» » Tin Đức Quốc tháng 11.2019

Tin Đức Quốc tháng 11.2019

Mục Hội PTVNTN

Thứ bảy ngày 30.11.2019

Bảo hiểm hưu trí chỉ yêu cầu việc trả tiền bằng văn bản. 

Mọi yêu cầu (Aufforderung) từ nhà chức trách (Behörde) và các cơ quan công quyền (öffentliche Stelle) làm cho người ta mau (schnell) hồi hộp lo lắng (nervös). Tuy nhiên, những người hưu trí (Rentner) không nên bất an (verunsichern) vì những cú điện thoại (Anruf) của bảo hiểm hưu trí Đức (Deutsche Rentenversicherung, viết tắt là DRV).

Bất kể (egal) những gì người gọi đến (Anrufer) quả quyết (behaupten), thì việc cắt giảm tiền hưu (Rentenverkürzung) cũng không được công bố (ankündigen) qua điện thoại (nicht telefonisch). Bảo hiểm hưu trí Đức cảnh báo (warnen) về những kẻ lừa đảo (Trickbetrüger). Họ yêu cầu (auffordern) người hưu trí ví dụ (beispielweise) qua điện thoại rằng, phải chuyển (überweisen) tiền (Geld) vào một tài khoản lạ (fremdes Konto). Trong trường hợp, nếu không làm theo như vậy, thì bị đe dọa (drohen) rằng, sẽ bị xiết tiền hưu (Rentenpfändung), bị cắt giảm tiền hưu (Rentenverkürzung) hoặc bị nhiều điều bất lợi (Nachteil) khác. Tuy nhiên (allerdings), liên quan đến việc trả tiền, DRV luôn luôn (immer) yêu cầu bằng văn bản (schriftlich), theo sự lưu ý (Hinweis) của DRV. Do đó, không nên chuyển tiền qua sự yêu cầu bằng điện thoại.

Kẻ lừa đảo (Betrüger) muốn biết (abfragen) những dữ kiện của tài khoản (Kontodaten).

Để cảnh báo một trò lừa đảo (Masche) khác, DRV đã thực hiện một quyển sách nhỏ (Broschüre) có thể tải xuống (herunterladen) từ trang nhà (Homepage) của DRV hoặc đặt (bestellen) qua điện thoại. Những kẻ lừa đảo giả vờ (vorgeben) trên điện thoại rằng máy vi tính (Computer) không sử dụng được (ausfallen) hoặc các khoản tiền hưu trí (Rentenbeitrag) phải chuyển hoàn trả lại (zurücküberweisen). Cho nên họ hỏi (fragen) mọi dữ liệu về tài khoản của người hưu trí.

Tuy nhiên, những điều này cũng được DRV xử lý chỉ bằng văn bản. Nhân viên (Mitarbeiter), chỉ gọi điện thoại trong trường hợp ngoại lệ (ausnahmsweise), chẳng hạn (etwa) khi đơn mới vừa (vor kurzem) nộp (Antrag stellen) và người nộp đơn có cho biết (angeben) số điện thoại (Telefonnummer) để truy vấn (Rückfragen) khi cần thiết liên quan đến đơn. Người được điện thoại (Angerufene) không nên tiết lộ (preis geben) thông tin cá nhân (persönliche Daten) và trong trường hợp hoài nghi (im Zweifelsfall) hãy ngưng cuộc nói chuyện (Telefonat beenden). Người ta có thể liên hệ với bảo hiểm hưu trí qua số dịch vụ miễn phí (kostenlose Servicenummer) 0800 1000 4800 để tìm hiểu, nếu có những thắc mắc liên quan đến việc hưu trí của họ.

Tin dpa, hình Julian Stratenschulte/dpa ©

Thứ sáu ngày 29.11.2019

Nhầm lẫn về phán quyết Hartz-IV: Cắt giảm hơn 30 phần trăm? 

Có sự nhầm lẫn (Verwirrung) liên quan đến việc thực thi (Umsetzung) phán quyết (Urteil) của Karlsruhe về Hartz-IV: Bộ Xã Hội Đức (Bundessozialministerium) đã nhấn mạnh (betonen) rằng sự tài trợ (Leistung) cho những người nhận (Empfänger) Hartz-IV không được phép cắt giảm (kürzen) hơn (mehr als) 30 phần trăm.

Trước đó (zuvor), tờ “Süddeutsche Zeitung” và Mạng Biên Tập Đức Quốc (Redaktionsnetzwerk Deutschland, viết tắt là RND) đã tường thuật (berichten) rằng, một dự thảo (Entwurf) của Bộ Lao Động (Arbeitsministerium) hiện nay (derzeit) được nhiều cơ quan khác nhau (verschiedene Stelle) tư vấn (beraten) nội bộ (intern) về dự kiến (vorsehen) cắt giảm vượt quá mức (Grenze) được tòa án hiến pháp (Verfassungsgericht) quy định.

Tòa án (Gericht) đã giải thích (erklären) rằng, sự cắt giảm mạnh (starke Kürzung) vào đầu tháng (Anfang des Monats) không phù hợp (unvereinbar) với hiến pháp (Grundgesetz). Tuy nhiên (aber), việc cắt giảm (Abstriche) đến (bis zu) mức 30 phần trăm trên nguyên tắc (im Grundsatz) vẫn được phép (erlauben) tiếp tục (weiter). Theo (laut) các bài tường thuật của những cơ quan truyền thông (Medienbericht) thì việc cắt giảm mức sống tối thiểu (Existenzminimum) hơn 30 phần trăm vẫn có thể (möglich). Các biện pháp trừng phạt khác (verschiedene Sanktion) cũng có thể được tính chung vào (zusammenzählen) dễ dàng (einfach).

Bộ (Ministerium) của ông Hubertus Heil (SPD) sau đó (daraufhin) thông báo (mitteilen) rằng, ông bộ trưởng (Minister) không đồng ý cho phép trừng phạt trong tương lai (künftig) hơn 30 phần trăm nội trong vòng (innerhalb) một tháng. Một chỉ thị tương ứng (dementsprechende Weisung) sẽ được ban hành (ergehen) vào ngày thứ sáu (Freitag).

Công đoàn (Gewerkschaft) Verdi đã yêu cầu (Verdi) rằng, mức sống tối thiểu trong tương lai không được một biện pháp quy định (Maßregelung) nào mó đến (frei bleiben). Đảng Xanh (Grüne) yêu cầu hủy toàn bộ (Komplett-Abschaffung) tất cả biện pháp trừng phạt, theo RND tường thuật. Hiệp Hội Từ Thiện (Paritätischer Wohlfahrtsverband) hoan nghênh (begrüßen) việc từ chối (Absage) cắt giảm hơn 30 phần trăm theo quy chuẩn (Regelsatz). Cũng như (ebenso) những tuyên bố rõ ràng (klare Aussage) của ông bộ trưởng bây giở (nun) nên cần thiết (nötig) đặt vấn đề (zur Frage) về quy định những trường hợp khó khăn (Härtefallregelung) không còn thắt chặt (großzügig) và thật sự (überhaupt) được phép trừng phạt bao lâu (wie lange).

Tin dpa, hình  Ralf Hirschberger/zb/dpa ©

Thứ năm ngày 28.11.2010

Hơn 50.000 người hưu trí lần đầu tiên phải đóng thuế năm 2020. 

Do (durch) việc tăng tiền hưu trí (Rentenerhöhung) vào tháng bảy (Juli) năm tới nên dự kiến (voraussichtlich) sẽ có khoảng (rund) 51.000 người hưu trí (Rentner) lần đầu tiên (ertsmal) phải đóng (zahlen) thuế (Steuer). Như vậy (demnach), đến năm 2020 tổng cộng (insgesamt) có khoảng 5,12 triệu người cao niên (Senioren) phải đóng thuế (steuerpflichtig) – gần (fast) một trong bốn người hưu trí.

Trích sự trả lời (Antwort) của Bộ Tài Chánh Đức (Bundesfinanzministerium) về thắc mắc (Anfrage) của chuyên gia hưu trí (Rentenexpert) thuộc đảng Tả khuynh (Linke), ông Matthias W. Birkwald, và được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) tại Berlin biết đến (vorliegen). Mạng biên tập (Redaktionsnetzwerk) Đức, viết tắt là RND, hôm qua thứ tư (Mittwoch) đã tường thuật (berichten) trước tiên (zuerst) về sự việc này. Theo dự báo chính thức tạm thời (vorläufige offizielle Prognose), tiền hưu (Rente) có thể tăng (steigen) kể từ 01.07.2020 ở Tây Đức (Westdeutschland) khoảng 3,15 phần trăm và ở Đông Đức (Ostdeutschland) chừng 3,92 phần trăm. Thuế phải đóng, khi tổng thu nhập (Gesamteinkünfte) của một người hưu trí vượt (über) quá khoản căn bản miễn thuế (Grundfreibetrag) – năm 2020 là 9408 Euro.

Số người hưu trí phải đóng thuế (steuerpflichtige Rentner) tăng liên tục (kontinuierlich). Đến năm 2005, vẫn còn áp dụng khoản miễn thuế (Freibetrag) là 50 phần trăm tiền hưu từ thuế lợi tức (Einkommensteuer). Kể từ đó (seitdem), phần phải đóng thuế (Besteuerungsanteil) của tiền hưu trí trước tiên (zunächst) đã tăng hàng năm (jährlich) hai (zwei) phần trăm. Cho đến năm nay, khoản miễn thuế giảm (sinken) 22 phần trăm. Bất cứ ai nghỉ hưu (in die Rente gehen) năm 2040 phải đóng thuế toàn bộ mọi thu nhập tiền hưu (gesamte Renteneinkünfte). Ngược lại (im Gegenzug), kể từ 2005, các khoản tiền hưu có thể khấu trừ (abziehen) thuế ngày càng nhiều (mehr und mehr) từ thu nhập phải đóng thuế (steuerpflichtges Einkommen). Đến năm 2025, các khoản đóng đóng góp cho việc thiết lập (Aufbau) chăm sóc tuổi già (Alterversorgung) sẽ được miễn thuế (steuerfrei).

Ông Birkwald đòi hỏi (fordern) thêm việc nâng (Anhebung) khoản căn bản miễn thuế lên 12.600 Euro. Ông nói (sagen) rằng: “Tiền hưu thấp (niedrige Rente) phải được miễn thuế”

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger/zb/dpa ©

Thứ tư ngày 27.11.2019

Số lượng sinh viên cao nhất.

Số lượng (Zahl) sinh viên (Student) tại các trường cao học (Hochschule) Đức đạt (erreichen) con số mới cao nhất (neuer Höchststand) hiện nay (derzeit). Cho học kỳ mới nhất (aktuelles Semester) có 2.897.300 nam (Männer) và nữ (Frauen) ghi danh (einschreiben).

Như vậy có một (eins) phần trăm nhiều hơn (mehr als) năm ngoái và chừng (rund) 37 phần trăm nhiều hơn mười (zehn) năm trước. Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) tại Wiesbaden đã thông báo (mitteilen) hôm nay thứ tư (Mittwoch). Đồng thời (zugleich), số sinh viên bắt đầu (Studienanfänger) năm thứ hai giảm (zurückgehen) nhẹ (leicht).

