Home » Hội PTVNTN » Tin Đức Quốc tháng 07.2020

Tin Đức Quốc tháng 07.2020

Mục Hội PTVNTN

Thứ ba ngày 14.07.2020
Coronavirus cũng tấn công tim.

3Nhiều bệnh nhân Corona từ trần (sterben) bởi phổi không hoạt động (Lungenversagen). Tuy nhiên (doch), phổi (Lunge) không phải là cơ quan duy nhất (einziges Organ) bị Coronavirus gây tổn hại (schädigen). Các nhà y khoa (Mediziner) thuộc bệnh viện đại học (Universitätsklinikum) Hamburg-Epperndorf , viết tắt là UKE, phát hiện (herausfinden) rằng, con vi khuẩn (Virus) cũng có thể tấn công (angreifen) tim (Herz).

Sars-CoV-2 có thể lây nhiễm (infizieren) các tế bào tim (Herzzellen) và sinh sôi nẩy nở (vermehren), theo vị điều hành trưởng (Leiter) công trình khảo sát, ông Dirk Westermann.

Đồng thời (zudem) con vi khuẩn dường như có khả năng (in der Lage) làm thay đổi (verändern) khả năng di truyền (Genaktivität) những tế bào tim đã bị nhiễm. Tuy nhiên (allerdings), vẫn chưa thể giải thích (erklären) để đến kết luận rằng, liệu điều này có tác dụng (Auswirkung) đến tiến trình tật bệnh (Krankheitsverlauf) của những tế bào tim hay không, theo thông báo (Mitteilung). Khả năng di truyền đã biến đổi (veränderte Geaktivität) trong những tế bào tim có thế mang đến nhiều hậu quả lâu dài (Langzeitfolge) cho tình trạng sức khỏe (Gesundheitszustand) của những người đã bị ảnh hưởng (Betroffene). Cho nên, trong tương lai (künftig) cần có (notwendig) nhiều nghiên cứu hàng loạt (Reihenuntersuchung) ở những bệnh nhân còn sống (noch lebender Patient) với Covid-19.

Theo UKE, có 39 bệnh nhân tim bị nhiễm Sars-CoV-2 đã từ trần (gestorbene Herzpatienten) được kiểm tra (untersuchen) cho công trình khảo sát. Trung bình họ ở độ tuổi 85.

Khoảng (rund) hai phần ba (zwei Drittel) những bệnh nhân này đã được các nghiên cứu gia (Forscher) phát hiện (nachweisen) có vi khuẩn trong các cơ tim (Herzgewebe), theo UKE. Trong 16 trường hợp (Fall) đã tìm thấy (finden) số lượng lớn (große Menge) vi khuẩn và nó có thể ảnh hưởng lâm sàng (klinische Auswirkung).

Kết quả được công bố (erscheinen) trên tờ chuyên môn (Fachblatt) „JAMA Cardiology“

Tin © dpa-infocom, dpa:200710-99-745755/2, hình Patrick Seeger/dpa ©

Thứ hai ngày 13.07.2020
Tỷ lệ hạn chế nhập học đối với một số môn học.

Hàng trăm ngàn nam nữ học sinh mới tốt nghiệp phổ thông trung học với bằng tú tài (Abitur) và đang tìm một chỗ học (Studienplatz) cho học kỳ mùa đông (Wintersemester) 2020/2021. Nhưng những sinh viên tương lai (künftige Studierende) phải dự tính (rechnen) đến chế độ hạn chế nhập học (Zulassungsbeschränkung) đặc biệt thường (besonders oft) xảy ra cho họ ở đâu (wo)?

Học kỳ mùa đông 2020/2021 tại Đức lại (erneut) đặt ra tỷ lệ (prozentual) hạn chế nhập học đối với một số môn học (Studiengang) hơn năm trước (Vorjahr).

Toàn quốc (bundesweit) cần (brauchen) điểm tú tài tối thiểu (Abitur-Mindestnote) cho 40,6 phần trăm các môn học (năm trước 40,7). Kết quả (Ergebnis) cho biết từ „Check Numerus Clausus“ (Kiểm Tra Tiêu Chuẩn Bình Chọn) hàng năm (jährlich) của Trung Tâm Phát Triển Cao Học (Centrum für Hochschulentwicklung, viết tắt là CHE) tại Gütersloh.

„Nhiều người muốn là sinh viên (Studieninteressierte) đã bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện tốt nghiệp tú tài thật nghiêm trọng (außergewöhnliche Abiturbedingung) trong năm nay liên quan đến (angesichts) Corona“, vị quản đốc (Geschäftsführer) CHE, ông Frank Ziegele phát biểu hôm thứ tư (Mittwoch) tuần trước (Vorwoche). „Tuy nhiên, điểm tú tài (Abiturnote) không còn quan trọng đối với gần (knapp) 60 phần trăm tất cả môn học và đây chắc chắn là một thông tin tốt và yên ổn (gute und beruhigende Nachricht).“

Tuy nhiên, chỉ số (Quote) các môn học thay đổi (variieren) mạnh (stark) tùy theo (je nach) ngành (Fach), loại cao học (Hochschultyp), tiểu bang (Bundesland) và địa điểm học (Studienort) với cái gọi là „Numerus Clausus“ (tiêu chuẩn bình chọn), viết tắt là NC: Phổ biến nhất (am häufigsten) là những môn học tại Berlin (66,1 phần trăm), Saarland (65,4 phần trăm) và tại Hamburg với 64 phần trăm bị hạn chế nhập học (zulassungsbeschränkt). Muốn làm sinh viên tại Thüringen thì có ít chướng ngại nhất (geringste Hürde). Ở đây (hier) chỉ (lediglich) xảy ra (stattfinden) việc bình chọn (Auswahl) NC là 19,4 phần trăm cho một trong số năm môn học đối với ứng viên (Bewerber).

Sự so sánh giữa các thành phố (Städte-Vergleich) cho thấy (sich zeigen) có sự khác biệt rõ rệt (deutliche Unterschiede): Chỉ số NC cao (hohe NC-Quote) chủ yếu (vor allem) xảy ra (sich finden) trong các thành phố lớn nhất (größte Stadt), ví dụ ngoài (neben) Berlin và Hamburg còn có Köln cũng như (sowie) München. Tuy nhiên, trong những „thành phố đại học“ điển hình (typische „Studi-Städte“) như Leipzig và Göttingen thì thường (oft) phải tính đến (rechnen) sự hạn chế nhập học. Leipzig đã đạt (erreichen) cùng với Saarbrücken con số cao nhất (Höchstwert) về sự kiểm tra của năm nay (diesjähriger Check) trong số những thành phố đại học lớn hơn (größere Hochschulstädte). Ở đây, hai nơi đó có việc hạn chế nhập học khoảng (rund) hai phần ba (Zweidrittel) tất cả môn học với 65 phần trăm.

Những cơ hội tốt nhất (beste Chance) để có một chỗ học (Studienplatz) trong các thành phố đại học có nhiều hơn 40.000 sinh viên (Studierende) ngược lại (hingegen) là tại Gießen cho những ai muốn làm sinh viên. Ở đây, những sinh viên học kỳ một (Erstsemester) có thể ghi tên (sich einschreiben) bốn (vier) đến năm (fünf) môn học mà không phải thông qua một thủ tục nào (ohne weitere Verfahren) hoặc trắc nghiệm (Test) nào cả.

Các môn học ở Cao Học Chuyên Môn (Fachhochschule) có chỉ số 45 phần trăm thường chịu chế độ bình chọn NC nhiều hơn ở đại học (Universität) với 37,2 phần trăm. Những môn học Cử Nhân (Bachelorstudiengang) có chỉ số NC 42 phần trăm cao hơn một chút (etwas höher) so với các môn Thạc Sĩ (Masterstudiengang) với 38,8 phần trăm.

Đặc biệt (besonders) những môn khoa học luật (Recht), kinh tế (Wirtschaft), cộng đồng (Gesellschaft) và xã hội (Sozial) thì chế độ hạn chế nhập học khá cao (hoch). Trên toàn quốc, các môn học này đều có sự hạn chế nhập học. Ở môn toán (Mathematik) và khoa học thiên nhiên (Naturwissenschaft) ngược lại (dagegen) có hơn (mehr als) 60 phần trăm cung cấp (Angebot) cho tất cả sinh viên học kỳ thứ nhất vẫn còn trống (offen) – độc lập (unabhängig) với điểm tú tài của họ. Chỉ số thấp nhất (niedrigste Quote) là các môn học về ngôn ngữ (Sprachwissenschaft) và văn hóa (Kulturwissenschaft).

Thông tin (Angabe) trong NC-Check 2020/21 dựa trên (basieren) những ghi chép (Eintrag) từ ngân hàng dữ liệu Đức (bundesweite Datenbank) thuộc Cẩm Nang Đại Học (Hochschulkompass, viết tắt là HSK cập nhật (Stand) tháng bảy (Juni) 2020.

Tin © dpa-infocom, dpa:200708-99-715225/3; hình Swen Pförtner/dpa ©

Chủ nhật ngày 12.07.2020
Làm đơn lại để xin trợ cấp trẻ con.

Phụ huynh (Eltern) nhận (bekommen) trợ cấp trẻ con (Kindergeld) cho đến khi con chúng đủ (vollenden) 18 tuổi (Lebensjahr). Liệu ngay sau đó (anschließend) có được trả tiếp tục (weiterzahlen) hay không tùy (ankommen) vào từng hoàn cảnh sống (jeweilige Lebenssituation).

Nhiều thanh thiếu niên (Jugendliche) nay đã kết thúc (abschließen) học trình phổ thông trung học (Schulausbildung). Những thanh thiếu niên ở thời điểm (Zeitpunkt) kết thúc học trình (Schulabschluss) chưa đủ (noch nicht) 18 tuổi thì vẫn được trợ cấp trẻ con sau khi học xong, thật tế là cho đến lúc đủ (Vollendung) 18 tuổi.

Ở thanh thiếu niên đã đủ 18 tuổi, nghĩa là đa phần (überwiegend) tốt nghiệp tú tài hay tốt nghiệp phổ thông trung học, phải nộp đơn mới (neuer Antrag stellen) xin trợ cấp trẻ con gửi đến quỹ gia đình trực thuộc (zuständige Familienkasse).

„Trợ cấp trẻ con dành cho trẻ em đến lúc đủ 25 tuổi khi chúng đang (sich befinden) học nghề (Berufsausbildung) hoặc một cái gọi là thời gian chuyển tiếp (sogenannte Übergangszeit) tối đa (maximal) 4 (vier) tháng giữa (zwischen) hai (zwei) giai đoạn đào tạo (Ausbindungsabschnitt)“, ông Uwe Rauhöft, quản đốc (Geschäftsführer) Liên Hội Hiệp Hội Giúp Thuế Lương (Bundesverband Lohnsteuerhilfevereine) tại Berlin giải thích (erklären). Điều này cũng áp dụng (gelten) khi con trẻ đang chờ (warten) một chỗ đào tạo (Ausbildungsplatz) hoặc đang thực hiện (absolvieren) một dịch vụ thiện nguyện được công nhận (anerkannter Freiwilligendienst).

