Home » Hội PTVNTN » Tin Đức Quốc tháng 04.2020

Tin Đức Quốc tháng 04.2020

Mục Hội PTVNTN

Thứ năm ngày 30.04.2020
Hầu như một trong hai người phản bác việc mở cửa biên giới cho kỳ nghỉ hè.

Kỳ nghỉ ở bãi biển (Strandurlaub) tại Mallorca hoặc đi dạo (wandern) ở Áo (Österreich. Cho đến nay (bisher), chính phủ Đức (Bundesregierung) giảm bớt (dämpfen) mọi hy vọng (Hoffnung) rằng, những kế hoạch cho kỳ nghỉ hè (Sommerurlaubsplan) như vậy có thể được thực hiện (verwirklichen). Có nhiều người đã (bereits) cam lòng chịu (sich abfinden) và thậm chí (sogar) còn ủng hộ (unterstützen) đường hướng cứng nhắc (harter Kurs) này.

Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGov được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) ủy nhiệm thực hiện cho thấy (zeigen) có 48 phần trăm người đồng ý (dafür) duy trì (aufrecht erhalten) lệnh cấm ra khỏi nước (erlassene Ausreisesperre) đối với khách du lịch (Tourist) ngay cả (auch) trong mùa hè (Sommer). 20 phần trăm đồng ý việc mở (Öffnung) biên giới (Grenze) cho từng quốc gia (zu einzelnen Ländern). Chỉ (nur) có 13 phần trăm cổ động (plädieren) cho việc giao thông du lịch (Reiseverkehr) trong mùa hè nội trong (innerhalb) liên minh Âu châu (Europäische Union, viết tắt là EU) hoàn toàn (vollständig) được phép (erlauben) hoạt động trở lại (wieder).

Kể từ (seit) giữa tháng ba (Mitte März), nước Đức áp dụng (gelten) trước tiên (zunächst) đến ngày 03 tháng năm (Mai) lệnh cảnh báo du lịch trên toàn thế giới (weltweite Reisewarnung) cho mọi người du lịch. Ngoài (abgesehen) việc lưu thông hàng hóa (Warenverkehr), các biên giới tiếp giáp những nước láng giềng (Nachbarland) chỉ có những người đi lại vì nghề nghiệp (Berufspendler) hoặc những người có lý do khẩn cấp (dringender Grund) mới được phép đi qua (passieren). Các chuyến đi du lịch ra nước ngoài (touristische Auslandsreise) đều bị cấm (untersagt). Ông Heiko Maas (SPD), bộ trưởng ngoại giao (Außenminister) đã nói rõ (deutlich machen) nhiều lần (mehrmals) rằng, cho đến nay ghi nhận (abzeichnen) không có sự thay đổi (Änderung) nào về tình huống (Situation) này. Ông nói „Trong mùa hè này sẽ không có mùa nghỉ bình thường (normale Urlaubssaison) với các quán bar chật người trên bãi biển (volle Strandbars) và nhiều mái chòi trên núi (Berghütten).“ Ngay cả trong nội địa (im Inland) hiện nay (derzeit) cũng không thể có (nicht möglich) những kỳ nghỉ du lịch (Urlaubsreise) và các khách sạn (Hotels) bị đóng cửa (geschlossen).

Gần (fast) một phần ba (Drittel) người Đức với 31 phần trăm, theo cuộc thăm dó ý kiến, đã quăng bỏ (über den Haufen werfen) mọi kế hoạch nghỉ hè của họ trong mùa hè này. 22 phần trăm đã tránh (Abstand nehmen) đi du lịch ở nước ngoài; 9 phần trăm muốn bỏ (verzichten) một kỳ nghỉ như dự kiến ban đầu (ursprünglicher geplanter Urlaub) trong nước. Chỉ có 18 phần trăm vẫn giữ mọi kế hoạch đi du lịch của họ. 45 phần trăm nói rằng, họ chưa hề có (noch gar nicht) kế hoạch đi du lịch nào trước khi (vor) đại dịch (Pandemie) Corona bùng phát (Ausbruch) trong nước Đức.

42 phần trăm người được hỏi ý kiến (Befragte) cho biết rằng, với tình trạng hiện giờ (jetziger Stand) liên quan đến (angesichts) cơn khủng hoảng (Krise) Corona họ thậm chí (gar) không còn muốn đi nghỉ hè nữa. 16 phần trăm quyết tâm (entschließen) vẫn đi du lịch ra nước ngoài bất chấp (trotz) những hạn chế về việc du lịch hiện nay (derzeitige Reisebeschränkung). 13 phần trăm lên kế hoạch (planen) nghỉ hè trong nước Đức. 23 phần trăm vẫn chưa có quyết định (entscheiden) gì cả. Có sáu (sechs) phần trăm không có ý kiến.

Trong thời gian bình thường (normale Zeit), người Đức thích những kỳ nghỉ ở nước ngoài (im Ausland) hơn là (lieber) ở trong nước. Theo sự phân tích (Analyse) của Tổ Chức Nghiên Cứu Kỳ Nghỉ và Du Lịch (Forschungsgemeinschaft Urlaub und Reisen), năm 2019 có 74 phần trăm trong số 70,8 triệu chuyến đi nghỉ (Urlaubsreise) của người Đức đã ra nước ngoài.

Chính phủ Đức đang xúc tiến (anstreben) sự đồng thuận chặt chẽ ở châu Âu (enge europäische Abstimmung) cho việc mở cửa biên giới (Grenzöffnung). Chính phủ Áo (österreichische Regierung) cũng đã có nhiều cuộc thỏa thuận (Vereinbarung) giữa (zwischen) các tiểu bang để tạo thuận lợi (ermöglichen) cho sự lưu thông du lịch giữa Đức và Áo. Tại Áo, các khách sạn dự kiến sẽ mở cửa trở lại vào cuối tháng năm (Ende Mai). Quốc gia vùng núi Alpen (Alpenland) được nói đến ngoài (neben) Tây Ban Nha (Spanien), Ý (Italien), Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei) và Hy lạp (Griechenland) là một trong năm điểm du lịch được ưa chuộng nhất (fünf beliebtestes Reiseziel) của người Đức

Tin dpa, hình Oliver Dietze/dpa ©

Thứ tư ngày 29.04.2020
Những cuộc biểu tình chống hạn chế bởi Corona tại Berlin và Stuttgart.

Nhiều sự hạn chế (Beschränkung) bởi (aufgrund) đại dịch (Pandemie) Corona cũng vi phạm (eingreifen) những quyền căn bản (Grundrechte). Trong lúc (während) có nhiều người chịu chấp nhận (hinnehmen) hoặc ở nhà (zu Hause) càm ràm (murren), thì có những người khác xuống đường (auf die Straße gehen) – đôi phần (teilweise) không (ohne) được phép (Erlaubnis).

Mặc dù (trotz) có sự cấm đoán rộng rãi (weitgehendes Verbot) không được biểu tình (Demonstration) nhưng vào ngày thứ bảy (Samstag) cuối tuần qua (Vorwoche) cũng có hơn (mehr als) 1000 người tụ tập (sich versammeln) tại Berlin phản đối (protestieren) chống lại (gegen) những hạn chế (Einschränkung) bởi Corona.

Nhiều người biểu tình (Demonstranten) đứng (stehen) trước (vor) những rào cản (Absperrgitter) đã được cảnh sát (Polizei) dựng lên (aufstellen) xung quanh (rund um) công trường (Platz) Rosa-Luxemburg tại trung tâm (Mitte) thành phố Berlin để ngăn cản (verhindern) không cho công trường quá đông (zu voll). Cảnh sát liên tục (immer wieder) yêu cầu (auffordern) những người có mặt (Anwesende) hãy rời khỏi (verlassen) địa điểm (Ort). Từng người tham dự (einzelne Teilnehmer) đã bị cảnh sát bắt giam (festnehmen) tạm thời (vorläufig). Cuối cùng (schließlich), đám đông ôn hòa (friedliche Menschenmenge) cũng tự giải tán (sich zerstreuen) dần (nach und nach) vào buổi chiều (Nachmittag). Số chính xác (genaue Zahlen) về người tham dự và bị bắt (Festnahme) chưa được công bố (bekannt machen).

Cảnh sát với đội ngũ tầm (knapp) 200 nhân viên (Beamte) đã mang mặt nạ phòng hộ (Schutzmaske) làm việc (im Einsatz). Theo phát ngôn viên cảnh sát (Polizeisprecher) thì họ tìm cách ngăn cản không cho số người tham dự quá đông.

Ngay trong bốn ngày thứ bảy qua, dù (trotz) bị cấm nhưng nhiều người biểu tình vẫn tụ tập. Một cuộc biểu dương tiếp theo (weitere Kundgebung) vào ngày 01 tháng năm (Mai) đã được tuyên bố (ankündigen) trên Internet.

Phần lớn (Mehrheit) những người phản đối (Protestierer) rõ ràng (eindeutig) không đứng vào hàng ngũ (sich einordnen) những nhóm chính trị hay cố định khác (bestimmte politische und andere Gruppen). Đây là điều sai biệt (unterschieden) đôi phần (zum Teil) của cuộc biểu tình này đối với nhiều cuộc biểu dương khác. Trong số người tham dự có một vài chính khách dân túy hữu khuynh tên tuổi (bekannte Rechtspopulist) và những lý thuyết gia âm mưu (Verschwörungstheoretiker). Cách xa (entfernen) công trường và rào chắn (Absperrung) vài mét có chừng 20 tích cực viên tả khuynh (linke Aktivisten) phản đối chống lại sự biểu dương lớn.

Đáp lời (folgen) kêu gọi (Aufruf) của sáng kiến (Initiative) „Tư Duy Ngang“ (Querdanken), tại Stuttgart có hàng trăm (Hunderte) người đã biểu tình chống lại sự hạn chế những quyền căn bản trong cuộc khùng hoảng (Krise) Corona. Từ 350 đến 500 người đã tụ tập tại công trường Stuttgarter Schlossplatz, theo báo cáo (Bericht) nhất trí (übereinstimmend) của thành phố và cảnh sát. Người khởi xướng (Initiator), ông Michael Ballweg được xem là „không đảng phái“ (überparteilich) yêu cầu duy trì (Einhaltung) những quyền căn bản như (wie) tự do hội họp (Versammlungsfreiheit) và tự do tín ngưỡng (Glaubensfreiheit).

Cuộc biểu tình đã diễn ra (stattfinden) lần thứ ba (zum dritten Mal). Sau lệnh cấm đầu tiên của thành phố, sáng kiến này cũng đã được phép biểu tình trước đây (vor) một tuần vì tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) đã chấp thuận (stattgeben) đơn khiếu nại khẩn (Eilantrag) chống lại lệnh cấm (Verbot).

Tin dpa, hình Jörg Carstensen/dpa ©

Thứ ba ngày 28.04.2020
Những người làm việc ít giờ và phụ việc có thể nhận tiền lao động ngắn hạn hay không?

Một nửa (Hälfte) các công ty Đức (deutsche Firma) cho đến nay (bislang) đã thực hiện (einführen) việc lao động ngắn hạn (Kurzarbeit) trong cơn khủng hoảng (Krise) Corona. Người lao động (Beschäftigte) đưa ra (aufwerfen) nhiều thắc mắc (Frage). Chẳng hạn (etwa) điều gì áp dụng (gelten) cho những người làm việc ít giờ (Mini-Jobber) hoặc (oder) sinh viên phụ việc (studentische Aushilfe).

Theo nguyên tắc (grundsätzlich), chủ nhân (Arbeitgeber) quyết định (entscheiden) công nhân (Mitarbeiter) nào được khai báo (anmelden) ở Dịch Vụ Lao Động (Agentur für Arbeit). Nhưng còn những người làm việc ít giờ hoặc phụ việc thì sao? Họ cũng có thể nhận tiền lao động ngắn hạn (Kurzarbeitergeld) hay không?

Theo ông Peter Meyer, luật sư chuyên ngành (Fachantwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Berlin giải thích (erklären) rằng: KHÔNG. Người nào làm việc (arbeiten) trên cơ sở (Basis) 450 Euro hoặc làm việc (beschäftigen) trong (während) cơn khủng hoảng Corona cho đến (bis zum) ngày 31.10.2020 nhiều nhất (längstens) năm (fünf) tháng hoặc 115 ngày tính theo niên lịch (Kalenderjahr) thì áp dụng theo điều (Paragraph) 8 bộ luật xã hội (Sozialgesetzbuch, viết tắt là SGB) IV được xem là nhân công ít việc (geringfügige Beschäftigte) cho nên họ không phải đóng (zahlen) khoản (Betrag) nào cả cho bảo hiểm thất nghiệp (Arbeitslosenversicherung). Và tiền lao động ngắn hạn có liên quan đến bổn phận (Pflicht) đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Tương tự như vậy, chủ nhân không thể khai báo lao động ngắn hạn cho những người làm việc ít giờ. Họ cũng không được trả tiền (Verfügung) khi công ty (Betrieb) đóng cửa (schließen). Điều tương tự (Gleiches) cũng áp dụng cho những người phụ việc khi họ được khai báo là nhân công ít việc và như thế họ không đphải óng khoản nào cho bảo hiểm thất nghiệp.

Còn những người ví dụ như sinh viên lao động (Werkstudent) có thu nhập cao (hoheres Einkommen) hơn 450 Euro có thể nhận (bekommen) tiền lao động ngắn hạn, khi công ty khai báo.

Lý lịch cá nhân (zur Person): Ông Peter Meyer là luật sư chuyên ngành về luật lao động và làm việc (tätig) cho tổ luật lao động (Arbeitsgemeinschaft) thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Antwaltverein, viết tắt là DAV)

Tin dpa, hình Internet

Thứ hai ngày 27.04.2020
Người hưu trí được hưởng lợi về khoản miễn thuế.

Cho dù (auch wenn) những người hưu trí (Rentner) phải khai thuế (Steuererklärung abgeben), điều này có nghĩa là (bedeuten) không tự động (nicht automatisch) phải đóng (anfallen) thuế (Steuer). Ví dụ (zum Beispiel) khi họ có thu nhập (Einkunft) thêm (zusätzlich) ngoài tiền hưu (Rente) thì có thể sử dụng (nutzen) khoản miễn thuế (Steuerfreibetrag).

Bất cứ ai có thu nhập thêm (weitere Einkunft) ngoài tiền hưu phải khai báo phần (Anteil) phải đóng thuế này. Tuy nhiên, người hưu trí cũng có thể hưởng (profitieren) khoản giảm gánh nặng cho tuổi già (Altersentlastungsbetrag): Khoản miễn thuế này có thể giảm (senken) phần thu nhập phải đóng thuế (versteuerndes Einkommen) tùy thuộc (Abhängigkeit) theo năm sanh (Geburtsjahr).

Khoản miễn thuế dành cho (zustehen) những người bắt đầu hưu trí (Renteneintritt) đủ 64 tuổi (vollendet). Điều này được phòng tư vấn thuế liên bang (Bundessteuerberaterkammer) lưu ý (aufmerksam machen).

Khoản miễn thuế giảm dần từng năm (von Jahr zu Jahr). Ai đáp ứng (erfüllen) những điều kiện (Voraussetzung) lần đầu tiên (erstes Mal) trong năm 2018 thì khoản miễn thuế kề từ năm 2019 là 17,6 phần trăm. Tuy nhiên, ty tài chánh (Fiskus) tính (berücksichtigen) tối đa (höchstens) là 836 Euro. Khoản giảm gánh nặng cho tuổi già đối với các thu nhập có thể áp dụng (anwendbar) đối với tiền mướn nhà (Miete), tiền lương (Arbeitslohn) cũng như (sowie) tiền thu hoạch (Gewinn) từ tài sản tài chánh (Kapitalvermögen). Ngoại lệ (Ausnahme): Một người hưu trí làm việc (arbeiten) như một người thợ làm ít giờ (Minijobber) và chỉ kiếm được (verdienen) đến 450 Euro mỗi tháng, thì mối thu nhập này miễn thuế (steuerfrei).

Việc miễn thuế (Steuerfreiheit) chỉ áp dụng, khi chủ nhân (Arbeitgeber) chịu trả (übernehmen) thuế lương cố định (pauschale Lohnsteuer) là phần trăm. Trong trường hợp này, lương cố định (pauschaler Lohn) và thuế lương cố định không được tính (außer Betracht) vào việc đánh giá thuế thu nhập (Einkommenssteuerveranlagung) của người hưu trí. Thu nhập phải đóng thuế của người hưu trí sẽ không tăng (sich erhöhen) khi các thu nhập đó có từ công việc ít giờ (Minijob). Khoản giảm gánh nặng cho tuổi già trong trường hợp này không còn (nicht gewährt), khi người hưu trí ngoài tiền hưu trí và công việc ít giờ không có bất kỳ thu nhập phụ (Nebeneinkunft) nào cả.

Sự tăng tiền hưu trí (Rentenerhöhung) phải đóng thuế 100 phần trăm. Cho đến nay (bislang) một phần (Teil) tiền hưu trí được miễn thuế – mức độ (Höhe) du di (variieren) tùy vào (je nach) tuổi bắt đầu hưu trí (Renteneintrittsalter). Sau một lần (einmal) cứu xét (ermitteln), thì những năm sau đó (Folgejahre) vẫn không thay đổi (unverändert bleiben) – nhìn chung (insgesamt) vẫn có sự gia giảm (sinken). Trong khi (während) đối với những người hưu trí mới (Neurentner) trong năm 2005 còn (noch) 50 phần trăm tổng số tiền hưu hàng năm (Jahresbruttorente) được đã miển thuế, thì trong năm 2019 chỉ còn (nur noch) 22 phần trăm. Những người nghỉ hưu (in Rente gehen) trong năm 2040 thì tiền hưu trí của họ bị đánh thuế đầy đủ(voll versteuern).

Tin dpa, hình Silvia Marks/dpa-tmn ©

Chủ nhật ngày 26.04.2020
Ông Söder đồng ý việc tiêm vắc-xin cho cả nước Đức chống Corona.

Cho đến khi chưa có vắc-xin (Impfstoff) thì không thể có việc giải chế (Entwarnung) và nới lỏng (Lockerung) cùng đồng thời (gleichzeitig) không thể không có (ohne) bổn phận mang mặt nạ (Maskenspflicht).

Ông Markus Söder, Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang (Bundesland) Bayern ủng hộ (befürworten) bổn phận chung về việc tiêm vác-xin (generelle Imfpflicht) cho cả nước (bundesweit) để chống vi khuẩn Corona.

„Tôi rất cởi mở (sehr offen) về bổn phận tiêm vắc-xin“, vị đảng trưởng (Parteichef) CSU đã phát biểu hôm thứ năm (Donnerstag) sau cuộc gặp gỡ (Treffen) với ông Einfried Kretschmann (Grüne, đảng Xanh) Thủ Hiến tiểu bang Baden-Württemberg tại Ulm.

Như ông Kretschmann, ông Söder cũng nhấn mạnh (betonen) rằng việc nới lỏng (Lockerung) đã được các tiểu bang khác thảo luận trong thời điểm hiện nay (zum jetzigen Zeitpunkt) hoặc thậm chí (gar) đã được họ thực hiện (bereits durchführen) đối với Bayern và Baden-Württemberg là điều không thể xảy ra (nicht infrage kommen). „Chúng tôi là một cộng đồng (Gemeinschaft) của những người biết thận trọng (Umsichtige)“, ông Söder phát biểu quy chiếu (verweisen) đường hướng mở cửa thận trọng (vorsichtiger Öffnungkurs) của bà Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) Angela Merkel (CDU).

Những người „biết suy nghĩ“ (Besonnene) tin chắc thật (überzeugt) rằng mối nguy hiểm (Gefahr) bởi vi khuẩn Corona vẫn còn tiếp tục (weiter bestehen bleiben). „Những ai cả tin (Leichtsinne) sẽ là một người tư vấn tồi tệ (schlechter Berater) trong tình huống này.“

Tin dpa, hình Stefan Puchner/dpa ©

Thứ bảy ngày 25.04.2020
Năm lời khuyên liên quan đến mặt nạ đeo hàng ngày.

Nhiều người đeo (tragen) khẩu trang (mặt nạ) bằng vải (Stoffmaske) trên đường phố (auf der Straße). Và ngày càng có nhiều (immer mehr) tiểu bang (Bundesländer) bắt buộc (Pflicht) mang khẩu trang ở một số địa điểm nhất định (bestimmter Ort). Những điều gì cần biết về việc mang khẩu trang hay mặt nạ (Maske)?

Mang mặt nạ lúc đi mua sắm (Einkaufen) hoặc trong xe buýt (Bus) và xe lửa (Bahn). Ngày càng có nhiều tiểu bang bắt buộc người dân (Bürger) phải mang mặt nạ phòng hộ miệng và mũi (Mund-Nasen-Schutz) ở những nơi công cộng nhất định (bestimmte öffentliche Orten) để hạn chế (eindämmen) sự lây lan truyền nhiễm (Ausbreitung) của vi khuẩn (Virus) Corona.

Được nói đến là những mặt nạ hàng ngày (Alltagsmaske) làm (fertigen) bằng vải (Stoff). Sau đây là năm (fünf) lời khuyên (Tipp) cho việc này:

1) Không an toàn một trăm phần trăm (hundertprozentige Sicherheit).
Khái niệm (Begriff) „mặt nạ hay khẩu trang hàng ngày“ không phải là ngẫu nhiên (nicht von ungefähr). Những mặt nạ này có tính cách tạm thời (Behelf) và trên nguyên tắt (in aller Regel) không đáp ứng (nicht genügen) đúng các tiêu chuẩn (Normen) và yêu cầu (Anforderung) được đặt ra (stellen) cho việc phòng hộ miệng và mũi mang tính chất y tế (medizinischer Schutz). Ngay cả đối với mặt nạ, người ta cũng phải tuân theo (einhalten) quy tắc giữ khoảng cách (Abstandsregel) và ho (husten) cũng như hắt hơi (niesen) đúng cách (richtig). Tức là (also): Quay lưng lại (wegdrehen) với người khác và ho hay hắt hơi vào khuỷu cánh tay (Armbeuge).