Nói chung (insgesamt), trong năm nay đã có 508.200 người bắt đầu (starten) học cao học (Studium) – khóa mùa hè (Sommersemester) 2019 và mùa đông (Wintersemester) 2019/2020, giảm (Rückgang) 0,7 phần trăm.

Tin dpa, hình Julian Stratenschulte/dpa © 

Thứ ba ngày 26.11.2019
Cục Bảo Vệ Phát Minh cảnh báo chống thư giả mạo.

Biểu tượng (Logo) giống nhau (gleich), thư (Brief) được ký tên (unterschreiben) – tuy nhiên (trotzdem) yêu cầu thanh toán tiền (Zahlungsaufforderung) không đúng (falsch). Những tên lừa đảo (Betrüger) giả dạng (sich ausgeben) là đại diện (Vertreter) của Cục Bảo Vệ Phát Minh và Thương Hiệu Đức (Deutsches Patent- und Markenamt, viết tắt là DPMA).

Chủ sở hữu thương hiệu (Markeninhaber) và công dân không liên hệ (unbeteiligte Bürger) phải coi chừng (aufpassen) mọi mưu mô lừa đảo (Betrugsversuchen) trong thời điểm này (derzeit). Cục DPMA lưu ý (hinweisen) rằng, có nhiều hóa đơn giả (gefälschte Rechnung) cho việc đăng ký thương hiệu (Markeneintragung) đã được gửi (versenden) qua đường bưu điện.

Người nhận (Empfänger) trong mọi trường hợp (auf keinen Fall) tuệt đối (absolut) không chuyển (überweisen) khoản tiền đòi thanh toán (geforderte Summe) này. Sau khi đăng ky thương hiệu (Markenanmeldung), Cục DPMA gửi thông báo việc chuyển phí (Gebühr) chỉ một lần (einmalig). Đối với việc chuyển tiền, người đăng ký (Anmelder) tự (selbst) chịu trách nhiệm (verantworten) thanh toán và không có sự yêu cầu nào nữa như các trường hợp lừa đảo (Betrugsfall).

Giữa (zwischen) trưa thứ ba (Dienstagmittag) và sáng thứ sáu (Freitagmorgen), ngày 22.11.2019, Cục này cho biết đã nhận (erhalten) khoảng (rund) 1.300 thư thắc mắc (Briefsanfragen) sử dụng (verwenden) Logo của DPMA và yêu cầu trả (zahlen) một số tiền (bestimmte Summe) vào những tài khoản nuớc ngoài (ausländische Konten). Điều này có thể nhận biết (erkennen) qua mã số quốc gia (Länderkürzel) trong IBAN. Cục DPMA chỉ yêu cầu chuyển tiền qua tài khoản của Quỹ Quốc Gia (Bundeskasse) với IBAN: DE84 7000 0000 0070 0010 54, không liên hệ gì đến các ngân hàng khác.

Theo phát ngôn viên (Sprecher) của Cục DPMA cho biết, những người bị liên lụy (Betroffene) có thể là những người thật sự (tatsächlich) có đăng ký nhãn hiệu (Marken), cũng như người dân mang tên (heißen) giống (gleich) hay tương tự (ähnlich) người sở hữu thương hiệu. Do đó (deshalb), người ta cho rằng, sự lừa đảo (Betrügerei) được sao chép (Kopie) tên họ (Namen) có thể truy cập (zugänglich) từ bộ đăng ký thương hiệu công khai (öffentlicher Markenregister). Những ai nhận được loại thư như vậy có thể liên hệ (sich wenden) với các trung tâm (Zentrale) dịch vụ khách hàng (Kundenservice) của Cục DPMA.

Tin dpa, hình Martin Schutt/dpa-Zentralbild/dpa-tmn ©

Thứ hai ngày 25.11.2019
Nhiều trường hợp tự tử trong các trại giam của Đức.

Theo một thống kê (Statistik), tỷ lệ tự tử (Suizidraten) tronng các trại giam (Gefängnis) của Pháp (Frankreich), Đức (Deutsch) và Áo quốc (Österrecih) rõ ràng (deutlich) cao hơn (höher) so với mức trung bình (Durchschnitt) của EU. Phải chăng việc hỗ trợ tâm lý và tinh thần (psychologische und seelsorgerische Unterstützung) vẫn chưa đủ (nicht ausreichen)?

Con số (Zahl) những trường hợp tự tử (Suizid-Fall) trong các nhà giam (Haftanstalt) Đức tăng (steigen). Câu trả lời (Antwort) của chính phủ Đức (Bundesregierung) về thắc mắc (Anfrage) của đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion) trong quốc hội (Bundestag) cho thấy trong số 173 người chết (sterben) trong nhà giam (Justizvollzug) năm 2017, có 82 người tự tử (Selbsttötung). Quá nhiều người tự tử (Suizide) trong tù kể từ năm 2015. Năm 2018 chưa có con số chính thức.

Sự gia tăng (Anstieg) cũng có thể nhận thấy (feststellen), khi số lượng người bị giam (Inhaftierte) được quan tâm (berücksichtigen) đến. Năm 2017 có trung bình 64.063 người bị giam trong các trại tù. Năm 2015 có 58.836 tù nhân (Häftlinge), năm 2005 trung bình có 72.146 người bị ngồi tù (in Haft sitzen).

Con số tự tử trong tù cao có thể do “sự xấu hổ“ (Schande), theo nữ phát ngôn viên nội chính (innenpolitische Sprecherin) thuộc đảng khối Tả khuynh, bà Ulla Jelpke. „Khi các tù nhân (Gefangene) có một cái chết không bình thường (unnatürlicher Tod), thì hiếm khi (selten) do một hành vi sai lầm của con người (menschliches Fehlverhalten) gây ra: Thông thường (häufig) nguy cơ tự tử cấp tính (akute Suizidgefährdung) của tù nhân không được công nhận (erkennen), sự chăm sóc tâm lý và tinh thần (psychologische und seelsorgerische Versorgung) kém (schlecht)“, bà nói thêm (hinzufügen). Theo chính phủ Đức, trong năm 2018 toàn quốc (bundesweit) có khoảng 850 nhân viên (Mitarbeiter) dịch vụ tâm lý và xã hội (psychologischer und soziologischer Dienst) cũng như khoảng 280 nhân viên dịch vụ tinh thần (seesorgerischer Dienst) cho trung bình một năm với khoảng (etwa) 64.000 tù nhân.

Theo một thống kê của hội đồng Âu châu (Europarat), tỷ lệ tự tử trong các nhà giam ở Pháp, Đức và Áo quốc rõ ràng cao hơn so với mức trung bình của các quốc gia thành viên (Mitgliedstaaten). Năm 2016 trong nước Đức có 11,8 vụ tự tử trên 10.000 tù nhân, nhiều hơn (mehr als) gấp đôi (doppelt so viel) so với mức trung bình của tất cả 47 thành viên với 5,5 vụ

Tin dpa và hình Felix Kästle/dpa ©

Thứ bảy ngày 23.11.2019
Bác sĩ nên cung cấp tư vấn video

Ai bị bệnh (krank sein) trên nguyên tắc (in der Regel) đếu tìm đến bác sĩ (Arzt). Theo công ty bảo hiểm sức khỏe (Krankenkasse) Techniker, thì trong tương lai cũng sẽ có dịch vụ tư vấn y tế bằng video.

„Vì sao một bệnh nhân (Patient) bị nhiễm trùng đường ruột (Magen-Darm-Infekt) phải đến bác sĩ chỉ (nur) để nhận (erhalten) giấy chứng nhận không thể lao động (Arbeitsunfähigkeitsbescheinigung)? Họ chỉ lây bệnh (anstecken) cho những bệnh nhân khác trong phòng chờ đợi (Wartezimmer)“, theo ông Jens Baas, giám đốc công ty bảo hiểm sức khỏe (Kassenchef) này nói (sagen) với tờ „Rheinische Post“. Trong những trường hợp như vậy (solcher Fall), thì tư vấn qua video (Videosprechstunde) là sự bổ sung hữu ích (sinnvolle Altenative) cho việc đến phòng khám bệnh (Praxisbesuch).

Cho đến nay (bislang), các bác sĩ đã sử dụng (nutzen) điện thoại, để tham khảo ý kiến (hinzuziehen) các chuyên gia (Spezialist) về các loại nhiễm trùng lạ lùng (exotische Infektion), theo ông. „Nhưng ước muốn (wünschenswert) vẫn là, khi có nhiều phòng khám bệnh hơn cung cấp (anbieten) tư vấn video“, ông nói. Nhưng ông từ chối (ablehnen) việc trả thêm thù lao (extra Vergütung). Việc tư vấn bằng video rốt cuộc (schließlich) sẽ giảm gánh nặng (entlasten) các phòng chờ đợi. „Số hóa (Digitalieierung) không phải là một gánh nặng (Last), mà (sondern) ngược lại (im Gegenteil) là một sự giảm gánh nặng (Entlastung).“

Vài tuần trước đây (vor wenigen Wochen), hiệp hội hàng đầu (Spitzenverband) các công ty bảo hiểm sức khỏe theo luật định (gesetzliche Krankenkasse) đã yêu cầu (auffordern) các bác sĩ nên cung cấp giờ tư vấn linh hoạt hơn (flexiblere Sprechstunden). Cuộc sống thật sự (Lebenswirklichkeit) của nhiều người trong nhiều thập niên qua (vergangene Jahrzehnte) đã thay đổi (ändern) hoàn toàn (komplet). Họ mua sắm (einkaufen) trực tuyến (online), làm việc di động (mobil arbeiten), dịch vụ suốt ngày đêm (Rund-um-die-Uhr-Service) trong nhiều ngành nghề (Berufsbranche) đã trở thành điều tất nhiên (selbstverständlich). Tuy nhiên (allerdings), các bác sĩ đã không thích nghi (sich einstellen) tình huống (Situation).

Tin dpa, hình Patrick Seeger/dpa ©

Thứ sáu ngày 22.11.2019
Các lãnh tụ đảng CDU chống đội khăn trùm đầu ngay cả đối với các bé gái.

Tại đại hội đảng (Parteitag), đảng CDU muốn đề cập đến (sprechen) những phụ nữ Hồi Giáo (Muslima) đã đội (tragen) khăn trùm đầu (Kopftuch) khi còn là con gái (Mädchen). Các lãnh tụ đảng (Parteispitze) cũng phản đối (sich dagegen aussprechen) điều này. Do đó (demnach) điều có thể nghĩ đến (denkbar) thậm chí (sogar) là cấm (Verbot) luôn.

Những cô gái Hồi Giáo không nên đội khăn trùm đầu ở trường tiểu học (Grundschule) và mẫu giáo (Kita) theo quan điểm (Sicht) của các lãnh tụ đảng CDU.

“Việc đội khăn trùm đầu làm cho những trẻ nhỏ (kleine KInder) dễ nhận biết (schon erkennbar) như là người ngoài cuộc (Außenseiter) chẳng hạn (etwa) trong sân chơi (Spielplatz) hoặc (oder) trong sân trường (Schulhof). Chúng tôi muốn ngăn chận (verhindern) điều này bằng mọi cách (in jedem Fall)”, trích đề nghị quyết định (Beschlussempfehlung) của ủy ban đề xuất (Antragskommission) gửi đến đại hội đảng CDU diễn ra tại Leipzig trong hai ngày thứ sáu (Freitag) và thứ bảy (Samstag). Chủ yếu (vor allem) là đảng CDU đặt (setzen) trên niềm tin (Überzeugung) của phụ huynh (Eltern). “Tuy nhiên (allerdings), chúng tôi không từ bỏ việc cấm đoán như là giải pháp cuối cùng (letztmögliche Maßnahme)”, trích dẫn. Trước đó (zuvor), tờ Handelsblatt (Thương Mại) đã tường thuật (berichten) việc này.