Trợ cấp trẻ con cũng trả cho đến khi trẻ đủ 21 tuổi, khi đứa trẻ (Kind) thất nghiệp (beschäftigungslos) và đã khai báo (melden) Ty Lao Động (Agentur für Arbeit) để tìm việc (arbeitssuchend).

„Quan trọng (wichtig) là phụ huynh phải nộp đơn kịp thời (rechtzeitig) xin trợ cấp trẻ con ngay sau khi đứa trẻ đủ 18 tuổi, vì lẽ (denn) trợ cấp trẻ con chỉ có thể hồi tố (rückwirkend) tối đa sáu (sechs) tháng, ông Rauhöft khuyên (raten). Ở những trẻ đã hết học trình hầu như (fast) luôn (immer) có lý do chính đáng để cứu xét (Berücksichtigungsgrund) cho nên (damit) luôn được hưởng quyền (Anspruch) trợ cấp trẻ con.

Tin © dpa-infocom, dpa:200708-99-716720/2; hình Andrea Warnecke/dpa-tmn ©

Thứ bảy ngày 11.07.2020
Nhiễm trùng hoàn toàn không có nghĩa là tự động miễn dịch.

Ở nhiều người không tìm thấy (finden) kháng thể đặc hiệu (spezielle Antikörper) nào trong máu (Blut) liền (kurz) sau khi bị nhiễm (Infektion) Corona. Điều này có nghĩa gì khi nói đến gọi là ổ miễn dịch (Herdenimmunität), thẻ miễn dịch (Immunitätspass) và việc phát minh (Entwicklung) vắc-xin (Impfstoffe)?

Nhưng bây giờ (nun) có nhiều khảo sát cho thấy (hindeuten) rằng, ngay (gerade) ở nhiều người chỉ (nur) có ít (wenig) hoặc thậm chí (gar) không có triệu chứng (Symptome) gì cả cũng có thể phát hiện được (nachweisbar) rằng, họ không có một kháng thể nào trong máu liền ngay (schon bald) sau khi bị nhiễm trùng.

1) Sự hiểu biết (Verständnis) về miễn dịch (Immunität) chưa rõ ràng (unklar).
Thật ra (zwar) vẫn chưa rõ ràng (noch unklar) về ý nghĩa (Bedeutung) tính miễn dịch khả thi (mögliche Immunität). Nhưng mọi sự quan sát (Beobachtung) làm tăng (wecken) nghi ngờ (Zweifel) tính thuyết phục (Aussagekraft) việc xét nghiệm kháng thể (Antikörper-Test) và thẻ miễn dịch hiện đang được thảo luận (diskutierte Immunitätspass). Một sự hiểu biết chính xác khả thi nhất (möglichst genaues Verständnis) về phản ứng miễn dịch (Immunantwort) đối với Sars-CoV-2 có lẽ cũng là trọng tâm (zentral) cho việc phát minh một loại vắc-xin.

Phản ứng miễn dịch ở con người dường như (scheinen) không nhất quán (uneinheitlich). Theo nguyên tắc (grundsätzlich), hệ miễn dịch (Immunsystem) có thể phản ứng (reagieren) chẳng hạn (etwa) với các tế bào (Zellen) gọi là T (T-Zellen) đối với mầm bệnh (Krankheitserreger). Một số (manch) tế bào T kích hoạt (aktivieren) tế bào B (B-Zellen) sau đó tạo ra (bilden) những kháng thể. Các kháng thể kết nối (binden) với những đặc điểm nhất định (bestimmte Merkmale) của mầm bệnh (Erreger) và như vậy có thể làm chúng không thể hoạt động được nữa (inaktivieren).

Thoạt nhìn dường như sự hiện diện (Vorhandensein) những kháng thể đặc hiệu như là một dấu hiệu tốt (guter Hinweise) của một sự nhiễm trùng trước đây (frühere Infektion). Tuy nhiên (allerdings), một nghiên cứu (Untersuchung) của bệnh viện đại học (Universitätshospital) Zürich, Thụy Sĩ, đã phát hiện ở người có quá trình bệnh nhẹ hoặc không có triệu chứng thì không có cái gọi là kháng thề IgG trong máu. Những kháng thể này rất quan trọng (sehr wichtig) cho bộ nhớ miễn dịch (Immungedächtnis) và như thế hệ miễn dịch (Immunsystem) sẽ phản ứng (reagieren) mạnh hơn (stärker) và nhanh hơn (schneller) khi có một sự tiếp xúc mới (erneute Kontakt) với mầm bệnh. Sự khảo sát (Studie) cho đến nay (bislang) chỉ là một sự ghi nhận (Preprint), nghĩa là chưa được các chuyên gia giám định (begutachten) cũng như chưa được công bố (publizieren) trên một tạp chí chuyên môn (Fachjournal) nào.

2) Việc khảo sát kháng thể gây bất an (verunsichern) cho các chuyên gia.

Ghi nhận khác qua một nghiên cứu được công bố (veröffentlichen) của sở y tế (Gesundheitsamt) Lübeck, Bắc Đức, đã phát hiện ở 30 phần trăm trong số 110 người bị nhiễm (Infizierte) Corona có tối đa (höchsten) ít triệu chứng với Covid-19 và cũng không có kháng thể. Các chuyên gia Trung Hoa báo cáo (berichten) trên tờ chuyên môn (Fachblatt) „Nature Medicine“ (Y Học Thiên Nhiên) rằng, nồng độ kháng thể (Antikörper-Konzentration) trong máu ở những người bị nhiễm đã giảm xuống (sinken) rõ rệt (deutlich) sau một thời gian ngắn (nach kurzer Zeit).

Những cuộc khảo sát như vậy làm cho tính thuyết phục của nhiều xét nghiệm rầm rộ (Massentest) kháng thể để giải thích (klären) mức độ (Ausmaß) làn sóng lây nhiễm (Infektionswelle) Corona trong quần chúng (Bevölkerung) có vẻ đáng nghi ngờ (fraglich erscheinen). Đồng thời (zudem), tính miễn dịch được kháng thể cung cấp ở nhiều người bị nhiễm Sars-CoV-2 có thể biến mất (wegfallen) sau một thời gian ngắn.

Ông Thomas Jacobs của Viện (Institut) Bernhard-Nocht về Y Học Nhiệt Đới (Tropenmedizin, viết tắt là BNITM) nhận thấy (sehen) việc thực hiện (Einführung) thẻ miễn dịch cho con người đã bị nhiễm Sars-CoV-2 rất đáng nghi ngờ (skeptisch). Vẫn chưa có đảm bảo (sichern) khoa học (wissenschaftlich) rằng, sự hiện diện (Präsenz) kháng thể tự động (automatisch) sẽ phòng vệ (schützen) chống lại sự nhiễm trùng mới. „Nói chung (generell), chúng tôi vẫn chưa (noch nicht) biết (wissen) chính xác (genau) làm thế nào để phòng vệ kháng thể“, nhà miễn dịch học (Immunologe) xác định (feststellen). Thật ra những khảo sát gần tiếp cận (nahelegen) một sự bảo vệ như vậy, „tuy nhiên mức độ (Spiegel) kháng thể cần cao (wie hoch) như thế nào cũng vẫn chưa rõ (unklar)“.

3) Kháng thể có phẩm chất khác nhau.
Ông Klaus Cichutek, chủ tịch (Präsident) Viện Paul-Ehrlich (PEI) nhấn mạnh (betonen) rằng, người ta phải phân biệt (differenzieren) kháng thể: „Kháng thể có phẩm chất khác nhau (verschiedene Qualität) và không phải tất cả chúng đều có thể ngăn chận (verhindern) một sự nhiễm trùng.“ Điều quan trọng ở đây là phải tìm ra dữ liệu cứng (harte Daten), nghĩa là „việc bảo vệ miễn dịch (Immunschutz) xảy ra (entstehen) phải được đo đạt (messen) thực tế (Realität).“

Cũng như vậy (ebenso), ông Jacobs ít ngạc nhiên (überraschen) về các kết quả khảo sát (Studienresultat) rằng, ít hoặc thậm chí không có kháng thể nào được phát hiện (auffindbar) nhanh chóng (schnell) ngay cả ở những bệnh không có triệu chứng (asymptomatische Erkrankung): „Một số ít vi khuẩn ở vùng cổ và vòm họng (Hals- und Rachenbereich) dường như (wahrscheinlich) không đủ (genügen) để kích hoạt (auslösen) phản ứng lớn của kháng thể hoặc tính miễn dịch do tế bào T.“

Phản ứng thích hợp (angepasste Reaktion) hoàn toàn (durchaus) có ý nghĩa (Sinn) đối với hệ miễn dịch, vì chúng tôi luôn (ständig) tiếp cận với mầm bệnh (Pathogenen) trong cuộc sống hằng ngày (im Alltag).“ Cho nên, dường như (vermutlich) đã có sự bảo vệ lâu dài (schon längerfristiger Schutz) được thiết lập (aufbauen) ở những căn bệnh với Covid-19 có triệu chứng nặng (schwere Symptome).

4) Tính miễn dịch chỉ duy trì ít tháng.
Nhiều khảo sát đối với những vi khuẩn Corona khác cho thấy rằng, một sự lây nhiễm mới với Sars-CoV-2 chỉ duy trì hoàn toàn khả năng miễn dịch vài tháng, theo giải thích (erklären) của nhà vi khuẩn học (Virologe) ông Shane Crotty thuộc La Jolla Institute of Immunology tại Kalifornien trên tạp chí chuyên môn (Fachmagazin) „Nature“. Một triệu chứng giảm tính miễn dịch (abmildernde Immunität) có thể sau đó kéo dài lâu hơn (länger).

Điều không rõ được (ungewiss) là có một phần nào (Teil) đó của sự kháng nhiễm (Immunabwehr) đặc biệt quan trọng (besonders wichtig) cho sự bảo vệ. „Ngoài những tế bào B tạo ra kháng thể thì phản ứng của tế bào T đối với mầm bệnh cũng quan trọng như vậy“, ông Jacobs giải thích. Cơ chế nào (Mechanismus) có ảnh hưởng (wirken) đặc biệt ở đây chính là câu hỏi quan trọng cho việc phát minh một loại vắc-xin.

Liên quan đến đề tài này, những nghiên cứu gia về nhiễm trùng (Infektionsforscher) của nhiều khảo sát tại Hoa Kỳ và Đức đề cập (verweisen) là: Có đến 30 phần trăm người đã không nhiễm Sars-CoV-2 mà vẫn có những tế bào hỗ trợ (Helferzellen) T đã phản ứng đối với vi khuẩn Corona này. Và điều này có thể giải thích rằng: Dường như những người này đã từng (schon einmal) tiếp xúc (Kontakt) với cái gọi là vi khuẩn Common-Cold-Corona“, nghĩa là đã tiếp xúc với những loại vi khuẩn Corona khác thường gây ra (auslösen) những bệnh cảm lạnh thông thường (herkömmliche Erkältung).