Tuy nhiên mặt nạ cũng giúp đỡ (helfen) nhiều: Nó là một tín hiệu có thể thấy rõ (sichtbare Signal) để người khác biết cẩn thận (achtsam) với vi khuẩn Corona. Đồng thời (zudem) có thể chận (abfangen) những giọt (Tröpfen) do người ta thảy ra (ausstoßen) lúc nói (sprechen) hay cười (lachen) và như thế có thể phòng hộ cho người khác ở một mức độ nào đó (gewisser Maß) khỏi bị lây nhiễm (Ansteckung) khi chính họ đang bị (sich tragen) vi khuẩn Sars-Cov-2. Là người mang khẩu trang, bạn cũng tự bảo vệ bản thân một chút ít (ein Stück): Ví dụ, mặt nạ có thể ngăn cản (verhindern) người ta xờ mó (fassen) vào mũi hoặc miệng với bàn tay bẩn (verschmutzte Händen) và mầm bệnh nếu có (möglicherweise Erreger) sẽ xâm nhập (gelangen) vào cơ thể (Körper).

2) Vấn đề về chất liệu:
Loại vải dệt chắc (feste gewebte Stoffe) phù hợp (geeignet) tốt hơn (besser) cho mục đích (Zweck) hơn là loại vải dệt mỏng (leicht gewebt), theo Viện Liên Bang Về Dược Phẩm Và Thiết Bị Y Tế (Bundesinstitut für Arzneimittel und Medizinprodukte, viết tắt là BfArM). Điều này có nghĩa (heißen) rằng: Các mũi khâu (Maschen) cũng nên xát với nhau (eng gezogen) càng tốt (möglichst), nhưng không quá xát (nicht so eng) làm cho người mang khó thở (schwer atmen). Lý tưởng (idealerweise) là vải bằng cotton (Baumwolle) 100 phần trăm, theo khuyến nghị (Empfehlung) của Bộ Y Tế Tiều Bang Bayern (Bayerisches Gesundheitsministerium) trong mục những câu hỏi thường gặp (FAQ)

3) Giặt nóng (heiß waschen), giặt tay (Handwasch) với một cây que (Stock).
Sau khi mang (tragen), các mặt nạ đeo hàng ngày tốt nhất (am besten) được giặt ngay lập tức (sofort) ít nhất (mindestens) 60 độ (Grad) với bột giặt (Vollwaschmittel). Ai không muốn lúc nào cũng phải mở (anwerfen) máy giặt (Waschmaschine), cũng có thể ngâm nó trong bồn rửa (Waschbecken) với nước nóng (heißes Wasser) và ít bột giặt. Để ngón tay (Finger) không bị phỏng (verbrühen) khi giặt bằng tay (Handwäsche), có thể sử dụng một cây que (Stock) để lật trở (hin und her wenden) mặt nạ trong nước nóng. Khi đủ (ausreichend) nguội (abkühlen) thì có thể vắt (durchwringen) mặt nạ một lần nữa (noch einmal) thật kỹ (ordentlich) bằng tay (per Hand).

Đề cập đến (Apropos) bàn tay: Trước khi đặt mặt nạ lên mặt (aufsetzen), nên rửa tay thậy kỹ (gründlich waschen) để mặt nạ luôn được sạch sẽ (sauber bleiben). Sau khi lấy (absetzen) mặt nạ xuống cũng phải rửa tay thậy kỹ bởi mầm bệnh có thể tích tụ (sich tummeln) trên mặt ngoài (Außenseite) của mặt nạ.

4) Cẩn thận (Vorsicht) với lò vi sóng (Mikrowelle):
Nếu vải có thể chịu đựng được (aushalten) thì mặt nạ cũng có thể làm sạch trở lại (wieder sauber werden) bằng cách ủi nóng (heißes Bügeln) hoặc trong lò ấm (warmer Ofen). Nhưng phải cẩn thận khi dùng lò vi sóng để tẩy sạch (Reinigung) mặt nạ, vì lẽ mặt nạ có dây kẽm (Drahtbügel) và vì thế cũng có thể gây ra nguy cơ hỏa hoạn (Brandgefahr).

5) Mua (kaufen), may (nähen) hoặc một chiếc khăn (Schal) trước miệng:
Hiên nay (jetzt), các nhà sản xuất vải (Textilhersteller) cũng sản xuất (produzieren) mặt nạ và được bán (verkaufen) trong nhiều cửa hàng vải (Stoffladen), thợ may (Schneider) hoặc các nhà thiết kề thời trang (Mode-Designer). Trên mạng (im Netz) cũng có nhiều cá nhân (Privatperson) cung cấp (anbieten) mặt nạ chẳng hạn (etwa) qua nền (Plattform) Etsy. Bất cứ ai biết sử dụng (umgehen) kim (Nadel) và chỉ (Faden) cũng có thể đơn giản (einfach) tự may (sich nähen) cho mình – nhiều mẫu (Vorlagen) về những mẫu cắt (Schnittmuster) có sẳn trên mạng (online).

Trường hợp thiếu (fehlen) kỹ năng (Fertigkeit) như trên hoặc không có vật liệu cần thiết (notwendige Materialien) như dây thun (Gummizug) và cũng không thể mua có ngay (auf die Schnelle) một mặt nạ để đeo thì sao? Có thể che (bedcken) miệng, mũi và hai gò má (Wangen) bằng một chiếc khăn (Schal) hoặc một tấm vải (Tuch). Một vài tiểu bang cho rằng cách này như một sự thay thế (Alternative), còn các tiểu bang còn lại không đào sâu đến điều này. Và những chiếc khăn này cũng nên dày (dicht) và bằng cotton. Sau khi dùng cũng phải xử lý nó như mặt nạ, nghĩa là giặt nước nóng ít nhất là 60 độ.

Tin dpa, hình Kirsten Nijhof/dpa-Zentralbild/dpa-tmn © 

Thứ sáu ngày 24.04.2020
Bệnh viện trống, thiếu bệnh nhân, bác sĩ lo lắng.

Các bệnh viện chuyển sang (wechseln) hoạt động bình thường (Regelbetrieb) trở lại (wieder). Nhưng bệnh nhân (Patient) có đến (kommen) hay không? Các nhà y khoa (Mediziner) bị báo động (alarmieren) bởi ngay cả những người bệnh nặng (schwer kranke Menschen) có nhu cầu điều trị cấp tính (akuter Behandlungsbedarf) cũng tránh xa (fernbleiben).

Những bác sĩ (Ärzte) và các bệnh viện (Krankenhäuser) nhận thấy (beobachten) một xu hướng bất ổn (beunruhigender Trend) trong cơn khủng hoảng (Krise) Corona. Từ việc sợ sệt (Angst) lây nhiễm (Infektion) cho nên rất nhiều (sehr viel) bệnh nhân (Patient) có nhu cầu điều trị cấp tính cũng không đến bệnh viện chữa trị.

Ông Siegfried Hasenbein, quản đốc (Geschäftsführer) Tổ Chức Bệnh Viện tại Bayern (Bayerische Krankenhausgesellschaft) tại München nói rằng „Chúng tôi thấy rằng (feststellen) những chẩn đoán (Diagnose) như nghi ngờ bị đột quỵ (Schlaganfallverdacht), đột quỵ tim (Herzinfarkt) hoặc viêm ruột thừa (Blinddarmentzündung) đã giảm rõ rệt (deutlich nachlassen)“. Tương tự như vậy (Gleiches) đối với những bệnh nhân ung thư (Krebspatient).

Một dữ liệu thống kê chính xác (genaue Statistik) vẫn chưa có (noch nicht geben), nhưng (aber) các nhà y khoa ghi nhận (registrieren) hiện tượng (Phänomen) này có mặt trên khắp nước Đức (deutschlandweit). „Bổng dưng (auf einmal) chúng tôi có quá ít (sehr viel weniger) bệnh nhân mắc những triệu chứng khẩn cấp (dringende Symptome), ông Niels Reinmuth, chuyên gia ung thư phổi (Lungenkrebsspezialist), trưởng khoa (Chefarzt) ung thư lồng ngực (Thorakale Onkologie) của bệnh viện chuyên khoa (Fachklinik) Asklepios tại Gauting gần München. „Đây là điều mà tất cả chúng tôi ai cũng nhận thấy.“ Lý do chính (Hauptgrund) có lẽ (vermutlich) là nỗi lo sợ (Furcht). Nỗi lo sợ bị nhiễm (sich infizieren) rõ ràng rất lớn (offenbar so groß) đến nỗi nhiều người không muốn (lieber gar nicht) đến bác sĩ khám bệnh (zum Arzt gehen)“, theo phát ngôn viên (Sprecher) Tổ Chức Bệnh Viện Đức (Deutsche Krankenhausgesellschaft) tại Berlin nghĩ (meinen).

Theo quan điểm y tế (ärztliche Sicht) thì điều này đáng lo ngại (besorgniserregend). „Chúng tôi có lo ngại (Sorge) rằng, trong mùa hè (Sommer) chúng tôi sẽ nhận (bekommen) nhiều bệnh nhân, tốt hơn (besser) họ nên đến bốn (vier) tháng trước (früher)“, theo ông Reinmuth. Những bác sĩ tim mạch (Kardiologe) đã (bereits) thảo luận (diskutieren) rằng, liệu nước Đức sau Corona có thể đối mặt với làn sóng (Welle) suy tim (Herzschwäche) hay không, như một nữ bác sĩ chuyên khoa (Fachärztin) tại München tường thuật (berichten). Một bác sĩ ung thư (Onkologe) nói rằng „Người ta thật sự (wirklich) phải khẩn thiết (dringend) kêu gọi (aufrufen): Quý vị đừng ở nhà (zu Hause bleiben) với những vấn đề nghiêm trọng (ernste Probleme).

Năm 2018 có khoảng 210.000 ca suy tim và chừng (etwa) 300.000 cơn đột quỵ tại Đức. Không một ai (niemand) trong cộng đồng y khoa (medizinische Gemeinde) tin (glauben) rằng những con số này đã bị giảm đi (verringern) một cách đột ngột (plötzlich) bởi đại dịch (Pandemie) Corona.

Hiện tượng này có lẽ (mutmaßlich) do tình huống (Umstand) bởi có nhiều bác sĩ chuyên khoa đã hạn chế (einschränken) mở phòng khám bệnh (Praxisbetrieb) của họ, cho nên ít bệnh nhân được chuyển đến (überweisen). Nhưng điều này phải được tránh (vermeiden) vì nỗi lo sợ vi khuẩn (Virus) sẽ gây ra nhiều chứng bệnh khác (Krankheit) và những trường hợp tử vong (Todesfall), theo lời phát ngôn viên Tồ Chức Bệnh Viện tiểu bang Nordrhein-Westfalen tại Düsseldorf.

Cơn khủng hoảng lớn nhất (größte medizinische Krise) trong những thập niên qua (vergangene Jahrzehnte) cho đến nay (bisher) là hậu quả duy nhất (eigenartige Folge) của sự suy yếu khả năng bất thường (außergewöhnlich schwache Auslastung) đối với các bệnh viện. Làn sóng sợ hãi (befürchtete Welle) của các bệnh nhân Corona đã làm mất đi (ausbleiben) sự nhẹ nhõm (Erleichterung) của những người liên hệ (Beteiligte). Mọi sự trị liệu có thể tiên đoán được (planbare Behandlung), gọi là các trường hợp „tự chọn“ (elektiver Fall) đã bị hoãn lại (verschieben). Tổ chức bệnh viện Đức ước đoán (schätzen) rằng, hiện giờ (derzeit) trên khắp nước Đức (bundesweit) có khoảng 150.000 giường (Bett) còn để trống (frei).

Trong bối cảnh (Hintergrund) này, đài phát thanh (Rundfunk) NDR đã tường thuật (berichten) hôm thứ tư (Mittwoch) về nhiều trường hợp làm việc ngắn hạn (Kurzarbiet) trong các bệnh viện. Theo nguồn tin (Angabe) của tổ chức bệnh viện, tuy nhiên (allerdings) đây „không phải là hiện tượng phổ biến (kein flächendeckendes Phänomen).“ Đối với các bệnh viện thì họ không có lý do (Veranlassung) cho làm việc ngắn hạn, vì lẽ đã có chiếc dù tài chánh bảo vệ (finanzieller Schutzschirm) cho họ. Ông Jens Spahn (CDU) bộ trưởng bộ y tế Đức (Bundesgesundheitsminister) đã lưu ý (verweisen) về đạo luật giảm gánh nặng cho bệnh viện đã được quyết định (beschlossenes Krankenausentlastungsgesetz) bởi đại dịch Corona. Qua đó (demnach), các bệnh viện sẽ nhận mức cố định (Pauschale) 560 Euro mỗi ngày (pro Tag) cho những giường còn đang giữ trống (frei gehaltene Betten).

Ông Spahn trong tuần qua đã tuyên bố (ankündigen) rằng, kể từ đầu tháng năm (Anfang Mai) các bệnh viện có thể dần (schrittweise) hoạt động bình thường (Regelbetrieb) trở lại (zurückkehren). Các tổ chức y tế chuyên khoa (medizinische Fachgesellschaft) đang (gerade) biên soạn (erarbeiten) một phương thức (Konzept) về vấn đề này, theo lời ông phát biểu hôm thứ tư. „Chúng tôi không muốn để trống (freihalten) lâu dài (auf Dauer) 40 phần trăm các giường hô hấp chăm sóc sâu (Intensivbeatmungsbett) trong nước Đức. Điều này cũng không cần thiết (nicht notwendig).“

Tin dpa, hình Peter Kneffel/dpa ©

Thứ năm ngày 23.04.2020
Những kết quả khảo sát đầu tiên – Tất cả tử thi bởi Corona đã được khám nghiệm đều đã có tiền bệnh.

Cho đến nay (bislang) ít ai biết chính xác (genau) các bệnh nhân (Patient) Corona chết (sterben) như thế nào và những yếu tố (Faktor) nào làm tăng (erhöhen) nguy cơ tử vong (Todesrisiko). Các chuyên gia pháp y (Forensiker) và bệnh lý học (Pathologie) ở Hamburg và Basel nay (nun) cung cấp (liefern) nhiều manh mối (Anhaltspunkte).

Lần đầu tiên (zum ersten Mal) có nhiều kết quả chi tiết (detaillierte Ergebnisse) của việc khám nghiệm (Obduktion) những bệnh nhân đã chết bởi Corona trong nước Đức đã được công khai (an die Öffentlichkeit gelangt). Những pháp y sĩ (Rechtsmediziner) của bệnh viện đại học (Universitätsklinikum, viết tắt là UKE) đã ìm thấy (feststellen) nhiều tiền bệnh (Vorerkrankungen) của tất cả 65 tử thi được khám nghiệm (untersuchte Leichen), đài phát thanh (Rundfunksender) NDR, WDR và tờ „Süddeutsche Zeitung“ đã tường thuật (berichten) quy chiếu (unter Berufung) báo cáo (Bericht) của vị điều hành viện (Institutsleiter), ông Klaus Püschel. Theo đó (demnach), có 61 người chết (Toten) đã chết vì vi khuẩn Corona. Ở bốn (vier) người còn lại, thật ra (zwar) cũng tìm thấy (nachweisen) có vi khuẩn, nhưng nguyên nhân tử vong (Todesursache) là một yếu tố khác.

Theo báo cáo từ các phương tiện truyền thông (Medienbericht), các bệnh nhân trước khi chết (vor dem Tod) đặc biệt (insbesondere) bị huyết áp cao (Bluthochdruck), đột quỵ tim (Herzinfarkten), xơ cứng động mạch (Arteriosklerose) hoặc suy tim (Herzschwäche). Ngoài ra (außerdem), trong 46 trường hợp cũng xác định được đã có bệnh phổi trước đó (Vorerkrankung der Lunge); ở 28 bệnh nhân người ta tìm thấy (finden) bị tổn thương nội tạng (andere Organschäden) hoặc ở các bộ phận được cấy ghép (transplantierte Organe).

Lúc đầu (anfangs), Viện (Institut) Robert-Koch, viết tắt là RKI, đã khuyên (raten) không nên (verzichten) làm khám nghiệm tử thi bởi nguy cơ lây nhiễm cao (hohe Ansteckungsgefahr). Tuy nhiên (jedoch), hiện thời (inzwischen) khuyến nghị (Empfehlung) này đã được thay đổi (ändern). Ông Lothar Wieler, chủ tịch (Präsident) RKI đã nói từ đầu tháng tư (Anfang April) rằng, liên quan (angesichts) đến sự thiếu sót kiến thức (Wissenslücken) về căn bệnh mới (neue Erkrankung) nên việc giảo nghiệm tử thi (Leichenschauen) rất quan trọng (sehr wichtig).

Dưỡng khí (Sauerstoff) trong phổi không còn (nicht mehr) được vận chuyển (transportieren)

Những kết quả khám nghiệm tử thi đầu tiên tại Thụy Sĩ cũng đã được công khai. Theo vị trưởng khoa (Leiter des Fachbereichs) khám nghiệm tử thi (Autopsie) thuộc bệnh viện đại học (Uni-Spital) tại Basel, ông Alexandar Tzankov, trong bệnh viện (Krankenhaus) của ông có 20 bệnh nhân Corona bị chết đã được khám nghiệm tử thi.

„Tất cả những người được khảo sát (Untersuchten) đều bị huyết áp cao, phần lớn (Großteil) những bệnh nhân này cũng rất béo phì (schwer adipös), nghĩa là thừa cân đáng kể (deutlich übergewichtig)“, ông Tzankov đã tường trình cho đài phát thanh (Rundfunksender) NDR, WDR và tờ „Süddeutsche Zeitung“. Ngoài ra, chủ yếu (vorwiegend) là đàn ông (Männer). Hơn (mehr als) hai phần ba (zwei Drittel) các tử thi được khám nghiệm (Obduzierte) cho thấy đã bị tổn thương động mạch vành trước đó (vorgeschädigte Herzkranzgefäße); một phần ba (ein Drittel) bị tiểu đường (Diabetes).

Tzankov và đội ngũ (Team) đã xác định qua những khảo sát bằng kính hiển vi (mikroskopische Untersuchungen) rằng, có nhiều xáo trộn nghiêm trọng (schwere Störungen) sự vi-tuần-hoàn (Mikrozirkulation) của phổi, rõ ràng (offenbar) có thể do sự lây nhiễm (Infektion) với Coronavirus mới. Theo các bác sĩ, sự thiệt hại (Schädigung) này dẫn đến sự trao đổi dưỡng khí (Sauerstoffaustausch) không còn được vận hành (funktionieren) đúng (richtig) nữa (nicht mehr). Cho nên, điều này có nghĩa rằng, sự hô hấp (Beatmung) ở những bệnh nhân Covid-19 trong các trạm chăm sâu (Intensivstation) bị nhiều khó khăn (Schwierigkeit) và có thể giải thích (erklären) rằng: „Cho dù người ta có thể cung cấp cho bệnh nhiều dưỡng khí như họ muốn, nhưng có một điều đơn giản (einfach) là lượng dưỡng khí này không được vận chuyển tiếp tục thêm nữa vào buồng phổi.“

jki/dpa, hình: Tử thi trong phòng pháp y: Huyết áp cao và những bệnh phổi trước đây dường như làm tăng nguy cơ tử vong.

Thứ năm ngày 23.04.2020
Tín hiệu cho các cửa hàng mở cửa trở lại – nhưng vắng bóng cơn sốt mua sắm

Đóng cửa (schließen) bởi Corona. Trong nhiều tuần qua người tiêu thụ (Verbraucher) chỉ mua sắm (einkaufen) những nhu yếu phẩm (Nötiges). Bây giờ (nun) các cửa hàng (Geschäfte) trong nhiều tiểu bang (Bundesländer) đã mở cửa trở lại (wieder öffnen). Nhưng (doch) sự mong đợi (Erwartung) trong thương trường (Handel) vẫn còn dè dặt (verhalten bleiben).

Giấy vệ sinh (Klopapier), bánh mì (Brot) và mì ống (Pasta) là những nhu yếu phẩm đã định hình (prägen) hành vi mua sắm (Einkaufsverhalten) của nhiều người Đức (Bundesbürger) trong những tuần qua.

Mẫu giấy ghi chép các mặt hàng mua sắm (Einkaufszettel) của họ giờ đây được phép nới rộng (sich erweitern) nhiều hơn ngoài (jenseits) những thực phẩm khác (Lebensmittel) với việc mở cửa trở lại (Wiederöffnung) nhiều cửa hàng nhỏ (kleinere Geschäfte). Kể từ ngày thứ hai (Montag) đã áp dụng việc nới lỏng (Lockerung) những biện pháp (Maßnahme) phòng chống sự lây lan (Ausbreitung) vi khuẩn Corona đối với thương trường bán lẻ (Einzelhandel).

Các cửa hàng có diện tích bán hàng (Verkaufsfläche) đến (von bis zu) 800 mét vuông (Quadratmeter) và những đại lý bán xe (Kfz-Händler) ở nhiểu nơi (vieleorts) được phép mở cửa trở lại. Nhưng hiệp hội thương mại (Handelsverband) HDE không cho rằng, sẽ có một cơn sốt (Anstrum) ở các cửa hàng (Läden).

„Những con buôn (Händler) có thể mở cửa tiệm trở lại tất nhiên (natürlich) rất vui mừng (sich freuen) bởi họ sẽ trở lại phục vụ cho khách hàng (Kunden) của họ“, theo ông Stefan Genth, cháng quản đốc (Hauptgeschäftsführer) HDE. Sau nhiều tuần đóng cửa (Schließung) giờ đây mỗi đồng Euro được tính vào số doanh thu (Umsatz).

Mặc dù các cửa hàng được mở cửa trở lại nhưng tâm lý tiêu thụ (Konsumstimmung) tệ (schlecht) bởi cơn khủng hoảng (Krise) Corona. Người tiêu thụ có xu hướng giữ (zusammenhalten) tiền, bởi nhiều người đang sống trong tình trạng làm việc ngắn hạn (Kurzarbeit) và lo ngại (fürchten) đến công ăn việc làm (Job).

Thoáng nhìn trung tâm các đô thị (Innenstädte) dường như (scheinen) sự ước tính (Einschätzung) này được xác nhận (bestätigen) – ít ra (zumindest) trong tiểu bang Nordrhein-Westfalen, nơi chính quyền tiểu bang (Landesregierung) đặc biệt (besonders) đi xa (weit) hơn việc nới lỏng liênquan đến thương mại. Đại lộ (Allee) luôn sầm uất các cửa hàng Königsalle tại Düsseldorf, mặc dù các cửa hàng đã mở cửa trở lại, nhưng vẫn không có sự chen chúc đông người (großer Andrang) như thường lệ (wie üblich).

