» » Tin Đức Quốc tháng 09.2019

Tin Đức Quốc tháng 09.2019

Mục Hội PTVNTN

Thứ sáu ngày 20.09.2019
Vẫn còn nhiều người nỗ lực học có bằng cấp cao.

Trong tiểu bang Hessen vẫn luôn có nhiều (immer mehr) nhiều người bắt đầu (beginnen) sự học chất lượng cao (hochqualifizierte Ausbildung) hoặc đại học (Studium). Năm 2017, trong tiểu bang (Land) này có tầm (knapp) hai phần ba (zwei Drittel) với 64,8 phần trăm cùng độ tuổi (Altersjahrgang) nhận (aufnehmen) sự đào tạo thành “thầy cả” (Meister) hoặc cử nhân (Bachelorstudium), theo Ty Thống Kê Tiểu Bang (Statistisches Landesamt) tại Wiesbaden thông báo (mitteilen) hôm thứ tư (Mittwoch). Năm 2006 chỉ có 51,9 phần trăm.

Các dữ liệu (Daten) xuất xứ (stammen) từ một cuộc khảo sát (Studie) “So Sánh Các Tiểu Bang Về Chỉ Số Đào Tạo Quốc Tế” (Internationale Bildungsindikatoren im Ländervergleich), một công bố chung (gemeinsame Veröffetlichung) của các cơ quan thống kê thuộc liên bang (Bund) và các tiểu bang (Länder). Các dữ liệu này bổ sung (ergänzen) cho một công bố (Publikation) của OECD “Một Cái Nhìn Về Sự Đào Tạo” (Bildung auf einen Blick).

Chỉ số thất nghiệp (Erwerbslosenquote) những người có trình độ học vấn cao (hohe Bildungsgrad) trong tiểu bang Hessen theo các nhà thống kê (Statistiker) là 1,9 phần trăm, thấp gần như (genauso niedrig) số trung bình (im Schnitt) trong nước Đức. Trị giá (Wert) này rõ ràng (deutlich) dưới mức trung bình (Durchschnitt) của OECD là 3,9 phần trăm

Tin dpa, hình tư liệu của Waltraud Grubitzsch © dpa

Thứ năm ngày 19.09.2019
Hai phần ba sẳn sàng tiết kiệm quần áo và giày dép

Nghỉ hè (Urlaub), văn hóa (Kultur), thời trang mới (neue Outfits) – không phải đối với ai cũng đều quan trọng như nhau (gleich wichtig). Người dân sống trong nước Đức sẳn sàng gạch đỏ (Rotstift) trước tiên (am ehesten) cái gì, khi phải cần tiết kiệm (sparen)?

Những chi tiêu (Ausgaben) nào bắt buộc (unbedingt) phải cắt giảm (kürzen)? Khi họ phải tiết kiệm (einsparen) 100 Euro trong tháng (Monat), thì hai phần ba (zwei Drittel) người tiêu thụ (Verbraucher) trong nước Đức (65 phần trăm) trước hết là từ chối (verzichten) quần áo (Kleidung) và giày dép (Schuhe). Đây là kết quả một cuộc thăm dò ý kiến tiêu biểu (präsentative Umfrage) của tổ chức Forsa được Viện Tài Chánh (Finanzinstitut) TeamBank ủy nhiệm (beaufragen) thực hiện (ausführen).

Chủ yếu (vor allem) là phụ nữ (Frauen) với 74 phần trăm và những người trẻ (Jüngere) đến (bis) 29 tuổi với 73 phần trăm. Nam giới (Männer) ngược lại (dagegen) chỉ (nur) 57 phần trăm. Cũng như những chuyến đi nghỉ hè (Urlaubreisen) với 58 phần trăm và những chi tiêu cho giải trí (Freizeit), thể thao (Sport) và văn hóa với 51 phần trăm cũng được người Đức sẳn sàng tiết kiệm.