Một sự tiếp xúc như vậy cũng có thể cung cấp một phần miễn dịch (Teil-Immunität) chống Covid-19. „Điều này có thể giải thích rằng, vì sao thấy được nhiều khác biệt về động lực và triệu chứng (so unterschiedliche Dynamik und Symptome) khi bị nhiễm“, ông Jacobs ước đoán (vermuten). Tuy nhiên, vẫn còn chưa rõ ràng, liệu có sự bảo vệ nào từ cái gọi là tái kích hoạt (Reaktivität) những tế bào T này để có thể cung cấp (bieten).

Tin © dpa-infocom, dpa:200708-99-713267/4; hình internet

Thứ sáu ngày 10.07.2020
Bắt đầu xét nghiệm Corona tại giáo xứ của một Hội Thánh độc lập.

Cha mẹ (Eltern) và mười một (elf) trẻ em (Kinder) một gia đình (Familie) tại Euskirchen thuộc tiểu bang Nordrhein-Westfalen (NRW) đã bị nhiễm (infizieren) Corona. Họ là tín đồ giáo xứ một Hội Thánh độc lập (freikirchliche Gemeinde) và nay phải bị cách ly kiểm dịch (Quarantäne). Cơ quan chính quyền đang bắt đầu xét nghiệm (testen) toàn bộ giáo xứ (komplette Gemeinde) này. Việc ra chỉ thị hạn chế (Lockdown) theo nhà chức trách (Behörde) là điều khó có thể tránh được (nicht ausschließen).

Sau khi 13 thành viên (Mitglieder) một gia đình tại Euskirchen bị nhiễm Corona hôm thứ năm (Donnerstag) theo chính quyền huyện (Kreisverwaltung) cho biết thì việc xét nghiệm (Test) cho hàng trăm thành viên của giáo xứ một Hội Thánh độc lập đã được bắt đầu. Toàn bộ Hội Thánh Mennoniten tại Euskirchen hoàn toàn (komplett) bị cách ly kiểm dịch để xét nghiệm trong tuần này, theo lời phát ngôn viên (Sprecher) chính quyền huyện Euskirchen thông báo (mitteilen) hôm thứ năm. Sở y tế (Gesundheitsamt) của huyện dự kiến sẽ có khoảng 1000 người phải được xét nghiệm. Theo ông Wolfgang Andres, phát ngôn viên cơ quan hành chánh huyện nói rằng, kết quả đầu tiên (erstes Ergebnis) phải chờ đến cuối tuần này mới biết được.

Tùy dấu hiệu (Anzeichen) biểu hiện thì sau đó mới có thể tính đến việc ra chỉ thị Lockdown. „Huyện chúng tôi có gần (knapp) 200.000 cư dân (Einwohner). Khi chúng tôi có tầm 100 trường hợp dương tính tại Euskirchen) thì ít nhất (zumindest) cũng sẽ phải thực thi việc Lockdown“, ông Andres nói. Tuy nhiên, đối với hoàn cảnh (Situation) này, huyện chưa có sẳn một kế hoạch nào (Plan). Cho nên huyện phải tự định vị lại (neu positionieren). Mức giới hạn (Grenzwert) đối với những hạn chế mới (neuerliche Einschränkung) cho cuộc sống công cộng (öffentliches Leben) là 50 ca nhiễm mới (Neuinfektion) trên (pro) 100.000 cư dân trong bảy (sieben) ngày.

Những mẫu xét nghiệm (Probe) sẽ được lấy (nehmen) trong một trường học (Schule) của xứ đạo Hội Thánh Mennoniten, nơi vẫn được học sinh (Schüler) đi học (besuchen) cho đến (bis zu) lúc nghỉ hè (Sommerferien). Sở y tế quan tâm đến (achten) việc xét nghiệm sẽ diễn ra (sattfinden) trong những tình huống vệ sinh hoàn hảo (hygienisch einwandfreier Umstand), theo ông Andres. Trường học đã được chọn (wählen) là địa điểm xét nghiệm (Test-Ort) bởi tín đồ của Hội Thánh Mennoniten tin tưởng (vertrauen) địa điểm này. Theo ông Andres, Hội Thánh Mennoniten tại Euskirchen trước tiên (zunächst) không có ai (niemand) sẳn sàng (erreichbar) lên tiếng có quan điểm (Stellungnahme) gì cả.

Ban đầu, theo cơ quan hành chánh huyện thì người Mẹ (Mutter) của một gia đình đã đến bệnh viện (Krankenhaus) bởi có những dấu hiệu triệu chứng bệnh (Krankheitssymptome) và được xét nghiệm dương tính (positiv) Corona. Sau đó, phát hiện (nachweisen) ở người Cha (Vater) và mười một (elf) trong số 13 người con đã bị nhiễm. Và những trẻ này vẫn còn đến trường học riêng (eigene Schule) của Hội Thánh Mennoniten. Gia đình này đã tham dự buổi Thánh Lễ (Gottesdienst) trong nhà nguyện (Bethaus) của Hội Thánh này.

Tin dpa, hình internet

Thứ năm ngày 09.07.2020
Bộ trưởng y tế các tiểu bang yêu cầu bổn phận mang khẩu trang vẫn áp dụng tiếp tục.

Trước tiên (erst), việc áp dụng bổn phận mang khẩu trang (Maskenpflicht) được xem là không cần thiết (überflüssig) trong việc chống (Bekämpfung) đại dịch (Pandemie) Corona. Nhưng hiện giờ (inzwischen) nó lại được xem là một công cụ quan trọng (wichtiges Instrument) để ngăn ngừa (verhindern) làn sóng lây nhiễm lần hai (zweite Infektionswelle). Sau những cuộc tranh luận (Debatte) về việc hủy bỏ (Aufhebung) bổn phận (Pflicht) này, nay đã có một quyết định (Beschluss).

Trong cuộc chiến (Kampf) chống (gegen) khủng hoảng (Krise) Corona, bổn phận mang khẩu trang trong nước Đức trước tiên (vorerst) vẫn được áp dụng tiếp tục (weiter gelten) – kể cả trong thương mại bán lẻ (Einzelhandel). Lý do viện dẫn (Begründung) là không được phép nảy sinh (entstehen) một ấn tượng sai lầm (falscher Eindruck) rằng đại dịch đã kết thúc (vorbei).

16 vị bộ trưởng y tế (Gesundheitsminister) các tiểu bang (Bundesland) đã thỏa thuận (vereinbaren) hôm thứ hai (Montag), theo thông tấn xã (dpa) Đức biết được (erfahren) từ những người tham dự (Teilnehmerkreis). sau hội nghị kết nối (Schaltkonferenz) những vị lãnh đạo bộ phận các tiểu bang (Länderressortchef) cùng với ông Jens Spahn (CDU), bộ trưởng y tế Đức (Bundesgesundheitsminister). Trước đó (zuvor), bà Angela Merkel, Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) cũng đã từ chối rõ ràng (klare Absage) việc hủy bỏ bổn phận mang khẩu trang trong các cửa hàng (Geschäft) và được sự ủng hộ (Unterstützung) từ cấp lãnh đạo những đảng phái (Parteiführung) như CDU, CSU và SPD.

„Bất cứ nơi nào (überall dort) không thể đảm bảo (gewährleisten) được khoảng cách tối thiểu (Mindestabstand) trong đời sống công cộng (öffentliches Leben) thì khẩu trang (Maske) từ quan điểm ngày nay (heutige Sicht) vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng và không thể thiếu được (wichtiges und unverzichtbares Mittel)“, theo ông Steffen Seifert, phát ngôn viên chính phủ (Regierungssprecher) phát biểu tại Berlin. Việc làm này cần thiết (nötig) để duy trì (halten) thấp (niedrig) con số bị lây nhiễm (Infektionszahl) và cũng để phòng vệ (schützen) cho đồng loại (Mitmenschen) và cho bản thân (sich selbst). „Nghĩa là (also): Dù trong xe buýt (Bus), trong xe điện ngầm (U-Bahn) hoặc trong các cửa hàng bán lẻ thì bổn phận mang khẩu trang vẫn phải được duy trì (bleiben).“

Ngay (schon) trước khi có quyết định của các bộ trưởng y tế, đã có nhiều tiểu bang vẫn bác bỏ (ablehnen) ý kiến hủy bỏ mang khẩu trang. „Việc mang (tragen) khẩu trang hàng ngày (Alltagsmaske) giúp (helfen) làm giảm (verringern) nguy cơ bị lây nhiễm (Ansteckungsgefahr)“, theo bà Malu Dreyer (SPD), thủ hiến tiểu bang (Ministerpräsidentin) Rheinland-Paflz cho biết (mitteilen). „Khẩu trang cũng có nghĩa là ít chi phí (geringer Aufwand) nhưng có tác dụng lớn (große Wirkung) liên quan đến (in Verbindung) việc hạn chế tiếp xúc (Kontajteinschränkung) và tiêu chuẩn vệ sinh cao (hohe Hygienestandard); nó cũng là một phương tiện quan trọng được khoa học chứng minh (wissenschaftliche Belege) trong cuộc chiến chống vi khuẩn (Virus).“

Tin © dpa-infocom, dpa:200705-99-677267/21, hình Tom Weller/dpa ©

Thứ tư ngày 08.07.2020
Những người làm việc ít giờ bị ảnh hưởng nặng nề bởi Corona.

Các nhà kinh tế (Ökonomen) ca ngợi (preisen) công việc ít giờ (Kurzarbeit) là một công cụ hiệu quả (wirksames Instrument) để ngăn chận (verhindern) tình trạng thất nghiệp ồ ạt (massenhafte Arbeitslosigkeit). Nhưng không phải tất cả công nhân (Arbeitnehmer) nào cũng có thể được hưởng lợi lạc (profitieren) điều này trong cơn khủng hoảng (Krise).

Theo (zufolge) các chuyên gia (Expert), đặc biệt (besonders) những người làm việc ít giờ (Minijobber) bị ảnh hưởng (betreffen) nặng nề (hart) bởi khủng hoảng Corona, vì (da) họ không được hưởng quyền (Anspruch) tài trợ cho người làm ít giờ (Kurzarbeitergeld).

„Cơn khủng hoảng Corona gia cố thêm (verstärken) nhiều vấn đề (Problem) liên quan đến lãnh vực lương thấp (Niedriglohnsektor) – chủ yếu (vor allem) đối với những nam nữ công nhân làm việc ít giờ. Khi không có (ohne) mạng lưới an toàn (Sicherheitsnetz) của sự tài trợ người làm việc ít giờ thì họ là những người đầu tiên bị thất thu nhập (erste Einkommenseinbußen) hoặc mất (verlieren) công việc làm (Arbeit)“, theo ông Jörg Dräger, thành viện hội đồng quản trị (Vorstandsmitglied) của tổ chức (Stiftung) Bertelsmann.