Tại thành phố Köln cũng thế, những người bán hàng đeo mặt nạ (maskierte Verkäufer) đứng (stehen) một mình thật cô đơn (recht einsam allein) trong nhiều cửa hàng nhỏ và có thì giờ (Zeit) để sắp xếp lại (neu sortieren) sự chi tiêu (Auslagen) của họ.

Tuy nhiên, cho đến hôm nay có một câu hỏi (Frage) gây nhiều tranh cãi (umstritten) là liệu quy tắc (Regel) 800 mét vuông trong các trung tâm mua sắm (Shopping-Center) cũng được áp dụng chung (allgemein anwenden) hoặc họ vẫn phải bị đóng cửa; hay các cửa hàng nhỏ trong đó cũng được mở cửa. Ngoại trừ các siêu thị (Supermärkte) và nhà bán thuốc (Apotheke) không bị đóng cửa. Tại tiểu bang Sachsen, từng cửa hàng muốn mở cửa phải hướng dẫn (vorweisen) khách hàng rõ từ ngoài cửa vào (Außenzugang) bằng không (ansonsten) phải đóng cửa. Còn Berlin thì chưa có quyết định (entscheiden) gì về vấn đề này.

Bà Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) Angela Merkel (CDU) đã chỉ trích gay gắt (scharf kritisieren) cuộc tranh luận (Diskussion) về những sự nới lỏng hơn nữa (weitergehende Lockerungen) trong cuộc chiến (Kampf) chống (gegen) vi khuẩn Corona. Theo nguồn tin (Information) của thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) từ phạm vi những tham dự viên (Teilnehmerkreise) hội nghị từ xa (Schaltkonferenz) của ban lãnh đạo (Präsidium) đảng CDU rõ ràng (deutlich) cho thấy sự bất mãn (unzufrieden) của bà như thế nào khi thông điệp (Botschaft) liên quan đến việc cẩn thận nới lỏng (vorsichtige Lockerung) trong vài tiểu bang đã dẫn đến (führen) „những thảo luận cực đoan về việc nới lỏng“ (Öffnungsdiskussionsorgien). Điều này làm tăng (erhöhen) nguy cơ (Risiko) tái phát (Rückfall) rất đáng kể (sehr stark).

Tin dpa, hình Sebastian Willnow/dpa-Zentralbild/dpa ©

Thứ tư ngày 22.04.2020
Bà Merkel cảnh báo sự tái phát cơn khủng hoảng Corona.

Những sự nới lỏng đầu tiên (erste Lockerung) các biện pháp chống Corona (Anti-Corona-Maßnahmen) đang có hiệu lực (in Kraft). Nhiều người cảm thấy nhẹ nhỏm (erleichtern), nhưng bà Thủ Tướng (Kanzlerin) rõ ràng (offenbar) là không. Bà Merkel lo ngại (befürchten) tất cả đê điều (Dämme) sẽ bị vỡ (brechen). Cho nên (deswegen) gửi lời kêu gọi (Appell) đến quần chúng (Bevölkerung) và đặc biệt (speziell) đến những vị Thủ Hiến (Ministerpräsident) các tiểu bang.

Liên quan đến (angesichts) những cuộc thảo luận ngày càng rầm rộ (immer lautere Diskussion) về việc nới lỏng hơn nữa (weitere Lockerung) các biện pháp phòng chống (Abwehrmaßnahme) Corona, bà Angela Merkel Thủ Tướng Đức đã khẩn thiết (eindringlich) kêu gọi (aufrufen) việc tuân hành (Einhaltung) các quy định (Regel) và không nên lơ là (nachlassen).

Bà đã cảnh báo (warnen) trước nguy cơ (Risiko) tái phát (Rückfall) và nếu cần thiết (Notwendigkeit) sẽ thu hồi (zurücknehmen) những sự nới lỏng mới vừa quyết định (gerade beschlossene Lockerungen). „Chúng ta không được phép lơ là một giây (Sekunde) nào về sự an toàn (Sicherheit)“, nữ chính khách (Politikerin) đảng CDU phát biểu (sagen) hôm thứ hai (Montag) tại Berlin. „Chúng ta phải cảnh giác (wachsam sein) và giữ kỹ luật (diszipliniert bleiben).“ Theo thông tin (Information) của Thông tấn Xã (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa), trong một hội nghị từ xa (Schaltkonferenz) của ban lãnh đạo (Präsidium) đảng CDU bà đã bày tỏ sự bất hài lòng (Unmut) và thậm chí (gar) nói đến việc „mở màn cho những cuộc thảo luận cực đoan“ (Öffnungsdiskussionsorgien) trong một số tiểu bang (Bundesländer).

Vào buổi sáng thứ hai (Montagmorgen), việc nới lỏng đầu tiên các biện pháp ngăn chận (Eindämmung) đại dịch (Pandemie) Corona đã có hiệu lực (in Kraft treten). Các cửa hàng nhỏ và trung (kleine und mittlere Geschäfte) có diện tích (Fläche) đến (bis) 800 mét vuông (Quadratmeter) trong nhiều tiểu bang nay (nun) được phép mở cửa trở lại (wieder öffnen). Trường học (Schule) cũng đã mở cửa cho những học sinh đầu tiên (erste Schüler) đến trường. Trong tiểu bang Sachsen, những học sinh lớp cuối (Abschlussklassen) đã trở lại (zurückkehren) lớp học (Unterrichtsstätte). Những quy định nghiêm khác vể sự tiếp xúc và khoảng cách (strikte Kontakt- und Anstandsregel) dù thế (allerdings) cũng cần phải áp dụng ít nhất (mindestens) đến ngày 03 tháng năm (Mai).

„Điều thật xấu hổ (jammerjammerschade) phải đến (kommen) khi chúng ta tuyên bố rằng, bây giờ (jetzt) chúng ta phải trở lại như trước đây (wieder rückgängig machen)“, bà Merkel nói về những sự nới lỏng. Vì thế cho nên, người ta phải thực hiện (vorgehen) „từng bước (schrittweise), chậm rãi (langsam) và cẩn thận (vorsichtig)“.

Bà Thủ Tướng đã phản ứng (reagieren) về những lời kêu gọi ngày càng to (immer laute Rufe) về sự nới lỏng hơn nữa và sự nỗ lực (Bestrebung) của một số tiểu bang muốn hủy bỏ (aufheben) những hạn chế (Restriktionen) càng nhanh càng tốt (möglichst schnell wieder). „Điều này cũng có thể là một sai lầm (Fehler) khi xúc tiến (voranschreiten) quá nhanh (zu schnell)“ bà Thủ Tướng phát biểu nhắm đến những vị Thủ Hiến. „Tình huống (Situation) chúng ta có hiên giờ là tình trạng tranh tối tranh sáng (trügerisch)“ Vì ảnh hường (Auswirkung) việc mở ngõ đã quyết định (beschossene Öffnung) cho nhiều cửa hàng chưa thể dự đoán được(vorsehen).

Nhà vi khuẩn học (Virologe) tại Berlin, ông Christian Drosten đã cảnh báo rằng dịch bệnh (Epidemie) có thể trở lại mạnh mẽ bất ngờ (nicht erwartete Wucht) và có thể bao trùm tất cả (flächendeckend) trở lại. Như vậy, những trạm chăm sóc sâu (Intensivstation) ngày sẽ càng đông bệnh nhân hơn (voller). Điều này làm cho ông rất lo lắng (sorgenvoll), vị giám đốc (Chef) vi khuẩn học của bệnh viện đại học (Universitätsklinikum) Charité tại Berlin nói trong chương trình Postcast đài phát thanh (Rundfunk) NDR.

Gần như cùng lúc (fast gleichzeitig) lời kêu gọi của bà Merkel, thì bà Franziska Giffey bộ trưởng gia đình Đức (Bundesfamilienministerin), đối tác liên minh cầm quyền (Koalitionspartner) đảng SPD, đã đưa ra (bringen) một sự nới lỏng khác cho cuộc đàm thoại (Gespräch): Cẩn thận mở lại (vorsichtige Öffnung) những sân chơi cho trẻ em (Kinderspielplatz) – đặc biệt (insbesondere) trong các đô thị (Städte). Theo bà, tất cả trẻ em cần (brauchen) vận động (Bewegung) và chơi ngoài trời (freies Spiel). Người ta chỉ cần thảo luận về mức độ (inwieweit) mở ngõ từng phần (teilweise Öffnung) như thế nào, ví dụ (etwa) với số lượng hạn chế (begrenzte Zahl) trẻ em.

Vào ngày thứ hai (Montag) cũng đã có nhiều quyết định cụ thể (konkrete Entscheidungen) về Corona:

– Mang (tragen) khẩu trang phòng hộ miệng và mũi (Mund-Nasen-Schutz) trong các giao thông công cộng (öffentliches Verkehrsmittel) và (und)/hoặc (oder) trong các cửa hàng (Geschäfte) đang trở thành bổn phận (Pflicht) ngày càng nhiều (immer mehr) trong nhiều tiểu bang. Tại tiểu bang Sachsen, bổn phận đeo mặt nạ (Maskenpflicht) có hiệu lực kể từ ngày thứ hai; theo sau (nachziehen) là tiểu bang Thüringen sẽ bắt đầu vào ngày thứ sáu (Freitag); hai tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern và Bayern bắt đầu tuần tới (kommende Woche). Nội các (Kabinett) chính quyền tiểu bang Baden-Württemberg quyết định hôm thứ ba (Dienstag). Đồng thời (zugleich), ngày càng nhiều (immer mehr) địa phương (Kommune) trong các tiểu bang khác cũng áp đặt (verhängen) bổn phận tương tự ở địa phương mình (solche lokale Pflicht).

– Những công nhân (Arbeitnehmer) bị cảm lạnh (Erkältungsbeschwerden) vẫn có thể tiếp tục (auch weiterhin) điện thoại (per Telefon) đến bác sĩ xin nghỉ bệnh (krankschreiben lassen). Một quy định đặc biệt tương ứng (entsprechende Sonderregelung) thật ra (eigentlich) đã hết hạn (auslaufen) trong ngày thứ hai, nhưng nay được gia hạn (verlängern) thêm một lần nữa (noch einmals) trước tiên (vorerst) đến ngày 04 tháng năm (Mai), theo thông báo (Mitteilung) Ủy Ban Liên Bang Chung  Về Sức Khỏe (Gemeinsamer Bundesausschuss im Gesundheitswesen, viết tắt là G-BA).

– 105 đội cơ giới (mobiles Team) sẽ giúp đỡ (helfen) việc xác định (Identifizierung) những người tiếp xúc (Kontaktperson) ngay tại chỗ (vor Ort). Việc tài trợ (Finanzierung) do bộ y tế Đức (Bundesgesundheitsministerium) đảm nhận (übernehmen), theo bà Merkel. Việc cần thiết (nötig) là „theo dõi chính xác (präzise Nachfolgerung) mọi chuỗi lây nhiễm (Infektionskette)“.

Bà Thủ Tướng tỏ ra (sich äußern) còn chần chừ (zurückhaltend) về yêu cầu (Forderung) từ phía SPD liên quan đến việc tăng (Aufstockung) tiền làm việc ngắn hạn (Kurzarbeitergeld) và việc giảm (Senkung) chỉ số thuế thặng thu (Mehrwertsteuersatz) cho các nhà hàng (Gastronomie) cũng theo yêu cầu của nhiều Thủ Hiến.

Ủy Ban Liên Minh đen-đỏ (schwarz-rote Koalitionsausschuss) sẽ xem xét (sich befassen) những điều này trong ngày thứ tư để có (sich verschaffen) một cái nhìn tổng quan (Überblick), bà Thủ Tướng nói. „Bây giờ chúng ta chỉ phải cẩn thận (aufpassen) để không thực hiện (vornehmen) mỗi tuần một biện pháp rồi một biện pháp khác trong những tuần kế tiếp.“ Vào ngày 30 tháng tư (April), chính phủ (Bund) và các tiểu bang sẽ đàm phán (verhandeln) về nhiều việc thực hiện tiếp theo (weitere Vorgehen).

Tin dpa, hình Markus Schreiber/AP/POOL/dpa ©

Thứ ba ngày 21.04.2020
Thuận và chống sự điều trị bằng máy hô hấp

Những máy hô hấp (Beatmungsgerät) sử dụng trong cơn khủng hoảng (Krise) Corona được xem là cần thiết (essentiell) cho việc điều trị (Behandlung) bệnh nhân (Patient). Đồng thời (gleichzeitig) hình thức trị liệu (Therapieform) này cũng ẩn tàng (bergen) một loạt (Reihe) tác dụng phụ (Nebenwirkung). Điều này có ý nghĩa (bedeuten) gì đối với bệnh nhân và bác sĩ (Arzt)?

Sự thảo luận (Diskussion) về việc ai cần được hô hấp (beatmen) và ai không vẫn luôn (immer wieder) bùng cháy (flammen) trong cơn khủng hoảng Corona. Mối lo ngại (Sorge) vẫn liên tục (weiterhin) lớn (groß) rằng, những nơi hô hấp (Beatmungsplatz) trong các bệnh viện (Krankenhaus) có thể trở nên khan hiếm (knapp werden) khi sự lây lan (Ausbreitung) tăng tốc (beschleunigen).

Cũng vì lý do (Grund) này nên các tổ chức chuyên ngành (Fachgesellschaft) đã đưa ra (herausgeben) nhiều khuyến nghị (Empfehlung) cho các bác sĩ một số tiêu chí (Kriterium) những gì được hay không được phép áp dụng trong trường hợp cấp cứu (Notfall). Các chuyên gia (Expert) khuyên (raten) phải sử dụng sớm (schon vorher) cho những bệnh nhân có nguy cơ (Risikopatient).

Vi khuẩn (Virus) Corona cũng như việc điều trị có thể có tác dụng (wirken) hoàn toàn khác nhau (ganz unterschiedlich) ở mỗi người. „Không thể có sự hướng dẫn sử dụng (Gebrauchsanweisung) chung cho mọi trường hợp“, theo ông Guido Michels, bác sĩ trưởng (Chefarzt) bệnh viện (Klinik) về Y Khoa Cấp tính và Cấp Cứu (Akut- und Notfallmedizin) của bệnh viện (Hospital) St. Antonius tại Eschweiler. Mỗi trường hợp riêng lẽ (jeder Einzelfall) phải được đánh giá riêng (für sich bewerten). Những gì ông Michels nói đến rõ ràng (deutlich) có liên quan đến tiến trình những căn bệnh nặng (schwerer Krankheitsverlauf).

Nhiễm trùng (bakterielle Infektion) bởi các ống dẫn (Schläuche).
Khi vi khuẩn gây (auslösen) viêm phổi nặng (schwere Lungenentzündung) nghĩa là có quá ít (zu wenig) dưỡng khí (Sauerstoff) được đưa (gelangen) vào máu (ins Blut) bởi viêm (Entzündung) do những tình huống (Umstand) nào đó. Vì thế, bệnh nhân được gắn (anschließen) máy hô hấp trợ thở. Điều này cũng mang đến nhiều rủi ro (Risiken).

Qua các ống dẫn cũng có thể sinh (entstehen) thêm (zusätzlich) sự nhiễm trùng cho phổi (Lunge) ngoài bệnh vi khuẩn (Viruserkrankung), gọi là (sozusagen) một ca viêm phổi thứ hai (zweite Lungenentzündung). Vì thế, nguy cơ có thể cao hơn (höher) ở những bệnh nhân có cơ địa (Körper) suy yếu (geschwächt) bởi các bệnh trước đó (Vorerkrankung).

Ngòai ra,quá nhiều áp suất (zu viel Druck) trong quá trình hô hấp có thể làm cho cấu trúc phổi (Lungenstruktur) vỡ tung (platzen). Thành phần dưỡng khí cao (hoher Sauerstoffanteil) cũng có thể làm tổn hại (schädigen) mô phổi (Lungengewebe).

Các cơ (Muskulatur) của hoành cách mô (Zwerchfell), cơ hô hấp chính (Hauptatemmuskel) vì thế cũng có thể xuống cấp (sich abbauen). „Tất cả mọi biến chứng (Komplikation) cũng như những tác dụng phụ (Nebenwirkung) của sự hô hấp bằng máy (maschinelle Beatmung) có tương quan đến (assoziieren) sự tăng tỷ lệ tử vong (erhöhte Mortalität)“, theo ông Michels. Do đó, khi bắt đầu (Beginn) việc hô hấp nhân tạo (künstliche Beatmung) cũng phải trực tiếp (direkt) nghĩ đến (bedenken) việc giúp bệnh nhận dần (langsam) không lệ thuộc (Entwöhnung) vào máy.

Máy hô hấp không đảm bảo (kein garant) cho sự sống còn (Überleben).
Tờ Bác Sĩ Đức (Deutsches Ärzteblatt) tường thuật (berichten) quy chiếu một công trình khảo sát (Studie) của Anh quốc rằng, một trong ba bệnh nhân được hô hấp trong các khâu chăm sóc sâu (Intensivstation) tại Anh Quốc (Großbritannien) mới có thể sống sót (lebend) và xuất viện (entlassen). Nhiều nghiên cứu khác cho thấy (zeigen) rằng, máy hô hấp từ lâu (längst) đã không đảm bảo cho sự sống còn. Như vậy hô hấp bắng máy có nên là giải pháp cuối (Ultima Ratio) chăng?

Ông Michael Pfeiffer, chủ tịch (Präsident) Tổ Chức Đức về Khoa Viêm Phổi và Y Khoa Hô Hấp (Deutsche Gesellschaft für Pneumologie und Beatmungsmedizin, viết tắt là DGP) nói rằng „Điều này có thể là một sai lầm lớn (großer Fehler)“. Nếu việc điều trị sâu bắt đầu (anfangen) quá trễ (zu spät) thì điều này đơn giản (schlichtweg) có nghĩa là tỷ lệ tử vong cao hơn (höhere Sterblichkeit). Việc hô hấp có ý nghĩa và đúng đắn (sinnvolle und richtige Beatmung) như vậy cũng có thể làm tăng (erhöhen) tỷ lệ sống còn (Überlebensrate), theo ông Torsten Bauer, phó chủ tịch (stellvertretender Präsident) tổ chức DGP. Điều này có từ (hervorgehen) những kinh nghiệm (Erfahrung) với nhiều căn bệnh trong quá khứ (vergangene Erkrankung). Đối với Covid-19 vẫn chưa có (noch nicht) những dữ liệu (Daten) như vậy. Tuy nhiên, sẽ có trong những ngày tới.

Một quyết định (Entscheidung) về sự cân nhắc (überwiegen) giữa rủi ro (Risiko) hoặc lợi ích (Nutzen) cuối cùng (schlussendlich) không phải là việc chọn lựa giữa trắng (Weiß) hay đen (Schwarz), theo ông Lukas Radbruch, chủ tịch Tổ Chức Đức về Y Khoa Giảm Đau (Deutsche Gesellschaft für Palliativmedizin).

Các khuyến nghị của những tổ chức chuyên ngành chỉ nên đóng vai trò như những thông tin làm nền (Hintergrundinformation) cho các cuộc thảo luận trong từng trường hợp riêng lẽ chứ không nên xem nó là một „danh sách để kiểm tra „(Check-Liste). Cuối cùng thì việc quyết định cũng ở trong tay bác sĩ là nên và không nên áp dụng liệu pháp nào.

Chi phí nhân sự cao hơn (höherer Personalaufwand) ở liệu pháp hô hấp không nội sâu (nicht-invasiv).
Theo ông Frank Heimann, chủ tịch (Vorsitzender) Liên Hội Viêm Phổi và Bác Sĩ về Giấc Ngủ và Hô Hấp (Bundesverband der Pneumologen und Schlaf- und Beatmungsmediziner), cách trị liệu (Behandlungsmöglichkeit) là hô hấp không sâu. „Điều này đã được các chuyên gia hô hấp (Beatmungsspezialist) thảo luận. Và phương pháp (Methode) này ít gây (geringer) nguy hại (Gefahr) cho buồng phổi.“ Tuy nhiên (allerdings), hình thức (Form) hô hấp này đòi hỏi chi phí nhân viên cao hơn vì bệnh nhân thường (häufig) tỉnh táo (wach). Một số người đã lo ngại (befürchten) rằng, việc sản suất giọt cũng nhiều hơn (mehr Tröpfchenproduktion) ở bệnh nhân cũng có thể là nguy cơ lây nhiễm lớn hơn (größere Ansteckungsgefahr) cho các bác sĩ nhân viên y tế. Tuy nhiên, tổ chức DGP nêu rõ trong một khuyến nghị rằng, nỗi lo sợ (Angst) nhiễm trùng không phải là lý do tiên quyết để đặt nội khí quản (primärer Intubationsgrund). Thay vào đó, quần áo phòng hộ (Schutzkleidung) đầy đủ (ausreichend) trong các bệnh viện cũng là điều cần thiết (notwendig).

„Đối với Corona cần có cơ sở dữ liệu cần thiết (nötige Datengrundlage) để có thể đưa ra những tuyên bố đáng tin cậy (verlässliche Aussage) ngay (gerade) từ lúc mới xuất hiện (erst im Entstehen)“, theo ông Heimann. Hiện giờ (derzeit), những kinh nghiệm của đội ngũ hô hấp (Beatmungsteam) cũng như các nguồn lực sẳn có (verfügbare Ressourcen) đóng một vai trò (Rolle) đặc biệt (besonders) cho việc điều trị.

Ông Radbruch khuyên (raten) mọi người và đặc biệt là những bệnh nhân nguy cơ nên có suy nghĩ (Gedanken) trước (im Voraus) về những điều họ mong muốn (wünschen) trong tình huống cấp tính (akute Situation) và liệu họ có muốn được hô hấp nhân tạo hay không. Ví dụ, với sự giúp đỡ (mithilfe) của bảng „bệnh nhân lệnh“ (Patientenverfügung) hoặc một „bảng ghi chú cho trường hợp khẩn cấp“ (Notfallbogen). Văn kiện này quy định (festlegen) phương pháp điều trị nào sẽ được thực hiện (vornehmen) trong trường hợp khẩn cấp và hình thức nào không. Ông Radbruch quan sát (beobachten) sự phản kháng (Widerstand) thường xuyên (häufig) chống lại cuộc xung đột (Auseinandersetzung) như vậy thường xảy ra trong các viện dưỡng lão (Seniorenheim): „Có nhiều người bây giờ (jetzt) chưa muốn nghĩ đến (nachdenken) cái chết (Tod) và chết lâm sàng (Sterben).“

Những kế hoạch cấp cứu (Notfallplan) cho các viện dưỡng lão và điều dưỡng (Senioren- und Pflegeheime).
„Một kế hoạch cấp cứu như vậy sẽ giúp ích rất nhiều (große Hilfestellung) cho các bệnh viện“, theo ông Michels. Cho nên, các bác sĩ cấp cứu (Notfallmediziner) đề nghị (vorschlagen) các mạng lưới giảm đau trong khu vực (regionale Palliativnetzwerke) nên cùng (gemeinsam) các viện dưỡng lão và điều dưỡng thiết lập (entwickeln) những kế hoạch cấp cứu này. Đối với từng người cư sống trong viện (Heimbewohner) có thể giải thích (erklären) cho họ biết trong trường hợp khẩn cấp cụ thể (konkreter Ernstfall) sẽ tiến hành (vorgehen) như thế nào (wie). Ví dụ, những người không muốn được hô hấp nhân tạo, có thể được chăm sóc giảm đau (palliativ versorgen).