Những khác biệt (Unterschiede) tya theo mức thu nhập (Einkommen): Trong khi (während) những tham dự viên cuộc thăm dò ý kiến (Umfrageteilnehmer) có thu nhập ròng (Nettoeinkommen) dưới 1.000 Euro chủ yếu tiết kiệm những lần đi nghỉ hè, 73 phần trăm. Còn người kiếm tiền nhiều hơn (Besserverdienende) với mức thu nhập từ 4.000 Euro trở lên thì trước tiên (zuerst) là việc giới hạn (einschränken) các dịch vụ nghe nhạc sống (Musik-Streaming-Dienst) hay truyền hình, 61 phần trăm, để tiết kiệm khoảng 100 Euro mỗi tháng (pro Monat). Còn những nhóm (Gruppe) ở giữa thường tiết kiệm nhất là quần áo và giày dép.

Viện Nghiên Cứu Thị Trường (Marktforschungsinstitut) Forsa đã hỏi ý kiến (befragen) khoảng 1000 người trong nước Đức trong tháng ba (März) và tháng tư (April) năm 2019.

Tin dpa, hình Peter Kneffel/dpa/dpa-tmn © dpa

Thứ tư ngày 18.09.2019
Edward Snowden muốn xin tỵ nạn ở Đức

Ông Edward Snowden, người tiết lộ (enthüllen) sự giám sát (Überwachung) Internet của các cơ quan tình báo phương Tây (westliche Geheimdienste), vẫn còn muốn (immer noch gern) nhận (bekommen) tỵ nạn (Asyl) tại Đức.

„Tôi tin rằng, bất cứ ai khách quan (objektiv) quan tâm đến (blicken) lịch sử (Geschichte) sẽ nhận ra (erkennen) rằng, khi nước Đức nhận (aufnehmen) tôi, thì điều này hiện giờ (inzwischen) sẽ không được xem là hành động thù địch (feindliche Akte) chống Mỹ nữa“, Snowden nói (sagen) trên nhật báo (tageszeitung) „Die Welt“ (Thế Giới).

Vì (denn) việc tỵ nạn của ông trong Liên Minh Âu Châu (Europäische Union, viết tắt là EU) „có nghĩa (bedeuten) rằng, châu Âu (Europa) đại diện cho Hiệp Chủng Quốc (Vereinigten Staaten) Mỹ ngay trong khoảnh khắc (Augenblick) này, khi Mỹ không thể hiện được tự thân (sich selbst einstehen) và giá trị (Werte) của họ“, Snowden lập luận (argumentieren).

Cựu nhân viên tình báo (Ex-Geheimdienstler) vào năm 2013 đã trao (geben) cho ký giả (Journalist) những tài liệu (Dokument) về các hoạt động gián điệp (Ausspäh-Aktivitäten) của cơ quan NSA dịch vụ nghe lén (Abhördienst) của Mỹ và đối tác (Gegenpart) của họ là cơ quan GCHQ Anh quốc. Trên đường chạy trốn (Flucht) qua Hồng Kông, ông ngõ ý muốn đến Ecuador, nhưng bị kẹt lại sân bay (Flughafen) Moskauer, sau khi chính quyền (Regierung) Mỹ hủy bỏ (annulieren) thông hành (Reisepass) của ông. Ông Snowden nhận tỵ nạn tại Nga (Russland) và được gia hạn (Verlängerung) đến 2020.

Ông cho rằng, ngày càng có nhiều khả năng (immer wahrscheinlicher), để trở lại (zurückkehren) một ngày nào đó (eines Tages), ông nói trên tạp chí (Magazin) „Spiegel“ (Tấm Gương). Lời buộc tội (Vorwurf) năm 2013 cho rằng, ông gây nguy hiểm (gefährden) cho nền an ninh quốc gia (nationale Sicherheit), đã không còn đứng vững. Snowden đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn (Interview) về việc xuất bản (Veröffentlichung) cuốn tự truyện (Autobiographie) „Permanent Record: Meine Geschichte“ (Nhật Ký: Chuyện Của Tôi) vào tuần tới…

Tin dpa, hình Christian Charisius © dpa

Thứ hai ngày 16.09.2019
Đa số quần chúng nhận thấy nền Dân Chủ bị nguy hại

Cộng Hòa Liên Bang (Bundesrepublik) là một nền Dân Chủ (Demokratie) bền vững (stabil) và vững chắc (wehrhaft). Nhưng có nhiều mối âu lo (Sorge): 70 năm sau khi thành lập (Gründung), có hơn (mehr als) một nửa (Hälfte) quần chúng (Bevölkerung) nhận thấy nền Dân Chủ trong nước (im Land) bị nguy hại (gefähdert). Sự đe dọa lớn nhất (größte Bedrohung) đối với đa số quần chúng hiện giờ (aktuell) là những kẻ cực đoan cánh hữu (Rechtsextremisten).