1) Không được hưởng tài trợ cho người làm việc ít giờ.
Cho nên tỷ lệ lao động (Beschäftigungsquote) ở những người làm việc ít giờ như là công việc chính (Haupterwerb) của mình trong tháng ba (März) so với cùng tháng của năm ngoái (Vorjahresmonat) đã giảm (zurückgehen) 4,6 phần trăm, theo kết quả một cuộc khảo sát (Studie) được một tổ chức hạ tầng (Tochter) của Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Đức (Deutsches Institut für Wirtschaftsforschung, viết tắt là DIW) là DIW Econ thực hiện (durchführen) do sự ủy nhiệm (im Auftrag) của tổ chức Bertelsmann. Bởi những người làm việc ít giờ không đóng khoản (Beitrag) bảo hiểm thất nghiệp (Arbeitslosengeld) nên họ mất (entfallen) quyền hưởng tài trợ cho người làm việc ít giờ.

Để có thể du di ứng phó (abfedern) khả quan hơn (besser) đối với những cơn khủng hoảng sắp tới (kommende Krise), những người thực hiện cuộc khảo sát (Studienautor) đề nghị (empfehlen) nên giảm (senken) ngưỡng (Schwelle) công việc ít giờ từ 450 xuống còn 250 Euro. Như vậy, sẽ có nhiều công nhân (mehr Beschäftigte) phải đóng những khoản bảo hiểm xã hội (Sozialversicherungsbeitrag) thì họ sẽ được bảo hộ (asichern) tốt hơn trong thời gian khủng hoảng (Krisenzeiten).

Kể từ thập niên 90, lãnh vực lương thấp tại Đức theo sự đánh giá (Auswertung) đã tăng (wachsen) hơn (mehr als) 60 phần trăm: Trong năm 2018, hơn một phần năm (Fünftel) tất cả công nhân (7,7 triệu người) kiếm được (verdienen) ít hơn (weniger) 11,40 Euro brutto mỗi giờ (Stunde). Với mức lương giờ trung bình (durchschnittlicher Stundenlohn) là 8,40 Euro thì phần lớn (großer Teil) trong số họ đã nhận (erhalten) thậm chí (sogar) ít hơn mức lương tối thiểu luật định (gesetzlicher Mindestlohn). Sự đánh giá ước tính (schätzen) số người nhận ít hơn không hợp lý (unrechtsmäßig) so với số tiền họ phải được hưởng (zustehen) lên đến 2,4 triệu người. Những người thực hiện cuộc khảo sát kêu gọi (appellieren) tăng cường (verstärken) thực hiện việc kiểm soát (Kontrolle) ở mặt này.

2) Lương thấp trong nhiều lãnh vực có hệ thống.
Điều này không phải (keinesweg) chỉ là những công việc đơn giản (einfache Arbeit) được trả (vergüten) bằng những đồng lương thấp. Trong năm 2018 có hơn một nửa (Hälfte) những người lao động lương thấp làm việc trong ngành thương mại (Handel), công nghệ vận tải và thực phẩm (Transport- und Lebensmittelindustrie) cũng như trong lãnh vực đào tạo (Bildung), ngành y tế và xã hội (Gesundheits- und Sozialwesen) – đây là những ngành nghề (Beruf) sau này (spätestens) kể từ thời Corona được phân xếp (einstufen) vào loại „có hệ thống“ (systemrelevant). Kể từ giữa (Mitte) thập niên 90, số lượng người có trình độ trung bình (mittlere Qualifikation) hoặc cao hơn (höhere Qualifikation) trong lãnh vực này được trả lương tệ (schlecht bezahlter Sektor) đã tăng (steigen) lên đến gần (knapp) một triệu người – nhóm này chiếm khoảng 40 phần trăm trong năm 2018.

Đã từ lâu (längs), không phải ai cũng thành công (gelingen) trong việc chuyển từ mức lương thấp sang những mức lương cao hơn (höhere Gehaltsklassen). Một trong hai công nhân lương thấp theo một khảo sát lâu dài (Langzeitstudie) cho thấy họ vẫn nằm ì (verharren) tại chỗ bốn năm sau đó. Nam giới (Männer), những công nhân có trình độ cao hơn và trẻ hơn thường (häufiger) có điều kiện thăng tiến (Aufstieg) hơn những người khác.

Tin © dpa-infocom, dpa:200702-99-645414/2, hình Jens Büttner/dpa-Zentralbild/dpa-tmn ©

Thứ ba ngày 07.07.2020
Một loại thuốc chống Corona đầu tiên được châu Âu cho phép

Lầu đầu tiên (erstmal), một loại thuốc (Medikament) chống COVID-19 được cho phép (zulassen) trong EU. Một chuyên gia (Expert) nói rằng, loại thuốc này có thể giúp những bệnh nhân bị bệnh nặng (schwerkranke Patienten). Nhưng (doch) Hoa Kỳ lên tiếng rằng, họ chắc chắn (sich sichern) đã có một phần lớn (Großteil) việc sản xuất (Produktion).

Lần đầu tiên ủy ban (Kommission) EU đã cho phép sự lưu hành một loại thuốc chống bệnh phổi (Lungenkrankheit) do COVID-19 gây ra. Như vậy các quốc gia (Staat) y theo (folgen) Cơ Quan Dược Phẩm Châu Âu (Europäische Arzneimittel-Agentur, viết tắt là EMA) đã khuyến nghị (empfehlen) một sự cho phép có điều kiện (Genehmigung unter Auflagen) vào ngày 25 tháng sáu (Juni) vừa qua. Tuy nhiên, REMDESIVIR có tên thương mại (Handelsname) là VEKLURY hiện đang gây nhiều tranh cãi (durchaus umstritten).

1) REMDESIVIR là gì?
Thuốc của công ty dược phẩm (Pharmafirma) Gilead Sciences Hoa Kỳ ban đầu (ursprünglich) được phát minh (entwickeln) để điều trị (Behandlung) bệnh (Erkrankung) do vi khuẩn (Virus) Ebola gây ra, nhưng chưa hề (nie) được cho phép (zulassen) sử dụng (Einsatz). Sau này (später) có dấu hiệu (Hinweise) cho thấy rằng nó có thể có tác dụng (wirken) chống những vi khuẩn Corona. Remdesivir được cho sử dụng (verabreichen) bằng cách tiêm truyền (per Infusion) và ức chế (hemmen) một loại phân hóa hay chất men (Enzym) cần thiết (nötig) cho sự sinh sôi nẩy nở (Vermehrung) những vi khuẩn.

2) Cơ sở khảo sát (Studienlage) như thế nào?
Đã có rất nhiều khảo sát liên quan đến Remdesivir được công bố (veröffentlichen), nhưng không đưa đến một kết luận (sich kaum Schlüsse ziehen) về hiệu quả tính (Wirksamkeit) của nó. Tuy nhiên (jedoch), trong tháng năm (Mai) vừa qua có một nhóm quốc tế (internationales Team) đã trình bày (präsentieren) những kết quả tích cực đầu tiên (erste positive Ergebnisse) trên tạp chí „New England Journal of Medizin“, viết tắt là NEJM (Tân Anh Quốc Y Khoa Tạp Chí). Có khoảng (rund) một nửa (Hälfte) trong số 1.063 đối tượng tình nguyện thử nghiệm (Proband) nhận (bekommen) Remdesivir. Những người khác thuộc nhóm kiểm soát (Kontrollgruppe).

3) Remdesivir đã gặt hái được những thành quả (Erfolge) gì?
„Chúng tôi đã chứng minh (nachweisen) rằng, loại thuốc này làm giảm (abmildern) tiến trình bệnh nặng (schwerer Verlauf) của bệnh (Erkrankung) COVID-19 và rút ngắn (verkürzen) giai đoạn bệnh hoạn (Krankheitsphase) xuống khoảng (etwa) bốn (vier) ngày“, theo ông Gerd Fätkenheuer, bác sĩ truyền nhiễm học (Infektiologe) thuộc bệnh viện đại học (Uniklinik) Köln tham gia (beteiligen) cuộc khảo sát đã nói (sagen) với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa).

Những bệnh nhân được điều trị bằng Remdesivir đã có thời gian bình phục (Genesungszeit) là 11 (elf) ngày, còn nhóm kiểm soát là 15 (fünfzehn) ngày. Nhìn chung (insgesamt), Remdevisir dung nạp (verträglich) rất tốt (sehr gut), theo ông Fätkenheuer. Cuộc khảo sát đã ghi nhận (verzeichnen) thậm chí (sogar) nhóm kiểm soát có nhiều tác dụng phụ (Nebenwirkung) hơn những bệnh nhân dùng Remdesivir. Tuy nhiên, những người thuộc hai nhóm đều chết (sterben) bởi Coronavirus. Các khảo sát viên viết (schreiben) trong tờ „NEJM“ rằng, việc sử dụng phương tiện chống Virus (antivirales Mittel) đơn thuần (allein) có lẽ (wahrscheinlich) không đủ (nicht ausreichend) cho việc trị liệu (Therapie).

4) Có sự chỉ trích (Kritik) nào về việc cho phép (Zulassung) hay không?
Vâng có. Phê bình gia tên tuổi nhất (namhaftester Kritiker) ở Đức là ông Uwe Janssens, chủ tịch (Präsident) Hiệp Hội Đức về Y Khoa Chăm Sóc Chuyên Sâu và Cấp Cứu (Deutsche Interdisziplinäre Vereinigung für Intensiv- und Notfallmedizin, viết tắt là DIVI). Ông nhấn mạnh (betonen) rằng, cho đến nay (bisher) không có một bằng chứng nào được công bố (publizierter Beleg) rằng, Remdesivir giảm (senken) tỷ lệ tử vong (Sterblichkeit). „Không có bằng chứng (Evidenz) nào cho thấy rằng chúng ta cứu được mạng sống (Leben retten) ở điểm này.“ Việc điều trị thành công (erfolgreiche Behandlung) theo ông có ý nghĩa (bedeuten) là việc làm giảm tỷ lệ tử vong đáng kể (substanzielle Sterblichkeitsreduktion) ngoài những thứ khác. Và điều này cho đến tình trạng hiện giờ (nach derzeitigerm Stand) vẫn chưa có. „Thật sự (definitiv) rõ ràng vẫn thiếu (fehlen) những kết quả lâu dài chắc chắn và đáng tin cậy (valide und verlässliche Langzeitergebnisse) cho bệnh nhân COVID-19“, ông Janssens nhấn mạnh thêm. „Và theo nguyên tắc (prinzipiell) chúng tôi luôn mong muốn (sich wünschen) là y khoa chăm sóc chuyên sâu (Intensivmedizin) nghĩa là những kết quả khảo sát như vậy cần được xác nhận (bestätigen) bằng nhiều cuộc khảo sát tiếp theo.“

Ông Fätkenheuer phản bác (zurückweisen) sự phê bình của ông Janssens. Ông nói: Khi người ta đọc (lesen) „bốn ngày bớt bệnh (weniger krank)“ thì họ có thể (vielleicht) nói rằng: Được (naja), có sao đâu (was soll´s)? Nhiều như vậy sao? Nhưng tất nhiên (natürlich) vẫn có một sự khác biệt trời vực (himmelweiter Unterschied) rằng, liệu người nào đó đến khâu chăm sóc chuyên sâu (Intensivstation) và được hô hấp nhân tạo (künstlich beatmen), hoặc liệu người ấy chẳng cần (erspart bleiben) việc này. Và điều này phụ thuộc (abhängen) vào loại thuốc này, và chúng tôi đã có những trường hợp như vậy trong việc khảo sát.“

5) Người nào nên được điều trị bằng Remdesivir?
Ông Fätkenheuer báo cáo (berichten) rằng, loại thuốc này được thử nghiệm (testen) ở những bệnh nhân bệnh nhẹ cũng như nặng. Sự khảo sát đã cho thấy (zeigen) rằng, chủ yếu (vor allem) những bệnh nhân trong giai đoạn bệnh hoạn trước đây (frühere Phase) đã có lợi ích (profitieren) từ Remdesivir.

