn nào đó, nhưng không cung cấp (bieten) ví dụ một cú điện đàm (Telefonat) với một chuyên gia tâm lý (Psychologe) – chứ không phải là một chuyên gia tâm lý trị liệu.

Nhiều ứng dụng được đề nghị (empfohlene Apps) hiện nay (jetzt) đã có tỷ lệ chững lại cao (hohe Abbruchrate), nữ quản đốc (Geschäftsführerin) Petra Regelin bổ sung (ergänzen). „Nó không thể thành công được (sich durchsetzen), vì lẽ nó thiếu (fehlen) mối liên hệ mật thiết (Bindung) giữa con người với nhau. Nó có thể khả quan hơn, khi chuyên gia tâm lý trị liệu kết hợp những dữ liệu (Daten) của nó. Nhưng vấn đề chăm sóc (Versorgungsproblem) trực tiếp từ những chuyên gia tâm ly trị liệu cũng không thể được giải quyết bằng cách này.“

Bà Mauer khẳng định (betonen) rằng: Mấu chốt của sự việc có liên quan đến những người mắc bệnh tâm lý chứ không phải ở ứng dụng kỹ thuật số. Cũng như ở những tật bệnh sinh-vật lý (körperliche Erkrankung) người ta cũng sẽ không thể nói rằng, những ứng dụng như thế có thể giải quyết (lösen) được tất cả, hà huống những bệnh tâm lý.“

Tin © dpa-infocom, dpa:200907-99-461925/2, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ ba ngày 15.09.2020
Chuyên gia vi khuẩn học Streeck: Đừng chỉ nhìn vào số lượng ca nhiễm trùng.

Đừng chỉ (nicht nur) nhìn (schauen) vào những con số nhiễm trùng thuần túy (reine Ansteckungszahl). Số người có kết quả xét nghiệm dương tính (positive getestete Menschen) trong nước Đức và châu Âu thật sự (zwar) đang gia tăng (ansteigen), nhưng (doch) hầu như (kaum) đồng thời (gleichzeitig) không có người nào từ trần (sterben). Ông hendrik Streeck, chuyên gia vi khuẩn học (Virologe) kêu gọi (plädieren) nên thay đổi chiến lược (Strategiewechsel).

Ông Hendrik Streeck khuyến khích (anregen) một cuộc tranh luận (Debatte) về mức độ (Umfang) và thời gian (Dauer) về những hạn chế của nhà nước (staatliche Einschränkung) để ngăn chận (eindämmen) đại dịch (Pandemie) Corona. „Tôi kêu gọi nên có một sự thay đổi chiến lược“, vị giám đốc (Direktor) Viện (Institut) Vi Khuẩn Học và Nghiên Cứu (Forschung) HIV của đại học (Universität) Bonn nói với tờ „Welt am Sonntag“ (Thế Giới Ngày Chủ Nhật).

„Chúng ta không được phép giới hạn mình (sich beschränken) khi đánh giá (Bewertung) tình hình (Situation) không chỉ riêng ở những con số lây nhiễm đơn thuần (reine Infektionszahl)“, ông nói.

Thật ra, số người xét nghiệm dương tính trong nước Đức và châu Âu tăng đáng kể (signifikant). „Đồng thời chúng ta hầu như không thấy có sự gia tăng số tử vong (Todeszahl).“

Nhà khoa học (Wissenschaftler) nói thêm (ergänzen) rằng, nhìn (betrachten) từ góc độ xã hội (gesellschaftlich) thì sự nhiễm trùng không có triệu chứng không hẳn là xấu (nicht zwangsweise schlimm). „Càng nhiều người (je mehr) bị nhiễm (sich infizieren) và không có triệu chứng (Symptome) thí ít ra (zumindest) họ có khả năng miễn dịch (immun) trong một khoảng thời gian ngắn (kurzer Zeitraum). Họ không còn có thể đóng góp gì (nicht mehr beitragen) cho những sự kiện đại dịch (pandemisches Geschehen) nữa.“ Ông Streeck đã nói rằng, người ta không thể „để cuộc sống (Leben) bị tạm ngưng nghỉ (pausieren“.

Tin © dpa-infocom, dpa:200913-99-539917/2, hình  -/NIAID-RML/AP/dpa ©

Thứ hai ngày 14.09.2020
WHO: Cần giải thích rõ ràng về chứng bệnh nhiễm trùng Sepsis.

Sepsis là tình trạng viêm chung (generalisierte Entzündung) một tạng (Organismus) do (durch) sự xâm nhập (Eindringen) của vi trùng (Bakterien) và độc tố (Toxin) hoặc (oder) nấm (Pilze) của chúng đi vào sự tuần hoàn máu (Blutkreislauf); gọi là nhiễm độc máu (Blutvergiftung).

Không chỉ (nicht nur) là một sự nhiễm trùng máu (Blutinfektion), mà (sondern) tiêu chảy (Durchfall) hoặc một chứng bệnh phổi (Lungenerkrankung) cũng có thể dẫn đến (führen) nhiễm trùng máu (Blutvergiftung, Sepsis).

Nếu trường hợp (Fall) này xảy ra (auftreten) thì tình huống sẽ trở nên nghiêm trọng (ernst) hơn cho bệnh nhân (Patient). Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) yêu cầu (fordern) vì thế (daher) cần phải có nhiều (mehr) biện pháp phòng ngừa (vorbeugende Maßnahme).

Theo tổ chức WHO, hàng năm (jedes Jahr) trên toàn cầu (weltweit) có khoảng (rund) mười một (elf) triệu người mắc bệnh (Sepsis), trong số này (darunter) gần (fast) ba (drei) triệu trẻ em. Vì thế cho nên việc cấp bách (dringend) là cải thiện (verbessern) kiến thức (Kenntnisse) về các biện pháp phòng ngừa cũng như (sowie) những dữ liệu cơ sở (Datenbasis) về phản ứng miễn dịch có nguy cơ (gefährliche Immunreaktion) này nói chung (generell), tổ chức (Organisation) UN lên tiếng về điều này trong một báo cáo (Bericht).

Ngoài ra (dazu) cần có sự đào tạo tốt hơn (bessere Ausbildung) cho những nhân viên trong ngành y tế (Gesundheitswesen) để họ có thể nhận biết (erkennen) nhanh chóng hơn (schneller) sự lây nhiễm (Infektion) dẫn đến chứng Sepsis. Hội chứng (Syndrom) này trước đây (früher) được biết đến (bekannt) một cách đơn giản (vereinfachend) là nhiễm độc máu sinh ra (entstehen) ở nhiều trường hợp trong bệnh viện (Krankenhaus).

Sepsis không chỉ gây ra (auslösen) một sự nhiễm trùng máu, mà cũng thường bởi tiêu chảy, những căn bệnh phổi hoặc những bệnh nhiệt đới (Tropenkrankheit). Khi hệ thống miễn dịch (Immunsystem) phản ứng quá mức (überreagieren) thì điều này có thể dẫn đến suy đa tạng (multiples Organversagen) và như vậy có thể dễ dàng đưa đến sự tử vong (zum Tod führen).

Theo tổ chức WHO, bất kỳ ai bị nhiễm Covid-19 dạng xấu (schlimme Form) đều có nguy cơ cao (höheres Risiko) bị nhiễm trùng máu. Ngay cả những người (selbst) sống sót sau đó (überstehen) cũng phải tính đến (rechnen) những hậu quả suốt đời (lebenslange Folgen).

Tin dpa © dpa-infocom, dpa:200910-99-508966/2, hình Marcel Kusch/dpa ©

Chủ nhật ngày 13.09.2020  
Corona làm tăng nguy cơ sinh non.

Các chuyên gia (Expert) đã khám nghiệm (untersuchen) để tìm hiểu xem những ảnh hưởng (Auswirkung) nào từ Corona có thể gây cho phụ nữ mang thai (Schwangere). Theo đó (demnach), họ hiếm khi bị sốt (seltener Fieber) khi bị nhiễm (Infektion) – nhưng (aber) lại sinh non (Frühgeburt) nhiều hơn (öfter). Điều này xảy ra như thế nào?

Những triệu chứng (Symptom) khác và tăng nguy cơ sinh non, theo các chuyên gia đã khám nghiệm là những hậu quả khả thi (mögliche Folge) có thể xảy ra ở phụ nữ mang thai khi họ bị nhiễm Corona.

Như vậy, việc sinh non (verfrühte Geburt) có khả năng nhiều hơn (wahrscheinlicher) ở những phụ nữ mang thai, mặc dù tỷ lệ (Rate) sinh non tự phát (spontane Frühgeburt) hầu như (kaum) cao hơn (höher) – nghĩa là có sự tự chuyển dạ (selbst einsetzende Wehen) của người mẹ.

1) VIỆC MANG THAI VÀ SINH CON TRƯỚC ĐÂY.
Các nhà nghiên cứu (Forscher) giải thích (erläutern) trên tạp chí chuyên khoa (Fachzeitschrift) „BMJ“ rằng: Ở những phụ nữ mang thai bị nhiễm thường xảy ra việc tác động làm cho sinh sớm hoặc thai nhi (Säugling) được sinh sớm (früher holen) bằng cách sinh mổ (Kaiserschnitt). Có nhiều lý do (Grund) cho việc này.