Những bệnh nhân Corona không có triễn vọng (Aussicht) chữa lành (Heilung), chủ yếu (vor allem) bị khó thở (Luftnot), theo ông Radbruch. „Điều này thường (oft) gây ra (auslösen) nỗi lo sợ (Angst)“. Ngoài ra còn bị rối loạn (Verwirrtheit), bồn chồn bất an (Unruhe) và ho hen (Husten), đôi khi (teilweise) bị tiêu chảy (Durchfall). Một số bệnh nhân phàn nàn (klagen) bị đau nhức cơ bắp (Muskelschmerzen) „Giống như bệnh cúm nặng (schwere Grippe) làm đau nhức (wehtun) toàn thân (ganzer Körper)“.

Trong việc chăm sóc giảm đau (palliative Versorgung), Morphin được sử dụng để chống các triệu chứng đau nhức. Cho nên bệnh nhân không còn cảm giác (spüren) khó thở. Bệnh nhân được hố hấp nhân tạo trong bệnh viện cũng được giữ (halten) trong tình trạng hôn mê nhân tạo (künstliches Koma) bằng thuốc (Medikament) nên cũng cảm thấy (verspüren) không bị khó thở. „Không người nào (niemand) phải bị chết ngạt (ersticken) trong các bệnh viện. Và sự cố này cũng không xảy ra ở các viện điều dưỡng“, ông Michels đảm bảo (versichern).

Ông Radbruch đã hỏi (sich erkundigen) về sự điều dưỡng những người bị bệnh (erkrankte Menschen) bởi Corona đã chết (sterben) ở đó (dort) ra sao. Người ta cho ông biết rằng, những người này không bị nghẹt thở. Ngược lại (anders), điều này xảy ra ở những người không được chăm sóc y tế (medizinisch versorgen) vì dụ chết tại nhà (zuhause).

Bệnh nhân mong ước điều gì?
Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến tiêu biểu (repräsentative Umfrage) của Viện (Institut) về Quần Chúng (Bevölkerung) và Phát Triển (Entwicklung) tại Berlin cho thấy, ai cũng đều mong muốn (sich wünschen) có một chết không đau đớn (schmerzfrei), được chăm sóc tốt (gut versorgt), gần gũi (nah) những gì quen thuộc (Gewohnte), có liên hệ xã hội (sozial gebunden) và tự quyết định (selbstbestimmt) . Cuộc thăm hỏi ý kiến (Befragung) được thực hiện (durchführen) trong khuôn khổ (im Rahmen) khảo sát „Liên Quan Đến Một Từ Chết“ (Auf ein Sterbenswort) sự kiến sẽ được công bố (veröffentlichen) vào ngày 23 tháng tư (April).

Ông Radbruch cũng biết đến những mong ước như vậy từ công việc (Arbeit) của mình. Ông điều hành (leiten) Trung Tâm Y Khoa Giảm Đau (Zentrale für Palliativmedizin) của bệnh viện từ thiện Malteser tại Bonn cũng như bệnh viện y khoa giảm đau thuộc bệnh viện đại học y (Universitätsklinikum) tại Bonn. Ở đó, những người nằm chờ chết (im Sterben liegen) được thăm viếng (Besuch) không giới hạn (unbegrenzt). Cũng như vậy, Hiệp Hội Đức Chuyên Ngành Về Y Khoa Chăm Sâu và Cấp Cứu (Deutsche Interdisziplinäre Vereinigung für Intensiv- und Notfallmedizin) khuyến nghị nên áp dụng cho những bệnh nhân Corona trong các khâu chăm sâu đặc biệt tuân hành (Einhaltung) những biện pháp phòng hộ (Schutzvorkehrung). „Điều quan trọng trên hết là tạo cơ hội (Chance) cho mọi người bày tỏ trước đó (vorher äußern) những gì họ mong muốn trong trường hợp cấp cứu“, ông Radbruch nói.

Tin dpa, hình Marijan Murat/dpa ©

Thứ hai ngày 20.04.2020
Một phần ba người Đức có cảm giác bị nhiều khó khăn bởi những biện pháp hạn chế.

Việc hạn chế (Einschränkung) tự do cá nhân (persönliche Freiheit) là một gánh nặng (Belastung) rất nặng (sehr stark) hoặc nặng (stark) đối với khoảng (knapp) 31 phần trăm tương đương một phần ba (Drittel) người Đức trong việc phòng chống (Bekämpfung) đại dịch (Pandemie) Corona, theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage).

Tuy nhiên (jedoch), phần lớn (Mehrheit) có ít (weniger) thậm chí (sogar) không có khó khăn gì (Schwierigkeit) gì đối với những lệnh cấm tiếp xúc (Kontaktverbot) cũng như (sowie) việc đóng cửa (Schließung) các cửa hàng (Geschäfte), nhà hàng (Restaurant) và trường học (Schule), theo „xu hướng nước Đức“ (Deutschlandtrend) trên đài truyền hình (Fernsehsender) ARD chương trình (Sendung) „Tin Sáng“ (Morgenmagazin) phát sóng hôm thứ sáu (Freitag) tuần trước (Vorwoche).

Theo đó (demnach), có 43 phần trăm cảm thấy (empfinden) những điều kiện hiện tại (bestehende Auflage) vẫn còn ít mạnh mẽ (weniger stark). Một phần tư (Viertel) với 26 phần trăm có cảm giác (sich fühlen) hoàn toàn (überhaupt) không bị gánh nặng nào bởi sự hạn chế. Nhưng những người trẻ (jüngere Menschen) thì có nhiều vấn đề lớn hơn (größere Probleme). Ở những người dưới 40 tuổi có 41 phần trăm cho biết (zeigen) họ gặp nhiều cho đến rất nhiều khó khăn, như vậy nhiều gấp đôi (doppelt) so với những người trên 65 tuổi với 21 phần trăm.

Tin dpa, hình Hendrik Schmidt/dpa-Zentralbild/dpa ©

Chủ nhật ngày 19.04.2020
Chính phủ dự tính „sự bình thường trở lại sẽ được thiết lập trong một thời gian lâu dài“

Khi đời sống công cộng (öffentliches Leben) tại Đức đa phần (weitgehend) bị đóng băng (einfrieren) trong tháng ba (März) thì hy vọng lớn (große Hoffnung) của mọi người là cơn khủng hoảng vi khuẩn (Viruskrise) chóng (rasch) qua đi (vorbeigehen). Và giờ đây (jetzt), chính phủ Đức (Bundesregierung) đang giúp cho người dân (Bürger) thích ứng (einstimmen) với một thời gian chuyển tiếp lâu dài (lange Übergangszeit).

Chính phủ Đức quả quyết (überzeugen) rằng, người dân còn (noch) phải thích nghi (sich einstellen) cho một sự thay đổi cuộc sống hàng ngày (veränderter Alltag) trong một thời gian lâu dài vì (wegen) đại dịch (Pandemie) Corona.

„Những gì chúng ta cần (brauchen) bây giờ là một sự bình thường mới (neue Normalität) trong một thời gian dài“, ông Olaf Scholz (SPD), bộ trưởng tài chánh Đức (Bundesfinanzminister) phát biểu (sagen) trên đài truyền hình (Fernsehsender) ARD. Cho đến khi nào (solange) chưa có liệu pháp điều trị (Therapie) kể cả vắc-xin (Impfstoffe) thì mọi người cần phải học (lernen) cách sống (leben) với vi khuẩn.

Các chuyên gia (Expert) ước tính (einschätzen) rằng, việc này sẽ kéo dài (dauern) ít nhất (mindestens) đến đầu năm (Frühjahr) 2021 mới có thể có (verfügbar) vắc-xin. Theo Viện (Institut) Paul Ehrlich, viết tắt là PEI, nước Đức mới đây (in Kürze) đã bắt đầu (beginnen) thử nghiệm lâm sàng đầu tiên (erste klinische Prüfung) vắc-xin nơi một ứng viên (Kandidat). Cho đến nay (bisher), trên thế giới (weltweit) có bốn (vier) ứng viên thử nghiệm lâm sàng đầu tiên, ông Klaus Cichutek, chủ tịch (Präsident) Viện PEI phát biểu tại Berlin hôm thứ sáu (Freitag).

Liên bang (Bund) và các tiểu bang (Länder) đã đồng ý (sich verständigen) hôm thứ tư (Mittwoch) về việc nới lỏng dần đầu tiên (erste schrittweise Lockerung) những điều kiện (Auflage) Corona, nhưng những hạn chế tiếp xúc (Kontaktbeschränkung) vẫn được kéo dài (verlängern) ít nhất đến ngày 03 tháng năm (Mai). Cuối tháng tư (April), chính phủ Đức và thủ hiến (Ministerpräsident) các tiểu bang (Bundesland) tiếp tục (erneut) hôi ý (beraten) để xem tiếp tục (weitergehen9 như thế nào (wie).

Ngày càng cho thấy rõ ràng hơn (deutlicher) rằng, chưa có (nicht geben) một chiến lược thống nhất cho cả nước (bundesweite einheitliche Strategie) trong cuộc chiến (Kampf) chống (gegen) vi khuẩn (Virus). Kể từ ngày thứ hai (Montag) tuần tới, các cửa hàng nhỏ và trung (kleine und mittlere Geschäfte) ở nhiều nơi (vielerorts) sẽ mở cửa trở lại (wieder öffnen). Chính quyền tiểu bang (Landesregierung) tại Sachsen đã ra lệnh (verfügen) bổn phận mang mặt nạ (Maskenpflicht) trong giao thông gần (Nahverkehr) và trong các cửa hàng. Đồng thời (zugleich), những buổi Thánh Lễ (Gottesdienste) được cho phép (zulassen) trở lại, còn ở những nơi khác vẫn bị cấm (verboten bleiben). Trong tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern, phải mang mặt nạ trong giao thông gần.

Ông Scholz biện hộ (verteidigen) những hạn chế nghiêm khắc (starke Einschränkung) của đời sống sông cộng. „Chúng ta đã đạt được (erreichen) ít nhiều (etwas) với quá nhiều biện pháp (massive Maßnahme) như vậy, điều làm cho nhiều người ở ngoài nước Đức (außerhalb Deutschland) rất có ấn tượng (sehr beeindruckt), chính là (nämlich) diễn tiến lây nhiễm (Infektionsgeschehen) đã giảm (zurückgehen)“, vị phó thủ tướng (Vizekanzler) đã phát biểu trên đài truyền hình ARD vào tối thứ sáu (Freitagabend) trong chương trình phát sóng (Sendung) „Điểm Nóng“ (Brennpunkt). Tuy nhiên vẫn chưa có gì chắc chắn (nicht sicher) rằng, sự phát triển (Entwicklung) như vậy được duy trì (anhalten). „Do đó (deshalb), chúng ta phải hoàn toàn cẩn trọng (ganz vorsichtig) ngay từ bây giờ để có những bước tiến được bàn thảo sáng suốt (klug diskutiert) và suy nghĩ tận tường (klug bedacht) để làm cho cuộc sống xã hội (soziales Leben) thăng tiến (wachsen) trở lại.“

Ông Markus Söder, thủ hiến tiểu bang Bayern, khuyến cáo (mahnen) người dân hãy nên kiên nhẫn (geduld). Vị đảng trưởng CSU nói với tờ „Passauer Neue Presse“ hôm thứ bảy (Samstag) rằng „Corona không chỉ là (eben nicht) một cơn giông bão (Gewitter) nhanh chóng (schnell) kéo (hinwegziehen) ngang qua nước Đức một lần (einmal) rồi sau đó (dann) mọi thứ (alles) ổn định trở lại (wieder in Ordnung)“.

Quan điểm (Ansicht) của ông Wolfgang Schäuble, chủ tịch quốc hội Đức (Bundestagspräsident) cho rằng, cơn khủng hoảng mang đến nhiều hậu quả xã hội sâu rộng (weitreichende gesellschaftliche Konsequenz). „Chúng ta phải xác định (definieren) lại (neu) mối tương quan (Verhältnis) giữa (zwischen) nền kinh tế thị trường (Marktwirtschaft) và sự điều chỉnh của nhà nước (staatliche Regulierung)“, chính khách (Politiker) đảng CDU nói trên tờ „Augsburger Allgemeine“ phát hành (Ausgabe) ngày thứ bảy. „Chúng ta vô cùng rúng động (schwer erschüttern) bởi tất cả đã (schon) diễn ra tốt đẹp (gut gehen) bằng một cách nào đó (irgendwie).“

Tin dpa, hình Fernando Gutierrez-Juarez/dpa-Zentralbild/dpa ©

Thứ bảy ngày 18.04.2020
Cấm các buổi Thánh Lễ: Các tôn giáo và chính trị đang soạn thảo một phương thức.

Những hạn chế (Beschränkung) bởi dịch Corona sẽ được nới lỏng (lockern) chút ít (ein wenig) trong tuần tới (nächste Woche) – nhưng lệnh cấm các buổi Thánh Lễ (Gottesdienstverbot) vẫn giữ nguyên.

Đại diện (Vertreter) các cộng đồng tôn giáo (Religionsgemeinschaft) và Giáo Hội (Kirche) muốn cùng (gemeinsam) chính phủ liên bang (Bundesregierung) và các tiểu bang (Länder) soạn thảo (erarbeiten) một phương thức (Konzept) trong những ngày tới đây về sự nới lỏng dần (schrittweise Lockerung) các điều kiện (Auflage) trong cơn khủng hoảng (Krise) Corona.

Điều này sau đó sẽ làm cơ sở (Grundlage) cho những quyết định sắp tới (späterer Beschluss), theo phát ngôn viên (Sprecher) của Bộ Nội Vụ Đức (Bundesinnenministerium) phát biểu (sagen) tại Berlin. Để phòng chống (Schutz) sự  lây lan (Ausbreitung) của vi khuẩn Corona mới nên các buổi Thánh Lễ (Gottesdienst) với các tín đồ (Gläubige) cũng đã bị cấm (untersagt).

Trước đây (zuvor), ông Markus Kerber, Thứ Trưởng (Staatssekretär) đã nói chuyện (sprechen) với đại diện của các cộng đồng tôn giáo gồm có đại biểu (Repräsentanten) Giáo Hội Cơ Đốc và Tin Lành (katholische und evangelische Kirche), Ki-Tô Hữu Chính Thống (orthodoxe Christen), Hội Đồng Trung Ương Do Thái (Zentralrat der Juden) cũng như (sowie) Hội Đồng Điều Phối Hồi Giáo (Koordinationsrat der Muslime) và đại diện ba tiểu bang.

Mãi (erst) đến thứ tư (Mittwoch), liên bang và các tiểu bang đã thỏa thuận (vereinbaren) rằng, những buồi Thánh Lễ cộng đồng (gemeinschaftliche Gottesdienste) vẫn tiếp tục (weiterhin) không được phép (nicht erlaubt). Vào ngày 30 tháng tư (April), bà Thủ Tướng (Kanzlerin) Angela Merkel (CDU) sẽ hội ý (beraten) một lần nữa (erneut) với các Thủ Hiến tiều bang (Ministerpräsident).

„Các đại diện tôn giáo (Religionsvertreter) đã lên tiếng rõ ràng (deutlich machen) rằng, họ đã ủng hộ (mittragen) những biện pháp (Maßnahme) này ngay từ đầu (von Anfang an) bởi nó có tính cách rất quyết liệt (sehr einschneidend) đối với mọi người (Menschen)“, phát ngôn viên Bộ Nội Vụ nói. Mọi người đã đồng ý rằng, giờ đây (nun) phải tìm ra (finden) những cách (Wege) để dần bình thường hóa (schrittweise Normalisierung) cuộc sống tôn giáo (religiöses Leben) với việc tuân hành (Einhaltung) những yêu cầu (Anforderung) về phòng hộ sức khỏe và sự lây nhiễm (Gesundheits- und Infektionsschutz). Vị chủ tịch (Vorsitzender) Hội Đồng Giám Mục Đức (Deutscher Bischofskonferenz), Georg Bätzing, trước đây (im Vorfeld) đã chỉ trích (kritisieren) lệnh cấm các buổi Thánh Lễ là điều không thể hiểu được (unverständlich).

Tin dpa, hình Patrick Seeger/dpa ©

Thứ sáu ngày 17.04.2020
KẾ HOẠCH NỚI LỎNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐỨC
Nước Đức bắt đầu chậm trở lại cuộc sống – bất chấp Corona

Bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel (65 tuổi, đảng CDU) và những vị lãnh đạo chính quyền của 16 tiểu bang vào hôm thứ tư đã „hết sức thận trọng“ (mit äußerster Vorsicht) đồng ý nhiều sự nới lỏng đầu tiên đối với những hạn chế trong cơn đại dịch Corona, theo bà Merkel.

Những thay đổi quan trọng nhất (wichtigste Änderung) và những điều cấm (Verbote) nào vẫn tiếp tục duy trì (weiter bestehen)
Quan trọng (wichtig): Vẫn có nhiều quyết định (Beschluss) không mang tính bắt buộc (nicht verbindlich) sẽ được các tiểu bang thực hiện (umsetzen) theo pháp lệnh (Verordnung) hiện hành (in geltendes Recht)

Tiếp Xúc (Kontakte):
Không tiếp xúc (Kontaktsperren) và cấm ra ngoài (Ausgehverbot) VẪN DUY TRÌ (stehenbleiben) đến ngày 03 tháng năm (Mai).
Vẫn chỉ một mình (nur allein), với gia đình (Familie) hay người cùng sống (Mitbewohner) hoặc tối đa (maximal) một người ngoài (außenstehende Person) trên đường (auf die Straße) hoặc trong xe (ins Auto) – và có „lý do chính đáng“ (triffter Grund) như đi mua sắm, đổ xăng (Tanken), bác sĩ (Arzt), đi chăm sóc người thân (Versorgung von Angehörigen).
Ngay cả lúc ở nhà (daheim) chỉ được phép (zulässig) có thành viên gia đình (Haushalts-Mitglieder) và (und)/ hoặc (oder) một người bạn (Freund) hoặc người quen biết (Bekannter) – tùy (je nach) từng tiểu bang –
Bên ngoài nhà (außer Haus): Khoảng cách yêu cầu (Abstandsgebot) ít nhất (mindestens) là 1,5 mét! Bà Merkel nói: „Mọi sự vi phạm (Verstoß) vẫn tiếp tục bị phạt (weiter ahnden)“

Trường Học (Schule)
Trường học sẽ bắt đầu hoạt động trở lại (wieder starten) vào ngày 04 tháng năm (Mai), bắt đầu (beginnend) những lớp năm cuối (Abschlussjahrgang) của các trường phổ thông và học nghề (allgemeinbildende und Berufsschule), nghĩa là những lớp (Klasse) sẽ thi (Prüfung ablegen) trong năm tới (kommendes Jahr) và những lớp cuối tiểu học (oberste Grundschulklasse).Các kỳ thi sắp tới (anstehende Prüfung) có thể sớm hơn để những lớp cuối (Abschlussklasse) cũng có thể bắt đầu ngay lập tức (ab sofort).

Nhưng: Mỗi tiểu bang (einzelnes Land) có thể du di (abweichen) thực hiện những quy tắc (Regelung) này, ví dụ như tiểu bang Bayern bị ảnh hưởng đặc biệt (besonders) bởi Corona. Cho nên các trường học chỉ (erst) nên dần (schrittweise) mở lại (wieder öffnen) từ ngày 11.05.
Trong tiểu bang Nordrhein-Westfalen ngược lại (dagegen), những lớp cuối sẽ đi học trở lại (wieder Schule) vào ngày thứ hai tuần tới (kommender Montag) „với sự chuẩn bị tương ứng“ (nach entsprechender Vorbereitung), ông Armin Laschet (59 tuổi, đảng CDU) Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang này giải thích (erklären).
Những tiểu bang khác muốn bắt đầu các lớp cuối vào ngày 27.04, trong số này có các tiểu bang Hessen, Thüringen và Rheinland-Pfalz.

Trong hai tuần nữa, hội nghị bộ trưởng văn hóa (Kultusministerkonferenz) sẽ đệ trình (vorlegen) một phương thức (Konzept), làm thế nào giờ học (Unterricht) nói chung (insgesamt) có thể được thực hiện trở lại theo các biện pháp vệ sinh và phòng hộ đặc biệt (besondere Hygiene- und Schutzmaßnahme), nhất (insbesondere) là sự quan tâm đến (Berücksichtigung) khoảng cách yêu cầu bằng cách giảm số lượng học sinh (reduzierte Lerngruppengröße).
Trước khi mở cửa (Öffnung) các trường học nên thực hiện những biện pháp phòng hộ như các quy định vệ sinh (Hygienevorschrift), những quy tắc giữ khoảng cách (Abstandregel). Cũng như thế, ở trong sân trường (Schulhof) và xe buýt của trường học (Schulbusbetrieb) cũng phải thích nghi (anpassen) với tình hình mới (neue Situation). Trong văn kiện (Papier) quy định (festhalten): „Mỗi trường cần (brauchen) có một kế hoạch vệ sinh (Hygieneplan)“

Khi nào các giờ học cho những cấp lớp khác nhau (unterschiedliche Klassenstufe) có thể bắt đầu trở lại. bà Thủ Tướng muốn cùng với các Thủ Hiến tiểu bang quyết định (entscheiden) – tùy vào sự phát triển (entwickeln) của những con số lây nhiễm (Infektionszahl).