6) Loại thuốc này có (verfügbar) ở Đức hay không?
Thật sự (zwar) Hoa Kỳ đã đảm bảo một số lượng lớn nhắm đến khối lượng sản xuất (anvisierte Produktionsmenge) Remdesivir cho đến tháng chín (September). Theo nguồn tin (Auskunft) của bộ y tế Đức (Gesundheitsministerium), nước Đức đảm bảo sự dự trữ (Vorrat) Remdevisir kịp thời (frühzeitig). Hiên nay (drezeit) vẫn còn đủ (noch genug) số dự trữ (Reserven). Ông Jens Spahn (CDU), bộ trưởng bộ y tế Đức đã phát biểu hôm thứ năm (Donnerstag) ngày 2 tháng bảy (Juli) trên đài truyền hình ZDF chương trình „Morgenmagazin“ (Tin Sáng) rằng, ông mong đợi (erwarten) những nhà sản xuất (Hersteller) sau khi được phép (Zulassung) rằng „nước Đức và châu Âu (Europa) sẽ được cung cấp (versorgen) một loại thuốc như vậy“.

Địa điểm sản xuất chính (Haupt-Produktionsstandort) Remdesivir là La Verne tại Kalifornia, Hoa Kỳ. „Tuy nhiên (allerdings) chúng tôi cũng có sản xuất riêng (eigene Herstellung) được bổ sung (ergänzen) nhiều năng lực phụ thêm đáng kể (erhebliche zusätzliche Kapazitäten) từ nhiều đối tác sản xuất (Produktionspartner) tại Bắc Mỹ (Nordamerika), châu Âu và châu Á (Asien)“, phát ngôn viên (Sprecher) của Gilead tại Đức giải thích, ông Martin Flökemeier. Gilead cũng đã ký kết (abschließen) những thỏa thuận bản quyền (Lizenzvereinbarung) với chín (neun) nhà sản xuất (Hersteller) tại Ai Cập (Ägyten), Ấn Độ (Indien) và Pakistan. Việc sản xuất đang gia tăng (steigern) đáng kể (erheblich), tuy nhiên không thể tiếp tục gia tăng nhanh chóng (nicht rasch weiter hochfahren) khi có một sự bùng phát lớn (großer Ausbruch).

7) Giá thuốc (Kosten) bao nhiêu?
Một sự điều trị năm ngày (fünftägige Behandlung) với Remdesivir tốn 2.340 Us-Dollar, khoảng 2.000 Euro cho mỗi bệnh nhân (pro Patient) khi có sự đặt hàng (Bestellung) từ chính quyền Hoa Kỳ (US-Regierung), theo nguồn tin của công ty (Unternehmensangaben). Số tiền ròng (Nettobetrag) này cũng đã được lên kế hoạch (planen) cho nước Đức, ông Flökemeier bảo đảm (versichern). Chi phí trong nước Đức sẽ do các công ty bảo hiểm y tế (Krankenkasse) thanh toán (bezahlen). Nghiên cứu gia (Forscher) Fätkenheuer đã phê bình (kritisieren) về giá cả (Preis) „cực cao“ (enorm hoch). „Tôi đã từng hy vọng rằng, những quan điểm trọng yếu về xã hội và đạo đức (gesamtgesellschaftliche und ethische Gesichtspunkte) sẽ đóng một vai trò đáng kể nơi một loại thuốc như Remdesivir“, nhà nhiễm trùng học phát biểu trên tờ „Kölner Stadt-Anzeiger“

Tin © dpa-infocom, dpa:200703-99-663705/3, hình Ulrich Perrey/dpa-POOL/dpa ©

Thứ hai ngày 06.07.2020
Người dân cần biết những gì về xét nghiệm Corona.

Tôi có bị dương tính (positiv) hay không? Có lẽ (vielleicht) tôi đã bị nhiễm trùng (Infektion) mà không biết (unbemerkt)? Rất nhiều người mong muốn có sự rõ ràng (Klarheit) về việc xét nghiệm (Test) Corona – nhưng đôi khi (mitunter) đề tài này chỉ (nur) được cung cấp (liefern) hạn chế (eingeschränkt).

Nhiều người dân trong nước Đức vẫn tiếp tục (weiterhin) quan tâm (beschäftigen) đến khả năng (Möglichkeit) được xét nghiệm (sich testen lassen) Coronavirus loại mới (neuartig).

Và còn nhiều tiểu bang (Bundesländer) nay đòi hỏi (verlangen) du khách nghỉ dưỡng (Urlauber) đến từ những điểm nóng (Hotspot) Corona phải chứng minh (Nachweis) có xét nghiệm âm tính (negativ) Corona. Tiểu bang Bayern muốn xét nghiệm cho từng người (jedermann) dù họ không có triệu chứng (ohne Symptome) nào và tạo cơ hội (ermöglichen) xét nghiệm miễn phí (kostenfrei) cho toàn bang (flächendeckend). Nhưng việc xét nghiệm (Test) diễn tiến (ablaufen) thế nào? Khi nào mới thật sự (wirklich) được xét nghiệm? Dưới đây là một số thắc mắc (Frage) và câu trả lời (Antwort) quan trọng (wichtig) liên quan đến vấn đề (Thema).

1) Làm thế nào (wie funktionieren) sự xét nghiệm (Test) chứng minh được (nachweisen) có sự lây nhiễm (Infektion)?
„Điều này chỉ có thể lấy mẫu (Abstrich) từ vòm mũi-họng (Nasen-Rachen-Raum)“, theo giải thích (Erklärung) của ông Andreas Bobrowski thuộc hiệp hội bác sĩ phòng thí nghiệm Đức (Bundesverband Deutsche Laborärzte). Việc xét nghiệm có chứng minh trực tiếp (Direktnachweis) Sars-CoV-2 sau khi xảy ra (erfolgen) phản ứng chuỗi (Kettenreaktion) Polymerase trong phòng thí nghiệm (Labor) – viết tắt (abgekürzt là PCR. Qua đó, chất di truyền (Erbmaterial) của vi khuẩn (Virus) tăng lên (vervielfältigen) quá mạnh (so stark) đến mức có thể phát hiện được (nachweisen), ngay cả (auch wenn) khi chỉ xảy ra với một số lượng nhỏ, theo sự giải thích của của bộ y tế Đức (Bundesgesundheitsministerium).

2) Ai làm (vornehmen) xét nghiệm PCR?
Theo (laut) bộ (Ministerium), đây là công việc của bác sĩ gia đình (Hausarzt) và dịch vụ dự bị của công ty bảo hiểm y tế (kassenärztlicher Bereitschaftsdienst) hoặc (beziehungsweise, viết tắt là bzw.) sở y tế địa phương (örtliches Gesundheitsamt).

3) Xét nghiệm PCR cho biết điều gì (aussagen)?
Một kết quả âm tính (negatives Ergebnis) cho biết rằng, trong thời điểm (Zeitpunkt) lấy mẫu (Abstrich) không phát hiện vi khuẩn có số lượng tương ứng (entsprechende Menge). Tuy nhiên (dennoch), điều này không thể khẳng định được (nicht ausschließen) rằng, người ta có thể đã bị nhiễm khuẩn (anstecken) một thời gian ngắn (kurze Zeit) trước khi lấy mẫu xét nghiệm – và dĩ nhiên (natürlich) người ta cũng có thể bị lây nhiễm (infizieren) sau khi xét nghiệm bất cứ lúc nào (jede Zeit).

4) Khi nào (wann) các công ty bảo hiểm y tế (Krankenkasse) trả tiền (zahlen) việc xét nghiệm xác minh (Nachweistest)?
Họ trả tiền cho mọi trường hợp (auf jeden Fall) đối với những người (Person) có dấu hiệu (hindeuten) triệu chứng (Symptome) lây nhiễm. Tuy nhiên (aber auch), trong một số trường hợp nhất định (unter bestimmten Umständen) nào đó họ cũng chịu (tragen) chi phí (Kosten) dù không có triệu chứng gì cả – chẳng hạn (etwa) khi một ứng-dụng cảnh-báo (Warn-App) Corona cho biết (anzeigen) một nguy cơ (Risiko) có thể xảy ra (bestehen). Hoặc (oder) ví dụ khi có ai đó đến thăm (besuchen) một trường học (Schule), một vườn trẻ (Kita) hoặc một viện điều dưỡng (Pflegeheim) và ở nơi đó có một trường hợp lây nhiễm xảy ra (vorkommen) và điều này cũng tùy thuộc (abhängen) liệu sở y tế sau đó ra chỉ thị (anordnen) xét nghiệm hàng loạt (Reihentestung). Trước (vor) khi chuyển đến (Einweisung) bệnh viện (Krankenhaus) người ta luôn (immer) được xét nghiệm.

5) Chi phí xét nghiệm bao nhiêu (kosten)?
Cho đến nay (bisher), một tiểu bang duy nhất (einziges Bundesland) là Bayern tạo điều kiện (ermöglichen) cho tất cả người dân trong tiểu bang (Landesbürger) này sớm (bald) được xét nghiệm, ngay cả khi họ không có triệu chứng nào và trong trường hợp hoài nghi (Zweifelfall) cũng thanh toán chi phí (Kosten tragen) cho họ. Ai muốn tự trả phí (eigene Kosten) cho việc xét nghiệm thì tùy theo (je nach) nhà cung cấp (Anbieter) dự kiến (rechnen) phải trả hơn (mehr als) 100 hoặc thậm chí (sogar) đến 200 Euro.