Kết quả sự thăm dò đã được công bố (veröffentliche Erhebung) hôm thứ năm (Donnerstag) tuần qua (Vorwoche) của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGoV cho thấy có 53 phần trăm đồng ý (zustimmen) câu nói (Aussage) rằng nền Dân Chủ của chúng ta đang bị đe dọa. Khoảng (rund) bốn (vier) trong mười (zehn) người được hỏi ý kiến (Befragte) còn tin rằng (glauben), tình trạng này trong mười năm tới còn tệ hơn (schlechter) ngày nay (heute).

Liên quan đến sự tham dự đảng phái (Parteizugehörigkeit), hiện nay đa phần ủng hộ viên (Anhänger) của đảng AfD không hài lòng (unzufrieden) với nền Dân Chủ tại Đức (79 phần trăm). Chỉ có một số ít (wenig) ũng hộ viên đảng Xanh (Grüne) cũng thấy như vậc (genauso) với 19 phần trăm. Nhìn chung (allgemein), rõ ràng đa số (klare Mehrheit) những người được hỏi ý kiến đánh giá (bewerten) nền Dân Chủ tại Đức ít nhất (mindestens) tốt (gut) với 83 phần trăm. Tuy nhiên (allerdings) chỉ hơn nửa một chút (54 phần trăm) cho rằng 8angeben9, họ hài lòng (zufrieden) nền Dân Chủ của Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Theo quan điểm (nach Ansicht) của khoảng gần một nửa người được hỏi ý kiến (47 phần trăm), mối đe dọa lớn nhất hiện nay cho nền Dân Chủ của chúng ta là những kẻ cực đoan hữu khuynh. Những người theo chủ nghĩa thuần dân (Rechtspopulisten) và di dân (Migranten) theo cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) đứng thứ nhì (zweiten Platz) với 27 phần trăm. Những người cực đoan tả khuynh (Linksextremisten) và Hoa Kỳ (USA) theo quan điểm của một số người được hỏi ý kiến (22 phần trăm) chỉ là mối đa dọa lớn. Bề sau (Hintergrund) của cuộc thăm dò ý kiến là NGÀY DÂN CHỦ (Tag der Demokratie) 15 tháng chín (September).

Tin dpa, hình Maurizio Gambarini © dpa

Chủ nhật ngày 15.09.2019
Trẻ em bị bệnh ở chỗ làm việc không phải là lý do hủy hợp đồng

Người nào mang (bringen) trẻ đau ốm (kranke Kinder) đến chỗ làm việc (Arbeitsplatz) là hành động (begehen) gây thiệt hại đến bổn phận (Pflichtverletzung) làm việc. Trên nguyên tắc (in der Regel), phụ huynh (Eltern) phải thương lượng (absprechen) với chủ (Arbeitgeber). Tuy nhiên (jedoch), một sự sa thải vô điều kiện (fristlose Kündigung) vẫn chưa đủ (reichen) đối với sự vi phạm (Vergehen) này.

Khi trẻ em bị bệnh (erkranken), thì bố mẹ đi làm (berufstätige Eltern) phải chăm sóc (sich kümmern) chúng, và người nào (wer) có thể đảm nhận (übernehmen) việc chăm nom (Betreuung). Trường hợp không có người nào (niemand), thì mẹ (Mutter) hay cha (Vater) chỉ (nur) có thể mang trẻ đến chỗ làm, khi đã thông qua với xếp. Nếu không, thì việc sa thải vô điều kiện từ phía (seitens) chủ nhân (Arbeitgeber) cũng không chính đáng (gerechtfertig).