Các đại học (Universität, thường viết tắt là Uni) trước tiên (vorerst) vẫn đóng cửa (schließen), ngoại lệ (Ausnahme): Các kỳ thi có thể được thực hiện trở lại, một số sự kiện thực tập nhất định (bestimmte Praxisveranstaltung) ví dụ như các khóa học chuẩn bị (Präparationskurs) cũng có thể diễn ra (stattfinden) trở lại với những biện pháp vệ sinh và phòng hộ.
Thư viện (Bibliotheken) và nơi lưu trữ tài liệu (Archive) cũng có thể mở cửa trở lại với nhiều điều kiện nghiêm ngặt (strenge Auflage).

Nơi Giữ Trẻ (Kindertagesstätte, thường viết tắt là Kita)
…vẫn đóng cửa (bleiben geschlossen) cho đến ít nhất (bis mindestens) ngày 03.05.
Lý do viện dẫn (Begründung): Trẻ nhỏ (Kleinkinder) không thể giữ (einhalten) được khoảng cách yêu cầu và có thể bị nghi ngờ (im Zweifel) là bị phụ huynh (Eltern) hay anh chị em (Geschwister) ở nhà (zu Hause) lây nhiễm (anstecken). Việc „chăm sóc khẩn cấp“ sẳn có (bestehende Notversorgung) cho việc chăm sóc trẻ (Kinderbetreuung) đối với trẻ đến 12 tuổi dành cho phụ huynh (Eltern) có ngành nghề liên quan đáng kể đến hệ thống (systemrelevanter Beruf) như y khoa (Medizin), cảnh sát (Polizei) v.v…được mở rộng (ausweiten).
Hệ quả (Folge): Con của những người nữ bán hàng (Verkäuferin), kỹ thuật viên (Techniker) IT, nông dân (Landwirt), tài xế xe tải (Lkw-Fahrer) cũng có quyền lợi (Anspruch) nhận (bekommen) những Chỗ Giữ Trẻ Trong Trường Hợp Khẩn Cấp (Notfall-Kita-Platz).

Yêu Cầu Mang Mặt Nạ(Maskengebot)
Chính phủ liên bang và các tiểu bang không bắt buộc bổn phận (Pflicht) mang (tragen) phòng hộ miệng và mũi (Mund- und Nasenschutz)
, vì không có đủ (nicht genügend vorhanden) mặt nạ (Maske).
Tất cả (chính trị (Politik) và kinh tế (Wirtschaft) đang làm việc (arbeiten) để trang bị (ausstatten) ít nhất (wenigstens) có đủ mặt nạ cho bệnh viện (Klinik), bác sĩ (Arzt), các viện (Heime), cảnh sát (Polizei), nhân viên y tế (Sanitäter) – mỗi tuần (pro Woche) cần (benötigen) 4,7 triệu mặt nạ dùng cho việc phẩu thuật (OP-Maske) và 2,4 triệu mặt nạ thở chống vi khuẩn (virendichte Atemmaske) ví dụ cho nhân viên bệnh viện (Klinikpersonal).
Khuyến nghị (Empfehlen): Trong xe buýt (Bus) và xe lửa (Bahn), trong các tiệm (Laden) hoặc siêu thị (Supermarkt) phải đeo mặt nạ tự làm (selbstgemacht) hoặc mặt nạ bằng vải đã mua (gekaufte Stoffmaske) hoặc khăn quàng (Schal) gọi là „mặt nạ hàng ngày“ (Alltagsmaske), để phòng hộ (schützen) những người xung quanh (Umstehende) không bị lây nhiễm (Ansteckung) khi ho (Husten) hoặc hắt hơi (Niesen). Tức là (also): Đây không phải là một bổn phận, chỉ là một „yêu cầu“ (Gebot).

Nhà Hàng (Restaurant), Quán Cà Phê (Cafés), Quán Rượu (Kneipen)
„Các cơ sở dịch vụ ăn uống (Gastronomiebetriebe) vẫn đóng cửa“, theo quyết định. Điều này áp dụng (gelten) cho các quán ăn, bia và rượu vang (Speise-, Bier- und Weinlokale) cũng như (ebenso) McDonald´s, Subway và hàng quán tương tự.
Ngoại lệ (Ausnahme): Bán mang đi (Außer-Haus-Verkauf)! Thức ăn phải được dùng (verzehren) trong một khoảng cách thích ứng (angemessener Anstand) trên nguyên tắc (in der Regel) ít nhất (mindestens) 50 mét cách chỗ bán. Những vườn bán bia (Biergarten) hoặc bán Café ở sân hiên (Terrasse) vẫn phải giữ trống (leer bleiben).
Các phòng khiêu vũ (Diskotheke) và câu lạc bộ (Club) vẫn đóng cửa (zu bleiben).

Các Cửa Hàng (Geschäfte) / Tiệm (Laden)
Tất cả các cửa hàng, cửa hàng mỷ phẫm (Boutique), tiệm giày (Schuladen) được mở cửa trở lại nếu diện tích buôn bán (Verkaufsfläche) tối đa (maximal) 800 mét vuông (Quadratmeter) nhưng „phải giữ những điều kiện vệ sinh“.
Các cửa hàng lớn hơn vẫn phải đóng cửa. Bà Merkel nói: Chúng tôi không muốn lo cho sự „đi lại của quần chúng (Publikumsverkehr) trong các thành phố (Stadt) để tránh (vermeiden) chuỗi lây nhiễm (Infektionskette).
Sự hạn chế (Beschränkung) được miễn (befreit) rõ rệrt (ausdrücklich) cho: Các nhà sách (Buchhandlung), bán xe (Autohändler) và cửa hàng xe đạp (Fahrradladen); họ có thể làm việc bình thường trở lại (wieder im Normalbetrieb) ngay cả với diện tích lớn hơn (mehr als) 800 mét vuông.
Với điều kiện (Bedingung): KHÔNG có việc sắp hàng chờ (Warteschlange) trong tiệm và khoảng cách yêu cầu là 1,5 mét.
Những điều tiếp theo được áp dụng cho siêu thị (Supermarkt), nhà thuốc (Apotheke), trạm xăng (Tankstelle), ngân hàng (Bank) v.v…: Không hạn chế khi lưu ý (Beachtung) những điều kiện vệ sinh. Tùy theo khu vực (Region), thậm chí (sogar) họ có thể bán (verkaufen) trong ngày Chủ Nhật (Sonntag).

Thợ Làm Tóc (Friseure)
„Các tiệm uống tóc“ (Friseurbetriebe) được phép „hoạt động trở lại (Betrieb wieder aufnehmen) kể từ (ab) ngày 04.05“.
Điều kiện: Không có việc sắp hàng chờ đợi, giữ những biện pháp vệ sinh để phòng hộ khách hàng (Kunde) và nhân viên (Personal) và „trang bị phòng hộ cá nhân (persönliche Schutzausrüstung)“ cho nhân viên (Angestellte) gồm cả mặt nạ y tế (medizinische Maske).
Ngược lại, những tiệm làm móng tay chân (Nagelstudio) và thẩm mỹ viện (Schönheitssalon) vẫn phải đóng cửa (geschlossen bleiben).

Nhà Thờ (Kirche)
Những cuộc tập họp (Zusammenkunft) trong nhà thờ, giáo đường Do Thái (Synagoge), Thánh Đường Hồi Giáo (Moschee) và các cơ sở tôn giáo khác (andere religiöse Stätte) vẫn tiếp tục (weiterhin) không được phép (nicht erlaubt).
Các cuộc thảo luận (Gespräche), theo bà Merkel „còn trong tuần này“, giữa (zwischen) đại diện (Vertreter) nhiều tôn giáo khác nhau (verschiedene religion), Bộ Nội Vụ Đức (Bundesinnenministerium) và Thủ Hiến các tiểu bang đã được công bố (ankündigen) để sớm (bald) hủy bỏ (aufheben) một số hạn chế.

Lễ Hội (Fest) / Liên Hoan (Party)
Cấm tụ tập (Versammlungsverbot) nơi công cộng (Öffentlichkeit) VÀ một phần (teils) trong căn hộ riêng (eigene Wohnung) vẫn có hiệu lực (gültig) đến ngày 03.05. Những buổi hòa nhạc (Konzert), tiệc liên hoan (Feiern), những buổi „liên hoan Corona“ (Corona-Partys) vẫn tiếp tục bị phạt (Strafe).

Văn Hóa (Kultur)
Các nhà hát cổ điển (Opern), kịch nghệ (Theater), viện bảo tàng (Museum), rạp chiếu phim (Kino), công viên giải trí (Freizeitpark), tất cả trước tiên (vorerst) vẫn phải đóng cửa (dicht bleiben).
Ngoại lệ mới: Những thư viện công cộng (öffentliche Bücherei), nơi tàng trữ dữ liệu (Archive), sở thú (Zoo) và vườn thực vật (botanische Garten) được phép mở cửa trở lại – nhưng phải tránh việc sắp hàng chờ và chen lấn (Gedränge).

Các Sự Kiện Lớn (große Veranstaltung) / Bóng Đá Bundesliga
TẤT CẢ các sự kiện lớn bị cấm (untersagt) cho đến ngày 31.08.

Nghĩa là: KHÔNG có lễ hội bắn súng (Schützenfest), KHÔNG có buổi hòa nhạc lớn, KHÔNG có những trận đấu bóng đá Bundesliga với khán giả (Publikum). „Các trận đấu không người xem“ (Geisterspiele) với những hàng ghế trống rỗng (leere Ränge) vẫn hoàn toàn khả thi (wohl möglich), bởi vì các hội (Verein) / sân vận động (Stadion) được xem là cùng nơi chốn hoạt động (Betriebsstätte)

Các Phòng Tập Thể Dục (Fitness-Studio)
Tất cả McFit và đại loại Co. vẫn phải đóng cửa – ít nhất cho đến ngày 03.05.
Tuy nhiên, chạy bộ (Joggen) ngoài trời (im Freien), chới đá banh (Fußballspiele) với trẻ em (Kinder) được cho phép (erlaubt).

Các Sân Chơi (Spielplatz)
…vẫn phải đóng cửa

Các Nhà Máy (Fabrik) / Xí Nghiệp (Betriebe)
Hấu hết các xí nghiệp nên chuyển sang (umstellen) làm việc tại nhà (Heimarbeit, Home Office) nếu có thể (nach Möglichkeit).
Về nguyên tắc (prinzipiell), các dây chuyền vận chuyển (Fließband) và dây chuyền sản suất (Produktionsstraße) có thể tiếp tục hoạt động.
Điều kiện: Mỗi doanh nghiệp (Unternehmen) nên đệ trình (vorlegen) một “phương thức vệ sinh” (Hygienekonzept) bao gồm việc tránh (vermeiden) tiếp xúc giữa nhân viên và khách hàng (Kundschaft), giữ cho chỗ làm việc không bị vi khuẩn (virenfrei) và đảm bảo (garantieren) khoảng cách giữa các đồng nghiệp (Kollegen).
Bộ Lao Động Đức (Bundesarbeitsministerium) sẽ cùng với các công ty sọan ra (erarbeiten) một “phương thức phòng hộ lao động” (Arbeitsschutz-Konzept).

Biên Giới (Grenze)
Việc kiểm soát sự nhập cảnh (Einreisekontrolle) ở các biên giới Đức kéo dài (verlängern) tiếp 20 ngày.
Cho đến ngày 04.05 vẫn áp dụng: Chỉ có người đi làm (Pendler), những tài xế lái xe giao hàng (Lieferfahrer) hoặc tài xế chuyên nghiệp (Berufsfahrer) ví dụ thợ lắp ráp (Monteure) từ Áo (Österreich), Pháp (Frankreich), Lục Xâm Bảo (Luxemburg), Đan Mạch (Dänemark) và Thụy Sĩ (Schweiz) được phép nhập cảnh (eireisen) vào nước Đức. Những ngõ thông giao (Übergang) với Bỉ (Belgien) và Hòa Lan (Holland) chỉ được giám sát (überwachen) trong khu vực biên giới (Grenzraum).
Bất cứ ai nhập cảnh đến từ một khu vực rủi ro (Risikogebiet) phải bị cách ly kiểm dịch (Quarantäne) 14 ngày.

Nhập cảnh từ một quốc gia thứ ba (Drittstaaten) trong EU trên nguyên tắc chỉ còn được phép (zulässig) cho những trường hợp đã được chọn (ausgewählter Fall).
Kể từ ngày 10.04, những người dân (Bürger) EU trở lại (Rückkehrende) sau nhiều ngày cư sống ở nước ngoài (mehrtägiger Auslandsaufenthalt) phải sống các ly tại nhà (häusliche Quarantäne) hai tuần lễ.

Du Lịch (Reisende) / Khách Sạn (Hotel) 
Trên cơ bản (grundsätzlich) cấm (verbieten) mọi sự „trú ngụ“ (Beherbergung)
Ngoại trừ: Ngủ qua đêm vì nghề nghiệp (berufliche Übernachtung) như thợ lắp ráp, những tài xế xe vận tải lớn (Brummi-Fahrer).
Cấm các chuyến đi du lịch (touristische Reise) và du ngoạn (Ausflug).
Trên nguyên tắc, các khách sạn không còn phục vụ ăn uống bình thường (normale Bewirtung). Nhưng nếu có (falls doch), thì họ phải có biện pháp phòng ngừa đặc biệt (spezielle Vorkehrung) để giữ (halten) khoảng cách giữa nhân viên và khách (Gast).

Tin báo BILD ngày 15.04.2020 / 22:56. Hình POOL/Reuters

Thứ năm ngày 16.04.2020
Nước Đức kéo dài việc kiểm soát biên giới.

Việc kiểm soát biên giới (Grenzkontrolle) Đức trước tiên (vorerst) vẫn được tiếp tục (fortsetzen). Ông Horst Seehofer, bộ trưởng nội vụ Đức (Bundesinnenminister) đã ra lệnh (anordnen) thực hiện (durchführen) những biện pháp này (Maßnahme) trước đây (vor) một tháng (Monat).

Việc kiểm soát (Kontrolle) được thực thi (einführen) tại các biên giới Đức (deutsche Grenze) trong cơn khủng hoảng (Krise) Corona theo ước muốn (Willen) của ông bộ trưởng nội vụ Đức vẫn được áp dụng (gelten) tiếp tục 20 ngày (Tage).

Điều này được tiết lộ từ các cơ quan an ninh (Sicherheitsbehörde). Chi tiết (Einzelheit) liên hệ sẽ được ông Horst Seehofer (CSU) hội ý với các Thủ Hiến tiểu bang (Ministerpräsident).

Việc kiểm soát đã được thực thi trước đây một tháng. Kể từ đó (seither), các biên giới tiếp giáp (zu) các quốc gia (Länder) Áo (Österreich), Pháp (Frankreich), Lục Xâm Bảo (Luxemburg), Đan Mạch (Dänemark) và Thụy Sĩ (Schweiz) được canh giữ (überwachen). Ở các ngõ thông đến (Übergang) nước Bỉ (Belgien) và Hòa Lan (Niederland) ngược lại (hingegen) không kiểm soát. Tuy nhiên (allerdings) chỉ nỗ lực (intensivieren) canh giữ từng đoạn (Abschnitt) trong vùng biên giới (Grenzraum) 30 cây số.

Những ai kể cả người Đức sống lâu ănm (dauerhaft ansässig) trong khu vực này vì đại dịch (Pandemie) Corona kể từ giữa (Mitte) tháng ba (März) chỉ được phép đến nước Đức khi có xuất trình „lý do đi lại hợp lý“ (triftiger Reisegrund). Điều này cũng ảnh hưởng (betreffen) đến người dân (Bürger) EU phải xuyên qua nước Đức để đi (reisen) về quê (Heimatland) của họ hoặc (oder) những tài xế xe hàng (Lastwagenfahrer) phải giao (liefern) những hàng hóa quan trọng (wichtige Güter). Việc nhập cảnh (Einreise) vì thế chỉ khả thi (möglich) ở một số ngõ biên giới nhất định (bestimmte Grenzübergänge).

Theo nguyên tắc (grundsätzlich), việc nhập cảnh từ các nước thứ ba (Drittstaaten) vào EU chỉ hợp pháp (zulässig) ở những trường hợp đặc biệt (ausgewählter Fall). Ngoại trừ (abgesehen) ít trường hợp ngoại lệ (wenige Ausnahme), kể từ ngày 10 tháng tư (April) tất cả những người quay lại (Rückkehrer) Đức sau nhiều ngày cư sống ở nước ngoài (mehrtätiger Auslandsaufenthalt) phải cách ly tại nhà (häusliche Quarantäne) hai (zwei) tuần (Woche).

Bà Ursula von der Leyen, nữ chủ tịch ủy ban (Kommissionspräsidentin) EU không dự tính (rechnen) đến sự chấm dứt mau chóng (schnelles Ende) việc kiểm soát biên giới tại Âu Châu. „Viễn ảnh sẽ còn lâu dài“ (auf lange Sicht), khi không còn phòng chống (bekämpfen) vi khuẩn Corona nữa, thì mọi việc kiểm soát (sämtliche Kontrolle) trong khu vực Schengen sẽ được hủy bỏ (beheben), bà nói tại Brüssel). Hầu hết các quốc gia thuộc khối EU thuộc (gehören) khu vực Schengen cũng như (sowie) Island, Na Uy (Norwegen), Thụy Sĩ và Liechtenstein.

Tin dpa, hình Uli Deck/dpa © dpa

Thứ tư ngày 15.04.2020
Hơn 126.000 người bị nhiễm Corona và 2.998 người chết trong nước Đức

Hiện giờ (inzwischen) có gần 3.000 trường hợp tử vong (Todesfall) bởi Corona tại Đức. Tuy nhiên, có hơn (mehr als) một nửa (Hälfte) đã được khôi phục (genesen) triệu chứng (Symptome).

Tính đến buổi sáng (Vormittag) ngày thứ ba (Dienstag) 14.04.2020, nước Đức ghi nhận (registrieren) có hơn 126.000 ca nhiễm (Infektion) với vi khuẩn (Virus) Corona mới (hôm trước (Vortag) cập nhật (Stand) lúc 10:15 có hơn 124.000 ca nhiễm).

Ít nhất (mindestens) cho đến nay (bislang) trên toàn nước Đức (bundesweit) có 2.998 (hôm trước cập nhật lúc 10:15 là 2.834) người bị nhiễm (Infizierte) mầm bệnh (Erreger) Sars-CoV-2 – theo sự đánh giá (Auswertung) của thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) quy chiếu (berücksichtigen) những con số mới nhất (neueste Zahl) của các tiểu bang (Bundesländer).

Thời giờ (Uhrzeit) ghi nhận sự cập nhật mới trong ngày (neuer Tagesstand) khác nhau tùy (variieren) tiểu bang (Bundesland). Đồng thời (zudem), còn có vài tiểu bang không hề (nicht immer) thông báo con số của họ cùng giờ (gleiche Uhrzeit). Cũng có nhiều người Đức đã chết (sterben) ở nước ngoài (im Ausland) liên quan đến (im Zusammenhang) với sự lây nhiễm Corona.

Theo nhiều ước tính (Schätzung) của Viện (Institut) Robert-Koch, viết tắt là RKI, tại Đức đã có khoảng (rund) 68.200 người đã khắc phục (überstehen) được sự lây nhiễm. Con số cụ thể (tatsächliche Zahl) còn nhiều hơn, vì lẽ vô số (zahlreich) tiến trình nhẹ (mild) và không có triệu chứng (symptomlos) hoàn toàn không (gar nicht) được ghi nhận (erfassen) bằng kiểm nghiệm (Test).

Đặc biệt (besonders) số người bị nhiễm cao (hohe Infekziertenzahl) theo thống kê kiểm nghiệm (Test-Statistik) thì tiểu bang Bayern có hơn 33.300 trường hợp và ít nhất 834 người chết (Tote); tiểu bang Nord-Rheinwestfalen hơn 26.900 trường hợp cà ít nhất 613 ca tử vong (Todesfall) cũng như (sowie) tiểu bang Baden-Würtemberg hơn 24.800 trường hợp được ghi nhận và ít nhất 702 người chết.

Nếu tính trên số cư dân (Einwohner) 100.000 người, thì tiểu bang Bayern ghi nhận (verzeichnen) một trị số (Wert) với 254,9, nghĩa là số người bị lây nhiễm nhiều nhất. Trung bình cả nước (Bundeszuschnitt) có trị số 152,3. Tuy nhiên (allerdings), tỷ lệ (Anzahl) kiểm nghiệm từng 100.000 cư dân trong tất cả các tiểu bang có sai biệt cao (unterschiedlich hoch). Như các quốc gia khác, những chuyên gia (Expert) cũng nói đến những con số cao không thông báo (hohe Dunkelziffer) trong nướcĐức

Tin dpa, hình Sebastian Gollnow/dpa ©
Những hình chụp cộng hưởng (Computertomographie-Aufnahmen) lồng ngực của một bệnh nhân bị nhiễm Covid-19

Thứ ba ngày 14.04.2020
Nới lỏng những biện pháp phòng chống Corona. Bà đảng trưởng CDU đồng tình một cách thống nhất.

Liên bang và các tiểu bang trong tuần này sẽ hội ý với nhau (beraten) về một lối ra từng bước (schrittweiser Ausstieg) khỏi những hạn chế cứng nhắc (harte Beschränkung) liên quan đến đại dịch (Pandemie) Corona. Bà đảng trưởng CDU muốn tránh (vermeiden) một sự chấp vá (Flickenteppich) và phấn đấu (pochen) cho một cách thống nhất khả thi (möglichst einheitliches Vorgehen) sau kỳ nghĩ lễ Phục Sinh (Osterferien).

„Điều quan trọng (wichtig) là chúng ta nên có những quy tắc thống nhất khả thi (möglichst einheitliche Regelung). Ngoài ra sẽ có thêm nhiều câu hỏi bổ sung (zusätzliche Frage)“, bà Kramp-Karrenbauer nói với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa). Ngoài ra, còn có một thỏa thuận chắc chắn (feste Vereinbarung) trong (innerhalb) hội nghị các Thủ Hiến tiểu bang (Ministerpräsidentenkonferenz) là „để có thể trình bày (vorstellen) cho chính phủ Đức (Bundesregierung) một gói tổng thể khả quan (gutes Gesamtpaket) có thể áp dụng những bước đầu tiên (erste Schritte) có thể (möglicherweise) thì điều này tùy thuộc (abhängen) vào sự phát triển (Entwicklung) những con số qua mùa lễ Phục Sinh (Ostern)“.

