Home » Hội PTVNTN » Tin Đức Quốc tháng 01.2020

Tin Đức Quốc tháng 01.2020

Mục Hội PTVNTN

Trước thềm Xuân DI LẶC – năm CANH TÝ 2020
chúng con cung kính chúc Chư Tôn Hòa Thượng,
Thượng Toạ, Đại Đức Tăng Ni Chùa Viên Giác
cũng như trong hư không pháp giới

PHÁP THỂ KHINH AN
TUỆ ĐĂNG THƯỜNG CHIẾU
CHÚNG SANH DỊ ĐỘ
PHÂT SỰ VIÊN THÀNH

Kính chúc Quý ĐẠO HỮU cùng thân quyến

SỨC KHOẺ TRÀN ĐÀY
HẠNH PHÚC AN LÀNH
Ý NHƯ VẠN SỰ

Thị Chơn Ngô Ngọc Diệp

Thứ năm ngày 23.01.2020
Các hiệp hội đã khai báo đang ký có đảm bảo pháp lý nhiều hơn.

Một hiệp hội đã khai báo đăng ký (eingetragener Verein), phi lợi nhuận (gemeinnützig) hoặc không khai báo có nghĩa là gì, theo giải thích (Erklärung) của một chuyên gia (Experte) về luật hiệp hội (Vereinsrecht). Và vì sao điều này có lợi (sich lohnen) cho người sáng lập hội (Vereinsfründer) khi có quyết định (Entscheidung).

Những người trong khu phố (Nachbarschaft) cùng (gemeinsam) giúp đỡ (helfen) nhau thường xuyên (regelmäßig) chơi (spielen) bóng chuyền (Voleyball) hoặc hỗ trợ (fördern) bảo vệ môi trường (Umweltschutz). Ai muốn đóng góp (sich einsetzen) lâu dài (dauerhaft) có thể suy nghĩ (überlegen) rằng, nên thành lập một hiệp hội, hội đoàn (Verein gründen). Ông Christoph Hüttig, cộng sự viên độc lập (freier Mitarbeiter) của Tổ Chức Hợp Tác (Stiftung Mitarbeit)  tư vấn (beraten) nhiều hiệp hội khác nhau giải thích như sau:

Có nên khai báo đăng ký (eintragen) một hội đoàn (Verein) hay không?

Christop Hüttig: Tôi luôn (immer) khuyên (raten) các hội đoàn việc khai báo đăng ký (Eintragung). Điều này cần bảy (sieben) thành viên (Mitglieder) và các chữ ký (Unterschrift) của thành viên ban chấp hành đã được bầu (gewählte Vorstandsmitglieder) phải được công chứng nhận (notariell beglaubigt), các chữ ký của thành viên sáng lập (Gründungsmitglieder) nằm bên dưới (unter) bản nội quy (Satzung), danh sách tham dự (Anwesenheitsliste) của họ cũng như (sowie) biên bản (Protokoll) phiên họp thành lập (Gründungsversammlung) nộp cho (vorlegen) tòa án đăng ký (Registergericht).

Ưu điểm (Vroteil): Một hội đã khai báo đăng ký vẫn luôn (immer noch) có nhiều đảm bảo pháp lý (größere Rechtssicherheit) đáng kể (deutlich) hơn. Nó là một cơ quan có pháp lý (rechtsfähiges Organ). Mọi xung đột pháp lý (rechtliche Konflikte) nhắm đến (sich richten) việc chống lại (gegen) hội đoàn như là một tổ chức (Institution) thì các hội viên và thành viên ban chấp hành (Vorstände) không có nguy cơ (Risiko) phải chịu trách nhiệm cá nhân (persönlich haften), ngoại trừ (außer) sự sơ xuất thô thiển (grobe Fahrlässigkeit) và cố ý (Vorsatz). Khi (wenn) ban điều hành hội (Vereinsvorstand) có ý định lừa đảo (betrügerische Absicht) mang danh (im Namen) hội để gây nợ (Schulden machen) hoặc gây thiệt hại (Schaden anrichten), thì họ phải chịu trách nhiệm pháp lý (haften).

Trường hợp những hội không khai báo đăng ký (nichteingetragener Verein) thì ngược lại (dagegen), ban chấp hành (Vorstand) và các hội viên có trách nhiệm pháp lý cùng với (gemeinsam) với tài sản cá nhân (persönliche Vermögen) của họ. Thời gian gần đây (aus jüngerer Zeit) tôi biết (kennen) rằng không có bản án (Urteil) nào đã được thi hành (durchsetzen). Trong trường hợp trách nhiệm pháp lý (Haftung), thì hiện nay (inzwischen) họ cũng có thể (soweit möglich) được xem ngang hàng (gleichstellen) với một hội đã khai báo đăng ký. Một hội không khai báo đăng ký chỉ (nur) cần hai (zwei) thành viên đủ để thành hình (entstehen).

Một hội được công nhân (anerkennen) là phi lợi nhuận (gemeinnützig), có nghĩa (bedeuten) gì?