6) Lúc nào (wann) nên xét nghiệm?
Theo thông tin của bộ y tế Đức, khi người ta có những triệu chứng cảm lạnh (Erkältungssymptome) hoặc cho thấy (zeigen) có những dấu hiệu điển hình khác (andere typische Anzeichen) của COVID-19 ví dụ mất khứu giác (Geruchsverlust). Cũng như nếu có sự tiếp xúc (Kontakt) với những người đã được xét nghiệm dương tính (positiv) với mầm bệnh (Erreger) thì khuyên (anraten) nên xét nghiệm. Tuy nhiên, quan trọng (wichtig) là không phải đơn giản (nicht einfach) là làm ngay (losgehen), mà trước tiên (zunächst) họ phải điện thoại đến (anrufen) bác sĩ gia đình (Hausarzt), cơ quan dịch vụ dự bị y tế (ärztlicher Bereitschaftsdienst) – điện thoại số (Rufnummer) 116 117 – hoặc sở y tế trực thuộc (zuständiges Gesundheitsamt).

7) Xét nghiệm máu (Bluttest) sau đó để làm gì?
Nếu ai đó muốn xét nghiệm phản ứng (Reaktion) của cơ thể (Körper) đối với Coronavirus – chẳng hạn khi muốn biết (wissen) liệu có người nào đó (jemand) đã bị nhiễm bệnh trong quá khứ (Vergangenheit) và đã tạo ra (bilden) kháng thể hay không thì phải lấy máu (Blut abnehmen) để xét nghiệm. Đây là một trong những xét nghiệm gọi là xét nghiệm kháng thể (Antikörpertest) IgG – IgG là chữ viết tắt của „Immunglobulin G“ (vi huyết cầu miễn dịch G).

Theo ông Bobrowski, vấn đề của xét nghiệm này là một tỷ lệ tương đối cao (verhältnismäßig hoher Anteil) khoảng từ 15 đến 20 phần trăm, thậm chí (sogar) có thể (wahrscheinlich) nhiều hơn và không hoặc chỉ tạo ra rất ít số lượng nhỏ (sehr geringe Menge) kháng thể IgG này, mặc dù xét nghiệm mẫu (Abstrich-Test) dương tính, theo kết quả nhiều khảo sát (Studie). „Và cho dù (auch wenn) IgG-kháng thể đã được đo đạt (messen) người ta vẫn chưa chắc chắn (noch nicht sicher) rằng, liệu nó có thể đảm bảo chống lại một sự nhiễm trùng mới (erneute Infektion) hay không – cho nên cần phải thực hiện nhiều xét nghiệm khác nữa.

Những kháng thể IgG bảo vệ chính xác như thế nào (welche Genauigkeit) cần phải được nghiên cứu chuyên sâu thêm (intensiver forschen) – cho nên đến bây giờ, người ta vẫn chưa thể có một lời tuyên bố chắc chắn 100 phần trăm (keine hundertprozentig sichere Aussage).

Những xét nghiệm nhanh để phát hiện những kháng thể ngoài IgG cũng có IgM (vi huyết miễn dịch M) được cung cấp có tính cách thương mại Kommerziell), theo giải thích của Viện (Instutut) Robert-Koch (RKI). Tuy nhiên, hiện nay Viện RKI khuyên không nên (abraten) sử dụng (einsetzen) những kết quả đó như là tiêu chí (Kriterium) để chẩn đoán (Diagnose). Viện này còn lưu ý (hinweisen) rằng, Tổ Chức Y Tế Thế GIới (Weltgesundheitsorganisation, viết tắt là WHO) khuyên (empfehlen) chỉ nên dùng xét nghiệm nhanh hiện nay cho những dự án nghiên cứu (Forschungsprojekt). Theo Hiệp Hội Các Công Ty Bảo Hiểm Y Tế (Kassenärztliche Bundesvereinigung, viết tắt là KBV) thì chi phí xét nghiệm nhanh không được họ thanh toán (abrechnen)

8) Mất bao lâu (dauern) mới có kết quả (Ergebnisse)?
„Thời gian phân tích thuần túy (reine Analysezeit) kéo dài ba (drei) đến bốn (vier) giờ cho việc lấy mẫu xét nghiệm và khoảng (ungefähr) một giờ cho xét nghiệm máu“, theo ông Bobrowski, bác sĩ phòng thí nghiệm (Labormediziner). Tùy số lượng mẫu xét nghiệm (Probe) đang có trong phòng thí nghiệm, trên nguyên tắc thường mất tổng cộng (insgesamt) 24 tiếng đồng hồ cho đến khi có (vorliegen) kết quả cho bệnh nhân (Patient) – „tuy nhiên, nếu số lượng mẫu xét nghiệm quá cao (sehr hoch) thì phải mất đến 48 tiếng.“

Tin © dpa-infocom, dpa:200630-99-618853/2, hình Oliver Berg/dpa/dpa-tmn ©

Chủ nhật ngày 05.07.2020
Phòng hộ Corona: Những lời khuyên về việc mang khẩu trang trong mùa hè.

Các chuyên gia (Expert) khuyến nghị (empfehlen) nên che miệng và mũi (Mund-Nasen-Bedeckung) để bảo hộ (Schutz) chống sự lây nhiễm (Infektion) Corona. Tuy nhiên, việc mang khẩu trang (Maske) trong những ngày ấm áp (warme Tage) rất khó chịu (lästig). Vậy nên như thế nào?

Để ngăn chận (eindämmen) đại dịch (Pandemie) Corona thì việc mang khẩu trang bị bắt buộc (Pflicht) ở nhiều nơi (vielerorts). Tuy nhiên, có rất nhiều người cảm thấy (empfinden) khó chịu, chủ yếu (vor allem) trong những ngày nóng bức (heiße Tage) và ở nhiều tình huống khác (Situation) thì việc mang khẩu trang cũng gây nhiều phiền phức (Störung). Sau đây là đôi lời khuyên (Tipps) có thể giúp đở (helfen) cho việc mang khẩu trang.

1) Nóng gay gắt (Hitze).
Nhiều người cảm thấy việc mang (tragen) khẩu trang rất tù túng (beklemmend). „Ở những ngày ấm áp lại có thêm (hinzukommen) vấn đề (Problem) đổ mồ hôi (schwitzen) dưới khẩu trang“, theo ông Dominic Dellweg, bác sĩ bệnh viện phổi (Lungenfachklinik) của tu viện (Kloster) Grafschaft tại Schmallenberg trong tiểu bang (Bundesland) Nordrhein-Westfalen (NRW). Độ ẩm (Feuchtigkeit) tạo môi trường thuận lợi (günstige Umgebung) cho mầm bệnh (Krankheitserreger) và cũng làm giảm (reduzieren) tính thẩm thấu (Durchlässigkeit) của khẩu trang khiến sự hít thở (Atmen) trở nên khó khăn hơn (schwerer), theo giải thích (Erklärung) của các chuyên gia thuộc Tổ Chức Đức về Viêm Phổi và Y Khoa Hô Hấp (Deutsche Gesellschaft für Pneumologie und Beatmungsmedizin).

Đơn giản (einfach) là chỉ cần mang khẩu trang lỏng một chút (lockerer) là điều không nên (nicht empfehlenswert). Thay vào đó (stattdessen), nên sử dụng (verwenden) khẩu trang chỉ dùng một lần (Einwegmaske) trong những trường hợp đặc biệt (Ausnahmefall) ví dụ (zum Beispiel, thường viết tắt là z.B.) lúc bệnh nhân (Patient) khó thở (Luftnot) sẽ hữu ích hơn (hilfreicher). Loại khẩu trang này bảo hộ tốt (guter Schutz) và dễ thở hơn (luftdurchlässiger) loại khẩu trang vải (Stoffmaske), theo ông Dellweg.

2) Da (Haut)
Người nào phải mang khẩu trang lâu mỗi ngày (täglich) có lẽ (vielleicht) đã biết (kennen) hiện tượng (Phänomen) này: Da (Haut) của họ bị kích thích (irritieren) và ửng đỏ (röten) hoặc nổi mụn (Pickel). „Quan trọng (wichtig) là phải thay đổi (wechseln) khẩu trang thường xuyên (regelmäßig) và làm sạch (reinigen), nếu không (sonst) có thể xảy ra nhiễm khuẩn (bakterielle Infektion) ở vùng mặt (Gesichtsbereich)“, đây là lời khuyên (Empfehlung) của giáo sư đại học (Prof.) Alexander Nast, chuyên gia da liễu (Dermatologe) thuộc bệnh viện đại học (Uniklinik) Charité tại Berlin.

3) Đàm thoại (Kommunikation).
Thông thường người ta nhìn thẳng (sich schauen) vào mặt (ins Gesicht) và chẳng hiểu (verstehen) chữ nào (ohne Worte) – điều này khó có thể (kaum) xảy ra với khẩu trang. „Đối với khẩu trang che kín (bedecken) một nửa (Hälfte) bộ mặt nên không còn (wegfallen) cảm giác quan trọng của kênh đàm thoại (wichtiger sensorischer Kommunikationskanal) hoặc bị hạn chế rất nhiều (stark begrenzen)“, theo nữ giáo sư đại học Isabelle Heuser, nữ tâm lý gia (Psychologin) của Charité. Cho nên nhiều người không thể (nicht mehr) hiểu thật nhanh (so schnell) những tín hiệu (Signal) của người đối diện họ (Gegenüber): „Thật đơn giản là khó khăn hơn (mühsamer) và mệt mỏi hơn (anstrengender) để biết (wissen) người kia đang nghĩ (meinen) gì.“

Tuy nhiên, điều quan trọng là vẫn phải mang khẩu trang, theo bà Heuser: „Việc này giúp (helfen) làm giảm nguy cơ lây nhiễm (Ansteckungsgefahr) và cũng là một dấu hiệu (Zeichen) của sự đoàn kết (Solidarität)“. Nhìn chung (insgesamt), cuộc sống với nhau (Miteinander) trở nên khó khăn hơn (schwieriger) khi người ta lúc nào (immer) cũng phải giữ khoảng cách (Abstand). Nhưng bà Heuser mong đợi (erwarten) rằng đây chỉ là vần đề (Frage) của thói quen (Gewöhnung), cho dù (auch wenn) thời gian chuyển tiếp (Übergangszeit) thật khó khăn.

3) Việc sinh nở (Geburt).
Trong phòng sinh (Kreißsaal), việc hít thở (Atmen) là điều kiện tiên quyết (entscheidend). Dù vậy (trotzdem), trong một số bệnh viện (Krankenhaus) đã áp dụng (gelten) việc bắt buộc mang khẩu trang (Maskenpflicht) cho phụ nữ khi chuyển dạ (Gebärende), hiệp hội (Verein) „Mother Hood“ đã chỉ trích (kritisieren) vấn đề này. „Việc mang khẩu trang sẽ gây sợ hãi (Angst) cho nhiều phụ nữ (Frauen)“, bà Katharina Desery, phát ngôn viên (Sprecherin) của hiệp hội trên phát biểu (sagen). Dù bệnh viện muốn phòng vệ nhân viên (Personal) của họ, nhưng (doch) việc này không thể gây gánh nặng (Lasten) cho những phụ nữ mang bầu.