Bà Thủ Tướng (Kanzlerin), Angela Merken (CDU) muốn đánh giá (bewerten) tình hình (Lage) cơn khủng hoảng (Krise) Corona cùng với các Thủ Hiến trong một hội nghị liên kết (Schaltkonferenz) vào ngày 15 tháng tư (Mittwoch) sau những ngày lễ Phục Sinh. Gần đây (kürzlich), bà cũng đã lên tiếng (sich aussprechen) về cách giải quyết thận trọng (vorsichtiges Vorgehen). Vấn đề vẫn còn bỏ ngõ (offen) liệu có đưa ra những quyết định sâu rộng (weitreichende Entscheidung) hay không. Điều này được chính phủ Đức đánh giá (bezeichnen) cao (wünschenswert), bởi các tiểu bang sẽ cùng bà Thủ Tướng ban hành (erlassen) những quy lệnh chung (allgemeine Verfügung) vào ngày 19 tháng tư đến đây. Trước ghi kết hợp với các Thủ Hiến tiểu bang, nội các về khủng hoảng Corona sẽ tái (erneut) nhóm họp (tagen) vào ngày thứ tư (Mittwoch) lúc 09:30.

Bà Merkel và các Thủ Hiến tiểu bang đã quyết định (beschließen) vào ngày 22 tháng ba (März) những hạn chế rộng rãi (umfassende Einschränkung) về sự tự do đi lại (Bewegungsfreiheit) trong hai (zwei) tuần và được kéo dài (verlängern) sau đó (später) đến ngày 19.04. Trước đó (schon vorher), những sự kiện thể thao và văn hóa (Sport- und Kulturveranstaltung) có khán giả (Zuschauer) bị cấm (verbieten) và phần lớn các cửa hàng (meiste Geschäfte) bị đóng cửa (beschließen), chủ yếu (vor allem) ngoại trừ (mit Ausnahme) các cửa hàng bán thực phẩm (Lebensmittelhandel).

Sự chấp nhận (Akzeptanz) các hạn chế theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) vẫn còn cao (nach wie vor groß). Theo một cuộc thăm dò ý kiến của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGov được thông tấn xã Đức dpa ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) có 78 phần trăm nói rằng họ hoàn tòan (vollständig) tuân hành (sich halten) những biện pháp hạn chế đặt ra, 18 oha62n trăm chỉ chút ít (zum Teil) và hai (zwei) phần trăm hoàn toàn không (gar nicht). Điều này có nghĩa là kỷ luật (Disziplin) chỉ kém hơn một chút (nur wenig geringer) so với lúc ban đầu (zu Beginn) lệnh cấm tiếp xúc (Kontaktverbot) cuối tháng ba 8Ende März). Vào thời điểm đó (damals) đã có 83 phần trăm hoàn toàn tuân hành (befolgen) những quy tắc đã được quyết định (beschlossene Regel), 12 phần trăm chỉ ít phần và 2 phần trăm không quan tâm đến (ignorieren) vào thời điểm đó.

Đa phần (Mehrheit) người Đức thậm chí (gar) còn chống lại việc nới lỏng (Lockerung) lệnh cấm tiếp xúc. Cuộc thăm dò ý kiến đã cho thấy có 44 phần trăm đồng ý việc gia hạn (Verlängerung) tiếp tục các biện pháp (Maßnahme) sau ngày 19.04; 12 phần trăm thậm chí (sogar) ủng hộ việc thắt chặt (Verschärfung) các biện pháp. Chỉ có 32 phần trăm đồng ý sự nới lỏng và 8 phần trăm việc hủy bỏ (Abschaffung) những hạn chế đã quyết định bởi liên bang và các tiểu bang, 5 phần trăm không cho ý kiến (keine Angabe).

Đến đêm chủ nhật (bis Sonntagabend) hôm qua (Vortag), trong nước Đức có ít nhất (mindestens) 124.167 ca nhiễm Corona mới, theo sự đánh giá (Auswertung) của thông tấn xã Đức dựa trên những con số mới nhất của các tiểu bang thông báo. Ít nhất có 2830 người chết trên toàn quốc (bundesweit) sau khi bị nhiễm mầm bệnh (Erreger) Sars-CoV-2. Theo ước tính (Schätzung) của Viện (Institut) Robert Koch có khoảng (rund) 60.200 người trong nước Đức đã khôi phục (überstanden) sau khi bị lây nhiễm (Infektion).

Tin dpa, hình Michael Kappeler/dpa ©

Thứ hai ngày 13.04.2020
Đa số người Đức đồng ý bổn phận mang khẩu trang phòng hộ.

Nếu nước Đức ban hành bổn phận đeo khẩu trang phòng hộ (Schutzmaskenpflicht) thì sẽ được đại đa số (Mehrheit) quần chúng (Bevölkerung) thực hiện. Đây là kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage).

Đa phần người Đức đồng ý (dafür) đeo (tragen) khẩu trang phòng hộ (Schutzmaske) ít ra (mindestens) ở một số nơi nhất định (bestimmter Ort). Theo cuộc thăm dò ý kiến của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGov được thông tấn xã Đức (deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) có 22 phần trăm muốn hạn chế (beschränken) một sự tuân hành như vậy (solche Pflicht) trong các siêu thị (Supermarkt) như tại Áo (Österreich).

21 phần trăm nghĩ (meinen) rằng, nên đeo mặt nạ phòng chống nơi công cộng (Öffentlichkeit) để chống lại (entgegenwirken) sự lây lan (Ausbreitung) của vi khuẩn Corona. Chỉ (nur) có 37 phần trăm chống lại (gegen) bổn phận mang khẩu trang phòng chống; 9 phần trăm không có ý kiến.

Tại Áo, chính phủ (Regierung) Áo đã ra lệnh (verordnen) đeo khẩu trang phòng hộ trong các siêu thị vào cuối tháng ba (Ende März). Ở Đức, bổn phận này cho đến nay (bisher) chỉ thực hiện tại thành phố Jena tiểu bang (Bundesland) Thüringen và được áp dụng cho các cửa hàng (Geschäfte), trong xe buýt (Bus), xe điện (Bahn) và nhiều phòng kín (geschlossener Raum) bao gồm cả (inklusive) chỗ làm (Arbeitsplatz) trước tiên (vorerst) đến ngày 19 tháng tư (April). Địa phận (Kreis) Nordhausen cũng thuộc tiểu bang nay cũng muốn làm theo (nachziehen) sau lễ Phục Sinh (Ostern).

Trên toàn lãnh thổ (bundesweit), cho đến nay chưa có kế hoạch thích ứng (entsprechender Plan). Còn các chuyên gia (Expert) vẵn còn đang tranh cãi (umstritten) xem ở mức độ nào người ta có thể tự (selbst) phòng hộ (schützen) bản thân và người khác khỏi sự lây truyền (Übertragung) vi khuẩn bằng mặt nạ che miệng và mũi (Mund- und Nasenmaske).

Tin dpa, hình Expa/ Johann Groder/APA/dpa ©

Chủ nhật ngày 12.04.2020
Không có miễn dịch sau khi bị nhiễm vi khuẩn Corona? 91 người đã hồi phục tại Nam Hàn tái phát bệnh Covid-19.

Một tin đáng lo ngại (beunruhigende Meldung) từ Nam Hàn (Südkorea) cho thấy Covid-19 đã bùng phát (ausbrechen) trở lại ở 91 bệnh nhân (Patient) được xem là đã chữa lành (heilen). Tuy nhiên (allerdings), các chuyên gia (Expert) không đồng quan điểm (uneins) về những trường hợp tái phát (Rückfall).

Tại Nam Hàn, theo các nhà chức trách (Behörde) có 91 người được xem là hồi phục (genesene Menschen) sau khi bị nhiễm (Infektion) vi khuẩn (Virus) Corona đã bùng phát trở lại (erneut ausbrechen) chứng bệnh (Krankheit) Covid-19. Vị giám đốc (Direktor) Trung Tâm Phòng Chống Tật Bệnh (Zentrum für Krankheitsbekämpfung) KCDC của Hàn Quốc (Korea), ông Joeng Eun-Kyeong, đã giải thích (erklären) hôm qua thứ sáu (Freitag) 10.04.2020 rằng, có nhiều khả năng (eher wahrscheinlich) vi khuẩn „tái hành hoạt“ (reaktiviert) không liên quan đến một sự nhiễm trùng mới (Neuinfektion). Thứ hai tuần trước (vergangener Montag), có 51 người tái bùng phát nhiễm sau khi đã hồi phục.

Đại diện (Vertreter) cơ quan y tế (Gesundheitswesen) Nam Hàn nói rằng, vẫn chưa rõ (noch unklar) những gì đang ẩn tàng (verbergen) đằng sau xu hướng (Trend) này. Những khảo sát dịch tễ học (epidemiologische Untersuchung) hiện nay (derzeit) vẫn được tiếp tục (fortsetzen). Trong khi (während) vị giáo sư (Professor, viết tắt là Prof.) về bệnh truyền nhiễm (Infektionskrankheit) Kim Woo-joo cho rằng (ausgehen) những trường hợp tái phát tăng (steigen) sẽ làm cho việc đưa kết quả xét nghiệm sai lầm (falsche Testergebnis) của các chuyên gia khác là nguyên nhân (Ursache) đóng vai trò cho xu hướng tái phát này.

Câu hỏi (Frage) được đặt ra ở đây là liệu những người đã bình phục bởi sự lây nhiễm có thể bị nhiễm lại (erneut anstecken) vi khuẩn Corona hay không, điều này có tầm quan trọng quốc tế (internationale Bedeutung). Nhiều quốc gia tin rằng, những người được chữa lành (geheilte Menschen) sau khi nhiễm Corona có khả năng phát triển (entwickeln) sự miễn dịch (Immunität) với vi khuẩn và theo thời gian (mit der Zeit) sẽ có một bộ phận quần chúng đủ lớn (genügend größer Bevölkerungsteil) miễn nhiễm (immun) với căn bệnh (Krankheit) này để ngăn chận (verhindern) sự bùng phát (Wiederaufleben) của đại dịch (Pandemie).

Tin và hình Es Jones/AFP

Thứ bảy ngày 11.04.2020
Hầu như không có người xin tỵ nạn mới: 39 vụ nhập cảnh trong ba tuần.

3Bởi cơn khủng hoảng (Krise) Corona nên nhiều nơi trong Âu Châu đã thực hiện (einführen) việc kiểm soát biên giới (Grenzkontrolle) cùng hạn chế việc nhập cảnh (Einreisebeschränkung) trở lại (wieder). Nguyện vọng (Wunsch) tỵ nạn (Asyl) vẫn được xem là „lý do đi lại hợp lệ“ (triftiger Reisegrund). Tuy nhiên (allerdings), vẫn có ít người xin tỵ nạn (Asylbewerber) cũng tìm cách đến (erreichen) biên giới Đức.

Do việc thực hiện sự hạn chế đi lại (eingeführte Reisebeschränkung) và kiểm soát biên giới bởi quá trình (im Zuge) cơn khủng hoảng Corona trong Âu Châu nên hầu như không có người nào đến Đức xin tỵ nạn. Trong ba tuần lễ đầu sau ngày 16 tháng ba (März) có 39 người ngoại quốc (Ausländer) nộp đơn xin tỵ nạn (Asylbegehren) tại các biên giới Đức.

Trích các số liệu sơ bộ (vorläufige Zahl) của cảnh sát liên bang (Bundespolizei) mà thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) có được (vorliegen). Theo đó (demnach), 20 trong số người xin tỵ nạn này nhập cảnh (einreisen) bằng máy bay (per Flugzeug), số còn lại bằng đường bộ (auf dem Landweg). Số lượng người mới đến (Neuankömmling) giảm (abnehmen) không ngừng (kontinuierlich). Trong ba tuần lễ của tháng ba, cảnh sát liên bang ghi nhận (verzeichnen) có 32 người nhập cảnh (Einreise), trong tuần thứ hai chỉ còn bốn (vier) và trong tuần qua có ba (drei).

So với (zum Vergleich) tháng giêng (Januar) cảnh sát liên bang ghi nhận (registrieren) lúc kiểm soát biên giới và trong các vụ truy lùng giả (Schleierfahndung) trong phạm vi (Bereich) 30 cây số ở biên giới có 937 người tìm tỵ nạn (Asylsuchende). Trong tháng hai (Februar) có 745 người tỵ nạn mới nhập cảnh. Số người tìm tỵ nạn trực tiếp (direkt) tại biên giới hoặc gần (in der Nähe) biên giới đã liên hệ (Kontakt) với cảnh sát liên bang trong tháng ba có thể cao hơn (höher) trong những tháng trước đó (zuvor). Bởi trước khi đại dịch (Pandemie) bắt đầu (vor Beginn) chỉ có kiểm soát tại các trạm (stationäre Kontrolle) ở biên giới Đức-Áo.

Bởi vì ông Horst Seehofer (CSU) đã ra lệnh (anordnen) tạm thời (vorrübergehend) kiểm soát các biên giới giáp Áo (Österreich), Thụy Sĩ (Schweiz), Pháp (Frankreich), Lục Xâm Bảo (Luxemburg) và Đan Mạch (Dänemark). Mặt khác (außerdem), những khách du lịch (reisende) không có (ohne) lý do đi lại hợp lệ vì đại dịch cũng không được phép nhập cảnh vào nước Đức. Nguyên vọng được (erhalten) tỵ nạn hoặc bảo vệ người tỵ nạn (Flüchtlingsschutz) đã được xem là „lý do đi lại hợp lệ“.

Tuy nhiên (allerdings), rất nhiều (so viele) lệnh cấm nhập cảnh (Einreiseverbot) và hạn chế việc ra ngoài (Ausgangsbeschränkung) đã được ban hành (erlassen) trên toàn EU cho nên hầu như không còn người xin tỵ nạn đến được (ankommen) biên giới Đức. Người tìm tỵ nạn cũng giống như (genauso) những người nhập cảnh khác sau khi đến (Ankunft) đến Đức cũng phải ở trong khu vực cách ly kiểm dịch (Quarantäne) Corona hai (zwei) tuần phòng ngừa (vorsorglich).

Tin dpa, hình Felix Kästle/dpa ©

Thứ sáu ngày 10.04.2020
Hai bộ mặt của cuộc sống một mình.

Sống một mình (Alleinsein), cô đơn (Einsamkeit) và sự cô lập (Isolation). Hiện tượng (Phänomen) phải chịu đựng (auskommen) một mình không có người khác có rất nhiều tên (Namen). Tuy nhiên (aber) điều này là sự nguyền rủa (Fluch) và thậm chì (sogar) cũng có thể là sự ban ơn (Segen)?

Sống một mình đối với nhiều người không có gì lạ như bao nhiêu người khác, bà Sonia Lippke, nhà tâm lý y tế (Gesundheitspsychologin) nói. Có người thụ hưởng (genießen) cái cảm giác (Gefühl) này và ý thứ (bewusst) được iện ích (Vorteil) của nó. Còn người khác thì hoàn toàn (kaum) không chịu đựng được (ertragen). „Nhưng nỗi sợ không mang đến cho một ai cả“, theo bà giáo sư (Professorin) dạy (unterrichten) tại đại học (Universität) Jacobs tại Bremen.

Sống một mình ngày nay (heute) là một khái niệm trung tính (neutraler Begriff) cũng có thể thường được sử dụng theo hướng tích cực (positiv). „Nhưng trong những thập niên (Jahrhundert) 18 và 19 thì khác hẳn (anders)“, theo ông Janosch Schobin, nhà xã hôi học (Soziologe) thuộc đại học (Universität, viết tắt là Uni) Kassel. Vào thời điểm đó (damals) những cách sáng tạo từ vựng (Wortschöpfung) như „chỉ mỗi mình mẹ“ (mutterseelenallein) và các liên từ (Konjunktion) như „hoàn toàn một mình (ganz allein) rất phổ biến (gebräuchlich). Sự cô đơn ngược lại (dagegen) khá tích cực (eher positiv).

Vai trò mới (neue Rolle) của sự cô đơn (Einsamkeit).
„Ngày nay nó gần như (fast) hoàn toàn ngược lại (ganz gedreht)“, ông Schobin nói. „Sống một mình (Alleinsein) có mối liên hệ mật thiết (verbinden) mạnh mẽ hơn (stärker) với ý tưởng tự chủ (Autonomievorstellung), nghĩa là sống một mình (Alleinleben), tự lập (selbstständig). Trái lại, sự cô đơn có nhiều khả năng (eher) liên quan (assoziieren) đến việc thiếu kinh nghiệm (Mangelerfahrung) và mất (Verlust) tự chủ (Autonomie): Cô đơn trở thành một loại (Art) ngục tù (Gefangensein) trong cuộc sống một mình (Alleinsein).“

Những nghiên cứu mới nhất (neueste Forschung) chứng minh (belegen) rằng, ở một mức độ nhất định (gewisser Maß) nào đó của cuộc sống một mình cũng tốt (gut) cho mọi người. Ví dụ (zum Beispiel, viết tắt là z.B.) nó tác động (fördern) sự sáng tạo (Kreativität), tập trung (Konzentration) và học tập (Lernen). „Người ta có nhiều thì giờ (mehr Zeit) để tự phát triển (sich entwickeln) cho bản thân (mit sich selbst) và đối phó (auseinandersetzen) cũng như có nhiều ý tưởng mới (neue Ideen)“ theo bà Lippke. „Cho nên, nó là một loại tự-phản-ảnh (Selbstreflexion).“ Ngược lại, khi người ta liên tục (ständig) chung đụng (zusammen) với những người khác hoặc chạy theo (laufen) đám đông (Masse) thì họ khó có thể xác định (schwer feststellen) bản thân mình là ai để tác động nó.

Sống một mình giúp (helfen) có khả năng tự điều chỉnh (Selbstregulation).
Bằng cuộc sống một mình người ta cũng có thể tự điều chỉnh bản thân (sich selbst regulieren) và thậm chí (sogar) có thể cải thiện (verbessern) ít nhiều cho đời sống (Leben). Khi họ dự tính (vornehmen) chơi thể thao nhiều hơn (sportlicher werden), điều này thường (oft) không thành (scheitern) trong cuộc sống hàng ngày (im Alltag). „Nhưng với cuộc sống một mình thì việc tự điều chỉnh sự vận hành (funktionieren) khả quan hơn (besser) và ví dụ như các bài tập lưng cũng có thể thực hiện được (ausführen) như dự tính (wie geplant)“, bà Lippke giải thích (erklären).

Nhưng vì sao có một số người (manche) không thích sống một mình? „Người ta phải nhìn (sehen) ra mặt tích cực (Positive) của nó“, theo bà Lippke. Một số người sống chung đụng xã hội (sozial) nhưng (trotzdem) vẫn tìm kiếm (suchen) cuộc sống một mình như là một thứ cai nghiện xã hội (sozialer Detox). Vì lẽ (denn) trong cuộc sống hàng ngày họ bị quá tải (überfordern) bởi nhiều kích thích (viele Reize). „Rồi sau đó mới có ý thức (bewusst) sống một mình. Không (ohne) E-Mail hay hội nghị (Konferenz) bằng Video.“

Còn cô đơn (Einsamkeit) ngược lại là một tín hiệu cảnh báo sớm (Frühwarnsignal). „Trong cuộc sống cũng có giai đoạn (Phase) chúng ta có cảm giác mình cô đơn (einsam fühlen)“ theo bà Lippke. Điển hình (typischerweise) là hiện tượng (Phänomene) xảy ra (auftreten) lần đầu (erstes Mal) khi những người trẻ (junge Menschen) dọn ra khỏi nhà (von daheim ausziehen). Nhưng đây chỉ là những khoảnh khắc ngắn (kurze Moment) thoáng qua (vorbeigehen) trong cuộc đời. „Điều quan trọng (wichtig) là nhận biết (wahrnehmen) nó để sử dụng (nutzen) nó như một xung lực (Impuls) giúp họ có thể thay đổi (ändern) một cái gì (etwas) đó.“

Cô lập (Isolation) có nhiều khía cạnh (Facette).
Nghĩa là (also) khi người ta nhận biết sự cô đơn thì họ có thể sử dụng nó để tự mình làm một cái gì đó (selbst etwas tun). „Họ nên có ý thức tìm sự trao đổi (Austausch) và gặp gỡ (Begegnung), có thể qua trung gian truyền thông (medial vermitteln) hoặc gặp một người (Person), điều đó không quan trọng“, bà Lippke nói.

Và khi nào (ab wann) người ta có thể bị rơi (abgleiten) vào sự cô đơn? „Ở đây không có một định nghĩa cố định (feste Definition) là khi nào ai đó (jemand) bị xem là cô lập về mặt xã hội (sozial isoliert)“, theo ông Schobin. Chỉ trong trường hợp cực đoan (Extremfall) nghĩa là người ta không có một sự liên hệ (Kontakte) và không còn mối liên hệ tình cảm tích cực (positive Beziehung) nào nữa, điều này được các khoa học gia (Wissenschaftler) đồng tình (sich einigen). „Tuy nhiên, điều này rất hiếm (selten) đối với chúng ta và xảy ra chủ yếu (vor allem) trong bối cảnh (Kontext) của sự giam giữ (Strafvollzug).“

Trong cuộc sống hàng ngày không có (ohne) song sắt (Gitter) thì con người thông thường (meistens) chỉ bị cô lập phần nào (nur teilweise isoliert), ví dụ bị cắt đứt (abschneiden) khỏi phối ngẫu (Partner), con trẻ (Kinder), bằng hữu (Freunde) hoặc toàn bộ xã hội (gesamtgesellschaftlich), nhưng hầu như có sự giống nhau (gleich) ở tất cả các nhóm (Gruppe).

Tuy nhiên, khi nào sự cô lập một phần (Teil-Isolation) này biến thành (umschlagen) một sự cô đơn tiêu cực (negative Einsamkeit), điều này tùy thuộc (abhängen) vào nhiều yếu tố (Faktor) như cá nhân (Individuell), tình huống (Situation) và văn hóa (Kultur). Có thể nói rằng: Khi ai đó có cảm giác cô đơn (sich einsam fühlen) và điều này đã quá sức (bereits zu viel) cho họ.“ Bởi vì cảm giác (gefühl) là một dấu hiệu (Zeichen) rằng, có điều gì đó không đúng (stimmen) với sự hòa nhập (Einbindung) của tôi vào môi trường xã hội (soziale Umwelt) của tôi.