Hüttig: Với sự công nhận (Anerkennung) là phi lợi nhuận (Gemeinnützigkeit) của một hội có hoặc không khai báo đăng ký thì họ được miễn (befreit) hầu hết các loại thuế (fast sämtliche Steuerarten) – từ thuế doanh nghiệp (Körperschaftsteuer) đến (bis hin) thuế doanh thu (Umsatzsteuer), ít ra (mindestens) trong những mức độ nhất định (bestimmte Größe) tùy (je nach) hoạt động kinh tế (wirtschaftliche Aktivität) của hội ấy.

Điều gì quan trọng nhất (am wichtigsten) cho sự tài trợ (Finanzierung) hầu hết các dự án (meiste Projekte): Những hội phi lợi nhuận (gemeinnütziger Verein) được phép cấp (ausstellen) chứng nhận quyên góp (Spendenbescheinigung) và đây là một khích lệ lớn (großer Anreiz) cho người quyên góp (Spender). Và như vậy, người quyên góp có thể khai khấu trừ thuế (steuerlich absetzbar) lúc khai báo thuế thu nhập cá nhân (persönliche Einkommensteuererklärung).

Một hội không có pháp lý (nicht rechtsfähiger Verein) cũng vẫn có thể được công nhận là phi lợi nhuận. Với điều kiện (vorausgesetzt) rằng, phải nộp (vorlegen) một nội quy (Satzung) có nội dung tối thiểu nhất định (gewisser Mindestinhalt) theo quy định (Vorgaben) của bộ tài chánh Đức (Bundesfinanzministerium). Điều quan trọng nhất là phải nêu rõ (angeben) mục đích (Zweck) của hội và theo (laut) điều § 52 quy định việc đóng thuế (Abgabenordung) phải có những mục đích phi lợi nhuận (gemeinnützige Zwecken), có một ban chấp hành và quy định ban này được bầu (wählen) như thế nào và điều kiện thế nào để trở thành hội viên. Ngoài ra (außerdem), phải xác định rõ (feststehen) tài sản của hội (Vereinsmögen) khi hội giải thể (Auflösung) sẽ xử lý nó (passieren) như thế nào

Chi phí (Kosten) bao nhiêu để khai báo đăng ký (eintragen) một hội?

Hüttig: Nó sai khác (unterschiedlich) tùy từng tiểu bang (Bundesland). Chi phí hiện tại (aktuell) giữa (zwischen) khoảng (circa) 90 và 150 Euro. 29 đến 40 Euro cho việc công chứng nhận đơn khai báo đăng ký (Eintragungsanmeldung).

Thông thường (normalerweise) còn thêm 50 đến 80 Euro cho việc đăng ký (Eintragung) vào sổ bộ đăng ký hiệp hội (Vereinsregister) tại tòa án trực thuộc (zuständiges Amtsgericht). Phí đăng ký (Eintragungsgebühr) có thể hoàn toàn được hủy (wegfallen), khi hội này đã (bereits) làm đơn xin (beantragen) công nhận phi lợi nhuận và có tín hiệu khả quan (positives Signal) của ty tài chánh trực thuộc (zuständiges Finanzamt). Mục chi phí thứ ba (dritter Kostenpunkt) là phí công bố (Bekanntmachungsgebühr) cho việc ghi vào sổ bộ đăng ký hội đoàn, nó liên quan đến sổ đăng ký thương mại (Handelsregister), khoảng 39 Euro.

Chi tiết cá nhân (zur Person): Ông Christoph Hüttig là nhà kinh tế (Volkswirt) và cộng sự viên tư vấn độc lập cho tổ chức hợp tác của nhiều hiệp hội.

Tin dpa, hình Jens Schierenbeck/dpa-tmn ©

Thứ tư ngày 22.01.2020
Nhân viên phòng hộ người tiêu thụ cảnh báo sự lừa đảo của những bức thư đòi tiền.

Hăm doạ (drohen), gây hoang mang (einschüchtern) và đòi hỏi (fordern): Đây là mánh khoé (Masche) của những tên lừa đảo (Betrüger). Bằng những bức thư đòi tiền đáng nghi (dubiöse Inkassoschreiben). Chúng tìm cách (versuchen) moi tiền túi (Geld aus der Tasche ziehen) người tiêu thụ (Verbraucher). Phải hiểu thế nàođối  với những bức thư như vậy (solche Briefe)?

Những văn thư đòi tiền có tính cách lừa đảo (betrügerische Inkassoschreiben) luôn (immer) làm cho (sorgen) người tiêu thụ bực tức (Ärger). Đối với một hợp đồng dường như đã ký kết (angeblich geschlossener Vertrag) phải trả vài trăm (einige Hunderte) Euro, phải thanh toán (zahlbar) nội trong (innerhalb) một thời gian ngắn (kurzer Zeit) và thường (oft) chuyển (überweisen) vào một trương mục nước ngoài (ausländisches Konto). Mọi đòi hỏi như vậy (solche Forderung) theo hiểu biết (Erkenntnisse) của Trung Tâm Người Tiêu Thụ (Verbraucherzentrale) thuộc tiểu bang (Bundesland) Rheinland-Pfalz thường (häufig) không có cơ sở (haltlos).