Đây là một tình huống (Situation) không chỉ có thể (nicht nur) xảy ra (auftreten) khi bị nhiễm Sars-CoV-2, mà (sondern) cũng xảy ra ở các bệnh nhiễm trùng khác, theo giải thích của bà Susanne Modrow, nữ chuyên gia vi khuẩn học (Virologin) và ngoài ra còn nghiên cứu (forschen) về nhiễm Virus trong thời gian mang thai (Schwangerschaft). „Nhiễm trùng cấp tính (akute Infektion) thường đưa đến nguy cơ sinh non trong gia đoạn cuối (Spätphase) của thai kỳ.“

2) CÓ NHIỀU TRIỆU CHỨNG KHÁC NHAU.
Những nhà nghiên cứu nhóm bà Shakila Thangaratinam của Trung Tâm Hợp Tác với Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) về Sức Khỏe Phụ Nữ Toàn Cầu (WHO Collaborating Centre for Global Women’s Health) tại đại học Birmingham đã tổng hợp (zusammentragen) những kết quả (Ergebnisse) của tổng cộng (insgesamt) 77 công trình khảo sát (Studie).

Từ sự phân tích (Analyse) này cho thấy rằng, các triệu chứng như sốt (Fieber) và đau nhức cơ bắp (Muskelschmerzen) của những phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng so (im Vergleich) với những phụ nữ không mang thai bị nhiễm trùng xảy ra ít phổ biến hơn (nicht so häufig).

Điều này cũng có thể xảy ra, bởi những phụ nữ mang thai thường (meist) được xét nghiệm (testen) Coronavirus khi họ được đưa nhập (einweisen) viện (Klinik) – không phụ thuộc (unabhängig) vào việc họ có biểu hiện triệu chứng hay không. Ngược lại (hingegen) những phụ nữ không mang thai chỉ được xét nghiệm vì họ có triệu chứng.

Ông Christian Albring, chủ tịch (Präsident) Hiệp Hội Bác Sĩ Phụ Khoa (Berufsverband der Frauenärzte) giải thích rằng, những triệu chứng điển hình Covid-19 (typische Covid-19 Symptome) như sốt và đau nhức cơ bắp chủ yếu (vor allem) là do sự kích hoạt (Aktivierung) của hệ miễn dịch (Immunsystem) bởi vì nó tự đối kháng (sich auseinandersetzen) với những mầm bệnh (Krankheitserreger).

„Nhưng hệ miễn dịch của những phụ nữ mang thai bị suy giảm (herunterregulieren) để thai nhi không bị nhận ra (erkennen) như là vật lạ (Fremdkörper) và không dẫn đến (einleiten) một phản ứng đào thải (Abstoßungsreaktion).“ Điều này ó thể là một lý do gây ra không có hay thiếu (teilweise) nhiều triệu chứng khác ở những phụ nữ mang thai bị nhiễm trùng.

3) TRÁNH NHỮNG BIẾN CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ THÍCH HỢP.
Ngoài ra, theo sự nghiên cứu cho thấy những phụ nữ mang thai cần được (brauchen) thường xuyên được chăm sóc y tế chuyên sâu (intensivmedizinische Betreuung) hơn là những phụ nữ không mang thai bị nhiễm trùng.

Nữ chuyên gia vi khuẩn học Modrow cho biết thêm rằng: „Những phụ nữ mang thai hiện nay (jetzt) có nguy cơ đặc biệt (besonders gefährdet) so với những phụ nữ không mang thai – thì điều này vẫn còn có quá ít (noch zu wenig) dữ liệu đáng tin cậy (stichhaltige Daten) để có thể khảo sát thêm được.“

Tuy nhiên, có một điều rõ ràng (klar) đã được sự khảo sát trình bày (beschreiben) là, những biến chứng (Komplikation) cũng có thể phát sinh (entstehen) ở những bà mẹ có tiền bệnh (vorerkrankte Mütter) chẳng hạn như (etwa) bệnh béo phì (Übergewicht), cao huyết áp (Bluthochdruck) hoặc tiểu đường (Diabetes).

Có những sự khác biệt rõ ràng (klare Unterschiede) trong việc điều trị những bệnh nhân Covid-19 bị bệnh nặng (schwer Erkrankte Covid-19).

Theo bà Modrow, không được phép (nicht zulassen) điều trị kháng Virus (antivirale Behandlung) bằng thuốc (Medikament) Remsdevisir cho những phụ nữ mang thai.

Ngược lại, thuốc này được dùng cho trẻ vị thành niên (Jugendliche) và người lớn (Erwachsene) bị viêm phổi (Lungenentzündung) cần phải hô hấp bằng máy thở (beatmungspflichtig).

Do đó (daher) cần phải tránh (vermeiden) nhiễm trùng đặc biệt (insbesondere) trong lúc mang thai.

4) CORONA TRONG GIAI ĐOẠN THAI KỲ KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI LÀ MỐI QUAN NGẠI.
Cũng theo bà Modrow thì việc lây truyền (Übertragung) mầm bệnh cho thai nhi (Ungeborene) trong bụng mẹ (Mutterleib) „cực kỳ hiếm“ (extrem selten).

Nếu có thể xảy ra bất ngờ (unerwartet) thì điều này cũng không nhất thiết (nicht zwingend) phải đáng quan ngại (bedneklich).

„Cho đến nay (bisher), chưa có dấu hiệu (Hinweise) nào cho thấy rằng một tổn thương bẩm sinh (angeborene Schädigung) gây ra vấn đề suốt đời (lebenslange Problematik) xảy ra do (aufgrund) nhiễm Coronavirus.“

Một thông điệp tốt đẹp (gute Nachricht) khác của công trình khảo sát là: Số lượng (Anzahl) những thai chết khi sinh ra (Torgeburt) hoặc những trường hợp tử cong (Todesfall) ở trẻ sơ sinh (Neugeborene) không cao hơn (nicht höher) ở những phụ nữ mang thai bị nhiễm khuẩn.

Tin © dpa-infocom, dpa:200909-99-487177/3, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ bảy ngày 12.09.2020
Bệnh phong thấp thường có những bệnh lý kèm.

Ở bệnh phong thấp (Rheuma), hệ miễn dịch (Immunsystem) tấn công (angreifen) trực tiếp những mô của cơ thể (körpereigenes Gewebe). Thật tế (zwar), những chứng viêm mãn tính (chronische Entzündung) trước tiên (zuerst) thường (oft) có dấu hiệu ở cơ bắp (Muskel) và khớp (Gelenke) – nhưng chúng có thể lan rộng ra (übergreifen).

Nhiều dạng (Form) phong thấp cũng tự mang đến (sich bringen) những bệnh kèm (Begleiterkrankung). Trầm cảm (Depression), bệnh phổi (Lungenkrankheit) hoặc nhiều triệu chứng tuần hoàn tim-mạch (Herz-Kreislauf-Beschwerden) được nói đến, theo Hiệp Hội Đức về Phong Thấp Học (Deutsche Gesellschaft für Rheumatologie, viết tắt là DGRh) giải thích.

Khoảng 80 phần trăm bệnh nhân (Patient) mắc bệnh „phong thấp khớp cổ điển“ (klassisches Gelenkrheuma) sau đó mắc (leiden) ít nhất (mindestens) một bệnh lý kèm. Ở những bệnh phong thấp khác (rheumatische Erkrankung) thì con số cũng cao tương tự (ähnlich hoch), theo giải thích (Erklärung) của tổ chức chuyên ngành (Fachgesellschaft) và dẫn chứng (Verweis) từ những dữ liệu (Daten) của Trung Tâm Nghiên Cứu Bệnh Phong Thấp Đức (Deutsches Rheuma-Forschungszentrum) tại Berlin.

Vì bệnh này có diễn biến (Verlauf) và sự điều trị (Behandlung) bệnh phong thấp có ảnh hưởng với nhau rất đáng kể (erheblich) nên cần phải thận trọng (berücksichtigen) lúc trị liệu (Therapie) và cho thuốc uống (Medikation).


Tuy nhiên (allerdings), các bác sĩ không thể cùng lúc (gleichermaßen) nhận biết được (präsent) tất cả những bệnh lý khả thi kèm theo (mögliche Begleiterkrankung), theo hiệp hội DGRh. Trong khi (während) nguy cơ tăng (erhöhtes Risiko) đối với sự nhiễm trùng (Infektion) và loãng xương (Osteoporose) thường được các nhà y khoa (Mediziner) quan tâm đến (im Bewusstsein) thì điều này ít được (weniger) áp dụng (gelten) cho những bệnh lý kèm như trầm cảm, các triệu chứng tuần hoàn tim mạch và nhiều thay đổi của phổi.

Tổ chức chuyên ngành cổ động (plädieren) việc khám nghiệm phòng chống cẩn thận hơn (sorgfältigere Vorsorgeuntersuchung) để sớm (frühzeitig) phát hiện (erkennen) những bệnh kèm.

Tin © dpa-infocom, dpa:200910-99-503531/2, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ sáu ngày 11.09.2020
Cúm hay Covid-19? Chẩn đoán khó khăn lúc ban đầu.

Không chỉ lo ngại (befürchten) sự gia tăng (Anstieg) nhiễm trùng (Infektion) Corona trong mùa thu (Herbs) sắp đến. Bệnh cúm (Grippe) vẫn có thể lưu hành (kursieren) cùng lúc (zugleich). Những triệu chứng (Symptom) cả hai bệnh (beide Krankheit) thật sự (überhaupt) có thể phân biệt (unterscheiden) được không?

Theo nữ vi khuẩn học (Virologin) tại Frankfurt, bà Sandra Ciesek thì mùa cúm (Grippesaison) thông thường (üblicherweise) bắt đầu (beginnen) vào đầu mùa đông (Winteranfang) và đại dịch (Pandemie) Corona dai dẳng (andauernd) đồng thời (gleichzeitig) cũng đặt ra (stellen) nhiều thử thách đặc biệt (beondere Herausforderung) cho các bác sĩ (Arzt).