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ năm ngày 09.04.2020
Làm việc 12 tiếng trong cơn khủng hoảng Corona vẫn khả thi.

Ở một số nghề (bestimmter Beruf) giờ làm việc (Arbeitszeit) có thể kéo dài (ausdehnen) đến mười hai (zwölf) tiếng (Stunde) mỗi ngày (am Tag) vẫn được phép trong (während) cơn khủng hoảng (Krise) Corona.

Trích bảng sơ thảo (Entwurf) về pháp lệnh giờ làm việc (Arbeitszeitverordnung) đã được sọan thảo (erarbeiten) của bộ lao động Đức (Bundesarbeitsministerium) cùng sự đồng thuận (Einvernehmen) của bộ y tế (Gesundheitsministerium) theo tờ „Thương Mại“ (Handelsblatt) tường thuật (berichten).

Quy định (Regelung) có hạn (befristen) đến cuối (Ende) tháng sáu (Juni). Những công nhân liên hệ (betroffene Arbeitnehmer) cũng được phép làm việc trong những ngày chủ nhật (Sonntag) và ngày lễ (Feiertag) trong khoản thời gian này.

Nhân viên (Mitarbeiter) được nói đến thuộc những ngành (Branche) liên quan đến việc sản suất (Herstellung), đóng bao bì (Verpackung) và xếp dọn (Einräumen) hàng hóa (Waren) theo nhu cầu trong ngày (täglicher Bedarf) cũng như thuộc các nghành dược phẩm (Arzneimittelbranche), nông nghiệp (Landwirtschaft), dược phòng (Apotheke) và các cửa hàng cung cấp vật dụng y tế (Sanitätshaus), nhân công (Beschäftigte) ngành vận chuyển tiền và vật giá trị (Geld- und Werttransportbranche) hoặc quản lý dữ liệu và mạng thông tin (Daten- und Netzwerkmanagement).

Tuy nhiên (aber), thời gian làm việc chỉ được phép kéo dài ra (verlängern) „khi những biện pháp tổ chức tiên liệu được (vorausschauende organisatorische Maßnahme) kể cả (einschließlich) giờ làm việc cần thiết (notwendige Arbeitszeitdisposition) không thể tránh được (vermeiden) bởi sự thích nghi (Einstellung) hoặc các biện pháp kinh tế nhân sự khác (sonstige personalwirtschaftliche Maßnahme) “, theo bảng sơ thảo.

Được xem là một trong nhiều biện pháp làm giảm (Abfederung) hậu quả (Folge) của cơn khủng hoảng Corona, chính phù Đức (Bundesregierung) đã thực hiện (in den Weg bringen) một cơ hội (Möglichkeit) ngoại lệ (Ausnahme) cho đạo luật về giờ lao động (Arbeitszeitgesetz), ngõ hầu đảm bảo (sicherstellen) việc duy trì (Aufrechterhaltung) sự an toàn (Sicherhiet) và trật tự (Ordnung) của ngành y tế (Gesundheitswesen) và cung cấp sự điều dưỡng (pflegerische Versorgung), sự chăm lo sự sống (Daseinsvorsorge) cũng như (sowie) việc cung cấp hàng hóa cấp thiết cho cuộc sống (existenzielle Güter) của quần chúng (Bevölkerung) trong tình huống (Situation) hiện nay bởi đại dịch (Pandemie) Corona“.

Tin dpa, hình Jan Woitas/dpa-Zentralbild/dpa ©

Thứ tư ngày 08.04.2020
Người Đức tương đối ít sợ bệnh Corona.

Một công ty bảo hiểm (Versicherung) có truyền thống (traditionell) thường tìm hiểu (fragen) gần (fast) 30 năm qua về những nỗi sợ hãi (Angst) của người Đức. Điều đặc biệt (Besondere) của sự khảo sát tiêu biểu (repräsentative Studie) là yếu tố dài hạn (Langzeit-Faktor) của nó. Liệu cơn khủng hoảng (Krise) Corona có làm lung lay (rütteln) những lo lắng thông thường (übliche Sorge) như vậy hay không?

Cơn khủng hoảng Corona làm cho người dân Đức sợ hãi như thế nào? Các kết quả (Ergebnis) từ cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) tiêu biểu của công ty bảo hiểm R+V đã gây ngạc nhiên lớn (große Überraschung) cho các nhà chính trị học (Politologe).

Ngoại trừ sự sợ hãi gia tăng mạnh mẽ (stark gestiegene Angst) trước sự suy thoái (Talfahrt) của nền kinh tế (Wirtschaft), thì người Đức có cái nhìn (Blick) bình thản (gelassen) về sức khỏe (Gesundheit) và công việc (Job) của họ. „Họ tỏ ra (wirken) vô tư (sorglos) đáng kinh ngạc (erstaunlich). Hoặc lạnh lùng (cool)“, ông Manfred Schmidt, nhà khoa học chính trị (Politikwissenschaftler) thuộc đại học (Universität, thường viết tắt là Uni) Heidelberg nói. Thậm chí (selbst), nhiều người được hỏi (Befragte) khá hài lòng (recht zufrieden) việc quản lý khủng hoảng (Krisenmanagement) của chính trị (Politik) – ít ra (mindestens) trong tương quan (Verhältnis) của nước Đức.

Ông Schmidt đã (schon) cảm nhận (fühlen) nhịp đập (Puls) của người dân Đức (Bundesbürger) từ 15 năm qua. Ông thường xuyên (regelmäßig) đánh giá (auswerten) những cuộc thăm dò ý kiến tiêu biểu cho công ty bảo hiểm về „Những nỗi lo sợ của người Đức“ đã có gần 30 năm qua. Các nhà khoa học hiện giờ (inzwischen) xem nó như một máy đo địa chấn (Seismograph) cho sự ổn định (Befindlichkeit) liên quan đến (rund um) chính trị, kinh tế, môi sinh (Umwelt), gia đình (Familie) sức khỏe và những mối lo lắng riêng tư (private Sorge).

Sự hấp dẫn (Charme) của nó là cái nhìn dài hạn (Langzeit-Blick), bởi nhiều câu hỏi vẫn không thay đổi (unverändert bleiben) và chỉ có ít câu hỏi mới thêm vào (dazukommen) tùy (je nach) giai đoạn phát triển lịch sử (zeitgeschichtliche Entwicklung). Trong nhiều năm qua, ví dụ (zum Beispiel) câu hỏi về nỗi lo sợ khủng bố (Terrorangst). Bây giờ (nun) thì cơn khủng hoảng Corona được đưa vào cuộc khảo sát ý kiến đặc biệt (Sonderumfrage).

Trung tâm thông tin (Infocenter) từ ngày 31.03 đến 02.04 đã đặt bốn (vier) câu hỏi tiêu biểu trực tuyến (online) cho 1075 người:
1) Tỷ lệ nhiễm trùng cao (hohe Infektionsrate) có làm tăng (steigen) nỗi sợ hãi về một chứng bệnh nặng (schwere Erkrankung) hay không?
2) Sự suy thoái (Rezession) có làm cho nhiều người lo ngại (befürchten) hay không?
3) Nỗi lo sợ mất (Verlust) công việc (Job) cao đến mức độ nào (wie groß)?
4) Và người Đức đánh giá (beurteilen) việc làm (Arbeit) của các chính trị gia (Politiker) như thế nào?

„Chúng tôi đặc biệt (besonders) đã quan tâm đến (interessieren) việc so sánh (Vergleich) với mùa hè năm ngoái (vergangener Sommer) trong tình huống đặc biệt (Ausnahmesituation) này – ở thời điểm (zu einer Zeit) hầu như không (kaum) có ai (jemand) có thể tưởng tượng (sich vorstellen) được một trận đại dịch như vậy (solche Pandemie)“, theo bà Brigitte Römstedt, điều hành trưởng (Leiterin) trung tâm thông tin của R+V. Những kết quả chi tiết (im Einzelnen):

Sơ vi khuẩn (Virus)
Ai sống trong nước Đức nghi ngờ (vermuten) nỗi lo lắng nóng bỏng (brennende Sorge) liên quan đến sức khỏe là sai lầm (falsch). So với năm 2019, nỗi sợ hãi một chứng bệnh nặng chỉ (lediglich) tăng vừa phải (moderat) khoảng 6 điểm (Punkte) từ 35 thành 41 phần trăm. Đây là giá trị thấp nhất thứ hai (zweitniedrigster Wert) kể từ năm 1992, thấp nhất (niedrigste) là năm ngoái (Vorjahr).

„Đây là một tin giật gân (sensationelle Nachricht). Điều đó thật sự làm tôi ngạc nhiên (echt erstaunlich)“, theo ông Schmidt, nhà nghiên cứu (Forscher). „Ở đây dường như có một giả định riêng (eigentümliche Vermutung) rằng sức khỏe của họ đang tốt (selbst gesundheitlich gut) và có thể vượt qua (über die Runden kommen), còn sự rủi ro (Risiko) thì ở nơi khác (irgendwo anders).“ Tuy nhiên (allerdings), các nhà khoa học dè dặt (einschränken) rằng, cấu trúc tuổi tác (Altersstruktur) của những người được hỏi ý kiến cũng có thể đóng một vai trò (Rolle) không kém. „Sự rủi ro ở những người cao tuổi (Ältere) dường như (wahrscheinlich) cao hơn (häher) – nhưng ở đây (hier) tất cả các nhóm tuổi (Altersgruppe) đều được hỏi mang tính tiêu biểu.“ Tuy nhiên (jedoch), điều đáng lưu ý (bemerkenswert) là sự lo lắng của các nhóm tuổi gần như nhau (etwa gleich hoch), bà Römstedt bổ sung (ergänzen). Những người trẻ (Jüngere) cũng không kém lo lắng (nicht sorgloser) hơn so với người già.

Sợ suy thoái (Rezession)
Nỗi lo lắng trước sự xuống dốc của nền kinh tế so với năm 2019 ngược lại (dagegen) tăng (schnellen) vút lên cao (steil nach oben) với con số độc đáo (spektakuläre Zahl) 23 phần trăm nay thành 58 phần trăm. Đây là con số cao nhất (höchste Zahl) kể từ cơn khủng hoảng đồng Euro trước đây mười (zehn) năm, tuy nhiên thậm chí còn cao hơn 67 phần trăm. Ông Schmidt cho rằng (halten) nỗi lo lắng mới không phải là một hội chứng (Syndrom) sợ như thỏ (Angsthasen) điển hình (typisch) của Đức, mà là (sondern) thật tế (realistisch). „Chúng ta sẽ có một sự suy thoái nặng nề (schwerer Wirtschaftseinbruch). Cơn khủng hoảng kinh tế (Wirtschaftskrise) này có lẽ sâu đậm đáng kể hơn (erheblich tiefer) cuộc khủng hoảng thị trường tài chánh (Finanzmarktkrise) của những năm 2008 và 2009.“

Sợ thất nghiệp (Arbeitslosigkeit)
Nhà nghiên cứu Schmidt đã quá sững sờ (verblüffen), khi sự lo lắng về sự suy thoái không đáng (nicht voll) so với nỗi lo sợ mất việc làm. Có 24 phần trăm lo ngại (fürchten) và chiếm một phần tư (Viertel) số người được hỏi ý kiến – nhiều như năm 2019 và nhìn chung (insgesamt) ít hơn (weiniger) như trong 30 năm qua. Đối với ông Schmidt, sự kiện này liên quan nhiều đến thực tế là những biện pháp (Maßnahme) như tiền cho công nhân làm ngắn hạn (Kurzarbeitergeld) và các khoản tài chánh khác (Finanzspritze) ở mức độ không tưởng (unbekannte Größenordnung) làm họ điên đầu (Nerv treffen): Nhu cầu an ninh rõ rệt (ausgeprägtes Sicherheitsbedürfnis) của người Đức là sự phân biệt (Unterscheidung) với các quốc gia (Nationen) khác. Những biện pháp ổn định (Stabilisierungsmaßnahme) được phần đa (große Masse) quần chúng (Bevölkerung) ghi nhận (registrieren) và được sắp loại (einstufen) là hữu dụng (hilfreich) và an ổn (beruhigend).

„Và không phải tất cả người lao động (Beschäftigte) nào cũng bị ảnh hưởng (treffen)“, theo ông Schmidt. Ví dụ, trong lãnh vực sức khỏe (Gesundheitsbereich) và trong khu vực công cộng (öffentliche Sektor) thì cơn khủng hoảng này không đá động gì đến. Tuy nhiên cũng không thể quả quyết được tất cả, vì những con số này chỉ ghi nhận từ ý kiến của 1000 người. Càng trẻ bao nhiêu (je jünger) thì những người được hỏi ý kiến càng lo lắng nhiều hơn (desto besorgter) cho công việc của họ, bà Römstedt nói thêm. Những người dưới (unter) 30 tuổi có sự sợ hãi cao nhất (am höchsten) với 36 phần trăm.

Cho điểm chính sách
Ở điểm này, theo truyền thống thì người Đức không ngần ngại (gnadenlos). Trong mười (zehn) năm qua hầu như một nửa (Hälfte) số người được hỏi ý kiến cho rằng trên thật tế (grundsätzlich) các chính trị gia (Politiker) bị quá tải (überfordern). Trong (während) cuộc khủng hoảng tài chánh 2010 với 62 phần trăm, khủng hoảng tỵ nạn (Flüchtlingskrise) 2016 với 65 phần trăm – gần hai phần ba (zwei Drittel).

Nhà khoa học Schmidt cho thấy một sự đánh giá gần như không đáng kể (nahezu mildes Urteil) đối với cơn khủng hoảng Corona. „Chỉ“ (nur) có 46 phần trăm cho rằng các chính khách bị quá tải. Đây là con số thấp nhất trong mười năm qua. „Phần đa quần chúng đánh giá chính phủ (Regierung) làm việc tốt (ordentlich)“, ông Schmidt kết luận (folgern). Và các phương tiện truyền thông (Medien) ủng hộ (unterstützen) việc tự biểu hiện tích cực (positive Selbstdarstellung) về sự quản lý cơn khủng hoảng của nền chính trị. „Tôi đã chờ (erwarten) một sự cho điểm thậm chí (sogar) còn ít nghiêm khắc hơn (noch weniger streng).“

Tin dpa, hình Sebastian Kahnert/dpa-Zentralbild/dpa © 

Thứ ba ngày 07.04.2020
Một chú cọp trong sở thú tại New York bị nhiễm vi khuẩn Corona.

Trong một sở thú (Zoo) tại Nữu Ước (New York), một chú cọp (Tiger) đã bị nhiễm vi khuẩn (Virus) Corona. Rõ ràng (offenbar) chú cọp này đã bị lây nhiễm (infizieren) từ người chăn thú (Tierpfleger).

Con cọp giống Mã Lai (malaysischer Tiger) bốn (vier) tuổi tên Nadia đã được xét nghiệm (testen) dương tính (positiv) với vi khuẩn Corona, Sở thú Bronx đã thông báo (mitteilen) hôm chủ nhật (Sonntag).

„Theo hiểu biết (Wissen) vủa chúng tôi, lần đầu tiên một con thú hoang (Wildtier) bị nhiễm (anstecken) Covid-19 từ con người“, bác sĩ thú y trưởng (leitender Tierarzt) của sở thú, ông Paul Calle, đã nói trên tạp chí (Magazin) „National Geographic“

Có lẽ (wahrscheinlich) người chăn thú đã lây truyền (sich tragen) vi khuẩn Corona, nhưng người này đã không cho thấy (zeigen) có triệu chứng (Symptome) nào cả. Sở thú đã đóng cửa (schließen) khoảng (rund) ba (drei) tuần qua không cho người vào thăm viếng (Besucher) vì cơn khủng hoảng (Krise) Corona.

Nadia ho khan (trockener Husten) cho nên (deshalb) đã được cẩn thận (vorsichtshalber) xét nghiệm. Chị gái (Schwester) Azul của chú cọp cũng như (sowie) hai (zwei) con cọp gốc Siberia và ba con sư tử (Löwe) khác cũng cho thấy có triệu chứng, nhưng chưa được xét nghiệm.

Các con thú không muốn ăn (weniger Appetit), ngoài ra chúng vẫn ổn (gut). Người ta chưa biết vì sao căn bệnh phát huy (entwickeln) ở những con cọp lớn và chúng sẽ được theo dõi (beobachten) chặt chẽ (streng) cũng như người ta hy vọng rằng chúng sẽ phục hồi sức khỏe hoàn toàn (vollständige Genesung).

Tin dpa, hình Christian Charisius/dpa/Symbolbild ©

Thứ hai ngày 06.04.2020
Nhiễm Corona có lẽ trước tiên liên quan đến hệ kháng nhiễm.

Sars-CoV-2 đang được nghiên cứu (forschen) ráo riết (Hochdruck). Vi khuẩn (Virus) chỉ mới (erst) xuất hiện được vài tháng (seit einigen Monaten), nên có rất nhiều (viel) điều đến nay (bisher) người ta vẫn chưa được (noch nicht) biết đến (bekannt) về nó. Tuy nhiên (jedoch), theo (zufolge) các chuyên gia (Expert) khả năng phục hồi sau khi bị lây nhiễm (nach überstandener Ansteckung) trước tiên (zunächst) có lẽ (wahrscheinlich) liên quan đến hệ thống kháng nhiễm (Immunsystem) chống lại (gegen) mầm gây bệnh (Erreger).

Theo kiến thức (Stand) hiện nay (derzeit), người ta biết (wissen) được rằng, con người chế tác (bilden) những kháng thể (Antikörper) sau khi bị nhiễm vi khuẩn mới (neuartiger Virus) Corona, bà Melanie Brinkmann, nhà vi khuẩn học (Virologin) thuộc trung tâm (Zentrum) Helmholtz nghiên cứu nhiễm trùng (Infektionsforschung) tại Braunschweig) và ông Friedemann Weber, điều hành trưởng (Leiter) vi khuẩn học (Virologie) của đại học (Universität) Gießen. Từ đó họ cho rằng, việc phòng hộ sự miễn nhiễm (Immunschutz) sau khi bị lây nhiễm kéo dài (anhalten) từ một (ein) đến (bis) hai (zwei) năm (Jahr). Giả định (Annahme) này dựa (basieren) trên nhiều kinh nghiệm (Erfahrung) đã có với nhiều loại vi khuẩn Corona khác nhau ở con người.

Những khảo sát dài hạn (Langzeituntersuchung) vẫn chưa khả thi (noch nicht möglich).
„Với mọi tiên liệu (Vorrausicht), sau khi bị nhiễm vi khuẩn Sars-CoV-2 người ta được bảo vệ (schützen) ít nhất (mindestens) một vài năm (ein paar Jahre) đối với một sự truyền nhiễm mới (erneute Infektion)“, điều này cũng được ông Thomas Kamradt, chủ tịch (Präsident) Tổ Chức Miễn Dịch Học Đức (Deutsche Gesellschaft für Immunologie) đề cập đến.

Tuy nhiên, điều này vẫn chưa thể nói chính xác (genau) được và xét cho cùng (schließlich) thì những xét nghiệm kháng thể (Antikörper-Test) mới bắt đầu (gerade erst) và nhiều khảo sát lâu dài cũng vẫn chưa khả thi, vì lẽ (da) chứng bệnh (Krankheit) này chỉ mới được biết đến trong vòng vài tháng nay. Cho nên (nach alledem), những gì được biết trước đây về những vi khuẩn tương tự (ähnliche Viren) là những kháng thể được chế tác (gebildete Antikörper) bởi cơ thể (Körper) đã bảo vệ chống lại một sự nhiễm trùng mới (erneute Infektion).

Theo ông Kamradt, sự bảo vệ này (Schutz) kéo dài (anhalten) bao lâu (wie lange) còn tùy thuộc (abhängen) vào tốc độ (Tempo) nào làm giảm (abnehmen) nồng độ (Konzentration) của kháng thể trong máu (Blut), cái gọi là (sogenannte) „hàm lượng kháng thể“ (Antikörper-Titer). Hàm lượng (Titer) càng cao (je höher) nghĩa là (also) số lượng (Anzahl) kháng thể càng nhiều thì khả năng bảo vệ càng mạnh (desto stärker). Việc kháng thể được sản suất (produzierter Antikörper) trong máu chống lại loại vi khuẩn Corona mới và khả năng bảo vệ trước một sự lây nhiễm mới, theo ông Kamradt là một điều „cực kỳ lạ“ (extrem außergewöhnlich).

Nồng độ của kháng thể là mấu chốt (entscheidend).
Theo ông Matthias Orth, giám đốc y tế (ärztlicher Direktor) Viện Y Học Thí Nghiệm Phòng (Institut für Laborationsmedizin) thuộc bệnh viện Marienhospital tại Stuttgart, thì vẫn chưa có gì chắc chắn (noch nicht gesichert) để nói rằng, những kháng thể được chế tạo có khả năng bảo vệ chống sự lây nhiễm mới. Hiên nay vẫn chưa rõ (noch unbekannt) rằng, ở nồng độ (Konzentration) nào mới có sự bảo vệ từ những kháng thể và tần suất (Häufigkeit) nhiễm trùng mới có thể xảy ra (auftreten).

Theo ông Brinkmann và Weber, điều thú vị (interessant) là việc khảo sát (untersuchen) hàm lượng kháng thể trong quá trình mắc bệnh của mỗi người khác nhau (unterschiedlicher Krankheitsverlauf). Như vậy, nghi vấn (Frage) đã được sáng tỏ (klären) rằng, những người bị bệnh nặng hoàn toàn (überhaupt) đã không có khả năng sản suất kháng thể – hoặc nói cách khác (anders sagen) rằng: „Căn bệnh quá nặng (so schwer) bởi cơ thể chưa (noch) có chế tác (bilden) được kháng thể?“. Cũng tương tự (ebenso) như vậy, thắc mắc có thể được trả lời (beantworten) rằng, „khi nào kháng thể đặc biệt (spezifische Antikörper) có thể được thành lập trong quá trình nhiễm trùng (Infektionsverlauf)“.