Hiện giờ (derzeit), theo thông tin (Angabe) của các nhân viên phòng hộ người tiêu thụ (Verbraucherschützer) cho biết có nhiều văn thư của các công ty đòi tiền đáng nghi ngờ (dubiöse Inkassounternehmen) rơi vào thùng thư (Briefkasten) của người tiêu thụ. Việc đòi tiền dường như từ những hợp đồng chơi đen đỏ đã ký (abgeschlossener Glückspielvertrag) qua điện thoại (am Telefon)

Các hợp đồng chơi đen đỏ chỉ (nur) khả thi (möglich) ở thể dạng văn bản (Textform).
Tuy nhiên (aber), theo thông tin của Trung Tâm Người Tiêu Thụ, thì những người bị ảnh hưởng (Betroffene) trên nguyên tắc (in der Regel) đã chưa hề (nie) ký kết (abschließen) những loại hợp đồng như vậy (derartiger Vertrag). Do đó (daher) mọi sự đòi tiền không bao giờ (keinesfalls) được thanh toán một cách đơn giản (einfach). Vì lẽ (denn) các hợp đồng về việc tham gia (Teilnahme) các trò chơi đen đỏ (Glückspiel) kể từ năm 2013 chỉ được ký kết trong dạng văn bản, nghĩa là (also) viết thành văn (schriftlich).

Việc ký kết một hợp đồng hoàn toàn qua điện thoại (rein telefonischer Vertragsschluss) như các văn thư quả quyết (behaupten) chưa đủ (nicht ausreichen) là một hợp đồng được ký kết có hiệu lực (wirksamer Vertrag). Khách hàng (Kunde) tối thiểu (mindestens) phải có nhận (erhalten) một sự xác nhận (Bestätigung) theo dạng (in Form) thư điện tử E-Mail, SMS hoặc một bức thư, theo sự giải thích (Erklärung) của các chuyên gia (Expert).

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ ba ngày 21.01.2020
Mức giới hạn cho công việc ít giờ là 450 Euro.

Lương tối thiểu (Mindestlohn) đã tăng (steigen) kể từ đầu năm nay (Jahresanfang). Nhưng (aber) những người làm ít giờ (Minijobber) cũng nên cẩn thận (aufpassen), nếu họ nhận (erhalten) hơn (über) 450 Euro mỗi tháng (pro Monat) thì phải bị đóng thuế.

Kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) áp dụng (gelten) lương tối thiểu cao hơn (höherer Mindestlohn). Thay vì 9,19 Euro, nay (jetzt) là 9,35 Euro, theo giải thích (Erklärung) của Liên Hội Giúp Đỡ Thuế Lương (Bundesverband Lohnsteuerhilfevereine, viết tắt là BVL). Điều này cũng có giá trị cho các công việc ít giờ (Minijob). Tuy nhiên, mức lương cao hơn không được vượt quá (nicht überschreiten) giới hạn (Grenze) 450 Euro mỗi tháng.

“Những người làm việc ít giờ có thoả thuận (vereinbaren) số giờ làm việc nhất định (feste Arbeitsstundenzahl) trong một tuần (in der Woche) hoặc trong một tháng (im Monat) bằng hợp đồng (vertraglich) nay (nun) hãy kiểm tra (prüfen) xem, cho dù (trotz) lương tối thiểu tăng nhưng vẫn có còn (noch) nằm trong (innerhalb bleiben) khoảng giới hạn (Grenzbetrag) hay không”, ông Erich Nöll, quản đốc điều hành (Geschäftsführer) BVL khuyên (raten).

Người làm ít giờ với nhiều công việc (mehrere Jobs) cần lưu ý.
Lý do (Grund): Nếu vượt quá giới hạn, thì công việc (Arbeitsverhältnis) phải đóng bảo hiểm xã hội và thuế (sozialversicherungs- und steuerpflichtig). “Bởi sự vượt quá giới hạn công việc ít giờ, có nghĩa là tiền lương giờ cao hơn (höherer Stundenlohn), cuối cùng (am Ende) người công nhân cũng còn lại (übrig bleiben) ít tiền hơn (weniger Geld)”, ông Nöll giải thích (erklären).

Đặc biệt (insbesondere) đối với những công nhân (Beschäftigte) có nhiều công việc ít giờ nên kiểm tra (überprüfen) xem họ có còn nằm trong (innerhalb) giới hạn này hay không, vì (da) nhiều chủ nhân khác nhau (verschiedene Arbeitgeber) không có khả năng kiểm tra (Prüfmöglichkeit) điều này.

Tin dpa, hình Axel Heimken/dpa/dpa-tmn ©

Thứ hai ngày 20.01.2020
Ủng hộ tài chánh ra nước ngoài không thể khai khấu trừ thuế.

Các vụ thiên tai lớn (große Katastrophen) trên thế giới (weltweit) đã có hàng ngàn (Tausende) sự kêu gọi ủng hộ tài chánh (Spendenaufrufe) được nhanh chóng (schnell) phát động (starten). Điều này cũng được áp dụng (gelten) cho những vụ cháy rừng (Waldbrände) tại Úc Châu (Australien). Do đó, ai muốn giúp đỡ (helfen) tiền (Geld), thì cũng nên chọn (auswählen) đúng (gut) người nhận (Empfänger).