Bà Ciesek nói với Thông Tấn Xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) rằng, ban đầu (anfangs) không dễ (nicht leicht) trả lời (antworten) liệu cúm hoặc một sự lây nhiễm Coronavirus Sars-CoV-2 có gây ra (auslösen) bệnh Covid-19 hay không.

“Triệu chứng đặc biệt (insbesondere) trong gia đoạn đầu (Frühphase) sự lây nhiễm rất giống nhau (sehr ähnlich)”, nữ giáo sư đại học (Professorin) về vi khuẩn học y khoa (medizinische Virologie) của đại học (Universität) Goethe tại Frankfurt.

“Cả hai căn bệnh (Erkrankung) đều có những triệu chứng thông thường (häufige Symptome” như sốt (Fieber), đau đầu (Kopfschmerzen), đau họng (Halsschmerzen), chảy nước mũi (Schnupfen) và những triệu chứng khác như đau bụng (Bauchschmerzen) và nôn mửa (Erbrechen).” Nếu không được xét nghiệm (Test) thì không thể phân biệt được một cách chắc chắn (nicht sicher).”

Liệu cúm hoặc Covid-19 có nguy hiểm hơn (gefährlicher) cho từng người (Einzelnen) hay không, điều này rất khó (sehr schwer) biết trước (vorhersehen). “Nguy cơ (Gefahr) chết (sterben) bởi Covid-19 rất phụ thuộc (sehr stark) vào tuổi tác (altersabhängig)”, theo bà Ciesek.

“Nói chung (insgesamt), người ta xác định (festhalten) rằng, người già (ältere Menschen) có nhiều nguy cơ (viel gefählicher) với Covid-19 hơn là bệnh cúm.”

Cho nên, đại dịch Corona không thể xem thường được (ernstgenommen) và không thể so sánh (vergleichen) với làn sóng cúm (Grippewelle).

TIn © dpa-infocom, dpa:200909-99-489908/3, hình Uwe Anspach/dpa ©

Thứ năm ngày 10.09.2020
Có nên cho con tôi chích ngừa cúm trong mùa đông này không?

Corona ảnh hưởng (beeinflussen) cuộc sống hàng ngày (Alltag) đã (schon) từ nhiều tháng nay (seit Monaten). Mặt khác, làn sóng cúm (Grippewelle) sẽ đến (kommen) trong mùa đông tới. Câu hỏi (Frage) nay được đặt ra về việc chích ngừa (Impfung) trong năm nay cấp bách hơn (drängender) – cũng đối với trẻ con (Kinder).

Liên quan đến đại dịch (Pandemie) Corona, nhiều nhà y khoa khác nhau (verschiedene Mediziner) cho rằng (halten) việc chích ngừa cúm (Grippeimpfung) ở trẻ em là điều hoàn toàn hợp lý (sinnvoll). Lập luận (Argument) cho rằng, trẻ nhỏ (Kleine) là đối tượng lây truyền (Überträger) những Virus cúm rất đáng kể (maßgeblich) và hệ thống y tế (Gesundheitssystem)
sẽ giảm thiểu gánh nặng (entlasten) khi chúng được chích ngừa (impfen).

Theo sự đánh giá (Einschätzung) của chuyên gia về truyền nhiễm học (Infektiologe), giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) Bernd Salzberger phát biểu (sprechen) đôi điều (einiges) đồng thuận (dafür): „Đây là cách ông bà (Großeltern) được phòng vệ (schützen).“ Nhắm đến (mit Blick) sức khỏe cộng đồng (öffentliche Gesundheit) thì điều này là một chiến lược (Strategie) hoàn toàn hợp lý (sinnvoll). „Ngoài ra (zumal), việc chích ngừa trên nguyên tắc (in der Regel) dễ dàng thích hợp (gut verträglich).“

Tuy nhiên (dennoch), nhiều phụ huynh (viele Eltern) còn e ngại (zurückhaltend) điểm này (Punkt). Nhà y khoa bệnh viện (Universitätsklinikum) Regensburg và chủ tịch (Präsident) Hiệp Hội Đức về Truyền Nhiễm Học (Deutsche Gesellschaft für Infektiologie) nhìn thấy (sehen) lý do (Grund) trẻ em ở tuổi đu học (Schulalter) trên thật tế không bị mắc (leiden) bệnh cúm quá mạnh (so stark) ví dụ Influenza.

1) TRẺ EM LÀ ĐỐI TƯỢNG LÂY NHIỄM CHO ÔNG BÀ.

Tuy nhiên (allerdings), điều cần lưu ý (bedenken) rằng những Virus cúm thường (oft) tràn lan (grassieren) trong trường học và vườn trẻ (Kindergarten). Nếu một trẻ bị lây nhiễm (anstecken) ở đó (dort), thì Bà hay Ông cũng có thể bị nhiễm và họ thuộc nhóm người Personengruppe) có nguy cơ cao (höheres Risiko) bị cúm nặng hơn (schwere Grippe).

Ngoài ra (außerdem), Coronavirus thật sự (ja) vẫn còn đang lưu hành (kusieren). „Điều có thể là Corona và cúm cùng lúc (gleichzeitig) xảy ra (auftreten) và đó không phải là tình huống tốt (keine gute Situation). Ông Salzberger nói (sagen) rằng: Việc chích ngừa cúm (Grippeimpfung) sẽ lấy đi phần nào (wegnehmen) nguy cơ (Risiko) trong mùa đông.“

Theo Ủy Ban Chích Ngừa Thường Trực (ständige Impfkommission) của Viện (Institut) Robert-Koch (RKI) thì việc chích ngừa khả thi (möglich) khi trẻ sáu (sechs) tháng tuổi. Nhìn về bệnh tật (Krankheit) thì ông Salzberger) cho rằng, việc chích ngừa thích hợp (anbringen) với trẻ nhỏ (Kleinstkinder) hơn là trẻ năm (fünf) hoặc sáu (sechs) tuổi. „Những trẻ nhỏ chưa nhìn thấy Virus cúm và có thể thực sự bị bệnh (richtig krank) do việc nhiễm trùng đầu tiên

2) THỜI ĐIỂM THÍCH HỢP ĐỂ CHÍCH.

Nhưng khi nào thì thực sự là thời điểm (eigentliche Zeit) cho việc tiêm chích (Pieks)? Theo đề nghi (Empfehlung) chung (allgemein), nên chích ngừa vào cuối tháng mười (Ende Oktober), đầu tháng mười một (Anfang November).

Bối cảnh (Hintergrund) của sự việc là hiệu quả bảo vệ tương đối (optimale Schutzwirkung) bắt đầu (beginnen) khoảng (rund) hai (zwei) tuần (Woche) sau khi tiêm và từ từ (langsam) giảm xuống (abnehmen) sau ba tháng (nach drei Monaten), theo các chuyên gia (Expert) giải thích (erläutern). Đợt cúm thường (meist) ập đến (rollen) vào đầu năm (Anfang des Jahres).

Vì chích ngừa (Immunisierung) ở trẻ em có hệ quả (Folge) thường khả quan (besser) hơn nên có thể thực hiện (durchführen) sớm hơn (eher) ở chúng, theo ông Salzberger). Nhưng các bậc phụ huynh không cần (brauchen) phải hối hả (überstürzen): Theo ước tính (einschätzen) của ông Salzberger) thì lô (Charge) vắc-xin đầu tiên sẽ được đưa vào các phòng khám bệnh của bác sĩ (Arztpraxis) để sử dụng vào nửa tháng cuối tháng chín (Septemberhälfte).

3) ĐỀ NGHỊ CHÍCH NGỪA CHO MỘT SỐ NHÓM NHẤT ĐỊNH.

Ủy Ban Chích Ngừa Thường Trực (Ständige Impfkommission, viết tắt là STIKO) đề nghi nên chích ngừa cho một số người cao tuổi (ältere Menschen) trên (über) 60 tuổi, cho những bệnh nhân (Patient) có bệnh nền (Grunderkrankung) và nhân viên y tế (medizinisches Personal) trong bệnh viện (Krankenhaus), những cơ sở điều dưỡng và người già (Pflege- und Seniorenheim) và trong ngành y tế (Gesundheitswesen) cũng như (sowie) cho phụ nữ mang thai (Schwangere).

Vì bệnh cúm (Influenz) trên nguyên tắc không có diễn tiến (ablaufen) biến chứng nghiêm trọng (schwerwiegende Komplikation) ở trẻ em khỏe mạnh (gesunde Kinder) hoặc ở người lớn (Erwachsene) dưới (unter) 60 tuổi nên không có đề nghị chung nào.

Nhưng điều này không có nghĩa là STIKO khuyên không nên (abraten) chích ngừa cho những người khác.

Tin © dpa-infocom, dpa:200904-99-434245/2, hình Ralf Hirschberger/dpa-Zentralbild/dpa-tmn ©

Thứ tư ngày 09.09.2020
Chi tiền thưởng cho trẻ em nhân Corona đã bắt đầu hôm thứ hai.

Việc chi (Auszahlung) tiển thưởng cho trẻ em (Kinderbonus) bắt đầu (starten) kể từ thứ hai (Montag) tuần này. Các phụ huynh (Eltern) trong nước Đức nhận (erhalten) thêm một lần (Aufschlag) 300 Euro. Phần lớn số tiền (Geld) được phép chi trực tiếp (direkt) cho việc tiêu thụ (Konsum).

Phụ huynh của 18 triệu trẻ em trong nước Đức nhận 300 Euro đặc biệt (extra) cho mỗi trẻ từ quỹ gia đình (Familienkasse). Trong tháng chín (September) tước tiên (zunächst) 200, trong tháng mười (Oktober) thêm 100 Euro của cái gọi là „Corona thưởng cho trẻ“ (Corona-Kinderbonus).