Ngay cả hiệp hội những bà mụ Đức (Deutscher Hebammenverband) nhấn mạnh (betonen) về tầm quan trọng (wie wichtig) của việc hít thở thoải mái (freies Atmen) trong lúc (während) sinh nở (Geburt) và việc mang khẩu trang chỉ làm hạn chế (eingeschränkt) hoặc thậm chí (gar) không thể hít thở được (nicht möglich). Những bà mụ (Hebamme) và bác sĩ có thể mang khẩu trang y tế (medizinische Maske) để tự phòng vệ, nhưng đừng bắt những phụ nữ sắp chuyển dạ phải mang khẩu trang bị kín miệng và mũi.

4) Máy trợ thính (Hörgeräte) và mắt kính (Brille).
Đối với những người mang máy trợ thính thì việc mang khẩu trang là một thú vui đắt tiền (teures Vergnügen). Vì lẽ (denn) máy trợ thính (Hörhilfe) sẽ bị bật ra (lösen) khỏi tai (Ohr) khi đeo hoặc tháo (Auf- und Absetzen) khẩu trang, mà người khiếm thính (Höbehinderte) thường (oft) không chú ý đến (nicht mitbekommen), bởi họ không nghe (hören) tiếng động của thiết bị (Gerät) va chạm (Aufprall) trên mặt đất (auf den Boden). Khách bộ hành (Passanten) vì thế nên cảnh tỉnh (wachsam) và hãy giúp đở họ.

Cũng như mặt kính bị mờ bởi hơi nước (beschlagende Brillengläser) trên khẩu trang cũng gây trở ngại (erschweren) nghiêm trọng (insbesondere) cho sự định hướng (Orientierung) của những người bị khiếm thị (Sehbehinderte). Một móc bằng kẽm (Drahtbügel) nằm bên trên (Oberseite) khẩu trang có thể giúp đở những trường hợp này, bởi hơi thở (Atemluft) nhờ vậy sẽ ít đi lên phía trên (weniger nach oben).

Tin © dpa-infocom, dpa:200702-99-645869/2, hình Kirsten Neumann/dpa-tmn ©

Thứ bảy ngày 04.07.2020
Đột quỵ và rối loạn tâm thần: Corona cũng có thể làm tổn thương não.

Các bác sĩ báo cáo (berichten) rằng những rối loạn tâm thần (Psychosen) và đột quỵ (Schlaganfall) có khả năng (möglicherweise) liên quan đến (Zusammenhang) với tật bệnh (Krankheit).

Coronavirus cũng có thể ảnh hưởng (sich auswirken) đến não bộ con người (menschliches Gehirn). Điều này được một khảo sát mới (neue Studie) cho biết (nahelegen) đã được tạp chí chuyên môn (Fachjournal) „The Lancet“ loan báo (veröffentlichen) hôm thứ năm (Donnerstag) tuần trước (Vorwoche). Theo đó (demnach), các bác sĩ đã quan sát (beobachten) nhiều biến chứng nghiêm trọng (schwere Komplikation) kể cả (einschließlich) chứng đột quỵ và rối loạn tâm thần có liên quan đến (in Verbindung) với COVID-19.

Đây là một khảo sát nhỏ (kleien Studie) và dựa trên (bassieren) sự quan sát (Beobachtung) của nhiều bác sĩ, cho nên (darum) cũng chưa thể có kết luận chung kết (finaler Schluss). Tuy nhiên (jedoch), các chuyên gia (Expert) theo một báo cáo (Bericht) nói rằng, những kết quả (Ergebnisse) cho thấy điều rất nghiêm trọng (dringend) là việc kiểm nghiệm (untersuchen) chính xác (genau) những tác động khả thi (mögliche Auswirkung) củả COVID-19 trong não cũng có thể điều trị (behandeln) chúng một cách hữu hiệu (potenziell).

Việc kiểm nghiệm (Untersuchung) những bệnh nhân (Patient) đã được điều trị trong những bệnh viện (Krankenhaus) Anh quốc trong (während) giai đoạn bùng phát dữ dội (exponentielle Phase) của COVID-19 trong tháng tư (April) vừa qua. Các tác giả (Autor) đã yêu cầu (beten) những bác sĩ chuyên khoa (Facharzt) nên khai báo (melden) những bệnh nhân đã xảy ra (auftreten) một loạt (Reihe) biến chứng thần kinh và tâm thần (neurologische und psychiatrische Komplikation) có khả thi liên quan (zusammenhängen) đến căn bệnh

77 ca đột quỵ.
Trong số 125 trường hợp đã khai báo (gemeldeter Fall) chi tiết (im Detail) thì đột quỵ (Schlaganfall) là biến chứng não được nhận thấy phổ biến nhất (häufigste beobachtete Hirnkomplikation) ở 77 bệnh nhân. Trong số đó có 57 bệnh nhân bị đột quỵ bởi máu não đông đặc (ischämischer Schlaganfall) gây ra (verursachen) bởi một cục máu đông (Blutgerinnsel) trong não. Chín (neun) bệnh nhân với chứng đột quỵ do xuất huyết não (Gehirnblutung) gây ra. Một bệnh nhân đột quỵ bởi viêm (Entzündung) mạch máu (Blutgefäße) não. Ngay (bereits) trước đó (zuvor) được biết (bekannt) rằng COVID-19 gây ra những chứng viêm nặng (schwere Entzündung) và đông máu trong phổi (Lunge) và những chỗ khác (andere Stellen) trong cơ thể (Körper) của một số bệnh nhân.

39 bệnh nhân khác cũng cho thấy (zeigen) có dấu hiệu (Anzeichen) nhầm lẫn (Verwirrung) hoặc nhiều thay đổi hành vi (Verhaltensänderung). Bảy (sieben) trường hợp cho thấy dấu hiệu viêm não gọi là Enzephalitis. 23 bệnh nhân còn lại được chẩn đoán (diagnostizieren) mắc bệnh tâm thần (psychiatrische Erkrankung) bởi tình trạng tâm lý thay đổi (veränderter psychischer Zustand), gồm có rối loạn tâm thần (Psychosen) và rối loạn tâm thái (Stimmungsstörung). Thật ra, chỉ có một trong số chín người được chẩn đoán mắc bệnh mới (neue Erkrankung), tuy nhiên điều vẫn chưa rõ (unklar bleiben) rằng, liệu chúng đã có mặt (vorhanden) trước khi bị lây nhễm (vor der Infektion) với Coronavirus hay không.

„Hơn cả (mehr als) một sự lây nhiễm đường hô hấp (Atemwegsinfektion)“.
Ông Michael Sharpe, giáo sư đại học (Professor, viết tăt là Prof.) về y học tâm lý (Psychologische Medizin) đại học (Universität) Oxford nói rằng: „Sự khảo sát nhắc nhở (erinnern) chúng ta biết rằng, COVID-19 không chỉ là một sự lây nhiễm đường hô hấp mà chúng ta còn phải quan tâm nhiều đến (berücksichtigen) vô số (Vielzahl) bệnh khác có liên quan đến nó.“

Tin và hình futurezone

Thứ sáu ngày 03.07.2020
Những thay đổi kể từ ngày 01.07.2020: Không chỉ lương hưu và thuế giá trị thặng dư.

Những quy định mới (Neuregelung) đã được áp dụng (gelten) kể từ ngày 01.07.2020. Ngoài (neben) việc giảm (Senkung) thuế giá trị thặng dư (Mehrwertsteuer oder VAT) và tăng lương hưu (Rentenerhöhung) thì nhân viên điều dưỡng (Pflegekraft), người đi xe đạp (Radfahrer) và người đi nghỉ dưỡng (Urlaubsreisende) cũng được hưởng lợi (profitieren).

Việc giảm thuế giá trị thặng dư bởi Corona (coronabedingte Mehrwertsteuersenkung) và tăng lương hưu hàng năm (jährliche Rentenerhöhung) là những quy định nổi bật (herausragende Neuregelung) không có gì phải hoài nghi (zweifellos) và có hiệu lực (in Kraft treten) kể từ ngày thứ tư (Mittwoch) 01.07.2020.

Tuy nhiên, các nhân viên điều dưỡng, người đi xe đạp và những người đi nghỉ dưỡng cũng được hưởng lợi từ những thay đổi (Änderung) mới. Tổng quát về những quy định mới:

1) Thuế giá trị thặng dư (Mehrwertsteuer)
Để thu hút (locken) người tiêu thụ (Verbraucher) quay lại (wieder) các cửa hàng (Geschäft) sau những hạn chế (Lockdown) bởi Corona, nên đúng (genau) sáu (sechs) tháng (Monat) sau thuế giá trị thặng dự giảm (senken) từ 19 xuống còn 16 phần trăm. Mức thuế giảm (ermäßige Steuersatz) được tính (erheben) cho thực phẩm (Lebensmittel) và hàng hóa (Waren) cho nhu cầu hàng ngày (täglicher Bedarf) sẽ giảm (zurückgehen) từ 7 (sieben) xuống còn 5 (fünf) đến (bis) cuối năm nay (Jahresende).

2) Lương hưu (Rente).
Trước khi (bevor) ít nhất (zumindest) một phần (Teil) trong số khoảng 21 triệu người hưu trí (Rentner) có thể bị nguy cơ (drohen) trong năm tới là không tăng thêm gì cả (Nullrunde), thì lương hưu (Älterbezug) trong năm nay được tăng mạnh (kräftig) một lần (einmal): Trong các tiểu bang phía Tây Đức lương hưu tăng 3,45 phần trăm kể từ ngày 01.07; phía Đông Đức (Ostdeutschland) thậm chí (sogar) tăng 4,20 phần trăm. Như vậy, cái gọi là lương hưu chuẩn (Standardrente) tăng (steigen) thành 1.538,55 Euro ở phía Tây (Westen) và 1.495,35 Euro ở phía Đông (Osten).

3) Điều dưỡng (Pflege).
Những trợ lý khôngh có kỹ năng (ungelernte Hilfskraft) trong việc điều dưỡng người già (Altenpflege) sẽ được trả lương tốt hơn (besser bezahlen). Lương tối thiểu (Mindestlohn) của họ trong Tây Đức (Westdeutschland) và tại Berlin tăng kề từ ngày 01.07 tăng lên thành 11,60 Euro, trong các tiểu bang phía Đông là 11,20 Euro. Như vậy rõ ràng (deutlich) cao hơn (über) mức lương tối thiểu luật định (gesetzlicher Mindestlohn) hiện giờ (derzeit) là 9,35 Euro.