Liên quan đến (angesichts) những đám cháy rừng tại Úc, có rất nhiều người muốn giúp đở bằng cách quyên góp tiền bạc (Geldspende). Nhưng điều quan trọng (Wichtiges) cần biết (wissen) là: Các khoản đóng góp trực tiếp (direkte Spende) đến một tổ chức nước ngoài (ausländische Organisation) trên nguyên tắc (in der Regel) không được khấu trừ thuế (steuerlich absetzbar) tại Đức.

Điều này được lưu ý (hinweisen) bởi Viện Trung Ương Đức Về Vấn Đề Xã Hội (Deutsche Zentralinstitut für soziale Fragen, viết tắt là DZI). Ngoài ra (außerdem), việc chuyển tiền ra nước ngoài (ins Ausland) qua tài khoản (Banküberweisung) có thể phải trả phí (Gebühr).

Cho nên, những người ủng hộ (Spender) cần kiểm tra (prüfen) xem tổ chức nào họ muốn hổ trợ (unterstützen) có nghiêm túc (seriös) hay không. Viện DZI có một danh sách kiểm tra (Checkliste) liên quan đến các tổ chức ấy. Cần phải biết (auskennen) một tổ chức giúp đỡ (Hilfsorganisation) ngay tại chỗ (vor Ort), có (verfügen) sự liên lạc tốt (gut funktionierte Kontakte) tại đó và phối hợp (abstimmen) với các cơ quan công quyền (Behörde) và các tổ chức giúp đỡ khác. Thông tin chung (allgemeine Information) về khoảng (rund) 55.000 tổ chức phi lợi nhuận (Non-Profit-Organisation) tại Úc được cung cấp (bieten) bởi một cơ quan đăng ký của nhà nước (staatliche Registrierungsbehörde).

Ngoài ra (unter anderem), chính phủ (Regierung) tiểu bang (Bundesstaat) Victoria cũng phát động (starten) chiến dịch (Aktion) kêu gọi quyên góp. Người quyên góp nên hợp tác (in Kooperation) với đội quân cứu hộ (Salvation Army, tiếng Đức là Heilsarmee) để số tiền đến tận các khu vực đang bị nạn (betroffene Kommune). Còn ai muốn hỗ trợ tài chánh (finanziell) cho những nhân viên cứu hỏa tình nguyện (freiwillige Feuerwehrleute) tại Úc, thì nên thông qua các Sở Cứu Hỏa Trung Ương (zentrale Feuerwehrverband) ở các tiểu bang đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất (am meisten betroffenen Bundesstaaten) là New South Wales và Victoria.

Hội Hồng Thập Tự Đức (Deutsches Rotes Kreuz, viết tắt là DRK) cũng giúp đỡ nạn cháy rừng tại Úc. Sự hợp tác (Zusammenarbeit) với nhiều tổ chức tại chỗ, theo Viện DZI chủ yếu (vor allem) giúp đỡ những người bị mất nhà (Häuser verlieren) bởi các đám cháy (Brände) và họ đã phải luôn liên tục (immer weiter) trốn lánh (fliehen) những đám cháy đang lan rộng (ausbreitende Brände). Ủng hộ tài chánh cho DRK được Ty Tài Chánh (Finanzamt) công nhận (anerkennen).

Tin dpa, hình Robert Günther/dpa-tmn/dpa ©

Thứ bảy ngày 18.01.2020
Thượng cấp có thể điện thoại cho một nhân viên bị bệnh hay không?

Người nào ở nhà (zuhause bleiben) vì ốm đau (krank geschrieben) trên nguyên tắc (in der Regel) được miễn làm mọi công việc (von allen Arbeit befreit). Nhưng điều gì xảy ra khi xếp (Chef) gọi điện thoại đến nhà (zuhause anrufen)? Người chủ (Arbeitgeber) có phải nhất thiết điện thoại hay không?

Có thể (vielleicht) chỉ là bệnh cảm (Erkältung) phải nghỉ vài ngày (ein paar Tage). Hoặc là một căn bệnh lâu hơn (längere Erkrankung) mà một công nhân (Arbeitnehmer) phải ở nhà. Vậy xếp có được phép điện thoại đến nhà công nhân bị bệnh hay không?

“Theo nguyên tắc (im Prinzip) thì chủ nhân dĩ nhiên (natürlich) có thể gọi”, theo ông Joahannes Schipp, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Gütersloh. Việc người công nhân này có nhận điện thoại hay không vẫn là sự quyết định riêng (selbst) của họ.

Chủ nhân được phép hỏi (fragen) điều gì?

Luật pháp (Gesetz) không có quy định (nicht geregelt) chủ nhân được phép thu nhập (einholen) những thông tin (Information) nào. “Chủ nhân có thể hỏi xem người công nhân bị bệnh ấy có khả năng (voraussichtlich) trở lại (zurückkommen) làm việc. Những câu hỏi về căn bệnh của nhân viên (Mitarbeiter) không liên quan gì đến chủ nhân, ông Schipp giải thích (erklären).