Không cần phải làm đơn xin (beantragen) số tiền này; nó được chuyển tự động (automatisch) vào tài khoản (Konto) của phụ huynh. Điều kiện (Voraussetzung): Trẻ phải ít nhất (mindestens) đã nhận một tháng tiền trợ cấp trẻ (Kindergeld) trong năm 2020.

Tiền thưởng cho trẻ không được trả chung (nicht zusammen) với số tiền trợ cấp trẻ, mà (sondern) trả riêng (eigene Zahlung). Khi nào số tiền này được trả cụ thể (konkret), phụ thuộc (abhängen) vào số cuối (Endziffer) của số khai báo trợ cấp tiền trẻ (Kindergeldnummer). Nếu tận cùng là số 0 (Null) thì sẽ được chuyển đầu tiên, sau đó sẽ tiếp tục cho những trẻ còn lại.

Liên minh Cơ Đốc (Union = CDU/CSU) và SPD đã phê duyệt (beschließen) tiền thưởng cho trẻ trong tháng sáu (Juni) với gói kinh tế (Konjunkturpaket). Đây là một trong nhiều cách (Mittel) chính phủ (Regierung) muốn làm dịu (abmildern) những hậu quả (Folge) của cơn khủng hoảng (Krise) Corona.

Nữ chính khách (Politikerin) đảng Tả khuynh (Linke) và chủ tịch (Vorsitzende) ủy ban gia đình (Familienausschuss) trong quốc hội (Bundestag), bà Sabine Zimmermann đã chỉ trích (kritisieren) số trợ cấp (Leistung) không đủ (unzureichend). „Tiền thưởng cho trẻ một lần (einmaliger Kinderbonus) là 300 Euro không vừa đủ quân bình (nicht annähernd ausgleichen) gánh nặng (Lasten) đại dịch cho gia đình“ bà nói với tờ „Neue Osnabrücker Zeitung“. Đại dịch đã gây thêm (verschärfen) một lần (nochmals) khó khăn cho hoàn cảnh (Lage) những gia đình đông con (familienreiche Familie) có thu nhập kém (geringes Einkommen) so với năm 2019.

Bà Zimmermann đã đánh giá (auswerten) những dữ liệu (Daten) của Cục Thống Kê Liên Bang (Statisches Bundesamt) mà tờ báo có được (vorliegen). Theo đó (demnach), năm 2011 còn (noch) 22,4 phần trăm gia đình có ba (drei) hoặc nhiều (mehr) con có nguy cơ đói nghèo (armutsgefähdert); năm 2019 có 30,9 phần trăm nhiều gia đình có nhiều con.

Ngược lại (hingegen), vị chủ tịch (Präsident) Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Đức (Deutsches Institut für Wirtschaftsforschung, viết tắt là DIW), ông Marcel Fratzscher đã lên tiếng bảo vệ (verteidigen) tiền thường cho trẻ là hoàn toàn hợp lý (sinnvoll). „Tiền thưởng cho trẻ là một trong những biện pháp thông minh nhất (klügste Maßnahme) của chính sách kinh tế. Nó giúp (helfen) các gia đình một cách nhanh chóng (schnell) và mục đích tương đối chính xác (relativ zielgenau) hiện đang cần (benötigen) được giúp đỡ (Unterstützung) trong cơn khủng hoảng“, ông Fratzscher nói với tờ „Rheinische Post“ hôm thứ hai.

Những gia đình đã bị ảnh hưởng rất nặng (besonders hart treffen) bởi nhiều hạn chế (Restriktion) của cơn khủng hoảng Corona gây ra và chủ yếu (vor allem) là những bà mẹ (Mutter) bởi sự phân phối không bình đẳng đang hiện có (bevorstehende Ungleichverteilung) như trước đây (nach wie vor) mà phải chịu rõ ràng nhiều gánh nặng (deutliche Mehrbelastung) bởi việc đóng cửa vườn trẻ và trường học (Kita- und Schulschließung).

Tin © dpa-infocom, dpa:200907-99-458307/2, hình Felix Kästle/dpa ©

Thứ ba ngày 08.09.2020
Corona làm cho tình trạng nghỉ bệnh không tăng.

Vì (wegen) đại dịch (Pandemie) Corona nên rõ ràng (offenbar) mối lo ngại (Befürchten) nghỉ việc ồ ạt (massenhafte Ausfall) của lực lượng lao động (Arbeitskraft) trong nước Đức dường như không xảy ra (ausbleiben). Tuy nhiên (jedoch), tỷ lệ (Anteil) những bệnh tâm lý (physische Erkrankung) đã tăng (zunehmen) đáng kể (deutlich).

Theo công ty bảo hiểm sức khỏe Techniker Krankenkasse (TK) đánh giá (auswerten) việc báo bệnh (Kranmeldung) trong nửa năm đầu (erstes Halbjahr) 2020 đã không tăng (steigen) bởi đại dịch Corona.

Tỳ lệ số ngày nghỉ việc (Fehltage) trong số người lao động đóng bảo hiểm y tế (versicherte Arbeitnehmer) của công ty này đối với tất cả ngày làm việc (Arbeitstage) chỉ nằm ở mức 4,4 phần trăm – 4,3 phần trăm cùng thời điểm năn trước (Vorjahrzeitraum) và 4,5 phần trăm của nửa đầu năm 2018.

Việc chẩn đoán (Diagnose) bệnh bởi Covid-19 chỉ đóng vai trò thứ yếu (untergeordnete Rolle). Trong tháng ba (März) chỉ có 0,3 phần trăm toàn bộ tình trạng nghỉ bệnh (gesamter Krankenstand), trong tháng tư (April) tăng chút đỉnh (etwas) 0,7 phần trăm và đã giảm (sinken) trở lại 0,2 phần trăm.

Ông Jens Baas, chủ tịch hội đồng điều hành (Vorstandschef) đã giải thích (erläutern) rằng, theo kinh nghiệm (erfahrungsgemäß) thì việc báo bệnh trong mùa hè (Sommer) ít hơn (weniger). „Ngoài ra, những quy tắc giữ khoảng cách và vậ sinh (Abstands- und Hygieneregel) rõ ràng (offentsichtlich) cho thấy (zeigen) tác dụng (Wirkung) của nó.

Nó không những chỉ giảm (reduzieren) nguy cơ lây nhiễm (Ansteckungsgefahr) bởi Covid-19 mà còn làm cho những bệnh cảm lạnh và nhiễm trùng (Erkältungs- und Infektionskrankheit) ít có cơ hội (weniger Chancen) lây lan (sich verbreiten).“

Mặt khác, những thương tích chơi thể thao (Sportverletzung) và tai nạn trên đường (Wegeunfall) cũng giảm theo (zurückgehen). Sự gia tăng (Zunahme) chủ yếu (vor allem) chẩn đoán tâm lý (psychische Diagnose) trong nửa năm đầu là 18,7 phần trăm tổng số bệnh.

Được đánh giá từ những chứng nhận nghỉ lao động (Arbeitsunfähigkeitsbescheinigung) của 5,3 triệu người lao động đóng bảo hiểm y tế của công ty y tế trên. Chứng nhận này bắt buộc phải có khi những người công nhân (Beschäftigte) nghỉ làm việc lâu hơn (länger) ba (drei) ngày.

Tin và hình © dpa-infocom, dpa:200907-99-457202/2, hình Ralf Hirschberger/dpa-Zentralbild/dpa-tmn ©

Thứ hai ngày 07.09.2020
Thời đại Corona: Bây giờ nên tiêm vắc-xin nào?

Cho đến nay vẫn chưa có vắc-xin (Impfstoff) chống lại Virus Sars-CoV-2. Những nhóm nguy cơ (Risikogruppe) như người già (Senioren) thì việc chích ngừa (Impfung) chống lại những bệnh (Krankheit) khác cũng có thể giúp (helfen) họ phòng hộ chống lại siêu-nhiễm (Superinfektion). Đứng đầu (ganz oben) danh sách (Liste) là bệnh CÚM.

Việc chích ngừa có ý nghĩa gì đối với đại dịch (Pandemie) Corona?

Cho đến nay, vẫn chưa có vắc-xin chích ngừa loại Virus mới. Viện (Institut) Robert-Koch của Đức, viết tắt là RKI) hy vọng (erwarten) rằng, mãi đến đầu năm (Anfang) sau mới có vắc-xin và sau đó cũng không thể có trực tiếp (direkt) chích ngừa cho tất cả mọi người.

Cũng theo Viện RKI, điều quan trọng là việc duy trì (erhalten) tình trạng sức khỏe chung và tốt (guter allgemeiner Gesundheitszustand) trong quần chúng (Bevölkerung) để bớt gánh nặng (entlasten) cho hệ thống y tế 8Gesundheitssystem). Để góp phần (beitragen) cho vấn đề này, việc chích ngừa phòng hộ toàn diện (umfassender Impfschutz) phải được thực hiện theo khuyến nghị (Empfehlung) của Ủy Ban Tiêm Chủng Thường Trực (Ständige Impfkommission, viết tắt là STIKO). Vài ví dụ (einige Beispiele):

1) CÚM (INFLUENZA, GRIPPE):
Những nhóm có nguy cơ chính (Hauptrisikogruppe) của Covid-19 và Cúm (Influenza) có sự tương đồng (deckungsgleich): Nguy cơ chủ yếu (vor allem) là những người già (ältere Menschen) trên (über) 60 và những bệnh nhân có nhiều bệnh lý nền (Grunderkrankung).