Việc kiểm nghiệm (Test) có thể xác định (feststellen) được khả năng miễn dịch căn bản (Grundimmunität) của quần chúng (Bevölkerung).
Theo ông Brinkmann và Weber, điều quan trọng hiên giờ (wichtig) là áp dụng (Anwendung) việc kiểm nghiệm kháng thể đáng tin cậy (verlässliche Antikörper-Tests) để có thể xác định (identifizieren) và mang tính cách rộng rãi (breitflächig). Việc làm này rất có ý nghĩa (bedeutsam) để có thể truy tìm (ermitteln) những con số chưa biết (Dunkelziffer) của nhiều trường hợp vẫn chưa được ghi nhận (erfasster Fall). Điều này cũng giúp (helfen) cho việc nhận ra (erkennen), còn có bao nhiêu người đã bị nhiễm mà vẫn chưa được để ý đến, tức là (also) có thể biết được khả năng miễn dịch căn bản của quần chúng hiện giờ (inzwischen) đã (schon) cao đến mức nào (wie hoch). Theo nhiều dự báo thống kê (statistische Hochrechnung), có khoảng (etwa) 60 đến 70 phần trăm quần chúng đã bị nhiễm, nghĩa là không có (ohne) chích ngừa phòng hộ (schützende Impfung) trước khi (bevor) làn sóng đại dịch (Pandemiewelle) tự (von allein) dừng lại (zum Stillstand kommen).

Kiến thức (Wissen) về sự lây nhiễm đã từng trải qua (durchgemachte Infektion) cũng rất quan trọng để cung cấp „đèn xanh“, tức là không bị nhiễm, cho những người đang có khả năng phòng hộ miễn dịch (bestehender Immunschutz), cho nên họ có thể đi làm (arbeiten) và hủy bỏ (Aufhebung) việc giảm tiếp xúc (Kontaktreduktion) cho họ.

Theo ông Christian Drosten, nhà vi khuẩn học tại Berlin, thì phải trải qua khoảng mười (zehn) ngày để chế tác (Bildung) những kháng thể sau khi bị nhiễm vi khuẩn Corona. Dựa vào (anhand) xét nghiệm máu (Blutprobe) bằng một sự kiểm nghiệm cụ thể nào đó (bestimmter Test) người ta có thể đo (messen) để biết được trong cơ thể bệnh nhân (Patient) có kháng thể trong máu hay không „bất kể họ bị nhiễm trùng nặng hoặc bị nhiễm nhẹ (milde Infektion) hoặc bị nhiễm mà hoàn toàn không được để ý đến (vollkommen unbemerkte Infektion), ông Drosten đã phát biểu trên đài phát thanh chương trình NDR-Podcast trong tuần qua (vergangene Woche).

Tindpa, hình Peter Steffen/dpa ©

Chủ nhật ngày 05.04.2020
Bạo lực gia đình đa phần xảy ra trong các đô thị.

Con người (Menschen) sống tại Đức hiện nay (derzeit) đang bị yêu cầu phải ở nhà (zuhause bleiben).Nhiều người lo ngại (befürchten) rằng, bạo lực gia đình (häusliche Gewalt) sẽ gia tăng (zunehmen) theo tiến trình (im Zuge) cơn khủng hoảng (Krise) Corona. Bà Franciska Giffey, bộ trưởng gia đình Đức (Bundesfamilienministerin) nhận ra (sehen) có vấn đề (Problem) chủ yếu (vor allem) trong các thành phố (Stadt) đã được cho thấy qua những con số đầu tiên (erste Zahl).

„Chúng tôi nhận được (bekommen) nhiều phản hồi khác nhau (unterschiedliche Rückmeldung) từ các tiểu bang (Länder). Rõ ràng (offensichtlich) có sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn (Land)“, bà nói với Thông Tấn Xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa). Ở các vùng nông thôn (ländliche Region) có nhiều cơ hội nhiều hơn (mehr Möglichkeit) để ra ngoài (raus gehen) và con người ở đó không sống (leben) trong không gian quá chật hẹp (enger Raum) cho nên khả năng xung đột (Konfliktpotenzial) không quá cao (nicht so hoch). „Chúng tôi chưa hề (noch nicht) được nghe (hören) đến những con số về các trường hợp xung đột gia đình“, theo bà Giffey. Tuy nhiên (aber) vào tuần trước (vergangene Woche) bà nhận sự phản hồi từ Berlin rằng, những vụ tố giác (Anzeige) bạo lực gia đình đã tăng mười (zehn) phần trăm.

Để làm chậm (verlangsamen) sự lây lan (Ausbreitung) của vi khuẩn (Virus) Corona loại mới (neuartig), hầu hết các tiểu bang đã đóng cửa (schließen) trường học (Schule) và vườn trẻ (Kitas) hơn ba (drei) tuần qua. Đồng thời (zudem) có nhiều hạn chế sự rộng rãi về việc ra khỏi nhà (weitreichende Ausgangseinschränkung). Vì thế cho nên, người ta dự kiến (rechnen) rằng, sẽ có sự gia tăng (Zunahme) bạo lực gia đình.

Điện thoại cứu giúp (Hilfetelefon) „Số chống ưu sầu“ (Nummer gegen Kummer) cho biết có sự gia tăng (Anstieg) các cuộc điện thoại (Anruf) hơn (mehr als) 20 phần trăm, theo bà bộ trưởng „Trực Tuyến Thời Gian“ (Zeit Online). „Có nhiều trẻ em (mehr Kinder) cũng như (als auch) nhiều phụ huynh (Eltern) điện thoại (anrufen) đến“. Một phần (Teil) sự gia tăng (Zuwachs) được viện dẫn (begründen) rằng, người ta đã quảng bá (werben) quá nhiều (Massiv) số này. Trẻ em và thanh thiếu niên (Jugendliche) cần (benötigen) tìm sự giúp đỡ (Hilfe suchen) có thể sử dụng (anwenden) số miễn phí trên toàn quốc (deutschlandweite kostenlose Nummer) 116 111. Đối với các mẹ (Mütter) và cha (Väter) hoặc ông bà (Großeltern) có số 0800 111 0550. Các nhân viên tư vấn nam (Berater) nữ (Beraterinnen) được xem là (sich verstehen) „người liên lạc đầu tiên (erster Ansprechpartner)“ và tùy nhu cầu (bei Bedarf) sẽ giới thiệu (vermitteln) sự liên lạc (Kontakt) đến nhiều cung cấp giúp đỡ khác (weitere Hilfsangeboten) ngay nơi cư ngụ của họ (vor Ort).

Liên hội các thành phố và địa phương Đức (Deutscher Städte- und Gemeindebund) và liên hội bảo vệ trẻ em (Deutscher Kinderschutzbund) đã cảnh báo (warnen) về sự gia tăng bạo lực không được phát giác (unentdeckter Gewalt) đối với trẻ em có liên quan đến (angesichts) những hạn chế ra khỏi nhà và tiếp xúc (Ausgangs- und Kontaktbeschränkungen). „Việc tiếp xúc cá nhân (persönliche Kontakt) giữa (zwischen) các văn phòng thanh thiếu niên (Jugendämter) và gia đình (Familie) hiện nay (derzeit) có vấn đề (problematisch)“, ông Gerd Landsberg, quản đốc (Geschäftsführer) của liên hội các thành phố và địa phương nói với tờ „Augsburger Allgemeinen“ số phát hành hôm thứ bảy (Samstagsausgabe). Nhiều hệ thống cảnh báo sớm (Frühwarnsystem) khác cũng (auch) bị hạn chế (einschränken): „Trẻ em không còn được đến vườn trẻ các trường học (Schule) hoặc những hội thể thao (Sportverein), các địa điểm (Orte) nữa (nicht mehr) và đó là những nơi có thể phát hiện được sớm (früh entdecken) sự lạm dụng (möglicher Missbrauch).

Theo quan điểm (Ansicht) của ông Landsberg, những nam nữ nhân viên của các văn phòng thanh thiếu niên với nghề nghiệp có hệ thống trực thuộc (systemrelevanter Beruf) được kể đến (zählen) nên được trang bị (ausstatten) quần áo phòng hộ (Schutzkleidung) thì việc đến nhà thăm viếng (Hausbesuch) mới khả thi (möglich).

Ông Heinz Hilgers, chủ tịch (Präsident) liên hội bảo vệ trẻ em đã yêu cầu (fordern) nên giúp đỡ tài chánh ngay lập tức (finanzielle Soforhilfe) cho các gia đình nghèo (arme Familie). „Nhiều phụ huynh thật tế (eigentlich) không còn quyền lợi (Anspruch) nhận sự chăm sóc buổi trưa miễn phí (kostenlose Mittagsversorgung) cho con trẻ của họ trong trường học và vườn trẻ, tất cả những thứ đó nay (jetzt) cũng không còn (wegfallen)“, ông nói với tờ „Ausburger Allgemeinen“. Do đó (deshalb), nền chính trị (Politik) nên trả (zahlen) cho những phụ huynh bị ảnh hưởng (betroffene Eltern) 90 Euro mỗi trẻ (pro Kind) và mỗi tháng (pro Manat) xem như là một sự quân bình (Ausgleich) không mang tính quan liêu (unbürokratisch).

Tin dpa, hình Maurizio Gambarini/dpa ©

Thứ bảy 04.04.2020
Những thay đổi kể từ ngày 01.04.2020

Từ việc tiền mướn nhà (Miete) cho đến vé máy bay (Flugticket) kể cả việc nhận con nuôi (Adoption von Stiefkindern), kể từ đầu tháng tư (April) trên toàn quốc (bundesweit) có vài thay đổi về luật pháp (gesetzliche Änderung).

Không phải là chuyện đùa (kein Scherz): Kể từ ngày 01.04.2020 sẽ có hàng loạt (Reihe) quy luật mới (neue Gesetzesregelung) có hiệu lực (in Kraft treten) liên quan đến người mướn nhà (Mieter), gia đình (Familien) và người đi du lịch (Reisende).

Hãm giá tiền mướn nhà (Mietpreisbremse): Việc hãm giá tiền mướn nhà được gia hạn (verlängern) và thắt chặt (verschärfen) cho đến năm 2025. Nơi nào áp dụng (gelten) thì người chủ nhà (Vermieter) chỉ được phép đòi hỏi (verlangen) trên nguyên tắc (in der Regel) tối đa (maximal) mười (zehn) phần trăm nhiều hơn (mehr als) tiền mướn tiêu chuẩn theo địa phương (ortsübliche Vergleichsmiete) đối với việc đổi người mướn nhà (Bewohnerwechsel). Lần đầu tiên (erstmals), người mướn nhà có thể đòi hoàn trả (zurückfordern) tiền mướn nhà đã trả quá nhiều (zu viel gezahlte Miete) cho đến hai năm rưỡi (zweieinhalb Jahr).

Nhận con nuôi: Những cặp chưa kết hôn (unverheiratetes Paar) trong tương lai (künftig) cũng có thể nhận (adoptieren) con nuôi (Stiefkinder). Điều kiện là (Voraussetzung) là họ phải sống với nhau (zusammenleben) như vợ chồng (eheähnlich) ít nhất (mindestens) bốn (vier) năm hoặc đã có chung một đứa con (gemeinsames Kind) trong cùng hộ gia đình (selber Haushalt). Nếu một trong hai người có kết hôn với một người khác thì việc nhận con nuôi chỉ có thể xảy ra (möglich) ở những trường hợp ngoại lệ (Ausnahmefall). Cho đến nay (bisher), con nuôi chỉ được phép nhận nuôi khi cha hay mẹ nuôi của chúng đã kết hôn.

Hàng không (Luftverkehr): Vé máy bay (Flugticket) có thể đắt hơn (teuer). Đối với các chuyên bay nội địa (Inlandsflüge) và những chuyến bay (Flug) trong EU thì mức thuế (Steursatz) đối với các công ty hàng không (Airlines) tăng (steigen) từ 7,50 Euro lên thành 13,03 Euro mỗi vé bán ra (pro verkaufter Ticket); đối với những chuyến bay dài hơn (längere Flüge) đến 6.000 km tăng 23,43 Euro như hiện nay (derzeit) thành 33,01 Euro và những chuyến bay xuyên lục địa (Langstreckenflüge) tăng từ 42,18 Euro thành 59,43 Euro. Quy định này là một phần (Teil) của gói khí hậu (Klimapaket) của liên minh cầm quyền (Koalition) đen-đỏ (schwarz-rot) và nhằm mục đích làm cho việc bay (Fliegen) kém hấp dẫn hơn (unattraktiver machen). Tuy nhiên (allerdings) vẫn còn bỏ ngỏ (offen) vì chưa biết những khoản phụ phí (Aufschläge) sẽ tính cho khách bay (Fluggast) như thế nào.

Lương tối thiểu (Mindestlohn): Ngành xây dựng (Baugewerbe) có mức lương tối thiểu cao hơn (höhere Lohnuntergrenze). Lương tối thiểu (Mindestlohn) cho công nhân giúp việc (Hilfsarbeiter) tăng 35 Cent thành 12,55 Euro mỗi giờ (pro Stunde). Lương tồi thiểu cho công nhân có tay nghề (Facharbeiter) ở phía Tây Đức (Westdeutschland) tăng 20 Cent thành 15,40 Euro, tại Berlin 15,25 Euro. Trong các tiểu bang Đông Đức không có lương tối thiểu cho công nhân xây dựng có tay nghề. Theo công đoàn (Gewerkschaft) IG BAU, một trong năm công nhân xây dựng (jeder fünfte Bauarbeiter) nhận lương tối thiểu. Trong các công ty bị lệ thuộc lương tiêu chuẩn (tarifgebundener Betrieb) sẽ được trả lương khá hơn (besser zahlen).

Sức khỏe (Gesundheit): Trong trận chiến (Kampf) chống lại những tắc nghẽn của sự cung cấp (Lieferengpass) thuốc men (Medikament), các công ty dược phẩm (Pharmafirma) trong tương lai (künftig) có thể bị nhà chức trách (Behörde) bắt buộc (verpflichten) phải cung cấp thông tin (informieren) về số hàng tồn kho (Lagerbestände), việc sản suất (Produktion) và số lượng bán ra (Absatzmenge) của một số thuốc nào đó (bestimmte Arzneimittel). Trong trường hợp có sự tắc nghẽn thì có thể bị yêu cầu (anordnen) phải được giữ lại một số lượng lớn (größere Menge) những chế phẩm (Präparate) và tồn trữ trong kho (auf Vorrat lagern). Nếu vẫn còn (trotzdem) nhiều khó khăn trong việc cung cấp (Lieferschwierigkeit), thì các nhà thuốc (Apotheke) trong tương lai (in Zukunft) có thể giao (ausgeben) những loại thuốc đắt hơn (teure Arzneimittel) cùng hoạt chất (gleiche Wirkstoff) mà bệnh nhân (Patient) không vì thế mà phải trả thêm tiền bởi vì (wegen) cơn khủng hoảng (Krise) Corona nên có lo ngại (befürchten) sẽ có nhiều sự tắc nghẽn ở một số thuốc nào đó.

Tin dpa, hình Marcus Brandt/dpa © dpa 

Thứ sáu ngày 03.04.2020
Phạt tiền những người vi pham pháp lệnh phòng chống Corona trong nhiều tiểu bang

Nhiều tiểu bang (Bundesländer) đã ra quy định (festlegen) phạt tiền (Bußgeld) những sự vi phạm (Verstoß) pháp lệnh (Verordnung) đã ban hành (erlassen) trong cơn khủng hoảng (Krise) Corona. Chính quyền các tiểu bang (Landesregierung) Hamburg, Hessen và Mecklenburg-Vorpommern) hôm thứ năm (Donnerstag) đã công bố (bekannt machen) một số quy định tương ứng (entsprechende Regelung).

Chính quyền (Senat) Hamburg đã quyết định (beschließen) một danh sách tiền phạt (Bußgeldkatalog), theo đó sự tái phạm (wiederholter Verstoß) có thể (möglich) bị phạt đến (bis zu) 25.000 Euro, theo bộ trưởng nội vụ (Innensenator) Andy Grote (SPD). Pháp lệnh mới (neue Verordnung) đã có hiệu lực (in Kraft treten) kể từ ngày thứ sáu (Freitag) hôm nay (heute). Theo ông Grote, bị phạt 150 Euro nếu không giữ (Nichteinhalten) khoảng cách tối thiểu (Mindestabstand) 1,5 mét ngoài công cộng (in der Öffentlichkeit) hoặc khi bước vào (Betreten) sân chơi (Spielplatz). Mở cửa hàng trái phép (ungenehmigte Ladenöffnung) bị phạt cảnh cáo (ahnden) 2.500 Euro.

Trong tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern, tiền phạt lên đến 5.000 Euro, theo ông Lorenz Caffier (CDU) bô trưởng nội vụ tiểu bang này cho biết sau phiên họp nội các (Kabinettssitzung) tại Schwerin, thủ phủ (Landeshauptstadt) của tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern. Ai không giữ khoảng cách 1,5 mét đối với người khác cũng bị phạt 150 Euro.

Kể từ ngày hôm nay thứ sáu 03.04.2020, trong tiểu bang Hessen cũng có việc phạt tiền thống nhất (einheitliche Bußgelder). Tùy theo mức độ (nach Schwere) vi phạm có thể bị phạt từ 200 đến 5.000 Euro, theo ông Kai Klose (Grüne) bộ trưởng xã hội tiểu bang (Landessozialminister) và ông Peter Beuth (CDU) bộ trưởng nội vụ tiểu bang (Landesinnenminister) thông báo (mitteilen) tại Wiesbaden, thủ phủ (Landeshauptstadt) của tiểu bang Hessen.

Nhiều tiểu bang khác cũng đã lên danh sách phạt tiền vi phạm những hạn chế đã ban hành (verhängte Beschränkung) chống (Kampf) sự lây lan (Ausbreitung) của Virus Corona, chẳng hạn (etwa) tiểu bang Nordrhein-Westfallen và Bayern.

Tin dpa, hình David Young/dpa © dpa

Thứ năm ngày 02.04.2020
Liên hội đô thị và quận huyện chống bổn phận mang mặt nạ.

Liên hội đô thị (Städte) và quận huyện (Gemeindebund) chống (gegen) việc phải mang mặt nạ chung (generelle Maskenpflicht) trong các cửa hàng (Geschäfte). „Một bổn phận (Pflicht) như vậy tôi cho rằng trong giai đoạn hiện nay (jetzige Phase) không có mục đích (nicht für zielführend)“, ông Gerd Landsberg, quản đốc (Geschäftsführer) phát biểu trên đài phát thanh MDR Ngày Nay (Aktuell).

Người ta phải thấy (sehen) rằng trong khoảnh khắc (im Moment) cơn khủng hoảng (Krise) Corona tại Đức có một vấn đề khổng lồ (Riesenproblem) là những bác sĩ (Arzt) hoặc điều dưỡng viên (Krankenpfleger) cần mặt nạ (Masken) nhiều hơn những người khác. Ông Landsberg lo ngại (befürchten) rằng, nếu có bổn phận mang mặt nạ sẽ gây ra tình trạng mua tích trữ (Hamsterkauf). Như vậy, người ta sẽ mua hết chợ (den Markt leer machen) làm cho những người thật sự (wirklich) cần mặt nạ sẽ không có để sử dụng.

Điều cần phải cân nhắc (überlegen) là nên làm những gì khả thi cho tất cả mọi người: „Chúng ta đang có khá nhiều (so viel) hạn chế (Einschränkung). Tôi thiết nghĩ (meinen) rằng, hiện giờ chúng ta trước hết (erst einmal) nên chờ xem (abwarten), những hạn chế này có tác dụng (Wirkung) gì hay không? Rồi chúng ta sẽ biết (wissen) điều này một ngày không xa (in kurzer Zeit).“

Đầu (Anfang) tuần này, Áo đã công bố (ankündigen) bổn phận phải mang mặt nạ vì thế cho nên trong nước Đức đã bùng phát (auslösen) sự tranh luận (Debatte) về đề mục (Thema) này. Hiện nay, các phường xã đầu tiên (erste Kommunen) trong tiểu bang Thüringen đã thực hiện (durchführen) và đã công bố pháp lệnh (Verfügung) bổn phận mang mặt nạ trong các siêu thị (Supermarkt), trên xe buýt (Busse) và xe điện (Bahnen)

Tin dpa, hình Friso Gentsch/dpa/Symbolbild/Archiv ©

Thứ tư ngày 01.04.2020
Ông Söder yêu cầu việc „sản suất khẩn quốc gia“ về mặt nạ phòng hộ.

Tính đến ngày 31.03.2020, tổng cộng trên toàn nước Đức (bundesweit) có 61.913 ca nhiễm Corona, so với hôm trước (Vortag) tăng (steigen) 4.615 ca và 583 người chết vì bị nhiễm.

Cho nên ông Markus Söder, Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang (Bundesland) Bayern đã yêu cầu (fordern)

việc „sản suất khẩn quốc gia“ (nationale Notfallproduktion) mặt nạ phòng hộ (Schutzmasken).

„Những gì chúng ta cần (brauchen) khẩn cấp (dringend) là nhiều mặt nạ (Masken) hơn (mehr) và thật tế (zwar) là những mặt nạ có chất lượng cao (hochwertige Masken) cho toàn thể nhân viên (gesamtes Personal) trong các bệnh viện (Krankenhaus) và phòng mạch của bác sĩ (Arztpraxis)“, vị chủ tịch (Parteichef) đảng CSU phát biểu trên đài truyền hình (Fernsehanstalt) chương trình (Programm) „ARD Tin Tức Buối Sáng“ (Morgenmagazin).

„Điều quan trọng (wichtig) là cuối cùng (endlich) chúng ta cũng nhận được (bekommen) việc sản suất khẩn mang tính chất quốc gia.“ Nền kinh tế Đức (deutsche Wirtschaft) giờ đây (jetzt) phải thích ứng chuyển đổi (umstellen). Cần phải có việc dự trữ đầy đủ (ausreichender Vorrat) trong các bệnh viện, phòng mạch bác sĩ cũng như trong các viện dưỡng lão (Altersheimen)“, ông yêu cầu.

Bổn phận mang mặt nạ phòng hộ (Schutzmaskenpflicht) trong các siêu thị (Supermarkt) như (wie) ở Áo (Österreich) hiện nay (derzeit) chưa lên kế hoạch (planen). Trước tiên (zuerst), người ta nên chờ (abwarten) xem ở Đức có cần đến những biện pháp như vậy hay không. „Điều quan trọng hiện giờ là chúng ta phải nghiêm túc tuân thủ (strikt einhalten) những hạn chế căn bản (grundlegende Beschränkung) (…) và khoan (noch nicht) nghĩ (nachdenken) đến những sách lược hủy bỏ nó (Exit-Strategie), theo ông.

Tin dpa, hình Internet

Xem (1416)