Cũng như vậy (genauso), chủ nhân không được phép gây áp lực (Druck machen). Chẳng hạn (etwa), bằng cách (indem) lưu ý (hinweisen) cho người công nhân bị bệnh biết rằng, họ được phép nghỉ bao lâu hoặc giả (oder) họ phải trở lại văn phòng (Büro) muộn nhất (spätesten) vào ngày nào. “Điều này không liên quan đến pháp luật (rechtliche Relevanz)”, ông Schipp nhấn mạnh (betonen).

Nhân viên bị bệnh không phải đảm nhiệm (übernehmen) bất kỳ nhiệm vụ (Aufgabe) nào.

Nếu chủ có những câu hỏi liên quan đến chỗ làm (arbeitsplatzbezogene Belangen), thì nhân viên bị bệnh thường (Normalfall) không cần phải trả lời (beantworten). Tuy nhiên, cũng có những bổn phận phụ (Nebenpflicht) trong mối quan hệ việc làm (Arbeitsverhältnis) cho nên cũng không nên có hành vi từ chối không hợp lý (plausible Verweigerungshaltung), theo luật sư chuyên ngành.

Ông Schipp đơn cử (nennen) một ví dụ (Beispiel): Người chủ muốn biết (erkundigen) mật khẩu máy vi tính (Computerpasswort) của nhân viên, khi họ bị bệnh, để có thể tiếp tục (weitergehen) công việc (Arbeit) – miễn là đảm bảo (sicherstellen) rằng, cho đến khi (solange) người này trở lại làm việc họ có thể thay đổi mật khẩu (Passwort). “Nhân viên bị bệnh cũng không cần phải giải quyết (erledigen) các trách nhiệm chính đáng liên quan đến công việc (richtige Arbeitsaufgabe) của mình”, vị luật sư chuyên ngành giải thích (darstellen).

Chi tiết cá nhân (zur Person): Ông Johannes Schipp là luật sư chuyên ngành về luật lao động tại Gütersloh và Chủ Tịch (Vorsitzender) Hội Đồng Điều Hành (Geschäftsführender Ausschuss) Luật Lao Động thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein).

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn © dpa

Thứ sáu ngày 17.01.2020
Thượng cấp có được phép la hét nhân viên của họ hay không?

Một nữ điều hành dự án (Projektleiterin) làm rối tung (vergeigen) sự diễn giải (Präsentation), một nhân viên mua sắm (Einkäufer) bỏ qua (übersehen) một bước ngoặt (Zahlendreher). Những điều này có thể làm cho thành phần lãnh đạo (Führungskraft) bực mình (auf die Palme bringen). Nhưng không vì thế mà nhân viên (Arbeitnehmer) phải để bị la hét (anbrüllen)?

Có những thượng cấp mau (schnell) mất (verlieren) sự kiên nhẫn (Geduld). Và dùng những âm thanh (Ton) to lớn (laut) hay tỏ thái độ (ausfällig) khi họ phê bình chỉ trích (Kritik üben). Nhân viên phải chịu đựng điều này chăng?

“Là một nhân viên, tôi có quyền (Anspruch) được đối xử (behandeln) thích hợp (angemessen)”, theo ông Joahannes Schipp, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Gütersloh. Thượng cấp không được phép la hét (Anschreien) hoặc thậm chí (gar) mạ lỵ xúc phạm (beleidigen) cộng sự viên (Mitarbeiter) của mình.

“Họ được phép phê bình (kritisieren) cụ thể (deutlich) khi năng suất làm việc (Arbeitsleistung) của một nhân viên không được (nicht in Ordnung). Nhưng phải thực hiện (tun) một cách khách quan (sachliche Weise)”, theo (so) ông Schipp. Chẳng hạn (etwa) câu nói (Aussage) “Bạn là một con chó biếng nhác (fauler Hund)” thì thượng cấp (Vorgesetzte) rõ ràng (eindeutig) đã đi quá xa (zu weit).

Nhưng người công nhân có thể làm được điều gì? Ông Schipp khuyên (empfehlen) bước thứ nhất (erster Schritt) là lưu ý (hinweisen) cấp lãnh đạo hãy để ý đến hành vi không phù hợp (unangemessenes Verhalten) của họ và yêu cầu (bitten) họ hãy trình bày (vortragen) việc phê bình của họ một cách khách quan (sachlich) trong tương lai (künftig). “Các công nhân nên ghi chép lại (sich notieren) cũng như ghi chú (festhalten) có ai đã nghe (mitbekommen) được cuộc nói chuyện (Gespräch) này”, theo luật sư chuyên ngành. Trong trường hợp nghi ngờ (Zweifelsfall), việc ghi chép lại như vậy (solche Aufzeichnung) là bằng chứng (Nachweis) sẽ dễ dàng (erleichtern) tại tòa án (Gericht).

Nếu không thấy (in Sicht) có sự cải thiện (Verbesserung) nào cả, thì phải thực hiện bước tiếp theo (nächster Schritt). Chẳng hạn, đòi hỏi (verlangen) chủ nhân (Arbeitgeber) can thiệp (einwirken) với vị thượng cấp ấy. “Nhưng đây là một vụ việc như con dao có hai lưỡi (zweischneidige Angelegenheit)”, theo ông Schipp.