Do đó (deshalb) Ủy ban STIKO đề nghi những nhóm này trong năm nay đặc biệt chích ngừa phòng chống cúm (ganz besonders Grippeschutzimpfung). Đã có rất ít (sehr gering) mối quan tâm (Interesse) đến điều này trong mùa (Saison) 2018/19. Theo Viện RKI, chỉ có khoảng một phần ba (Drittel) người già – 35 phần trăm – được chích ngừa (immunisieren). Còn ở những người mắc bệnh nền mãn tính (chronische Grundleiden) chỉ có một phần năm (Fünftel) đến (bis) một nửa (Hälfte).

Ngoài ra, có đề nghị chích ngừ (Impfempfehlung) cho nhân viên y tế (medizinisches Personal) trong các bệnh viện (Krankenhaus), các cơ sở điều dưỡng và dưỡng lão (Pflege- und Senioreneinrichtung) và trong ngành y tế (Gesundheitswesen) cũng như những phụ nữ mang thai (Schwangere) và cư dân (Bewohner) trong viện dưỡng lão và điều dưỡng (Alters- oder Pflegeheim). Khi tất cả những nhóm này được chích ngừa thì con số lên đến khoảng 40 triệu người. Như vậy phải cần đến khoảng 26 triệu ống (Dose). Liệu việc này có gây nên sự tắc nghẽn (Engpass) hay không?

„Hiện nay chúng tôi không nhận thấy (erkennen) có sự thiếu hụt (Mangel) vắc-xin cúm (Grippeimpfstoff) cho mùa cúm (Infuenzasaison) 2020/21 tại Đức“, theo ông Klaus Cichutek, chủ tịch (Präsident) Viện Paul-Ehrlich, viết tắt là PEI. „Chúng tôi cho rằng, những nhà sản suất (Hersteller) đã có sẳn (bereitstellen) 21 triệu ống.“ 13,6 triệu ống sau khi kiểm tra hàng loạt (Chargenprüfung) đã được cung cấp cho nước Đức, một số lượng bình thường (übliche Menge) cho đến thời điểm này trong năm (Jahreszeit). „Chính (gerade) ngay trong thời điểm đại dịch Corona hiện nay thì mọi người nên chích ngừa cúm“, ông Cichutek nhấn mạnh (betonen).

Hiệu quả (wirksam) của việc chích ngừa cúm mới không thể tiên liệu trước được (sich vorhersagen). Dựa trên sự giám sát (Monitoring) hàng năm và trên toàn thế giới về các Virus cúm đang lưu hành, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đề nghị bào chế vắc-xin (Impfstoffzusammensetzung) cho Bắc bán cầu (Nordhalbkugel) trong tháng hai (Februar) cho mùa tới (nächste Saison). Sau đó sẽ sản suất (produzieren).

Tùy (je nach) vào độ chính xác (Treffsicherheit) nên vì thế việc chích ngừa phòng hộ có thể khác nhau (schwanken) – thông thường Normalerweise) giữa (zwischen) 20 và 60 phần trăm. Tuy nhiên (allerdings), một bệnh cúm có diễn biến (verlaufen) nhẹ hơn (milder) ở những người đã được chích ngừa (geimpfte Person), nghĩa là (also) ít có biến chứng (wenige Komplikation) hơn những người không chích ngừa (Ungeimpfte), Viện RKI nhấn mạnh.

Ủy ban STIKO đề nghị việc chích ngừa cho trẻ em (Kinder) đến nay không có gì đặc biệt, ví dụ chỉ ở trẻ em có nguy cơ cao hơn (höheres Risiko) có biến chứng, bởi chúng đã mắc phải nhiều tiền bệnh (Vorerkrankung).

Hiệp Hội Đức Về Bệnh Truyền Nhiễm Nhi Đồng (Deutsche Gesellschaft für Pädiatrische Infektiologie) khuyên (raten) trẻ em nên chích ngừa. „Chúng tôi biết (wissen) rằng, trẻ em lây truyền (übertragen) đa phần (maßgeblich) là Virus Cúm“, theo ông Johannes Hübner, bác sĩ cao cấp (Oberarzt) và chủ tịch (Vorsitzender) hiệp hội này nói với tờ „Welt am Sonntag“ (Thế Giới Ngày Chủ Nhật).

Trong thời đại địch Corona, ngoài những nguy cơ đối với sức khỏe của trẻ em còn phải có trách nhiệm cộng đồng (gesellschaftliche Verpflichtung) để phòng hộ những người khác.

Ông Klaus Rheinardt, chủ tịch hiệp hội bác sĩ (Ärztepräsident) đã phát biểu (sich aussprechen) với nhóm truyền thông (mediengruppe) Funke về việc chích ngừa cúm liên tục khả thi (möglichst lückenlose Grippeimpfung) cho những nhà giáo dục (Erzieher) và giáo viên (Lehrer). Theo quan điểm (Ansicht) của ông, làn sóng cúm (Grippewelle) ngoài những quy tắc vệ sinh (Hygieneregel) Corona cũng diễn biến vô hại hơn (harmloser) trong những năm trước đây.

2) KHUẨN PHẾ CẦU (PNEUMOKOKKEN)

Việ chích ngừa khuẩn phế cầu (Pneumokokken), theo Viện RKI, không phòng vệ (schützen) chống được Covid-19. Tuy nhiên, sự lây nhiễm với những vi trùng (Bakterien) này có thể dẫn đến viêm phổi nghiêm trọng (schwere Lungenentzündung) và nhiễm độc máu (Blutvergiftung).

Cho đến nay Viện RKI cho rằng việc chích ngừa phế cầu khuẩn Pneumokokken có thể ngăn chận (verhindern) một sự siêu lây nhiễm vi trùng (bakterielle Superinfektion) bởi những vi trùng này có ở bệnh nhân Covid-19. Những bệnh cúm là một sự siêu lây nhiễm vi trùng bởi phế cầu khuẩn Pneumokokken như một sự đột biến đã được biết đến (bekannte Komplikation).

Tuy nhiên, vắc-xin chích ngừa khuẩn phế cầu (Pneumovax 23) hiện nay (aktuell) trong nước Đức chỉ có (vergfügbar) giới hạn (einschränken). Do đó (daher), hiện giờ (zurzeit) dành ưu tiên (vorrangig) tiêm chủng cho những người có nguy cơ thật cao (besonders hohes Risiko) đối với căn bệnh (Erkrankung) này.

Kể cả trẻ em trong hai năm đầu (erste beide Lebensjahre) và những người già từ 60 tuổi trở lên trong sáu năm qua đã không chích ngừa mầm bệnh (Erreger) Pneumokokken. Cũng như những người bệnh mãn tính (chronische Krankheit) phổi (Lunge) hoặc tim (Herz), mắc (leiden) tiểu đường phải phụ thuộc Insulin (insulinpflichtige Diabetes) hoặc một số bệnh thần kinh (bestimmte neurologische Krankheit) có nguy cơ cao nên cần phải tiêm chủng (sich impfen lassen).

Theo bà Ariane Malfertheiner, nữ phát ngôn viên (Sprecherin) của công ty sản suất MSD, nhu cầu (Nachfrage) về Pneumovax 23 trên toàn cầu (weltweit) và cũng như trong nước Đức liên quan đến (in Zusammenhang) đại dịch đã tăng mạnh (stark steigen).

Nước Đức trong năm 2019 đã đưa ra thị trường khoảng (rund) 1,2 triệu ống. Công ty (Unternehmen) này dự tính (planen) trong năm 2020 sẽ có 2,5 triệu ống, 2021 khoảng 2,6 triệu ống.

Việc sản suất (Produktion) vắc xin rất phức tạp (sehr komplex) và có thể kéo dài (dauern) đến (bis zu) 36 tháng. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt (Ausnahmefall) có thể phân bổ (umschichten) số lượng có sẳn (Bestand) giữa (zwischen) các tiểu bang. Đầu tháng năm (Anfang Mai), công ty này đã thành công (gelingen) việc nhập khẩu (importieren) 320.000 ống Pneumovax 23 từ Nhật (Japan) và cung cấp cho thị trường Đức.

„Tất cả những nhà sản suất vắc-xin Pneumokokken trong năm nay sẽ cung cấp thêm (zusätzlich) cho thị trường Đức những liều vắc-xin vì nhu cầu lớn (großer Bedarf)“, theo vị chủ tịch Cichutek của PEI. Bởi việc tăng cường (Hochfahren) sản suất phải mất nhiều tháng, nhưng tình huống tắc nghẽn tạm thời (vorübergehende Engpass-Situation) cũng có thể phát sinh trong một thời gian (eine Weile).

3) KHUẨN HO GÀ PERTUSSIS:
Bệnh ho gà (Keuchhusten) cũng do vi khuẩn (Virus) hay vi trùng (Bakterien) gây ra (auslösen). Những cơn ho mạnh (starker Hustenfall) là đặc thù (typisch) cho bệnh lây nhiễm (Infektionskrankheit) đường hô hấp (Atemwege). Những người đã bị suy yếu (geschwächt) bởi (durch) Sars-CoV-2 có thể bị lây nhiễm nhiều hơn. Hoặc ngược lại (umgekehrt): Theo RKI, những người bị suy yếu bởi khuẩn ho gà Pertussis dễ tạo điều kiện cho Coronavirus tấn công (befallen).