Việc sắp xếp (Formulierung) của ủy đề xuất làm suy giảm (abschwächen) một đề nghị của một hiệp hội cấp quận (Bezirksverband) thuộc Liên Hiệp Người Cao Niên (Senioren-Union). Hiệp hội này đã yêu cầu (auffordern) các đảng khối (Fraktion) CDU trong quốc hội các tiểu bang (Lantag), các tổ chức quần chúng (Bürgerschaft) và quốc hội hay hạ viện (Abgeordnetenhaus) tại Berlin về việc thực hiện (einführen) lệnh cấm trùm khăn theo luật định (gesetzliches Kopftuchverbot) trong các trường học (Schule).

Câu hỏi đặt ra là (fraglich), liệu (ob) khăn trùm đầu cho nữ học sinh (Schülerin) trong nước Đức có được phép cấm (verbieten) hay không. Dịch Vụ Khoa Học (Wissenschaftlicher Diesnt) của quốc hội (Bundestag) đã đi đến một kết quả (Ergebnis) trong năm 2017 rằng, điều này theo luật hiến pháp (verfassungsrechtlich) “hoàn toàn không được” (wohl nicht zulässig) và căn cứ (sich beziehen) vào sự tuyên luật (Rechtsprechung) của tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) đối với những cô giáo (Lehrerin) đội khăn trùm đầu.

Tin dpa, hình Bernd Thissen/dpa ©

Thứ năm ngày 21.11.2019
Thuốc kháng sinh không phải lúc nào cũng phải dùng hết cả gói.

Thuốc kháng sinh (Antibiotika) là một vũ khí thật sự thần kỳ (echte Wunderwaffe). Tuy nhiên (allerdings), chỉ (nur) khi chúng được sử dụng (einsetzen) và uống (einnehmen) đúng (richtig). Do đó (daher), bệnh nhân (Patient) cần phải chú ý (aufpassen) chính xác (genau) những gì bác sĩ (Arzt) kê đơn (verschreiben).

Bất cứ ai cùng thuốc kháng sinh cũng phải luôn (immer) tuân thủ (sich halten) nghiêm ngặt (genau) những chỉ dẫn (Anweisung) của bác sĩ. Điều quan trọng (Wichtiges) ví dụ (zum Beispiel) là thuốc phải uống hết (so lange) theo toa (Rezept) – và không ngưng (aufhören) trước đó (vorher), ngay cả (auch wenn) khi căn bệnh (Beschwerden) đã được cải thiện (besser).

Nhưng (aber) bệnh nhân không phải lúc nào (auch nicht immer) cũng phải uống hết cả gói (Packung), theo Tổ Chức Đức về Truyền Nhiễm Học (Deutsche Gesellschaft für Infektologie, viết tắt là DGI) giải thích (erklären). Ngay thuốc kháng sinh cũng có những quy tắc tương tự (selbe Regel) như các loại thuốc (Medikament) khác. Nghĩa là: Lâu khi cần thiết (so lange wie nötig), nhưng càng ngắn càng tốt (so kurz wie möglich). Đối với vài căn bệnh (Erkrankung) chỉ cần uống kháng sinh trong một thời gian ngắn, chẳng hạn (etwa) nhiễm đường tiểu (Harnwegsinfektion) đôi khi (manchmal) chỉ cần một ngày (nur ein Tag).

Nhưng không bao giờ (aber niemals) tự ý (eigenmächtig) ngưng (absetzen) dùng thuốc kháng sinh đột ngột (abrupt). Bênh nhân nên hỏi ý kiến (Rat) của bác sĩ và báo cho họ biết khi triệu chứng (Symptom) đã dứt (verschwinden) trước khi kết thúc thời gian sử dụng (Einnahmedauer).

Hiệp hội DGI phàn nàn (klagen) rằng, thậm chí (sogar) có nhiều huyền thoại (Mytho) và hiểu lầm (Missverständnis) về thuốc kháng sinh, chẳng hạn kháng sinh phục vụ tốt ở một số bệnh (Krankheit) hoặc thậm chí có thể cứu mạng (lebensrettend). Tuy nhiên, điều này chỉ có giá trị (gelten) đối với sự nhiễm trùng bởi vi khuẩn (bakterielle Infektion). Còn đối với nhiễm virus (Virusinfektion) như cúm (Grippe) hay cảm lạnh (Erkältung) thì chúng chẳng giúp (helfen) được gì cả (gar nichts) – cho dù nhiều bệnh nhân vẫn (noch) tin (glauben) điều này.

Dù biết như vậy, nhưng bác sĩ vẫn kê toa thuốc kháng sinh trong một số trường hợp (Fall) khi bệnh cúm làm suy yếu (schwächen) hệ miễn dịch và có thể dẫn đến viêm phổi (Lungenentzündung) bởi nhiễm vi khuẩn.

Tin và hình dpa

Thứ ba ngày 19.11.2019
Thời gian và hiện vật quyên góp có thể khấu trừ thuế như dạng chi tiêu đặc biệt.

Trong lễ hội của hội đoàn hay câu lạc bộ (Vereinsfest) luôn được kêu gọi (Aufruf) giúp đỡ (mithelfen) tích cực (tatkräftig). Những người khác có thể sử dụng (nutzen) tốt hơn (besser) những đồ vật của trẻ em không dùng tới (abgelegte Kindersachen). Mức quyên góp (Spenden) như vậy có thể khai thuế (steurlich geltend machen) như thế nào (wie) thì tùy vào (sich richten) từng trường hợp (Einzelfall).

Làm đồ thủ công (basteln) cho hội chợ mùa thu (Herbstmarkt) của một câu lạc bộ thể thao (Sportverein), tự nguyện (ehrenamtlich) rót (ausschenken) nước uống (Getränke) cho một lễ hội mùa đông (Winterfest) . Sự quyên góp thời gian và vật chất (Zeit- und Sachspenden) cũng có thể khai báo khấu trừ thuế (Steuererklärung absetzen). Quan trọng (wichtig) là việc xác định (ermitteln) được trị giá (Wert) của nó, Cục Tư Vấn Thuế Liên Bang (Bundessteuerberaterkammer) giải thích (erklären).

Người đóng thuế (Steuerpflichtige) muốn khấu trừ thuế những sự giúp đỡ không vụ lợi (unentgeltliche Hilfe) cho một tổ chức có đặc quyền thuế (steuerbegünstigte Organisation), thì ngay từ đầu (im Vorfeld) nên thoả thuận (vereinbaren) về thù lao (Vergütung) bằng văn kiện (schriftlich), theo lời khuyên (Rat) của cơ quan. Rồi (dann) sau này (später) sẽ từ chối (verzichten) số tiền (Geld) ấy. Khoản thù lao không thanh toán (nicht gezahlte Vergütung) được kể như là khoản quyên góp (Spendenbetrag).

Sự quyên góp bằng hiện vật (Sachspenden) được tính theo giá thị trường (Marktwert).

Ngược lại (dagegen), đối với hiện vật quyên góp có thể được tính theo gía trị trường. Nếu là một món đồ (Gegenstand) mới (neu), nó sẽ tuơng ứng (entsprechen) giá mua (Kaufpreis). Trái lại, việc quyên tặng một chiếc túi ngủ đã sử dụng (gebrauchter Schlafsack) hoặc (oder) những con thú ôm ấp cũ (alte Kuscheltiere) thì phải tìm hiểu (fonden) giá cả có thể bán được. Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào loại (Art) đồ vật, tình trạng (Zustand) và chủ yếu (vor allem) là nhu cầu (Nachfrage) của món đồ.

Trên nguyên tắc (grundsätzlich), ty tài chánh (Finanzamt) không đòi hỏi (verlangen) một biên lai quyên góp (Spendenquittung) cho sự quyên góp cho một tổ chức phi lợi nhuận (gemeinnützige Organisation) lên đến (bis) 200 Euro . Tuy nhiên, ty tài chánh cũng có thể yêu cầu (anfordern) xuất trình (vorlegen) bằng chứng (Nachweis) bất cứ lúc nào (jederzeit). Những chứng nhận quyên góp (Zuwendungsbestätigung) và bằng chứng yêu cầu xuất trình, theo cục tư vấn thuế liên bang lưu ý (hinweisen), phải được người đóng thuế giữ lại (aufbewahren) cho đến hết cuối năm (Ende des Jahres) sau (nach) khi có thông báo (Bekanntgabe) về quyết định việc đánh thuế (Steuerbescheid) của ty tài chánh.

Sự quyên góp khai ở dạng chi tiêu đặc biệt (Sonderausgaben) trong việc khấu trừ thuế.

Các loại quyên góp hay đóng góp cho các câu lạc bộ, tổ chức có đặc quyền thuế và phi lợi nhuận có thể lên đến (bis zu) 20 phần trăm tổng thu nhập (gesamte Einkünfte) và có thể được xem là những chi tiêu đặc biệt cho việc khai báo khấu trừ thuế. Đôi bên (Parteien) đặc biệc (besonders) được ưu đãi (begünstigen). Ngoài ra (außerdem), những tình nguyện viên (Ehrenamtliche) cũng có thể nhận (erhalten) như công việc phụ (nebenberufliche Tätigkeit) cho một cơ sở phi lợi nhuận (gemeinnützige Einrichtung) một khoản thù lao đến 720 Euro mà không phải (ohne) đóng thuế hoặc các chi phí an sinh xã hội (Sozialabgaben) nào cả.

Tin và hình dpa©

Chủ nhật ngày 17.11.2019
Kinh doanh không tự động đồng nghĩa với nghề tự lập

Đối với người lao động không tự lập (nicht selbstständige Arbeitnehmer), chủ nhân (Arbeitgeber) phải đóng (entrichten) những khoản (Beitrag) bảo hiểm và thuế. Điều này cũng áp dụng (gelten) cho dù (auch wenn) những công nhân này đã đăng ký (anmelden) kinh doanh (Gewerbe) và không tự mình (eigene Faust) làm việc (arbeiten).

Công việc (Tätigkeit) như là nữ kế toán lương (Lohnbuchhalterin) có thể là một việc làm bị lệ thuộc (abhängige Beschäftigung) – cho dù người này đã tự (selbst) đăng ký (anmelden) kinh doanh (Gewerbe). Như vậy (damit), người này cũng phải có bổn phận đóng bảo hiểm (Versicherungspflicht) an sinh xã hội theo luật định (gesetzliche Soziamversicherung). Trích từ quyết định (Entscheidung) của tòa án xã hội (Sozialgericht) tại Dortmund.

Một trường hợp cụ thể (konkreter Fall) với hồ sơ thụ lý số Az.: S 34 BA 68/18; được nhóm luật xã hội (Sozialrecht) thuộc Luật sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) dẫn chứng (verweisen), liên quan đến một nữ kế toán lương đã đăng ký kinh doanh trong năm 2005. Ban đầu (zu Beginn), bà làm kế toán lương và tài chánh (Lhon- und Finanzbuchhaltung) cho nhiều khách hàng khác nhau (verschiedene Auftraggeber).