Trên nguyên tắc (in der Regel), chủ nhân tìm cách (versuchen) chống lưng (den Rücken stärken) vị thượng cấp ấy để không làm suy yếu (untergraben) thẩm quyền (Autorität) của người này. “Cho nên, một công nhân phải tính đến (rechnen) việc đối mặt với những khó khăn (Schwierigkeit) khi họ muốn đấu tranh (durchsetzen) cho một điều gì.”

Chi tiết cá nhân (zur Person): Ông Johannes Schipp là luật sư chuyên ngành về luật lao động tại Gütersloh và Chủ Tịch (Vorsitzender) Hội Đồng Điều Hành (Geschäftsführender Ausschuss) Luật Lao Động thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein).

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn © dpa

Thứ năm ngày 16.01.2020
Chi phí cho việc trả lương tiếp tục đã tăng đáng kể kể từ năm 2010.

Các doanh nghiệp (Unternehmen) trong những năm qua phải luôn (immer) móc túi sâu hơn nữa (tiefer in die Tasche greifen) để trả lương tiếp tục (Lohnfortzahlung) cho công nhân. Nhưng (doch) không chỉ (nicht nur) mức nghỉ bệnh (Krankenstand) làm cho chi phí (Kosten) lên cao (in die Höhe).

Mọi chi phí của chủ nhân (Arbeitgeberkosten) cho việc trả lương tiếp tục trong trường hợp bệnh hoạn (Krankheitsfall) trong những năm qua đã tăng (steigen) rõ rệt (deutlich). Giữa (zwischen) những năm 2010 và 2018 việc chi tiêu (Ausgabe) của các doanh nghiệp cho việc trả lương tiếp tục từ 37 tỷ (Milliarden) Euro mỗi năm đã tăng lên (erhöhen) tầm (knapp) 62 tỷ Euro.

Như vậy (demnach), năm 2018 có gần (fast) 52 tỷ Euro đã trả (zahlen) cho tiền lương gộp (Bruttogehalt) và tiếp theo mười (zehn) tỷ Euro đóng cho các bảo hiểm xã hội (Sozialversicherungsbeitrag) của các nhân viên bị bệnh (erkrankte Mitarbeiter), theo một cuộc khảo sát chưa công bố (unveröffentliche Studie) của một tổ chức gần gũi chủ nhân (arbeitgebernah) là Viện Kinh Tế Đức (Institut der Deutschen Wirtschaft, viết tắt là IW) được tờ “Rheinische Post” biết đến (vorliegen).

“Không những mức bệnh hoạn có tăng nhẹ (leicht), mà sự phát triển lao động thuận lợi (günstige Beschäftigungsentwicklung) cũng như (sowie) việc tăng lương hàng năm (jährliche Lohnsteigerung) gây tăng phí”, theo cuộc khảo sát. Khi một nhân viên vắng mặt (fehlen) vì đau ốm (krankheitsbedingt), thì theo luật pháp (Gesetz) chủ nhân phải tiếp tục trả (weiterzahlen) trọn mức lương (volles Gehalt) đến sáu (sechs) tuần lễ (Woche) – rồi sau đó bảo hiểm sức khoẻ theo luật định (gesetzliche Krankenversicherung) mới can thiệp (einspringen). Bởi vì (da) kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) năm 2019 có sự tài trợ (Finanzierung) bằng khoản đóng thêm (Zusatzbeitrag) cho bảo hiểm sức khoẻ theo luật định, nên việc tăng (Anstieg) chi (Aufwendung) cho năm 2019 có thể còn cao hơn (noch höher), theo viện này cho biết (mitteilen).

Tin và hình dpa

Thứ tư ngày 15.01.2020
Trợ tử: 102 đơn xin thuốc uống để chết bị từ chối

Những người bị bệnh nặng (Schwerkranke) muốn tự (selbst) kết liễu mạng sống (dem Leben ein Ende einsetzen) có thể làm đơn (beantragen) xin thuốc (Medikamente). Tuy nhiên (jedoch) bộ y tế (Gesundheitsministerium) có lập trường rõ ràng (klare Haltung) về việc trợ tử (Sterbehilfe).

Việc tranh cãi (Streit) liên quan đến khả năng (Möglichkeit) là người bệnh nặng có thể tự mua (sich kaufen) thuốc để tự tử (Medikamente zur Selbsttötung) đến nay (inzwischen) đã có 102 đơn (Antrag) được chính thức cho phép (amtliche Erlaubnis) bị bác (ablehnen). Tổng cộng (insgesamt) có 133 đơn nộp (eingehen), theo Viện Liên Bang về Dược Phẩm và Những Sản Phẩm Y Tế  (Bundesinstitut für Arzneimittel und Medizinprodukte) thông báo (mitteilen) theo yêu cầu (auf Anfrage).

24 nguyên đơn (Antragsteller) sau đó (danach) đã qua đời (sterben), còn những đơn còn lại vẫn chưa (noch nicht) được quyết định (entscheiden). Tờ “Tagesspiegel” (Gương Trong Ngày) đã tường thuật (berichten) trước tiên (zuerst) về vụ việc này hôm thứ hai (Montag).