Việc chích ngừa luôn được thực hiện (immer erfolgen) trong sự kết hợp (Kombination) với những loại vắc-xin khác. Ngoài trẻ em ra, những người lớn (Erwachsene) cũng nên chích ngừa thêm chống Pertussis một lần trong đợt tiêm phòng sắp tới với vắc-xin uốn ván (Tetanus) và bạch hầu (Diphtherie). Ngoài ra, phụ nữ (Frauen) nên tiêm phòng trong mọi thai kỳ (jede Schwangerschaft), trên nguyên tắc từ tuần thứ 28 (28. Woche)

Tin © dpa-infocom, dpa:200903-99-413231/2, hình Bernd Wüstneck/dpa-Zentralbild/dpa © – Viện STIKO khuyên những người trên 60 tuổi và những bệnh nhân có bệnh nền được nên tiêm phòng cúm đặc biệtltrong năm nay.

Chủ nhật ngày 06.09.2020
Khẩu trang hàng ngày bảo vệ được bao lâu?

Liệu khẩu trang tự may (selbstgenähte Maske) hoặc loại dùng một lần (Einweg-Variante) nghĩa là việc che miệng và mũi (Mund-Nase-Bedeckung) chỉ giữ (behalten) tác dụng (Wirkung) của nó, khi chúng được thay đổi (wechseln) thường xuyên (regelmäßig). Nhưng sự phòng vệ (Schutz) kéo dài (anhalten) bao lâu?

Trong thời đại Corona, việc phòng vệ miệng và mũi (Mund-Nasen-Schutz) là người bạn đồng hành trung thành (treuer Begleiter) của tất cả mọi người. Nhưng có một số người kéo (ziehen) nó ra khỏi túi quần (Hosentasche) khi có nhu cầu (bei Bedarf). Những người khác đeo (tragen) nó dưới cằm (unterm Kinn) hoặc để nó lủng lẳng (baumeln) trên cổ tay (Handgelenk) khi không cần (gebrauchen) đến nó.

Cho nên việc giữ vệ sinh (Hygiene) thường (oft) bị bỏ quên (Vernachlässigung). Câu hỏi đặt ra là một khẩu trang (Maske) có thể phòng vệ bao lâu?

1) QUẢ QUYẾT (Behauptung):
Khẩu trang hàng ngày phải thay đổi (erneuern) hoặc làm sạch (reinigen) lập tức (sofort) sau khi đeo (nach dem Tragen).

2) ĐÁNH GIÁ (Bewertung):
Không bắt buộc (nicht unbedingt). Chậm nhất (spätestens) sau ba (drei) đến bốn (vier) giờ đeo liên tục (am Stück) phải đổi (tauschen) cái mới.

3) SỰ THẬT (Fakten):
Nước Đức áp dụng (gelten) bổn phận mang khẩu trang (Maskenpflicht) trong các nơi buôn bán (Handel) và khi sử dụng lưu thông gần (Nahverkehr). Thông thường có thể nhìn thấy (sehen) những khẩu trang đơn giản đeo hàng ngày (einfache Alltagsmaske).

Theo thông tin (Angabe) của Viện Liên Bang về Dược Phẩm và Sản Phẩm Y Tế (Bundesinstituts für Arzneimittel und Medizinprodukte, viết tắt là BfArM) cho rằng, những khẩu trang này thật ra (zwar) không mang lại (bieten) tác dụng phòng vệ (Schutzwirkung) được chứng minh (nachweisen) có thể chống lại Virus, nhưng chúng có tác dụng (dienen) như rào cản (Barriere) đối với những giọt sương bắn ra (Tröpfchenauswurf) của người đeo khẩu trang (Maskenträger). Theo nhiều nghiên cứu (Studie) cho thấy rằng, ít ra (zumindest) nó cũng có thể làm giảm thiểu nguy cơ (Gefahr) lây truyền (Übertragung) ở mức độ nào đó (weit verringern).

Viện BfArM cũng cho biết: Những khẩu trang sau một lần sử dụng (einmalige Nutzung) lý tưởng (idealerweise) là nên giặt (waschen) ở nhiệt độ (Temperatur) 95 độ (Grad), nhưng ít nhất (mindestens) là 60 độ và sau đó (anschließend) để thật khô (vollständig trocknen) trước khi dùng trở lại.

Những chuyên gia về nhiễm trùng (Infektiologe) như ông Sebastian Lemmen của bệnh viện đại học (Uniklinik) Aachen đặt ra (aufwerfen) câu hỏi (Antwort) làm thế nào để có thể thực hiện được điều này (umsetzen) trong cuộc sống hàng ngày (Alltag) và ông hoài nghi (zweifeln) về tính thực tiễn (Praxistauglichkeit) của nó. Chắc chắn (sicherlich) có nhiều người đeo khẩu trang của họ nhiều lần (mehrmals) mà không làm sạch nó (reinigen) sau khi dùng.

Theo chuyên gia vi trùng học Bernd Salzberger của bệnh viện đại học Regensburg thì điều này trước tiên (erstmal) không là vấn đề (Problem). Theo những chuyên gia (Expert), khẩu trang hàng ngày có thể đeo bao nhiêu lần tùy thích trong khoảng một thời gian nhất định (gewisses Zeitfenster).

Có thể đeo khẩu trang liên tục trong bao lâu, điều này tùy thuộc (abhängen) chủ yếu (vor allem) vào hoạt động thể chất (körperliche Aktivität) của mỗi người. Bộ Y Tế và Điều Dưỡng Tiểu Bang Bayern (Bayerische Staatsministerium für Gesundheit und Pflege) đề nghị (empfehlen) nên tháo ra (absetzen) và đổi (auswechseln) lập tức khi nó bị ẩm ướt (feucht). Nhưng chậm nhất là sau ba đến bốn giờ.

Theo Viện (Institut) Fraunhofer về Toán Học Công Nghiệp và Kinh Tế (Techno- und Wirtschaftsmathematik) đã khảo sát (untersuchen) thời gian mang (Tragedauer) khẩu trang phòng hộ cho thấy hiệu quả lọc (Filterwirkung) sẽ giảm đi (nachlassen) khi độ ẩm tăng lên (zunehmende Feuchte). Khẩu trang phải được tháo ra (runter) „chậm nhất khi nó hoàn toàn bị ẩm ướt (komplette Durchfeuchtung“, vì lẽ (denn) sau đó (danach) sẽ sinh ra (bestehen) „nguy cơ làm cầu nối lây nhiễm (Infektionsbrücke) giữa (zwischen) người đeo và môi trường (Umgebung).“

Nói cách khác: Khi ho (husten) hoặc hắt hơi (Niesen) thì những giọt sương (Tröpfchen) có thể văng ra (schleudern) từ bề mặt (Außenfläche) của khẩu trang đã bị ẩm ướt (durchfeuchtete Maske) vào môi trường – và có thể lây nhiễm (anstecken) mầm bệnh cho những người khác.

Tin © dpa-infocom, dpa:200901-99-384010/4, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ bảy ngày 05.09.2020
Tập đoàn dược phẩm ROCHE sẽ đưa xét nghiệm nhanh Corona vào thị trường trong tháng chín.

Kết quả xét nghiệm (Testergebnis) có (vorliegen) càng sớm (je früher) càng tốt (umso besser) để có thể (möglicherweise) ngăn chận (eindämmen) đại dịch (Pandemie) Corona. Bằng xét nghiệm mới và nhanh (neuer Schnelltest) của tập đoàn dược phẩm (Pharmakonzern) ROCHE nay có thể tranh thủ (gewinnen) có được thời gian đáng quý (wertvolle Zeit).

Tập đoàn dược phẩm Thụy Sĩ (Schweiz) ROCHE sẽ mang ra (bringen) thị trường (Markt) một loại xét nghiệm nhanh chống lại Corona (Corona-Antigen-Schnelltest) nội trong tháng này (noch im laufenden Monat). Kết quả xét nghiệm của loại xét nghiệm nhanh này trên nguyên tắc (in der Regel) sẽ xác định (feststellen) trong vòng (innerhalb) 15 phút (Minute).

Việc xét nghiệm (Test) theo tập đoàn này trước tiên (zunächst) sẽ ra mắt (lancieren) tại Âu châu – những quốc gia (Länder) có ký hiệu (Kennzeichnung) CE. Nhưng theo kế hoạch (Plan) cũng phải đệ đơn (beantragen) xin phê duyệt nhanh (schnelle Zulassung) của cơ quan chức năng (zuständige Behörde) FDA (Emergency Use Authorisation).

Theo thông báo (Mitteilung), việc xét nghiệm có thể được thực hiện (durchführen) chỉ cần lấy mẫu ở vòm mũi và họng (Nasen-Rachen-Abstrich) mà không cần (ohne) qua phòng thí nghiệm (Labor) và tính tin cậy cao (hohe Zuverlässigkeit).

Theo ROCHE, mỗi tháng (monatlich) sẽ có 40 triệu xét nghiệm nhanh đưa vào thị trường (Markteinführung). Năng suất (Kapazität) này sẽ được nhân đôi (sich verdoppeln) đến cuối năm nay.

Ông Thomas Schinecker, vị đứng đầu (Chef) bộ phận chẩn đoán (Diagnostik-Sparte) của ROCHE, nói rằng, điều quan trọng (wichtig) cần biết đến (wissen) đặc biệt (besonders) là mùa cúm sắp đến (bevorstehendes Grippesaison), liệu (ob) một người (Person) sẽ mắc bệnh (erkranken) bởi Coronavirus hay (oder) vì cúm (Grippe).

Để ngăn chận sự lây lan (Ausbreitung) của Coronavirus thì những giải pháp xét nghiệm (Testlösung) mang tính cách quyết định (entscheidende Bedeutung) được bác sĩ (Arzt) và bệnh nhân (Patient) có câu trả lời nhanh (schnelle Antwort) về chế độ lây nhiễm (Infektionsstatus).