Hành nghề tự lập (selbsständiger Beruf) được trả một khoản tiền chung (Pauschalbetrag).

Kể từ (seit) 2008, bà làm 35 giờ (Stunde) mỗi tháng (pro Monat) cho một công ty (Unternehmen) và đã nhận (erhalten) cho công việc này một khoản tiền chung mỗi tháng là 2000 Euro. Bà giải quyết (erledigen) nhiệm vụ (Aufgabe) của mình chủ yếu (hauptsächlich) trong các gian phòng (Raum) của công ty và sử dụng (nutzen) phần mềm về lương bổng (Lohnprogramm) của công ty này. Bà không phải trả tiền mướn (Miete) văn phòng (Büro), nhưng không bị ràng buộc (nicht binden) về giờ làm việc (Arbeitszeit).

Quan điểm (Meinung) của bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherung) cho rằng, đây là một công việc bị phụ thuộc và đòi hỏi (verlangen) bà phải đóng những khoản tiền tương ứng (entsprechende Beiträge) cho bảo hiểm an sinh xã hội theo luật định. Vụ kiện (Klage) chống lại bảo hiểm hưu trí đã không thành công (erfolglos). Theo tòa án (Gericht), như là nữ kế toán lương không phải là việc làm tự lập (selbstständige Tätigkeit). Hơn nữa (vielmehr), kể từ năm 2008 bà đã làm một công việc bị phụ thuộc (abhängig beschäftigt) rồi.

Bởi vì (denn) người phụ nữ (Frau) này đã trực thuộc (eingliedern) vào sự tổ chức lao động (Arbeitsorganisation) của công ty, ví dụ (zum Beispiel) qua hệ thống vi tính (Computersystem) và các thiết bị làm việc (Arbeitsmittel) khác của công ty. Cũng như bà cùng làm việc (zusammenarbeiten) giải quyết nhiệm vụ của mình cùng với những nhân viên (Mitarbeiter) khác của công ty. Đồng thời (zudem), bà đã bị lệ thuộc vào các chỉ thị (Weisung) của công ty.

Thật ra (zwar) không hề (kaum) có những chỉ thị riêng (Einzelanweisung) nào, bà đã làm việc chủ yếu (weitesgehend) độc lập (eigenständig), nhưng điều này không thể đánh giá (Bewertung) khác được, theo tòa án. Chính (gerade) các việc làm có trình độ cao (höhe qualifierte Tätigkeit) không diễn đạt (sprechen) được tính chất tự do căn bản không chỉ thị (grunsätzliche Weisungfreiheit) của nhân viên (Beschäftigte) đối với một việc làm bị lệ thuộc (abhängige Beschäftigung).

Việc người này chỉ (nur) làm việc bán thời gian (Teilzeit) cho công ty và ngoài ra (darüberhinaus) còn làm những công việc khác (Job) cho nhiều khách hàng khác, điều này không liên can (ohne Belang). Vấn đề đặt ra là, sự đánh giá chỉ riêng (allein) đối với công việc hiện tại (vorliegende Tätigkeit) bà đang làm.

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ bảy ngày 16.11.2019
Ảnh hưởng việc làm ở tuổi già.

Cho dù đó là niềm vui (Freude) làm việc (Tätigkeit) hay vì nhu cầu tài chánh (finanzielle Notwendigkeit), người hưu trí (Rentner) tiếp tục làm việc (weiter arbeiten) thì cũng nên nghĩ đến (denken) những ảnh hưởng (Auswirkung) liên quan đến luật thuế (Steuerrecht) và luật bảo hiểm an sinh (Sozialversicherungsrecht).

Một số người có hứng thú (Lust) truyền đạt tiếp tục (weitergeben) kiến thức chuyên môn nghề nghiệp (berufliche Fachwissen) của họ, những người khác muốn cải thiện (aufbessern) tiền hưu (Rente) của mình. Cho dù người hưu trí hiện giờ (nun) theo đuổi (nachgehen) tiếp tục một công việc (Weiterbeschäftigung) hoặc một việc làm phụ (Nebenjob), trong cả hai trường hợp (Fall), họ cũng phải nghĩ đến những ảnh hưởng của thuế và bảo hiểm an sinh theo luật định đối với công việc làm của họ.

Những giới hạn pháp lý (gesetzliche Grenze) có thể hạn chế (beschränken) mức độ (Höhe) thu nhập thêm (Hinzuverdienst) của họ – tuy nhiên, điều này tùy thuộc (abhängig von) thể loại (Art) tiền hưu trí (Rentenbezug). Cục Tư Vấn Thuế Liên Bang (Bundessteuerberaterkammer) lưu ý (aufmerksam machen).

Theo nguyên tắc (grundsätzlich), những người đã đạt (erreichen) mức tuổi quy định (Regelaltersgrenze) và nhận (beziehen) tiền hưu trí (Altersrente) được phép kiếm thêm thu nhập (dazuverdienen) không giới hạn (unbegrenzt) – mà không bị cắt giảm (kürzen) tiền hưu trí. Mức tuổi quy định này, nghĩa là độ tuổi bắt đầu hưu trí (Renteneintrittsalter) cho quy định tiền hưu trí thay đổi (varieren) tùy theo (je nach) năm sinh (Geburtsjahrgang). Bởi vì tuổi nghỉ hưu chính thức (reguläre Rentenantritt) sẽ được tăng dần (schrittweise) lên 67 tuổi đến năm 2029.

Hãy nghĩ đến việc đóng thuế (Steuer) và các khoản an sinh (Sozialabgaben).

Những người chưa đến độ tuổi nghỉ hưu có bổn phận đóng bảo hiểm an sinh (sozialversicherungspflichtig), khi họ có thu nhập nhiều hơn (mehr als) 450 Euro mỗi tháng (Monat). Tuy nhiên (allerdings), một người hưu trí nhận (annehmen) một công việc nhỏ (Mini-Job) dưới 450 Euro, thì chủ nhân phải trả (zahlen) một khoản chung (Pauschalbetrag) cho bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherung) khoảng 15 phần trăm.

Trong một số trường hợp nào đó (bestimmter Fall), những người hưu trí cũng phải đóng (entrichten) 3,6 phần trăm phần của họ (Eigenanteil) cho bảo hiểm hưu trí – chẳng hạn (etwa) khi họ nhận một phần tiền hưu trí (Teilrente) hoặc nhận tiền hưu đầy đủ (Vollrente) trước khi đạt tuổi nghỉ hưu quy định. Họ có thể miễn (befreien) bổn phận (Pflicht) này trong một số tình huống nhất định (bestimmter Umstand), điều này phải làm đơn (Antrag stellen) nộp cho chủ nhân.

Dù thế nào đi nữa (so oder so), người hưu trí phải ý thức (bewusst) rằng, họ cũng phải thanh toán (zahlen) thuế lợi tức (Einkommensteuer). Tuy nhiên (jedoch), ai đã trong tuổi hưu trí cũng có quyền lợi (in Anspruch nehmen) về khoản trợ cấp tuổi già (Alterentlastungsbetrag) – nghĩa là khoản miễn thuế (Steuerfreibetrag). Người nào cảm thấy chưa chắc chắn (sich unsicher sein) về những quy định như vậy và trong trường hợp còn thắc mắc (Zweifelsfall) thì nên tìm đến một chuyên gia (Fachmann) để được tư vấn (beraten).

Tin dpa, hình Kai Remmers/dpa-tmn ©

Thứ sáu ngày 15.11.2019
Dịch vụ y tế được tách khỏi các công ty bảo hiểm sức khoẻ.

Dịch vụ y tế (medizinsischer Dienst) của các công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenkasse, thường viết tắt là Kasse) đã bị tách ra (abkoppeln). Qua quyết định (Beschluss) của quốc hội Đức (Bundestag) trong đêm (in der Nacht) thứ sáu (Freitag) tuần qua, dịch vụ tư vấn và giám định (Beratungs- und Begutachtungsdienst) sẽ độc lập hơn (unabhängiger) trong tương lai (künftig).

Vì lợi ích (im Sinne) của bệnh nhân (Patient), dịch vụ giám định y tế của các công ty bảo hiểm sức khoẻ (Medizischer Dienst der Krankenkasse, viết tắt là MDK) sẽ độc lập hơn. Do đó (deshalb), quốc hội Đức đã chấm dứt việc giám định (Begutachtung) và kiểm soát (Kontrolle) dịch vụ có thẩm quyền (zuständiger Dienst) này.

Việc đổi tên (Umbennenung) là Dịch Vụ Y Tế (Medizinischer Dienst, viết tắt là MD), cũng kèm theo việc sắp xếp nhân sự (Besetzung) của các hội đồng quản trị (Verwaltungsräte). Trong tương lai (in Zukunft), hội đồng này cũng phải có đại diện (Vertreter) của bệnh nhân, người tiêu thụ (Verbraucher) và những người có nhu cầu điều dưỡng (Pflegebedürftige) hiện diện (präsent).

Dịch vụ y tế của các công ty bảo hiểm sức khoẻ hoạt động (aktivieren) như dịch vụ giám định (Gutachtendienst), ví dụ đưa ý kiến (Stellungnahme) đối với các thắc mắc như những cách điều trị (Behandlung) cần thiết (notwendig) về mặt y tế (medizinisch) và cách nào không. Ngoài ra (außerdem), cơ quan này kiểm tra (prüfen) những lỗi lầm (Fehler) các hóa đơn của bệnh viện (Krankenhausabrechnung) và giám định đánh giá (begutachten) bệnh nhân liên quan đến (hinsichtlich) nhu cầu cần điều dưỡng (Pflegebedürftigkeit) của họ.

Ông Jens Spahn (CDU), bộ trưởng bộ y tế Đức (Bundesgesundheitsminsiter) giải thích (erklären) rằng, việc cải tổ (Reform) này làm cho sự tổ chức (Organistaion) hiệu quả hơn (effektiver), đáng tin cậy hơn (glaubwürdiger) và khả năng xử lý tốt hơn (handlungsfähiger). Vì lẽ, “những nam nữ bệnh nhân cần có sự tin tưởng rằng, dịch vụ y tế kiểm tra hành xử (handeln) trung lập (neutral)”.

Tin dpa, hình Uli Deck/dpa © dpa

Thứ năm ngày 14.11.2019
Chủ nhân có được phép kéo dài thời gian thử việc không?

Những tháng đầu (erste Monate) được xem là (gelten) thời gian thử việc (Probezeit) với hạn nghĩ việc (Kündigungsfrist) của cả đôi bên (beide Seiten). Nhưng giai đoạn (Zeitraum) có thể kéo dài (verlängern) hay không?

Thời gian thử việc được xem là giai đoạn tìm hiểu (Kennenlernphase) để chủ nhân (Arbeitgeber) và công nhân (Arbeitnehmer) có thể tìm hiểu lẫn nhau (gegenseitig), liệu mối quan hệ làm việc (ARbeitsverhältnis) có phù hợp (passen) hay không. Tuy nhiên (jedoch), thời gian thử việc đã được thoả thuận theo hợp đồng (vertraglich vereinbarte Probezeit) có thể được chủ nhân gia hạn hay không?