Đây là phán quyết (Urteil) của tòa án lao động (Arbeitsgericht) tại Siegburg, được nhà suất bản (Verlag) Bund lưu ý (hinweisen) trên Blog của họ dành cho các hội đồng xí nghiệp (Betriebsrat). Một trường hợp phán xử (verhandelter Fall), hồ sơ thụ lý số Az.: 3 Ca 642/19, liên quan đến một phụ nữ (Frau) hành nghề (beschäftigen) chuyên viên điều dưỡng người già (Altenpflegefachkraft). Cô đang còn trong thời gian thử việc (Probezeit). Khi các con cô bị bệnh, cô mang chúng đến chỗ làm. Sau đó, nữ nhân viên này cũng bị bệnh và bị chủ đuổi việc (Kündigung). Một sự khuyến cáo (Abmahnung) cũng đủ (ausreichend).

Cô đã đệ (erheben) đơn kiện chống việc sa thải (Kündigungsschutzklage). Tòa án chấp thuận (stattgeben) đơn kiện (Klage). Theo quyết định (Entscheidung) của các thẩm phán (Richter), thì việc làm (Arbeitsverhältnis) chỉ kết thúc (beenden) khi (erst) hết (Ablauf) thời hạn sa thải là hai tuần (zweiwöchige Kündigungsfrist) trong giai đoạn thử việc – chứ không thể (nicht aber) là vô điều kiện (fristlos).

Hành vi (Verhalten) của nguyên đơn (Klägerin) thật ra (zwar) đã vi phạm những lý do của luật bảo hiểm (versicherungsrechtliche Gründe) và bổn phận (Pflicht) đối với công việc do nguy hiểm của sự truyền nhiễm gây ra (bestehende Ansteckungsgefahr) cho những bệnh nhân cao tuổi (ältere Patienten). Nhưng điều này không thể biện minh (rechtfertigen) cho việc chấm dứt lập tức (sofortige Beendigung) công việc, theo tòa án (Gericht). Việc khuyến cáo trên nguyên tắc (grundsätzlich) cũng đủ cho một trường hợp như vậy. Phán quyết vẫn chưa có hiệu lực (noch nicht rechtskräftig).

Tin dpa, hình Andrea Warnecke/dpa-tmn © dpa

Thứ bảy ngày 14.09.2019
Cảnh sát Bakum tịch thu „tiền cho người chết“

Banknoten mit chinesischjen Schriftzeichen stehen im Verdacht, “Totengeld” zu sein.

Những ký tự đáng nghi ngờ (verdächtige Schriftzeichen) này có nghĩa (Bedeutung) gì? Cảnh sát (Polizei) đưa ra lời khuyên (Tipps), để mọi người không bị rơi vào (hereinfallen) sự lừa đảo (Betrug).

Cảnh sát tại Bakum, thị trấn Vechta / Bắc Đức, đã tịch thu (sicherstellen) cái gọi là (so geannte) „tiền cho người chết“ (Totengeld) – người biên dịch: tiếng Việt là „tiền vàng mả“ – sau khi một người đàn ông (Mann) mang đến cảnh sát tại Bakum nộp (abgeben) một tờ giấy bạc (Geldschein) 100 Euro vào sáng ngày thứ ba (Dienstagmorgen). Ông cho rằng (angeben), ông đã tìm thấy (finden) nó tại quảng trường lễ hội quần chúng (Volksfestplatz) „Pastors Busch“.

Khi quan sát kỹ (genaue Betrachtung) tờ giấy bạc, cảnh sát thấy rằng (feststellen), trên tờ giấy bạc có những ký tự tiếng Tàu (chinesische Schriftzeichen) – ngoài ra (ansonsten) tờ giấy bạc này nhìn tương đối (relativ) thật (echt) và cũng có thể sử dụng (nutzen) để trả tiền (bezahlen). Nghiên cứu sâu hơn (weitere Recherchen), cảnh sát cho biết, tờ giấy bạc này có liên quan đến cái gọi là „tiền vàng mả“ để sử dụng trong nhiều nền văn hóa mồ mả (Grabskultur). Không chỉ là (nicht nur) tiền xu (Münzen) như trước đây, mà (sondern) sau này (später) cũng dùng tiền giấy (Banknoten). Phong tục (Brauch) này mang ý nghĩa đặc biệt (besondere Bedeutung) trong các nền văn hóa (Kulturkreise) của Trung Quốc. Đến ngày nay (noch heute), những tờ giấy bạc tượng trưng (symbolische Banknoten) như vậy vẫn được gửi theo (mitgeben) người đã khuất (Verstorbenen).