Bối cảnh (Hintergrund) sự việc là một quyết định (Entscheidung) của tòa án hành chánh liên bang (Bundesverwaltungsgericht) trong năm 2017, theo đó những người có ý định chết (Sterbewillige) “trong tình trạng ngoại lệ cực kỳ đặc biệt” (in extremen Ausnahmesituation) không được phép dùng liều luợng gây tử vong (tödliche Dosis) từ chất gây mê (Betäubungsmitel). Bộ y tế Đức chỉ định (anweisen) Viện Liên Bang (Bundesinstitut) bác những đơn tương tự của người dân (Bürger).

Vị lãnh đạo bộ phận (Ressortchef) này là ông Jens Spahn (CDU) đã bảo vệ (verteidigen) đường lối (Linie) này. Ông lưu ý (verweisen) rằng, quốc hội Đức (Bundestag) năm 2015 đã chấp thuận (sich aussprechen) cấm (Verbot) việc trợ tử có tổ chức (organisierte Strebehilfe).

Điều này đối với ông mang tính cách chỉ đạo hành động (handlungsleitend). Tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) đã công bố (verkünden) ngày 26 tháng hai (Februar) một phán quyết (Urteil) cấm trợ tử mang tính chất kinh doanh (geschäftsmäßige Sterbehilfe). Nguyên cáo (Kläger) là những người bệnh nặng, các bác sĩ (Arzt) và những người giúp tự sát chuyên nghiệp (professionelle Suizidhelfer).

Viện liên bang giải thích (erläutern) rằng, mỗi đơn nộp sẽ được cứu xét (prüfen). Người nộp đơn cũng sẽ được yêu cầu (beten) xuất trình (vorlegen) các hồ sơ (Unterlagen) cũng như những bản giám định (Gutachten).

Tin dpa, hình Sebastian Kahnert/zb/dpa ©

Thứ ba ngày 14.01.2020
Thuốc xịt mũi có thể gây nghiện không?

Cuối cùng (endlich) cũng thở được (wieder Luft kriegen): Bị sổ mũi nặng (schwere Schnupfen) thì thuốc xịt mũi (Nasenspray) cũng có thể là một sự cứu nguy (Rettung). Nhưng sau đó (danach), người ta nên nhanh chóng (zügig) ngưng (absetzen) việc sử dụng nó – trước khi (bevor) màng nhầy (Schleimhäute) trong mũi không thể hoạt động khi không (ohne) có thuốc xịt mũi.

Thuốc xịt mũi không có tác dụng gây say (berauschende Wirkung). Nó không giống (anders) chẳng hạn (etwa) như rượu (Alkohol) và các loại ma túy khác (Dorgen) có thể gây nghiện (süchtig machen). Tuy nhiên (allerdings), nó cũng có nguy cơ (Gefahr) làm thân vật lý bị nghiện hay lệ thuộc (körperliche Abhängigkeit), theo bà Ursula Sellerberg thuộc Cục Dược Phòng Đức (Bundesapothekerkammer) giải thich (erklären).

Điều này cũng có giá trị (gelten) cho tất cả các loại thuốc xịt mũi có tác dụng làm co mạch (gefäßzusammenzeihende Wirkung), nghĩa là (also) có tác dụng giảm sưng làm thông mũi (abschwellende Wirkung). Trong trường hợp sổ mũi cấp tính (aktute Schnupfen) thì mũi thông trở lại (wieder frei). Đây là điểm tích cực (positiv) ban đầu (erst einmal). Nhưng sau (nach) năm (fünf) đến (bis) bảy (sieben) ngày hiệu ứng thói quen (Gewöhnungseffekt) sẽ xuất hiện (eintreten). Các màng nhầy do đó sẽ không giảm sưng khi không có thuốc xịt mũi.

Và điều này mang đến nhiều hậu quả tiêu cực (negative Folge). Bởi vì (denn), thứ nhất (erstens) việc sử dụng thường xuyên (permanenter Einsatz) thuốc xịt mũi làm hư hại màng nhầy, thứ nhì (zweitens) đe dọa (drohen) mất (Verlust) khả năng khứu giác (Geruchsfähigkeit) rồi dẫn đến mất khả năng vị giác (Geschmacksfähigkeit).

Để ngăn chận (verhindern) điều này, người ta không bao giờ (nie) sử dụng thuốc xịt mũi chống sưng lâu hơn (länger) năm đến bảy ngày. Khi triệu chứng (Beschwerden) vẫn chưa (noch nicht) dứt (verschwinden), thì có thể thay thế (ersetzen) bằng một loại thuốc xịt mũi khác, ví dụ (zum Beispiel) muối nấu ăn (Kochsalz): Nó không có nguy cơ bị phụ thuộc.

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn © dpa

Thứ hai ngày 13.01.2020
Kiểm tra nói năng ngay lúc còn ở trường mẫu giáo.

Bà Anjay Karliczek, nữ bộ trưởng bộ giáo dục đào tạo Đức (Bundesbildungsministerin), đồng thuận (sich aussprechen) cho việc kiểm tra khả năng nói năng (Test der Sprachfähigkeit hay Sprachtest) ngay (schon) trong lúc còn ở trường mẫu giáo (Kita) bởi kết quả tầm thường (mittelmäßige Ergebnisse) từ những cuộc khảo sát trình độ học vấn (Pisa-Studien).