Câu trả lời (Antwort) đơn giản (einfach) là “không” (nein). “Chủ nhân không thể kéo dài thời gian thử việc khi không có sự đồng ý (Zustimmung) của công nhân”, theo ông Peter Meyer, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Berlin. Các bên (beide Parteien)  có thể tự quyết định (abstimmen). Nếu có sự đồng ý (Einverständnis) của người thợ, thì việc gia hạn (Verlängerung) được bổ sung (Ergänzung) và ghi (festhalten) vào hợp đồng lao động (Arbeitsvertrag).

Luật sự chuyên ngành này nêu (nennen) một ví dụ (Beispiel): Trong hợp đồng lao động của một công ty (Unternehmen) quy định (regeln) thời gian thử việc là ba (drei) tháng (Monat). Một ni74 nhân viên (Mitarbeiterin) vắng mặt (fehlen) trong thời gian này một tháng vì bị bệnh /Krankheit). Do đó (deshalb), chủ nhận chưa thể tìm hiểu rõ nhân viên này nên sau khi nói chuyện với người này, chủ nhân đã gia hạn thêm tối đa (längstens) ba tháng tiếp tục.

Tùy sự chọn lựa (Option), thời gian thử việc cũng có thể kéo dài sáu (sechs) tháng.

Tuy nhiên (aber), khi vượt quá (über) giai đoạn chính thức (regulärer Zeitraum) thử việc là sáu tháng, thì tùy từng trường hợp (Einzelfall) cũng có thể gia hạn. Ông Myer đề nghị (empfehlen) công nhân, trên nguyên tắc (in der Regel) nên chấp nhận (annehmen) một đề nghị như vậy.

Cũng trong trường hợp này, ông minh họa (illustrieren) bằng (anhand) một thí dụ: Điều có thể xảy ra rằng, chủ nhân vào cuối tháng thứ sáu chưa biết (wissen) chính xác (genau), liệu người công nhân mới có phù hợp với đội ngũ (Team) hay không và yêu cầu (erfragen) kéo dài thời gian thử việc ngay (kurz) trước khi (vor) kết thúc (Ablauf) thời gian thử việc.

“Công nhân vì thế bằng mọi cách (auf jeden Fall) thích nghi (sich einlasen) tình huống”, theo ông Meyer. Vì kể từ tháng thứ bảy (siebtes Monat) làm việc, công nhân được bảo vệ sa thải theo luật định (gesetzlicher Kündigungsschutz). Nghĩa là, kỳ hạn sa thải (Kündigungsfrist) dài hơn (länger) không liên quan gì đến (unabhängig) thời gian thử việc, và công nhân có quyền (Recht haben) yêu cầu cứu xét (überprüfen) nội dung (inhaltlich) một sự sa thải xảy ra kể từ tháng thứ bảy.

Việc sa thải đến ngày cuối thời gian thử việc vẫn khả thi (möglich).

Trong sáu tháng đầu làm việc và qua việc thỏa thuận (Vereinbarung) thời gian thử việc, thì chủ nhân có quyền sa thải (kündigen) người thợ với kỳ hạn (Frist) là 14 ngày. Điều này được quy định (regeln) theo điều (Paragraf) 622 Bộ Luật Dân Sự (Bürgerliches Gesetzbuch). “Có tính cách quyết định (entscheidend) là thời điểm ra quyết định sa thải”, theo ông Meyer. Cho nên, tuyên bố sa thải (Kündigungserklärung) trong ngày cuối cùng (am letzten Tag) thời gian thử việc vẫn khả thi (noch möglich). Ông Peter Meyer là luật sư chuyên về luật lao động thuộc Luật sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltverein, viết tắt là DAV)

Tin dpa, hình Jens Schierenbeck/dpa-tmn ©

Thứ tư ngày 13.11.2019
Số người vô gia cư tăng lên 678.000

Không đủ cung cấp (unzureichende Angebote) chỗ ở có thể trả tiền được (bezahlbarer Wohnraum), giảm (Schrumpfung) nhà xã hội (Sozialwohnungsbestand) và sự kiên cố (Verfestigung) nạn đói nghèo (Armut). Theo ước tính (Schätzung), số người không có nhà ở (ohne Wohnnung) trong năm qua tăng (steigen) khoảng bốn (vier) phần trăm lên thành 678.000 người. Trong năm 2018 có chừng (etwa) 41.000 người sống (leben) trên đường phố (auf der Straße) vì không có chỗ cư ngụ (ohne Unterkunft).

“So với (gegenüber) năm trước (Vorjahr) 2017, điều này có nghĩa (bedeuten) rằng sự gia tăng (Anstieg) con số cả năm (Jahresgesamtzahl) khoảng 4,2 phần trăm”, theo bà Werena Rosenke, nữ quản đốc (Geschäftsführerin) Tổ Chức Công Tác Liên Bang (Bundesarbeitsgemeinschaft) Giúp Đỡ Những Người Vô Gia Cư (Wohnungslosenhilfe) nói với các tờ báo (Zeitung) thuộc nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke. Trong đó, số người vô gia cư không có gốc tỵ nạn (Fluchthintergrund) tăng ít hơn (weniger) – cộng (plus) 1,2 phần trăm – so với những người tỵ nạn vô gia cư được công nhận (anerkannt) – cộng 5,9 phần trăm. Theo ước tính của hiệp hội (Verband) này, trẻ em và thanh thiếu niên vô gia cư chiếm tám (acht) phần trăm tất cả số người vô gia cư.

Theo bà Rosenke, những lý do chính (Hauptgrund) được đề cập liên quan đến sự gia tăng người vô gia cư là việc cung cấp không đủ nhà cửa có thể trả tiền được, sự giảm thiểu tình trạng nhà xã hội và sự kiên cố nạn đói nghèo.

Tin dpa, hình Paul Zinken/dpa ©

Thứ ba ngày 12.11.2019
Một đảng viên đảng Xanh gốc Thổ Nhĩ Kỳ trở thành Thị Trưởng thành phố Hannover.

Sau 70 năm độc quyền (Vorherrschaft) của đảng SPD, thành phố thủ phủ tiểu bang (Landeshauptstadt) Hannover có một vị thị trưởng (Oberbürgermeister) đảng viên đảng Xanh (Grüner). Ông Belit Onay là người đứng đầu (Oberhaupt) thủ phủ một tiểu bang trên toàn nước Đức (bundesweit) có gốc di dân (Migrationshintergrund).

Là một trong bốn thành phố lớn (Großstadt), Hannover có một vị thị trưởng đảng Xanh, ông Belit Onay gốc Thổ Nhĩ Kỳ (türkische Abstammung).

Trong cuộc tranh cử (Stichwahl) hôm chủ nhật (Sonntag) vừa qua, nghị viên quốc hội tiểu bang (Landtagsabgeordnete) 38 tuổi với 52,9 phần trăm phiếu (Stimme) đã thắng cứ (gewinnen), trong khi đối thủ là ông Eckard Scholz (CDU) chỉ có 47,1 phần trăm. Như vậy, đảng SPD lần đầu (erstmal) sau hơn (mehr als) 70 năm không còn chiếm giữ vị trí thị trưởng thành phố thủ phủ tiểu bang Niedersachsen nữa.

Đảng viên đảng Xanh giữ cị trí thị trưởng đã có tại Freiburg (đến năm 2018), Darmstadt và Stuttgart. Ngay cả những người có gốc di dân và quốc tịch nước ngoài (ausländische Staatsbürgerschaft) cũng đã có, mặc dù (wenn auch) không phải là thủ phủ của tiểu bang, chẳng hạn (etwa) tại Bonn, ông Ashok-Alexander Sridharan (CDU) có gốc Ấn Độ (indischer Wurzel) và tại Rostock với ông Claus Ruhe Madsen (parteilos, không đảng phái) người Đan Mạch (Dänemark).

Khởi động (Auslöser) việc bầu cử sớm thị trưởng thành phố (vorzeitige Oberbürdermeisterwahl) là những vụ xì-căn-đan trong tòa thị chính (Rathausaffäre) buộc (zwingen) ông Stefan Schostok (SPD) thị trưởng thành phố phải từ chức (Rücktritt). Cuối tháng tư (Ende April), công tố viện (Staatanwaltschaft) đã khởi tố (Anklage erheben) ông cũng như (sowie) vị chánh văn phòng (Bürochef) và nhân vật bị giáng chức (suspendiert) đảm nhiệm lãnh vực văn hóa và nhân sự (Kultur- und Personaldezernent) vì tội không liêm chính nặng nề (schwere Untreue). Vụ việc có liên quan đến phụ cấp lương bất hợp pháp (unrechtsmäßige Gehaltszulagen) cho vị chánh văn phòng và cựu giám đốc sở cứu hỏa (Feuerwehrchef). Theo cáo trạng (Anklage), ông Schostok đã biết (erfahren) điều này, nhưng không ngăn chận (stoppen). Cho dù thế nào chăng nữa, vụ án (Prozess) đã thành hình, nhưng tòa án tiều bang (Langericht) vẫn chưa có (noch nicht) quyết định (entscheiden).

Việc mất (Verlust) vị trí thị trưởng thành phố, viết tắt là OB (Oberbürgermeister), do một đảng viên đảng SPD chiếm ngự (besetzen) liên tục (durchgängig) từ 70 năm qua là một đòn cay đắng (herber Schlag) đối với những người Dân Chủ Xã Hội (Sozialdemokraten) – đặc biệt (vor allem) là vị Thủ Hiến tiểu bang (Ministerpräsident) ông Stephan Weil (SPD) là OB thành phố Hannover đến năm 2013.

Tin dpa, hình Hauke-Christian Dittrich/dpa © dpa

Thứ hai ngày 11.11.2019
Khấu trừ thuế đóng góp tài chánh cho cuộc sống của cha mẹ.

Trong việc thay đổi thế hệ (Generationswechsel) ở các công ty (Unternehmen), có thể thỏa thuận (vereinbaren) rằng con trẻ (Kinder) đóng góp (leisten) tài chánh cho cuộc sống của cha mẹ (Lebensunterhalt für Eltern). Tòa án tài chánh tối cao Đức (Bundesfinanzhof) đang xét xử (behandeln) một thủ tục (Verfahren) liên quan đến những hợp đồng cũ (Altvertrag).

Con cái tiếp quản (übernehmen) công ty (Betrieb) của cha mẹ và đáp lại (Gegenzug), con cái phải trả (zahlen) một khoản tiền (Beitrag) cho cuộc sống của cha mẹ, và những chí phí (Kosten) này có thể khấu trừ thuế (absetzen) dưới dạng chi tiêu đặc biệt (Sonderausgaben). Tuy nhiên (allerdings), nếu hợp đồng ký kết (abschließen) trước (vor) năm 2008 thì phải phân biệt (unterscheiden) xem cha mẹ có (vorliegen) tiền hưu trí (Rente) hay đây là một gánh nặng lâu dài (dauernde Last) cho con cái.

“Trong các trường hợp cũ (Altfall), chỉ có khoản khấu trừ chi tiêu đặc biệt cho con cái, khi (wenn) sự thanh toán tiền chăm lo (Unterjhaltszahlung) tương đương (entsprechend) khả năng kinh tế (wirtschaftliche Möglichkeit) của người trả tiền (Zahlende) và người nhận (Empfänger) hoàn toàn (in der Höhe) có thể thay đổi được (veränderbar”, theo bà Isabel Klocke thuộc Liên Hội Người Đóng Thuế (Bund der Steuerzahler). Điều này gần đây (kürzlich) đã được tòa án tài chánh (Finanzgericht) Rheinland-Pflaz xác nhận.