Vì thế cho nên (daher), cảnh sát khuyên (raten) người dân (Bürger) rằng, nên xem xét kỹ hơn (genauer in Augenschien) những tờ giấy bạc. Nếu có những dòng ký tự tiếng Tàu, thì đây là loại „tiền vàng mả“, không phải là tiền thật. Cuộc điều tra (Ermittlung) vẫn còn tiếp tục (andauern), theo cảnh sát.

Tin NWZ online, bài: Peter Linkert, hình: cảnh sát Đức

Thứ sáu ngày 13.09.2019
Một trong ba bệnh viện cất giường trong khu hồi sức.

Do tình trạng thiếu nhân sự (Personalmangel), nên 34 phần trăm bệnh viện (Krankenhaus) trong tiểu bang Niedersachsen đã phải cất (sperren) giường (Bett) trong khu hồi sức (Intensivstation) trong quý đầu tiên (erstes Quartal) năm 2019. Đây là kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của Tổ Chức Bệnh Viện Tiểu Bang Niedersachsen (Niedersächsische Krankenhausgesellschaft, viết tắt là NSG), có 98 bệnh viện (Klinik) tham gia (teilnehmen). “Các bệnh viện muốn (gern) sử dụng (einsetzen) nhiều (mehr) nhân viên (Personal) hơn. Tuy nhiên (jedoch), điều này họ không nhận (bekommen) được từ thị trường lao động (Arbeitsmarkt) nữa (nicht mehr)”, ông Hans-Heinrich Aldag, chủ tịch (Vorsitzender) tổ chức NSG, đã nói (sagen) hôm thứ ba (Dienstag) tại Hannover, thủ phủ (Hauptstadt) tiểu bang Niedersachsen. Hiện giờ (aktuell), trung bình (im Schnitt) mỗi bệnh viện trong tiểu bang Niedersachsen có bốn (vier) chỗ làm bỏ trống (unbesetzt) trong các khu hồi sức và chín (neun) chỗ trong các khu tổng quát (allgemeine Station).

Kể từ tháng giêng (Januar), các tiêu chỉ về nhân sự theo luật định (gesetzliche Personalvorgaben) cho cả nước (bundesweit) có hiệu lực (gelten) cho khoa y học hồi sức (Intensivmedizin), lão khoa (Geriatrie) và khoa phẩu thuật chấn thương (Unfallchirugie). Nó quy định (regeln), bao nhiêu (wie viele) nhân viên điều dưỡng nam nữ (Pfleger) phải làm việc (beschäftigen) cho bệnh viện trong các khoa (Abteilung) trên ít nhất (mindestens) cho một số bệnh nhân nhất định (bestimmte Anzahl von Patienten). Nếu con số này không đáp ứng (erfüllen) được, thì bệnh viện không có sự lựa chọn nào khác hơn, ngoài việc cất giường (Bett sperren). Quy định (Regelung) quá cứng nhắc (zu starr), ông Aldag than phiền (beklagen): “Dạy (beibringen) một bệnh nhân đánh răng (Zähneputzen), cũng có thể do một trị liệu viên hành vi (Ergotherapie) đảm nhận (übernehmen), khi không có nhân viên điều dưỡng ở đó (da.)”

Chính bà Carola Reimann (SPD), bộ trưởng bộ xã hội (Sozialministerin) tiểu bang Niedersachsen đã chỉ trích (kritisieren) các tiêu chỉ (Vorgabe) ràng: “quá đơn giản (sehr schlicht) và chỉ liên quan đến (bezogen) nhân viên điều dưỡng (Pflegepersonal)”. Bước kế tiếp (nöchster Schritt) là phải xác định (ermitteln) chỉ số (Quote) nhân viên điều dưỡng để tạo cơ hội (ermöglichen) cho việc sử dụng linh hoạt hơn (flexiblerer Einsatz) các nhóm ngành nghề khác nhau (unterschiedliche Berufsgruppe) trong các bệnh viện.