Việc ra mắt (Lancierung) sẽ diễn ra (erfolgen) với đối tác (Partnerschaft) là doanh nghiệp (Unternehmen) SD Biosensor đã có thỏa thuận phân phối trên toàn cầu (weltweite Vertriebsvereinbarung) với ROCHE.

Tin © dpa-infocom, dpa:200902-99-398996/2, hình  -/epa/dpa ©

Thứ sáu ngày 04.09.2020
Tấm chắn che mặt ít hiệu quả hơn khẩu trang vải.

Những nhà khoa học Hoa Kỳ (amerikanische Wissenschaftler) đã khảo sát (untersuchen) chức năng phòng vệ (Schutzfunktion) của tấm chắn che mặt (Gesichtsschilder) bằng nhựa (aus Plastik). Họ làm rõ (veranschaulichen) cho thấy nó ít hiệu quả hơn (weniger effektiv) những khẩu trang vải bình thường (herkömmliche Stoffmaske).

Tấm chắn che mặt cũng như (sowie) khẩu trang (Maske) có van (Ventil) theo (zufolge) những nhà nghiên cứu (Forscher) Hoa Kỳ ít hiệu quả hơn những khẩu trang y tế (medizinische Maske) và khẩu trang vải. Các nhà khoa học của đại học (Universität) Florida Atlantic đã cho thấy rõ qua việc khảo sát bằng Video thu hình.

Bằng ánh sáng laser (Laserlicht) trong phòng tối (dunkler Raum), họ đã theo dõi (verfolgen) sự chuyển động (Bewegung) của những giọt sương nhân tạo (künstlich hergestellte Tröpfchen) ở một con búp bê (Puppe) được dùng để mô phỏng (nachahmen) việc hắt hơi (Niesen) và ho (Husten).

Qua hình ảnh trực quan (Visualisierung) cho thấy tấm chắn bằng nhựa (Plastikschild) ban đầu (zunächst) chận (blockieren) sự chuyển động thẳng về phía trước (Vorwärtsbewegung) của không khí thoát ra (austretende Luft), nhưng những giọt sương tự lan tỏa (sich verteilen) xung quanh tấm chắn (Visier) rồi len vào bên trong.

Ở khẩu trang có van cũng tương tự (ähnlich). Ở đó (dort), không khí được đẩy ra ngoài (herausdrücken) qua những lỗ trên van (Öffnungen am Ventil) rồi cũng tự lan tỏa ra.

Theo các nhà khoa học, thật ra khẩu trang có van (Ventil-Maske) lọc (filtern) không khí hít vào (eingeatmete Luft) chứ không lọc không khí thoát ra (austretende Luft).

Khẩu trang đặc biệt bảo vệ đường hô hấp (spezielle Atemschutzmaske), loại tiêu chuẩn (Standard) N95, và nhiều khẩu trang vải đơn giản thường được sử dụng nhiều lần (vielfach verwendete einfache Stoffmaske) thật tế không cung cấp (bieten) sự phòng vệ một trăm phần trăm (hundertprozentiger Schutz), nhưng để ít giọt sương đi qua (durchlassen).

Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vì thế (daher) khuyến nghị (empfehlen) rằng, cho dù (trotz) cảm thấy thoải mái hơn (höher Komfort) cũng nên từ bỏ (verzichten) việc đeo (tragen) tấm chắn che mặt và khẩu trang có van. Những kết quả (Ergebnis) của họ được tường trình (berichten) trên tạp chí chuyên khoa (Fachzeitschrift) “Physics of Fluids” (Vật Lý Chất Lỏng)

Tin © dpa-infocom, dpa:200902-99-399001/2, hình -/Florida Atlantic University’s College of Engineering and Computer Science/dpa © 

Thứ năm ngày 03.09.2020
Tòa Án Hiến Pháp Đức xác nhận việc cấm cắm lều phản đối Corona là hợp pháp.

Sau nhiều lần biểu tình (Demonstration) chống chính sách (Politik) Corona của chính phủ Đức (Bundesregierung) kế hoạch cắm lểu phản đối (Protestcamp) ngay giữa (mitten) thủ đô (Hauptstadt) Berlin đã được lên kế hoạch (planen). Nhưng cảnh sát  (Polizei) đã cấm (verbieten).  Và tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) đã quyết định (entscheiden) về việc này.

Tòa án nay xác nhận (bestätigen) việc cấm (Verbot) cắm lều phản đối tại Berlin của những người chống lại (Gegner) chính sách Corona là hợp pháp. Tòa án (Gericht) tại Karlsruhe đã cho biết (mitteilen).

Việc giám sát thường trực (Dauermahnwache) đã lên kế hoạch đã được thực hiện từ ngày 30 tháng tám (August) đến 14 tháng chín (September) trên đoạn đường (Straße) „17.Juni“ xuyên qua (durch) „Tiergarten“ (Vườn Thú) dẫn đến (führen) Cổng (Tor) Brandenburg và giáp (am Rand) khu vực chính phủ (Regierungsviertel).

Như vậy, các thẩm phán (Richter) tại Karlsruhe đã xác nhận quyết định (Entscheidung) của tòa án hành chánh cao thẩm (Oberverwaltungsgericht, viết tắt là OVG) tại Berlin-Brandenburg.  Động thái này đã biểu đồng tình (teilen) việc đánh giá (Einschätzung) của các cơ quan chức năng về sự tập họp (Versammlungsbehörde) vì lo ngại (befürchten) việc cắm lều (Camp) như vậy sẽ gây nguy cơ trực tiếp (unmittelbare Gefährdung) đến nền an ninh công cộng (öffentliche Sicherheit).

Lý do: Những tham dự viên sự kiện (Veranstaltungsteilnehmer) không giữ (nicht einhalten) được khoảng cách tối thiểu (Mindestabsatnd) cho việc ngăn chận (Eindämmung) dịch (Epidemie) Corona.

Nhận định (Argumentation) này đã được các thẩm phán tại Karlsruhe tán đồng (sich anschließen). Quy chiếu (mit Blick) hiến pháp (Grundrecht) về quyền tự do hội họp (Versammlungsfreiheit) họ biện dẫn (begründen) rằng: Để phòng vệ (Schutz) những nguy cơ lây nhiễm (Infektionsgefahr) nên phải cấm tập họp (Versammlungsverbot), khi không có (nicht zur Verfügung stehen) phương pháp khác nhẹ nhàng hơn (mildere Mittel).

Trường hợp (Fall) dự định cắm lều không có một cách nào để phòng chống nguy cơ (Gefahrenabwehr). Nguyên đơn (Antragsteller) cũng đã tổ chức (veranstalten) hôm thứ bảy (Samstag) tuần trước (Vorwoche) nhiều cuộc biểu tình chống Corona (Anti-Corona-Demonstration), nhưng không trình bày (darlegen) được phương thức giữ vệ sinh (Hygienekonzept) thích hợp (anpassen) đến „những kinh nghiệm hiện có“ (nunmehr vorliegende Erfahrung).

Tòa án hành chánh (Verwaltungsgericht) Berlin đã cho phép (erlauben) việc giám sát thường trực như đã lên kế hoạch.

Những người đăng ký (Anmelder) đã khởi chống phán quyết của tòa án hành chánh cao thẩm qua đơn kháng khẩn (Eilantrag stellen).

Tin © dpa-infocom, dpa:200830-99-366985/6, hình Uli Deck/dpa ©

Thứ tư ngày 02.09.2020
Việc khám nghiệm những bệnh nhân qua đời bởi Covid-19 cung cấp nhiều hình ảnh về căn bệnh mới.

Những nạn nhân (Opfer) không tử vong (sterben) với mà (sondern) chính sự lây nhiễm (Infektion). Kết quả giảo nghiệm tử thi (Autopsie) chứng minh (beweisen) cho thấy: Ở 86 phần trăm bệnh nhân qua đời thì chính Covid-19 là nguyên nhân tử vong (Todesursache) TRỰC TIẾP (direkt).

Suy luận (These) cho rằng bệnh nhân Covid-19 qua đời chủ yếu (vor allem) do những bệnh lý nền nghiêm trọng (schwere Vorerkrankung) là SAI LẦM (falsch).

Nhiễm Sars-CoV-2 mới chính là NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP của hầu hết những nạn nhân tử vong (Todesopfer). Điều này được chứng minh qua những cuộc giảo nghiệm tử thi (Obduktion) của 154 người từ trần (Verstorbene) trong các bệnh viện Đức.

Ông Klaus Püschel, chuyên gia pháp y (Rechtsmediziner) của bệnh viện đại học (Uniklinikum) Hamburg-Eppendorf (UKE) tại Bắc Đức đến cuối tháng tư (April) đã khám nghiệm vô số người từ trần (zahlreiche Verstorbene) và đã phát hiện Sars-CoV-2 trong họ.

Từ đó ông kết luận (schlussfolgern) rằng, bệnh (Erkrankung) Covid-19 thậm chí (gar) không có tính quyết định (ausschlaggebend), mà những người qua đời đã có những bệnh lý nền trầm trọng và nhiều yếu tố nguy cơ (Risikofaktor) khác. Cũng vì đa số già cả nên không cần đến Covid-19 thì họ cũng đã có tuổi thọ rất hạn chế (sehr begrenzte Lebenserwartung).

Những lời lẽ (Äußerung) này đã làm cơ sở (sich etablieren) cho một ước đoán phổ biến (vielfach publizierte Einschätzung): Những bệnh nhân bị lây nhiễm không thể sống còn (überleben) và chết không bởi (an) mà với (mit) Covid-19.

Nay có một sự đánh giá (Auswertung) kết quả 154 cuộc khám nghiệm tử thi lâm sàng (klinische Obduktion) tại 68 viện bệnh học (pathologisches Institut) đã phản kháng (widerlegen) sự ước đoán trên.