Con cái đóng góp hàng tháng (monatlicher Beitrag) cho cuộc sống của cha mẹ.

Một trường hợp phán quyết (Urteilsfall) liên quan đến đứa con trai (Sohn) tiếp quản (ünbernehmen) trang trại (landwirtschaftlicher Betrieb) của cha mẹ. Đổi lại, anh ký một hợp đồng có bổn phận (sich vertraglich verpflichten) đóng góp cho cha mẹ hàng tháng cho sự sinh sống của họ như một gánh nặng lâu dài. Hợp đồng quy định (vorsehen) một sự thích nghi (Anpassung) việc thanh toán trong trường hợp khả năng tài chánh trợ cấp (finanzielle Leistungsfähigkeit) của nguyên đơn (Kläger) hoặc nhu cầu của cha mẹ (elterlicher Bedarf) cần có sự thay đổi (Änderung).

Tuy nhiên (jedoch), quy định rõ ràng (ausdrücklich) khi không có (ausgeschlossen) việc nguyên đơn phải chịu thêm chi phí (zusätzliche Kosten) sinh ra (entstehen) bởi việc cha mẹ dọn ra (Auszug) khỏi căn hộ (Wohnung), ví dụ (beispielsweise) việc lưu trú (Unterbringung) trong viện dưỡng lão hay điều dưỡng (Alten- oder Pflegeheim). Nguyên đơn đã khai báo hoàn toàn (in voller Höhe) việc đóng góp chăm sóc (Vorsorgeszahlung) cho cha mẹ trong tờ khai thuế thu nhập của họ dưới dạng chi phí đặc biệt.

Ty tài chánh (Finanzamt): Trả tiền hưu (Rentenzahlung) thay vì (statt) gánh nặng lâu dài.

Ty tài chánh công nhận (erkennen) khoản khấu trừ (Abzug) chỉ ở mức 20 phần trăm, bởi vì đó không phải là gánh nặng lâu dài, mà (sondern) liên quan đến lương hưu. Cho nên chỉ tính đến (berücksichtigen) một phần đóng góp (Ertragsanteil). Tòa án tài chánh (Finanzgericht) Rheinland-Pfalz đã xác nhận (bestätigen) quan điểm pháp lý (Rechtsauffassung) của ty tài chánh, hồ sơ thụ lý Az.: 5 K 2332/17.

Tuy nhiên, phán quyết vẫn chưa (noch nicht) có hiệu lực pháp lý (rechtskräftig), vì (da) nguyên đơn đã nộp (einlegen) đơn kháng cáo (Revision) lên tòa án tài chính tối cao liên bang, hồ sơ thụ lý Az.: X R 29/19. Cuối cùng (abschließend), pháp đình này đã giải thích (klären) rằng, liệu (ob) điều khoản (Klausel) đối với việc lưu trú trong viện dưỡng lão hay điều dưỡng có phải là một gánh nặng lâu dài hay chăng để có thể khấu trừ một phần (teilweise) dưới dạng chi phí đặc biệt.

Lời khuyên (Ratschlag): Đệ đơn (beantragen) xin đình chỉ (ruhen) thủ tục riêng (eigenes Verfahren).

Các bên (Betroffene) có thể yêu cầu xét (sich berufen) những trường hợp cũ tương tự (vergleichbarer Altfall) liên quan đến thủ tục đang xét (laufendes Verfahren) và kháng cáo (Einspruch) chống quyết định thuế (Steuerbescheid), khi ty tài chánh không công nhận hoàn toàn việc khấu trừ các chi tiêu đặc biệt của việc đóng góp. Liên hội người đóng thuế khuyến nghị (raten) nên làm đơn xin đình chỉ thủ tục xét xử. Do đó (so), vụ án riêng vẫn chưa có quyết định (offenbleiben) cho đến khi có phán quyết của tòa án tài chánh tối cao Đức.

Tin dpa, hình Armin Weigel/dpa © dpa

Chủ nhật ngày 10.11.2019
Ty Tài Chánh công nhận tiền quyên góp đến 200 Euro không cần biên lai.

Sự quyên góp (Spenden) là những chi tiêu tự nguyện (freiwillige Ausgaben) không mong đợi (erwarten) sự đền đáp (Gegenleistung). Dù vậy (trotzdem), người hảo tâm (Wohltäter) cũng có thể hưởng lợi (profitieren) lúc khai thuế (Steuererklärung). Không phải lúc nào (nicht immer) cũng phải cần (nötig) một biên lai chứng nhận việc quyên góp. (Spendenquittung).

Việc quyên góp trên nguyên tắc (in der Regel) có thể khai khấu trừ thuế (steuerlich absetzbar) lên đến (bis zu) 20 phần trăm tổng thu nhập (Gesamtbetrag der Einkünfte) được xem như là chi tiêu đặc biệt (Sonderausgaben). Nếu (falls) ty tài chánh (Finanzamt) hỏi đến (nachfragen), thì người đóng thuế (Steuerpflichtige) cũng thường (meist) phải xuất trình (vorlegen) bằng chứng (Nachweise).

Do đó (deshalb), bạn nên luôn (stets) xin cấp (ausstellen) biên lai chứng nhận số tiền đã quyên góp, theo sự khuyên nhủ (raten) của Cục Tư Vấn Thuế Liên Bang (Bundessteuerberaterkammer). Tuy nhiên (aber), trong một số trường hợp vẫn có sự xác minh đơn giản (vereinfachte Nachweisführung).

Điều này có giá trị (gelten) đối với việc quyên góp cứu trợ (helfen) những trường hợp thiên tai (Katastrophenfall) cũng như quyên góp đến 200 Euro cho các tổ chức từ thiện (gemeinnützige Organistion), cơ quan nhà nước (staatliche Behörde) hoặc đảng phái chính trị (politische Partei). Tùy vào cách thanh toán (Zahlungsart), bằng chứng (Nachweis) có thể là phiếu thanh toán tiền mặt (Bareinzahlungsbeleg) hoặc xác nhận chuyển ngân (Buchungsbestätigung) của ngân hàng (Bank), chẳng hạn (etwa) như sao kê tài khoản (Kontoauszug) hoặc hóa đơn thanh toán tiền trực tiếp qua tài khoản (Lastschrifteinzugsbeleg). Theo Cục Tư Vấn Thuế Liên Bang, thanh toán ngân tệ qua (über) các dịch vụ thanh toán ngân tệ trực tuyến (Online-Zahlungsdienste) như Paypal cũng được công nhận (anerkennen).

Để việc quyên góp có thể được khấu trừ trong việc khai thuế thu nhập (Einkommemsteuererklärung), bạn nên quyên góp cho các tổ chức có đặc quyền thuế (steuerbegünstigte Organistaion), như nhà thờ hay họi thánh (Kirche), trường đại học (Universität), các bảo tàng viện nhà nước (Staatliche Museen) hoặc các hiệp hội và tổ chức từ thiện phi lợi nhuận (gemeinnützige Vereine und Stiftungen). Tuy nhiên (allerdings), mọi quyên góp trực tiếp (direkte Spenden) cho người nghèo (Bedürftige) hoặc cái gọi là “túi chuông” (Klingelbeutel, còn gọi là “lắc lon quyên tiền”) không được công nhận.

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn © dpa

Thứ bảy ngày 09.11.2019
Liên hoan kỷ niệm ngày lịch sử: Bức tường bị sụp đổ trước đây 30 năm.

Một sự kiện (Ereignis) làm chấn động thế giối (Weltsensation), khi ông Günter Schabowski, thành viên bộ chính trị (Politbüromitglied) đảng SED tuyên bố (verkündigen) trong đêm (Abend) 09 tháng mười một (November) 1989 rằng, Đông (Ost) Berlin mở (öffnen) các cửa biên giới (Grenze). Nỗi hân hoan vui mừng (Jubel) dạo nào (einst) nay đã lắng dịu (verhallen) và đối với ngày kỷ niệm (Jubiläum) vẫn vang vọng (Ton) nhiều trầm tư (Nachdenken).

Nước Đức liên hoan (feiern) mừng sự sụp đổ (Fall) bức tường (Mauer) trước (vor) đây 30 năm và tưởng niệm (erinnern) uộc cách mạng hòa bình (friedliche Revolution). Tại thủ đô (Hauptstadt), ông Tổng Thống Đức (Bundespräsident) Frank-Walter Steinmeier và bà Thủ Tướng Đức (Bundeaskanzlerin) tham dự một buổi lễ tưởng niệm chính (zentrales Gedenken) tại đài tưởng niệm bức tường (Mauer-Gedenksstätte) nằm trên con đường Bernauer trong thành phố Berlin.

Trong buổi liên hoan ngày thứ bảy (Samstag), Tổng Thống Đức đón tiếp (empfangen) trước tiên (zunächst) những vị Tổng Thống (Staatspräsidnet) của Slowakei, Ba Lan (Polen), Cộng Hòa Tiệp (Tschechien) và Ungarn trong cung điện (Schloss) Bellevue tại Berlin, trước khi cùng nhau (zusammen) đến tham dự buổi tổ chức (Veranstaltung) tại đường Bernauer. Ở đó (dort), họ thăm viếng (besuchen) đài tưởng niệm „Những người thấp cổ bé họng hãy vùng lên“ (Die Kauernde, sich aufrichtend), để vinh danh (würdigen) sự đóng góp (Beitrag) của các quốc gia (Staat) đã góp phần cho sự sụp đổ bức tường ngày 09.11.1989

Tại buổi lễ tưởng niệm (Gedenkveranstaltung) ở những đoạn tử thần (Todesstreifen) trước đây, theo tổ chức bức tường (Mauer-Stiftung) cũng có học sinh (Schüler) phát biểu (sprechen) cảm tưởng (Meinung). Ngoài ra, hoa hồng (Rosen) được cắm trên khu vực phía sau bức tường (Hinterlandmauer) để tưởng nhớ đến những nạn nhân (Opfer) đã can đảm bỏ mạng trong lúc tìm cách chạy qua vùng cấm địa này. Rồi sau đó (danach), nến (Kerzen) được thắp sáng (entzünden). Theo tổ chức này, sự kiện này mang ý nghĩa vinh danh tinh thần dũng cảm (Mut) của thành phần đối lập (Opposition) chế độ DDR đã khiến cuộc cách mạng hòa bình trở nên khả thi (möglich).

Con đường Bernauer được xem là một biểu tượng (Symbol) của sự phân chia nước Đức (deutsche Teilung). Khi bức tường được xây dựng (hochziehen) năm 1961 thì đã sẳn có  những ngôi nhà có mặt tiền (Häuserfront) tọa lạc bên phía Đông (Osten) của con đường (Straße) và vỉa hè (Bürgersteig) thì nằm bên phía Tây (Westen). Cảnh quan hồi ức ngày nay (Heutige Erinnerungslandschaft) ngoài trời (unter freiem Himmel) được bảo tồn như những phần của bức tường (Mauerteile) lúc ban đầu (original).