20 phần trăm thanh thiếu ở tuổi 15 không thể hiểu ý nghĩa khi đọc (sinnverstehend lesen). Đây là điều đáng báo động (alarmierend) theo nữ chính khách (Politikerin) đảng CDU nói với tờ “Thế Giới Ngày Chủ Nhật” (Welt am Sonntag). Bà phát biểu rằng, nói chung (generell) chúng ta cần một nền văn hóa mới (neue Kultur) về đọc (lesen) và trên hết (vor allem) là sự hỗ trợ nói năng (Sprachförderung).

Vì thế cho nên, khả năng nói năng của trẻ em phải được kiểm tra lần đầu (zum ersten Mal) ngay trong trường mầm non. Rồi thì vẫn còn ít thời gian (etwas Zeit) để còn (noch) hỗ trợ cụ thể (gezielt fördern) cho những trẻ có nhu cầu cần bổ túc (Nachholbedarf). Việc kiểm tra kế tiếp (nächste Überprüfung) diễn ra (erfolgen) lúc nhập học (Einschulung). “Điều này cũng phải được tái tiếp diễn (sich wiederholen) trong trường học (Schule). Và cuối cùng (am Ende) có lẽ (vermutlich) chỉ (nur) có thể giúp đỡ được (helfen) bằng cách thực hành, thực hành và thực hành (üben) cho dù (auch wenn) điều này nghe có vẻ (sich anhören) lỗi thời (altmodisch)”, bà nói (sagen).

Nước Đức nằm (liegen) ở mức trung bình (Durchschnitt) ở các cuộc khảo sát trình độ học vấn của các quốc gia (Länder) OECD. “Nhưng đối với một đất nước (Land) đang và muốn duy trì (bleiben) là một quốc gia đổi mới (Innovationsland) thì mức tầm thường (Mittelmaß) không thể thỏa đáng (Anspruch). Chúng ta phải nằm trong nhóm hàng đầu (Spitzengruppe), ít ra (zumindest) hàng đầu châu Âu (europäsische Spitze). Mục tiêu (Ziel) của chúng ta là muốn hoàn toàn có ý thức đặt ra (ganz bewusst setzen) cho thập niên tới (nächstes Jahrzehnt) là thập niên của sự đổi mới (Innovationsjahrzehnt).”

Tin dpa, hình Fabian Sommer/dpa © dpa

Chủ nhật ngày 12.01.2020
Khách hàng có phải chấp nhận biên lai hay không?

Trong nhiều cửa hàng (Geschäft), những tờ biên lai (Kassenzettel) bị vứt (wandern) vào thùng rác (Mülleimer). Một số khách hàng (Kunde) do dự (zögern) rằng, trước tiên (erst) họ có phải nhận (entgegennehmen) những tờ biên lai (Bon) của họ hay không?

Cho dù ở tiệm bánh (Bäcker), hàng thịt (Metzger) hoặc (oder) trong các quán ăn vặt (Imbissstube): Kể (seit) từ đầu năm (Jahresbeginn) nay, các nhà buôn (Händler) phải đưa (ausgeben) một tờ biên lai (Kassenbon) cho mỗi lần mua (bei jedem Kauf). Mỗi công ty (Betriebe) chỉ (nur) có thể làm đơn (auf Antrag) mới xin miễn (befreien) được thủ tục này. Hiện nay (derzeit), người tiêu dùng (Verbraucher) thu thập (sammeln) tờ biên lai (Kassenbeleg) mỗi lần mua hàng. Liệu có phải như vậy không?

Thật ra (eigentlich), không một ai (niemand) phải nhận hoặc thậm chí (gar) cầm theo (mitnehmen) các tờ biên lai hay hóa đơn. „Chỉ có nghĩa vụ (Pflicht) xuất ra (ausgeben) một biên lai (beleg) và bổn phận này phải được thực hiện lập tức (unmittelbar)“, theo nữ phát ngôn viên (Sprecherin) của Bộ Tài Chánh (Finanzministerium) giải thích (erklären). Còn khách hàng có bổn phận phải nhận (Annahme) một tờ biên lai cũng như giữ (aufbewahren) nó thì không có (nicht bestehen). Một cách đơn giản (einfach), người tiêu dùng có thể để lại (liegen lassen) tờ biên lai trong cửa hàng.

Ví dụ (beispielweise) khác hơn (anders) ở bên Áo (Österreich) rằng, ở đó (dort) theo bộ tài chánh Áo thì khách hàng phải cầm theo tờ biên lai cho đến khi (bis) ra khỏi (außerhalb) cửa hàng (Geschäftsraum). Đại diện (Vertreter) các cơ quan thuế vụ (Abgabenbehörde) được phép kiểm tra (kontrollieren) sự chấp hành (Einhaltung). Tuy nhiên (aber), người mua (Einkaufende) không phải bị phạt tiền (Bußgeld), khi họ để lại tờ biên lai trong cửa hàng.

Tin dpa, hình Jan Woitas/zb/dpa © dpa

Xem (691)