1) 86 phần trăm sự tử vong chết TRỰC TIẾP (direkt) vì sự lây nhiễm Covid-19.
Những điều quan trọng nhất (Wichtigste) đã được nêu ra (nennen) bởi ông Karl-Friedrich Büring, chủ tịch (Präsident) Hiệp Hội Những Nhà Bệnh Lý Học Chuyên Nghiệp (Pathologen-Berufsverband): Hơn ba phần tư (Dreiviertel) bệnh nhân thì Covid-19 là nguyên nhân chính đáng kể hay duy nhất (alleinig) gây tử vong. Những bệnh đi kèm (Begleiterkrankung) đóng vai trò phụ (untergeordnete Rolle).“

Các chuyên gia bệnh lý học đã tìm thấy (finden) ở 86 phần trăm cơ thể được khám nghiệm (obduzierter Körper) nhiều kết quả đặc trưng của các cơ quan (charakteristische Organbefunde) bệnh Covid-19 như sau:

* Tổn thương phế nang lan tỏa (diffuser Alveolarschaden) với 37 phần trăm – nghĩa là viêm (Entzündung) và tắc nghẽn (Verstopfung) phế nang (Lungenbläschen);
* Tổn thương phế nang lan tỏa (diffuser Alveolarschaden) với viêm phổi (Lungenentzündung) 15 phần trăm;
* Huyết khối (Thrombosen) và tắc mạch (Embolien) 19 phần trăm – cục máu đông nhỏ (Blutpfropfen) và tắc nghễn mạch máu (Gefäßverstopfung) cục máu đông;
* Mikrothromben 20 phần trăm – những cục máu đông nhỏ li ti chủ yếu ở phổi (Lunge);
* Viêm nội mạc (Endothelialitis) 9 phần trăm – viêm thành trong của mạch máu (Gefäßinnenwand).

2) CHỈ 14 phần trăm Có NGUYÊN NHÂN TỬ VONG LÀ NHỮNG BỆNH NỀN

Trong ba phần trăm các tử thi đã được khám nghiệm (Obduzierte) cho thấy những tổn thương (Schaden) này đã dẫn đến tử vong, mặc dù (obwohl) xét nghiệm Sars-CoV-2 vẫn cho kết quả âm tính (negativ).

Một nguyên nhân khác gây tử vong đã được tìm thấy ở 14 phần trăm người chết vì bệnh Covid-19. Ông Karl-Friedrich Büring nêu ra một ví dụ là „nhồi máu cơ tim (Herzinfarkt) với những động mạch vành bị hẹp (verengte Herzkranzgefäße) hoặc bệnh phổi mãn tính (chronische Lungenerkrankung) như COPD“.

3) Hai hiện tượng (Phänomene) đã có thể xác nhận (bestätigen) qua những tử thi được khám nghiệm.
Rõ ràng (deutlich) có nhiều nam giới (Männer) bị bệnh nặng nhất (schwerste) với Covid-19. Những tử thi được khám nghiệm có 68 phần trăm nam giới, còn nữ giới (frauen) chỉ có 32 phần trăm.

Người bệnh (Erkrankte) càng lớn tuổi bao nhiêu (je älter) thì nguy cơ tử vong (Sterberisiko) càng cao (umso größer). Hầu hết (überwiegend) những người chết (Tote) có độ tuổi giữa (zwischen) 70 đến (bis) 90 tuổi.

Vì những tử thi được khám nghiệm ở một độ tuổi nào đó (Altersschnitt) cũng có vô số bệnh lý nền (zahlreiche Vorerkrankung) đã cho thấy họ không liên hệ gì đến Virus Sars-CoV-2 và thường xảy ra (auftreten) trong cuộc sống sau này (späteres Leben) là: Bệnh tim-mạch (Herzkreislauf-Erkrankung), bệnh phổi (Lungenerkrankung), béo phì (Adipositas) và tiểu đường (Diabetes).

Các chuyên gia bệnh học đã quan sát (beobachten) vô số tổn thương nội tạng (Organschaden) gọi là có „liên quan đến Virus“ (virusassoziiert). „Cho đến nay (bisher), những thay đổi ở nội tạng (Organveränderung) như thế này vẫn chưa được làm sáng tỏ (klären) để biết được Covid-19 có liên quan ở mức độ nào (in welchem Umfang)“, theo ông Karl-Friedrich Büring.

Chúng ảnh hưởng (betreffen) HỆ MIỄN DỊCH như LÁ LÁCH (Milz) và những HẠCH BẠCH HUYẾT (Lymphknoten), GAN, TIM như VIÊM CƠ TIM và HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG (Zentralnervensystem) như NHỒI MÁU NÃO (Hirninfarkte) và XUẤT HUYẾT NÃO (Hirnblutung).

Tin của FOCUS-Online, ngày thứ tư 26.08.2020 – 12:42, tác giả: Petra Apfel

Thứ ba ngày 01.09.2020
Đơn xin phê chuẩn vắc-xin Corona có thể còn trong năm 2020.

Niềm hy vọng (Hoffnung) có vắc-xin (Impfstoff) chống lại Corona trong năm tới ngày càng (immer) tăng (wachsen). Một trong những ứng cử viên có tương lai nhiều nhất (aussichtsreicher Kandidat) của một tập đoàn dược phẩm (Pharmakonzern) AstraZeneca tại Thụy Điển (Schweden). Nước Đức đã đặt (sich sichern) nhiều triệu ống (Dose).

Việc phê chuẩn (Zulassung) vắc-xin Corona của Anh và Thụy Điển theo những nhà nghiên cứu (Forscher) có thể (möglicherweise) còn phải được đệ đơn xin phép (beantragen). Cho đến lúc đó (bis dahin) sẽ có thể có đủ (genügend) dữ liệu (Daten) về sự an toàn (Sicherheit) và hiệu quả (Wirksamkeit) của vắc-xin, theo ông Andrew Pollard của đại học (Universität) Oxford tại Anh quốc báo cáo (berichten) đài (Sender) BBC. Ông là người tham gia (beteiligen) nhóm nghiên cứu (Forschungsgruppe) bào chế (entwickeln) chất vắc-xin (Vakzin).

Chất này có liên quan đến một loại vắc-xin của tập đoàn dược phẩm Astrazeneca của Anh-Thụy Điển cùng đại học Oxford và được xem là thuộc vào nhóm (Kreis) những ứng viên vắc-xin có nhiều hứa hẹn thành công (erfolgversprechender Impfstoffkandidat). Sau sự phê duyệt khả thi (eventuelle Zulassung) thì vắc-xin trước tiên (erst noch) còn phải được sản suất (produzieren) số lượng lớn (in große Menge) để có thể cung cấp (versorgen) cho những nhóm quần chúng lớn (große Bevölkerungsgruppe).

Theo tờ báo (Zeitung) „BILD“ (Hình Ảnh) quy chiếu (unter Berufung) những nguồn tin của chính phủ đã tường thuật rằng, ông Jens Spahn (SPD), bộ trưởng bộ y tế Đức (Bundesgesundheitsminister) đã đặt cho nước Đức 54 triệu ống vắc xin. Thêm vào đó (zusätzlich) còn có 18 triệu ống dự phòng.

Hiện nay (derzeit) trên thế giới (weltweit) có một vài ứng viên vắc-xin đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng then chốt (entscheidende klinische Erprobungsphase), trong số này có vắc-xin của AstraZeneca và đại học Oxford. Viện (Institut) Paul-Ehrlich của Đức ước đoán (schätzen) rằng, sớm nhất (frühestens) để kết thúc (beenden) điều này là việc phê duyệt vào đầu (Anfang) năm tới (nächstes Jahr).

Chất vắc-xin của Anh-Thụy Điển đã được thử nghiệm (testen) cho tổng cộng (insgesamt) 20.000 người tại Anh quốc England), Ba Tây (Brasilien) và Nam Phi (Südafrika), theo ông Pollard. Chất vắc-xin này cũng được thử nghiệm (erproben) tại Hoa Kỳ. Những khoa học gia cho rằng (ausgehen) sẽ có khoảng 50.000 người được tiêm chủng (impfen) chất vắc-xin này.

Tổ Chức Y Tế Quốc Tế (Weltgesundheitsorganisation, viết tắt là WHO) gần đây đã hoan nghênh (begrüßen) những kết quả nghiên cứu (Studien-Ergebnisse) về vắc-xin này như là một „thông điệp tốt“ (gute Nachricht). „Tuy nhiên (dennoch) con đường vẫn còn dài (langer Weg)“, theo một chuyên gia (Expert) của WHO.

Những chuyên gia trước đây (zuvor) cũng đã tường thuật trên tạp chí y khoa (Medizin-Zeitschrift) „The Lancet“ rằng, chất vắc-xin dường như (scheinen) an toàn (sicher) và thúc đẩy (ankurbeln) hệ miễn dịch (Immunsystem). Theo các thông tin (Angabe) thì chất vắc-xin này có tác dụng kép (zweifache Wirkung): Nó hỗ trợ (fördern) sự thành hình (Bildung) kháng thể đặc hiệu (spezifische Antikörper) cũng như „tế bào T“ (T-Zellen) – cả hai (beide) đều quan trọng (wichtig) cho sự kháng dịch (Immunabwehr). Nhưng (aber), liệu (ob) chất này có thật sự (tatsächlich) bảo vệ (schützen) nhiễm (Infektion) Corona hay không thì điều này còn vẫn chưa (noch nicht) được chứng minh (nachweisen).

Tin © dpa-infocom, dpa:200825-99-302878/4, hình Martin Schutt/dpa-Zentralbild/Illustration ©

Xem (928)