Theo sự khảo sát (Studie) được tổ chức điều tra (Stiftung zur Aufarbeitung) chế độ độc tài (Diktaturregime) SED ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag), kết quả cho thấy có 74 phần trăm người dân (Bürger) thấy rằng cuộc sống (Leben) sau khi bức tường sụp đổ (Mauerfall) tốt hơn (besser) – ở cả Đông và Tây. Hơn (mehr als) ba phần tư (drei Viertel) cảm thấy (empfinden) rằng việc mở biên giới là một trường hợp may mắn (Glücksfall). Tuy nhiên (aber) hiện tại (aktuell) có 41 phần trăm nghĩ (denken) rằng, sự khác biệt (Unterschiede) vẫn còn nhiều (überwiegen) giữa (zwischen) người dân ở Đông và Tây Đức so với sự tương đồng (Gemeinsamkeit).

Sự phân chia nước Đức đã tiến hành (beginnen) từ việc thành lập (Gründung) DDR và Cộng Hòa Liên Bang Đức (Bundesrepublik Deutschland) năm 1949. Chế độ DDR đã khởi công xây (Bau) bức tường dài gần (knapp) 160 km xuyên ngang qua (quer) thành phố Berlin ngày 13 tháng tám (August) 1961. Theo kiến thức khoa học (wissenschaftliche Erkenntnisse), với hơn 28 năm tồn tại (Bestehen) đã có ít nhất (mindestens) 140 người bỏ mạng (sterben) bởi chế độ biên phòng (Grenzregime).

Tin dpa, hình Kay Nietfeld/dpa © dpa

Thứ năm ngày 07.11.2019
Tòa Án Hiến Pháp Đức bác việc trừng phạt nghiêm khắc về trợ cấp Hartz-IV.

Các trung tâm tìm việc (Jobcenter) khóa (zudrehen) vòi tiền (Geldhahn) của những người nhận trợ cấp (Bezieher), khi họ không hợp tác (mitziehen). Điều này vi phạm (verstößen) nhân phẩm (Menschenwürde) và đã được tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) quyết phán. Các vị thẩm phán (Richter) can thiệp (einschreiten) trực tiếp (direkt) và đồng thời khởi xuất (lostreten) cuộc tranh luận (Debatte) về những việc cải cách (Reformen) liên quan đến vấn đề.

Ngay từ bây giờ (ab sofort), người nhận (Empfänger) Hartz-IV không còn phải lo ngại (befürchten) việc cắt giảm (Kürzung) hoặc hủy bỏ (Streichung) trợ cấp (Leistung) nữa. Nhiều tháng giảm (Minderung) 60 phần trăm hoặc nhiều hơn (mehr) không phù hợp (unvereinbar) hiến pháp (Grundgesetz). Tòa án hiến pháp Đức tại Karlsruhe đã quyết định (entscheiden) như vậy.

Sau khi tuyên phán (verkündeter Urteil) hôm thứ ba (Dienstag), các trung tâm tìm việc được phép cắt giảm trợ cấp nhiều tháng  30 phần trăm tiền trợ cấp, khi người thất nghiệp (Arbeitslose) không tuân thủ (nicht nachkommen) bổn phận (Pflicht) của họ. Nhưng việc trừng phạt (Sanktion) cũng phải được nhẹ nhàng (abmildern) va không được phép giảm thiểu (reduzieren) mức sinh sống tối thiểu của con người.

Tuy nhiên toà án vẫn chưa cứu xét (überprüfen) những sự trừng phạt đặc biệt khắt khe (besonders scharfe Sanktion) đối với những người trẻ nhận Hartz-IV dưới (unter) 25 tuổi

Theo nguyên tắc (Prinzip) “tài trợ để hỗ trợ” (Fördern um Fordern), các trung tâm tìm việc đã trừng phạt (sanktionieren) từ (seit) năm 2015 những người nhận Hartz-IV không chịu hợp tác (unkooperative Empfänger), bằng cách (indem) cắt giảm tiền trợ cấp. Ai tránh né (ausschlagen) một việc làm được đề nghị (Jobangebot) hoặc một biện pháp tài trợ (Fördermaßnahme), sẽ có nguy cơ (Gefahr) bị cắt giảm 30 phần trăm tiền trợ cấp theo tiêu chuẩn (Regelsatz). Nếu điều này xảy ra đối với người nào nhiều lần (mehrfach) trong một năm, thì bị mất (verlieren) 60 phần trăm, thậm chí (sogar) mất luôn toàn bộ tiền thất nghiệp loại II (gesamtes Arbeitslosengeld II, tương đượng Hartz-IV), cũng như các chi phí (Kosten) cho chỗ cư ngụ (Unterkunft) và lò sưởi (Heizung). Một lần bị phạt kéo dài ba (drei) tháng.

Tin dpa, hình  Uli Deck/dpa ©

Thứ tư ngày 07.11.2019
Trong thời gian thử việc nên tìm hiểu nhiều hơn là biết nhiều.

Xin việc là một chặn khó khăn nhất (größte Hürde). Nhưng khi bắt đầu (starten) một công việc mới (neuer Job) thì cũng nên cẩn trọng (Nachsicht) trong thời gian thử việc (Probezeit) để có nhiều thành công  hơn (mehr Erfolg).

Thời gian thử việc được xem là (gelten) giai đoạn làm quen với nhau (gegenseitig sich kennenlernen) giữa chủ nhân (Arbeitgeber) và công nhân (Arbeitnehmer). Quan trọng (wichtig) là đừng tỏ ra ngay (nicht gleich) mình biết nhiều (Wissender) trong công việc mới, mà (sondern) chỉ là người học hỏi (Lernender). Ông Martin Wehrle, tư vấn sự nghiệp (Karriereberater) giải thích (erklären) trên tạp chí (Zeitschrift) “Unicum Beruf” (Trường Nghề), số phát hành (Ausgabe) 05/2019.

Như vậy (so), bạn có thể chứng minh (beweisen) tốt nhất (am besten) đối với người chủ mới rằng, bạn duy trì (halten) những gì đã hứa hẹn (versprechen) trong cuộc đàm thoại trình diện (Vorstellungsgespräch) và hòa nhập (sich integieren) tốt (gut) vào nhóm (Team). Theo ông Wehrle, trước tiên (zunächst) cần tìm ra (heraus finden) nhóm mới làm việc (arbeiten) dựa trên cơ sở (Grundsatz) nào. Người mới (Neulinge) cần phải tuân thủ (unterordnen) những quy tắc (Geflogenheit) này.

Càng tìm hiểu (fragen) nhiều về sự tinh tế (Feinheit) và nhạy cảm (Empfindlichkeit) liên quan đến vấn đề kỹ thuật (fachlich) thì tốt hơn (besser). Những đề nghị sửa đổi (Veränderungsvorschlag) trước hết (ertsmal) bạn nên giữ trong lòng (für sich behalten) trong thời gian thử việc.

Trong giai đoạn làm quen công việc (Einarbeitungsphase), người nhập cuộc (Einsteiger) cũng không được phép quá lỏng lẽo (nicht zu locker). Là người mới, bạn nên cho thấy (zeigen) sáng kiến (Initiative) của mình và suy nghĩ (sich überlegen) sẽ đạt được (erreichen) điều gì cho đến khi kết thúc (bis zum Ende) thời gian thử việc, để công ty (Firma) hài lòng (zufrieden) với năng lực (Leistung) của bạn. Nếu tìm (sich suchen) một người đỡ đầu (Mentor) trong số những con thỏ già (unter den alten Hasen), bạn sẽ có thêm (zusätzlich) sự an toàn (Sicherheit).

Tin dpa, hình Klaus-Dietmar Gabbert/dpa-tmn ©

Thứ ba ngày 05.11.2019
Vị giám đốc Cục BAMF cảnh báo trước những hy vọng sai lầm.

Ông Hans-Eckard Sommer, giám đốc (Präsident) Cục Liên Bang Về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamtes für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF) đã cảnh báo (warnen) „những quyến rũ sai lầm“ (falsche Anreizen) về những người tỵ nạn có năng lực (potentielle Flüchtlinge). „Người ta nên cẩn thận (vorsichtig) chẳng hạn (beispielweise) về đề tài (Thema) liên quan đến cơ hội có việc làm nhanh chóng (schnelle Beschäftigungsmöglichkeit) cho người tỵ nạn“, vị giám đốc cơ quan tỵ nạn (Chef der Asylbehörde) phát biểu (sprechen) trong một buổi sinh hoạt (Veranstaltung) của các câu lạc bộ báo chí (Presseclubs) tại Nürnberg vào đêm công tác (Dienstabend). „Những người xin tỵ nạn (Asylbewerber) liên lạc với nhau rất chặt chẽ (sehr vernetzt) và ai cũng có điện thoại cầm tay (Handys).“ Khi họ tìm ra (finden) được một công việc (Job) trong nước Đức khi vừa đặt chân đến (Ankunft), thì thường (meist) lập tức (sofort) thông tin (mitteilen) cho họ hàng (Verwandten) và bạn bè (Freunde) trong quê hương (Heimat) biết. Như vậy, sự kiện này dẫn đến sự kích động (wecken) hy vọng sai lầm.

Vấn đề (problematisch) đối với ông Sommer là đa phần người tỵ nạn đã được công nhận của các quốc gia thuộc EU, nhưng sau đó (später) vẫn tìm cách đến (kommen) nước Đức để xin tỵ nạn tiếp. Riêng (allein) năm 2018, cơ quan của ông đã ghi nhận (registrieren) 7.800 trường hợp như vậy (solcher Fall). „Gần hai phần ba (zwei Drittel) các trường hợp trong Âu châu“, vị giám đốc BAMF nói. Vì thế cho nên, cơ quan của ông buộc phải áp dụng (anwenden) luật Âu châu (europäisches Recht) để cứu xét (überprüfen) chính xác (genau) các trường hợp như vậy và nếu cần thiết (gegebenenfalls) sẽ áp đặt việc trục xuất (Rückkehr) đương sự (Betroffene) trở lại quốc gia đầu tiên đã đón nhận (Erstaufnahmeland) họ theo khuôn khổ (Rahmen) thủ tục gọi là Dublin (sogennantes Dublinverfahren).

Tin dpa, hình Arne Dedert/Archiv ©

Thứ hai ngày 04.11.2019
Cơ quan BAMF dự tính có khoảng 145.000 đơn xin tỵ nạn lần đầu trong năm 2019.

Cục Liên Bang Về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF) dự tính (erwarten) sẽ có ít (weniger) đơn xin tỵ nạn lần đầu (Asyl-Erstantrag) tại Đức so với năm 2018. Phần lớn (Großteil) đơn xin (Antrag) không được ông Eckard Sommer, giám đốc (Präsident) BAMF công nhận (anerkennen).

Cục BAMF dự tính (rechnen) trong năm nay theo một báo cáo truyền thông (Medienbericht) sẽ có từ 140.000 đến 145.000 đơn mới xin tỵ nạn lần đầu.

„Hiện giờ (derzeit) chúng tôi có chừng (etwa) 110.000 đơn xin tỵ nạn lần đầu“, ông Sommer nói với tuần báo „Bild am Sonntag“ (Hình Ảnh Chủ Nhật). „Tôi cho rằng, đến cuối năm nay sẽ lên đến từ 140.000 đến 145.000 hồ sơ, như vậy (also) vẫn còn ít hơn năm 2018“. Năm ngoái có tầm (gut) 160.000 đơn mới xin tỵ nạn lần đầu.

Theo ông Sommer, chỉ 35 đến 38 phần trăm tất cả đơn xin tỵ nạn được công nhận. „Nghĩa là, gần (fast) hai phần ba (zwei Drittel) những người đến Đức không có lý do tỵ nạn (Asylgrund)“.