4) Giao thông I (Verkehr I).
Để giảm bớt căng thẳng (entlasten) đường xá (Straße) trong thời gian du lịch cao điểm (Hauptreisezeit) nên việc cấm các xe tải lưu thông trong ngày chủ nhật (sonntäglicher Lkw-Fahrverbort) như thường lệ (wie üblich) được kéo dài ra (ausweiten) từ ngày 01.07 (Juli) đến 31.08 (August). Những xe tải (Lastwagen, viết tắt là Lkw) có trọng lượng (Gewicht) hơn (von mehr als) 7,5 tấn (Tonnen) cũng như (sowie) Lkw có rơ-móc (Anhänger) không được phép lái (befahren) trên nhiều (Großteil) xa lộ Đức (deutsche Autobahnen) trong lúc (während) nghỉ hè (Sommerferien) cũng như những ngày thứ bảy (samstags) giữa (zwischen) 7.00 và 20.00 giờ. Tuy nhiên (allerdings), ngoại lệ (Ausnahme) cho sự vận chuyển (Transport) thực phẩm tươi (frische Lebensmittel).

5) Giao thông II.
Cái gọi là xe tải dài (Lang-Lkw) có chiều dài tổng cộng (Gesamtlänge) đến (von bis zu) 25 mét (Meter) trong tương lai (künftig) phải có máy điện tử trợ giúp việc quẹo ở những đường cong (elektronische Abbiegeassistent). Dàn máy này cảnh báo (warnen) báo bằng âm thanh (akustisch) giúp tài xế (Fahrer) lúc ốp cua (Abbiegen) đề phòng tránh sự va chạm có thể xảy ra (drohender Zusammenstoß) với người đi xe đạp (Radfahrer). Kể từ ngày 01 tháng bảy (Juli) sẽ có (bestehen) bổn phận (Pflicht) lắp đặt (einbauen) một trợ lý ốp đường cong và đèn nhấp nháy lắp bên hông xe (mitblinkende Seitenmarkierungsleuchten) – tuy nhiên trước tiên (zunächst) chỉ áp dụng cho những loại xe tải mới (neue Lastwagen). Việc trang bị sau (Nachrüstung) cho những xe tải cũ và dài (ältere Lang-Lkw) được áp dụng trong hạn kỳ chuyển tiếp là hai năm (zweijährige Übergangsfrist).

Tin © dpa-infocom, dpa:200701-99-628214/2, hình: Rolf Vennenbernd/dpa ©

Thứ năm ngày 02.07.2020
Nhập cư thêm: 327.000 người đã nhập cư nhiều hơn ra đi.

Nước Đức trong năm qua đã tăng (wachsen) hơn (mehr als) 300.000 người. Con số (Zahl) tính từ (sich ergeben) sự đối chiếu (gegenrechnen) sự nhập cư (Zuwanderung) và ra đi (Abwanderung). Tuy nhiên (jedoch) con số đã giảm (zurückgehen) từ nhiều năm qua (seit Jahren).

Khoảng 327.000 người đã đến Đức (kommen) trong năm qua nhiều hơn ra đi (wegziehen). Theo Sở Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) đã thông báo (mitteilen) cho biết cái gọi là nhập cư ròng (sogenannte Nettozuwanderung) đã giảm liên tục (in Folge) lần thứ tư (viertes Mal). Năm 2018 có đến 400.000 người.

Trong năm 2019, tổng cộng (insgesamt) có khoảng 1,56 triệu người (Person) nhập cư (zuziehen) đến từ nước ngoài (aus dem Ausland) và 1,23 triệu người đi ra nước ngoài. Theo sự cho biết (Angabe) trong số này ghi nhận (erfassen) có công dân nước ngoài và Đức (ausländische und deutsche Staatsbürger).

„Việc giảm (Rückgang) nhập cư ròng đến Đức so với (im Vergleich) năm 2018 chủ yếu (vor allem) có nguyên nhân (zurückführen) từ số giảm nhập cư và tăng sự ra đi của những người ngoại quốc“, theo báo cáo. Như vậy (so), trong năm 2019 có khoảng 1,35 triệu người không phải là công dân Đức đến nước Đức (2018: 1,38 triệu). Ngược lại (demgegenüber) có 961.000 vụ ra đi (Fortzug) của người nước ngoài (2018: 924.000).

Theo báo cáo, vẫn còn (noch immer) nhiều người đến Đức hơn ra đi, cho dù (wenngleich) số thặng dư (Überschuss) chỉ còn (nur noch) 113.000 người. Một năm trước đó (zuvor) vẫn còn 202.000 người. Một lý do (Grund) là các cơ quan đăng ký (Meldebehörde) đã ghi nhận thêm (nachträglich) việc đăng ký rút tên (abmelden) liên quan đến (im Zusammenhang) việc bầu cử Âu châu (Europawahl) của những công dân đã đăng ký (registrierte Bürger) còn sống trong nước Đức. Ít nhập cư (weniger Zuzug) chủ yếu liên quan đến những người Ba Lan (Polen) hoặc Kroatien. Sự thặng dư di dân (Wanderüberschuss) của người dân đến từ châu Á (Asien) là 116.000, từ châu Phi (Afrika) là 31.000 người.

Hầu như không có (kaum) sự thay đổi (Veränderung) nào trong việc nhập và ra đi của công dân Đức. 58.000 người Đức đã ra nước ngoài nhiều hơn số trở lại (zurückkommen). Các quốc gia có mục tiêu chính (Hauptzielländer) cho người Đức ra đi (Auswanderer) là Thụy Sĩ (Schweiz), Áo (Österreich) và Hoa Kỳ (USA).

Tin © dpa-infocom, dpa:200629-99-602405/2; hình: picture alliance / dpa ©

Thứ tư ngày 01.07.2020
Tài trợ cho những người làm việc ngắn hạn có thể được tối ưu hóa như thế nào trước khi nhận.

Ị Tài trợ cho những người làm việc ngắn hạn (Kurzarbeitergeld) bù đắp (abfedern) tổn thất tài chánh (finanzielle Einbußen) bởi cơn khủng hoảng (Krise) Corona. Ai biết được (wissen) rằng chủ nhân (Arbeitgeber) của họ đã khai báo (anmelden) việc làm ngắn hạn (Kurzarbeit) thì họ cũng có thể tối ưu hóa (optimieren) mức (Höhe) tài trợ (Leistung) trong một số trường hợp nhất định (bestimmter Fall).

Người lao động (Arbeitnehmer) có khả năng (absehbar) bỉ ảnh hưởng (betreffen) bởi việc làm ngắn hạn cũng nên xem xét (prüfen) việc chuyển đổi (wechseln) chế độ thuế (Steuerklasse) của họ.

„Mức độ tài trợ cho người làm việc ngắn hạn tùy thuộc (abhängen) một mặt là người này có con (KInder) hay không và mặt khác là mức lương ròng (Nettolohn) của họ“, ông Erich Nöll, quản đốc (Geschäftsführer) Liên Hội Hiệp Hội Hỗ Trợ Thuế Lương (Bundesverband Lohnsteuerhilfevereine) tại Berlin giải thích (erklären). Đổi lại (wiederum), mức lương ròng là yếu tố quyết định (mitentscheidend) chế độ thuế lương bổng (Lohnsteuerklasse).

Vợ chồng (Ehepartner) có thể chuyển đổi (wechseln) chế độ thuế (Steuerklasse).
Nghĩa là (also), vợ chồng (Ehegatte) cũng có thể làm tăng (erhöhen) mức tài trợ người làm việc ngắn hạn bằng cách chuyển đổi kịp thời (rechtzeitiger Wechsel) chế độ thuế của họ. „Thuần (rein) về tính toán (rechnerisch) thì độ cao mức tài trợ người làm việc ngắn hạn hợp lý nhất (am günstigsten) là thuế hạng III“, theo ông Nöll.

Tuy nhiên (allerdings), cũng cần phải quan tâm đến (betrachte) nhiều hậu quả (Folge) có thể xảy ra cho vợ chồng. Nếu một trong hai người là người kiếm tiền chính (Hauptverdiener) và đổi chế độ thuế từ hạng III sang hạng V bởi người này có nguy cơ (bedrohen) phải lao động ngắn hạn hoặc đã làm công việc ngắn hạn thì điều này cũng có nghĩa là (bedeuten) tiền lương ròng của người kiếm tiền chính trước tiên (erstmal) bị giảm (senken) đáng kể (erheblich). „Vì thế cho nên cần phải tính trước (vorher) thật kỷ (durchrechnen), liệu tiền lương ròng ít hơn của người kiếm tiền chính dù (trotz) tiền trợ cấp cho người làm việc ngắn hạn có cao hơn (noch zurechtkommen) hay không“, ông Nöll cảnh báo (warnen).

Mặt khác (außerdem), người kiến tiền chính cũng gặp bất lợi tài chánh (finanzieller Nachteil) đáng kể khi người này bị thất nghiệp (arbeitslos) với chế độ thuế bất lợi (ungünstig) hạng V. „Vì thế có thể làm khác hơn (alternativ) là việc chuyển đổi chế độ thuế sang hạng IV hoặc hạng IV có yếu tố (Faktor) cần quan tâm đến (in Betracht ziehen)“, ông Nöll khuyên (raten).

Khoản miễn thuế cho con cái (Kinderfreibetrag) cũng có thể thuận lợi (sich lohnen).
Tài trợ cho người làm việc ngắn hạn trong ba (drei) tháng đầu là 60 phần trăm hay (beziehungsweise, thường viết tắt là bzw.) 67 phần trăm của lương ròng (Nettoentgelt). Để nhận được (erhalten) mức tăng (erhöhter Satz) 67 phần trăm cần có (erforderlich) ít nhất (zumindest) một nửa khoản miễn thuế cho con cái (halbe Kinderfreibetrag) được gửi qua (hinterlegen) tính năng khấu trừ thuế lương điện tử (elektronische Lohnsteuerabzugsmerkmale) – trước đây (früher) là thẻ thuế lương (Lohnsteuerkarte).

Nếu không phải như vậy cũng có thể làm nộp sau (nachholen). „Tuy nhiên, sự thay đổi (Veränderung) khoản miễn thuế con cái và chế độ thuế lương (Lohsteuerklasse) luôn (immer) có tác dụng (sich auswirken) chỉ (erst) cho tương lai (Zukunft) kể từ tháng sau khi có sự thay đổi và không thể hồi tố (rückwirkend)“, ông Nöll giải thích.

Việc chuyển đổi chế độ thuế không thuận lợi dạng V trước tiên (zunächst) đối với người kiếm tiền chính sẽ được quân bình trở lại (wieder ausgleichen) sau khi nộp (Abgabe) giấy khai thuế (Steuererklärung) – vì lẽ (denn) chế độ thuế lương không còn giá trị (keine Rolle spielen) đối với gánh nặng thuế chung có liên quan (bezogene Gesamtsteuerbelastung) cho cả năm của vợ chồng.

Tin © dpa-infocom, dpa:200624-99-545663/2; hình Jens Büttner/dpa-Zentralbild/dpa-tmn ©

Xem (658)