Tin dpa, hình Uli Deck/dpa ©

Chủ nhật ngày 03.11.2019
Quy lệnh của bệnh nhân có thể ngăn chận việc hiến tạng.

Hầu hết (überwältigende Mehrheit) quần chúng (Bevölkerung) hỗ trợ (unterstützen) việc hiến tạng (Organspende), nhưng (aber) chỉ có tầm một phần ba (gutes Drittel) có thẻ (Ausweis). Và đây cũng không phải là lý do duy nhất (einziger Grund) về số lượng người hiến kém đi (geringe Spenderzahl). Vì quy lệnh của bệnh nhân (Patientenverfügung) cũng có thể ngăn chận (verhindern) ngoài ý muốn (ungewollt) việc hiến tạng.

Tổ chức (Gesellschaft) Y Khoa Cấy Ghép (Transplantationsmedizin) Meckenburg-Vorpommern, viết tắt là GTM-V) đã cảnh báo về quy lệnh của bệnh nhân, bởi nó vô tình (unbeabsichtigt) ngăn chận việc hiến tạng và mô (Organ- und Gewebespenden).

„Việc làm cụ thể hóa (Konkretisierung) khái niệm (Begriff) quy lệnh của bệnh nhân bắt buộc cần thiết (zwingend notwendig)“, theo ông Axel Maneck, vị quản đốc (Geschäftführer) GTM-V. Cùng với (zusammen) phòng công chứng (Notarkammer) MV, tổ chức GTM-V đã soạn thảo (erarbeiten) một tờ thông tin mới (neues Infoblatt).

Một khảo sát (Studie) với dữ liệu (daten) của Tổ Chức Hiến Tạng Đức (Deutsche Stiftung Oragnspende, viết tắt là DSO) đã xác nhận (bestätigen) trong năm 2018 có vấn đề (Problem) rằng, một trong mười trường hợp khảo sát (untersuchter Fall) cho thấy những điều khoản trong quy lệnh (Verordnung) đã ngăn chận việc hiến tạng rằng, sự cần thiết chẩn đoán là não chết (notwendige Hirntoddiagnostik) – theo sự khảo sát, nguyên nhân phổ biến nhất ngoài y khoa (häufigste nicht-medizinische Ursache) là việc không phát hiện ra não chết (Hirntod).

Để thực hiện (durchführen) một chẩn đoán não đã chết, thì bệnh nhân (Patien) được thở máy (beatmen) và ổn định (stabilisieren) trong phòng chăm sóc đặc biệt (Intensivstation), theo vị cựu chủ tịch (scheidender Präsident) của Tổ Chức Y Khoa Cấy Ghép Đức (Deutsche Gesellschaft für Transplantationsmedizin), ông Bernhard Banas. „Hầu hết quy lệnh của bệnh nhân không phù hợp (passen), vì nhiều người trong lúc điền (ausfüllen) tờ quy lệnh đã chưa nghĩ đến (denken) việc hiến tạng.“ Việc hiến mô không chỉ ở lúc não chết khi sự tuần hoàn còn chức năng (funktionierender Kraislauf), mà (sondern) khi còn vài giờ sau khi chấm dứt (Ende) chức năng sự tuần hoàn tim mạch (Herz-Kreislauf-Funktion) cũng có thể khả thi (möglich)

Theo DSO, năm 2018 trong nước Đức có khoảng (rund) 9.400 người chờ đợi (warten) tạng phù hợp được hiến (passendes Spendenorgan). Trong cùng thời gian (im gleichen Raum) có chừng (etwa) 3.100 tạng (Organ) của 955 người chết (Verstorbene) được hiến (spenden). Sau nhiều năm suy giảm (Rückgang), lần đầu tiên (erstmal) con số đã tăng trở lại (wieder steigen). Đối với việc hiến mô, cả nước Đức (bundesweit) không có một tổng số (Gesamtzahl) nào. Tổ Chức Cấy Ghép Mô Đức (Deutsche Gesellschaft für Gewebetransplantation) tính (zählen) trong năm qua có khoảng 2.700 người hiến (Spender).

Tồ chức GTM-V là một doanh nghiệp phi lợi nhuận (gemeinnütziges Unternehmen), theo thông tin của họ cho biết, họ phối hợp (Zusammenarbeit) với các ngân hàng mô (Gewebebanken) để lấy (entnehmen) và phân phối (verteilen) mô. Mặt khác (außerdem), bộ tư pháp Đức (Bundesjustizministerium) và tổ chức DSO cung cấp (bereit stellen) những đề nghị thiết lập điều khoản cho một quy lệnh của bệnh nhân với việc hiến tạng.

Tin dpa, hình Caroline Seidel/dpa © dpa

Thứ bảy ngày 02.11.2019
Sống tích cực với sự đau nhức không chẩn đoán.

Cơn đau đầu (Kopfschmerzen) hành hạ (quälen) từ nhiều tuần qua, sự nôn ẹo (Übelkeit) thuyên giảm (nachlassen) mà bác sĩ (Arzt) chưa tìm ra (finden) nguyên nhân (Ursache) nào. Thuốc men (Medikament) trong những trường hợp này thường (oft) chỉ có thể giúp đỡ (helfen) hạn chế (bedingt). Những cách khác cũng hứa hẹn (versprechen) nhiều thành công hơn (mehr Erfolg). Có nhiều người đau (plagen) lưng (Rückenschmerzen), chóng mặt (Schwindel) hoặc tiêu chảy (Durchfall), nhưng các bác sĩ không tìm ra được một nguyên nhân rõ ràng (eindeutige Urscahe) nó là một chứng viêm (Entzündung) hoặc bị thương tích (Verletzung).

Thông thường (häufig), các vấn đề (Problem) tự nó (von selbst) sau một thời gian ngắn (nach kurzer Zeit) biến mất (verschwinden), tuy nhiên (allerdings) chỉ qua đi vài tháng rồi tái phát. Trong trường hợp này, người ta nói (sprechen) đến bệnh thân thuộc chức năng (funktionelle Körperbeschwerden), theo Viện Chất Lượng và Hiệu Quả Ngành Y Tế (Institut für Qualität und Wirtschaftlichkeit im Gesundheitswesen, viết tắt là IQWiG) giải thích (erklären).

Sự khởi phát (Auslöser) có thể bởi các yếu tố thể chất (körperliche Faktoren) và những ảnh hưởng tâm lý (psychische Einflüsse), trong đó có sự quá sức (Überforderung), di truyền trong gia đình (familiäre Veranlagung) hoặc những tình huống căng thẳng (Stresssituation).

Để những bệnh chứng (Beschwerden) như vậy không hạn chế (einschränken) người mắc phải (Betroffene) quá nhiều (nicht zu sehr), Viện IQWiG khuyên (raten) nên xem cổng (Portal) Gesundheitsinformation.de (Thông Tin Y Tế), để tham gia (teilnehmen) cuộc sống xã hội (soziales Leben) và tích cực thể chất (körperlich aktiv) nhiều hơn.

Thông thường (oft), từng bước nhỏ (kleine Schritt) dẫn đến sự cải thiện lâu dài (langfristige Verbesserung).

Vận động (Bewegung) thường tốt hơn (besser) là sự dè dặt (sich schonen), vì (weil) một vài vấn đề như đau cơ bắp hay khớp (Muskel- und Gelenkschmerzen) nhờ đó được mạnh lên (verstärken), các chuyên gia (Expert) giải thích (erläutern). Ai đặt (sich setzen) mục tiêu nhỏ (kleines Ziel), dễ (leichter) tìm được cách (Weg), cho dù (trotz) bệnh hoạn nhưng cuộc sống vẫn tích cực. Khi vấn đề kéo dài lâu (auf Dauer) trở thành gánh nặng lớn hơn (größere Belastung), thì phải nên tìm sự giúp đỡ về tâm lý trị liệu (psychotherapeutische Unterstützung).

Vật lý trị liệu (Krankengymnastik), tư vấn dinh dưỡng (Ernährungsberatung) hoặc liệu pháp vận động thích nghi (Ergotherapie) cũng có thể là những phướng pháp khác, các chuyên gia liệt kê (aufzählen).

„Những biện pháp (Maßnahme) „thụ động“ (passiv) như mát xa (Massage) ngược lại (dagegen) so với nhiều phương pháp khác ít giúp đỡ hơn (weniger hilfreich) và theo quan điểm (Sicht) của IQWiG chỉ có tính cách tạm thời (nur vorübergehend) hoặc được đề nghị (empfehlen) để bổ sung (Ergänzung) cho các biện pháp khác – khi thật sự cần thiết (wenn überhaupt).

Tin dpa, hình Christin Klose/dpa-tmn ©

Thứ sáu ngày 01.11.2019
Lần đầu tiên kể từ năm 2001 có ít người tốt nghiệp cao học.

Con số tốt nghiệp cao học (Hochschulabschluss) lần đầu tiên (erstmal) từ nhiều năm qua đã giảm đi (zurückgehen). Luận án tiến sĩ (Promotion) và tốt nghiệp cao học kỹ thuật (Fachhochschulabschluss) cũng có ít người tốt nghiệp (Absolvent).

Lần đầu tiên (zum ersten Mal), kể từ (seit) năm 2001 con số tốt nghiệp cao học giảm nhẹ (leicht). Trong khóa thi (Prüfung) năm 2018, nghĩa là khóa mùa đông (Wintersemester) 2017/2018 và khóa mùa hè (Sommersemester) 2018 có khoảng (rund) 499.000 sinh viên tốt nghiệp cao học. So (im Vergleich) với năm ngoái (Vorjahr) ít hơn (weniger) một phần trăm, theo báo cáo (Bericht) của Cục Thống Kê Đức (Statisches Bundesamt). 10 phần trăm tốt nghiệp (Abschluss) Luật (Rechtswissenschaft), Kinh Tế (Wirtschaft) và Khoa Học Xã Hội (Sozialwissenschaft). 26 phần trăm Kỹ Sư (Ingenieur), 11 phần trăm Toán (Mathematik) hoặc (oder) Khoa Học Thiên Nhiên (Naturwissenschaft) và 10 phần trăm Thần Học (Geisteswissenschaft).

Trong các ngành Y Khoa Nhân Đạo (Humanmedizin) hoặc Y tế (Gesundheit) chỉ có 6 phần trăm sinh viên tốt nghiệp. Số còn lại 7 phần trăm Thể Thao (Sport), Canh Nông (Agrar), Lâm (Forst) và Dinh Dưỡng (Ernährung) cũng như Nghệ Thuật (Kunst). Một trong hai người tốt nghiệp mùa thi 2018 có bằng Cử Nhân (Bachelorsabschluss). So với năm ngoái, số sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân giảm nhẹ khoảng 2 phần trăm. Ngược lại (dagegen), số tốt nghiệp Thạc Sĩ (Master) và Sư Phạm (Lehramt) tăng (erhöhen) mỗi ngành ba (drei) phần trăm. Sự giảm thiểu (Rückgang) ở bằng Tiến Sĩ là hai phần trăm; tốt nghiệp đại học bình thường giảm bảy (sieben) phần trăm và tốt nghiệp các cao học chuyên nghiệp là 12 phần trăm.

Tin dpa, hình Silas Stein/dpa ©

Xem (1044)