Tin dpa, hình tư liệu của Felix Kästle © dpa

Thứ năm ngày 12.09.2019
Thường xảy ra những vụ tấn công và ép buộc trong bệnh viện tâm thần.

Trong tất cả cơ sở tâm thần (psychiatrische Einrichtung), những người chăm sóc (Pfleger), bác sĩ (Arzt) và trị liệu viên (Therapeut) thường (oft) có ít thì giờ (wenig Zeit) cho bệnh nhân (Patient). Theo một cuộc thăm dò ý kiến mới (neue Umfrage), điều này đã mang đến nhiều hậu quả trầm trọng (dratische Auswirkung). Nay (nun) đã có sự chuyển biến quan trọng (wichtige Weichenstellung).

Vì (wegen) nhiều tắc nghẽn nhân sự (Persoanlenengpass) trong các viện tâm thần (Psychiatrie), theo kết quả (Ergebnis) một sự thăm dò ý kiến, nên thường xuyên (regelmäßig) dẫn đến những vụ tấn công (Übergriff) nhân viên (Beschäftigte) và sự cưỡng giam (Zwangsfixierung) bệnh nhân.

Gần (fast) một nửa (Hälfte) số nhân viên đã từng trải nghiệm (erleben) thường xuyên những cuộc tấn công thân thể (körperliche Übergriffe), theo cuộc thăm dò ý kiến của công đoàn (Gewerkschaft) Verdi cho thấy (zeigen), và được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) Berlin biết đến (vorliegen). Có 2.300 nhân viên lo về tâm thần (Psychiatrie-Beschäftigte) của 168 bệnh viện (Krankenhaus) được hỏi ý kiến.

Họ được phỏng vấn từ những kinh nghiệm (Erfahrung) trong bốn (vier) tuần lễ (Woche) trước (vor) cuộc khảo sát. Hơn (über) 80 phần trăm nhân viên cho rằng (angeben), trong giai đoạn (Zeitraum) này, họ đã bị chửi bới (Beschimpfung). Ba (drei) trong bốn (vier) nhân viên ít nhất (mindestens) cũng đã trải nghiệm (miterleben) một biện pháp cưỡng chế (Zwangmaßnahme), thậm chí (sogar) có một nửa ít nhất một lần (einmal) trong một tuần. Một trong năm (fünf) người từng có kinh nghiệm này trong mọi dịch vụ (Dienst). Bệnh nhân có thể bị cột (festhalten) bằng dây đai (Gurten), để họ không tự gây nguy hiểm (gefährden) cho bản thân (sich selbst) cũng như cho người khác. Hơn 60 phần trăm nhân viên nghĩ (meinen) rằng, một nửa hoặc hầu hết (fast alle) những biện pháp cưỡng chế có thể tránh được (vermeidbar) khi có nhiều nhân sự hơn.

Hơn (mehr als) 80 phần trăm người được hỏi ý kiến (Befragte) nói rằng, việc đồng hành ra ngoài (begleiteter Ausgang) đối với bệnh nhân là nhu cầu (Bedarf) chỉ có thể khả thi (möglich) đôi phần (teilweise) hoặc hoàn toàn không thể. Hơn ba phần tư (drei Viertel) nhân viên vì thế không thể tưởng tượng được (sich vorstellen) rằng, họ có thể làm việc (arbeiten) đến khi về hưu (Rente) với tình trạng nhân sự (Personalsituation) như hiện nay (derzeitig) trong viện tâm thần. 77 phần trăm nhân viên đánh giá (bewerten) sự phân phối (Besetzung) trong khu vực (Station) của họ thật khan hiếm (knapp) hoặc quá ít (viel zu gering).

Công đoàn Verdi muốn gây chú ý (aufmerksam machen) đến tình trạng nhân sự bấp bênh (prekär) trong các bệnh viện tâm thần tại Hội Nghị Hành Động (Aktionstag) trên toàn quốc (bundesweit) trong nhiều cơ sở (zahlreiche Einrichtung).

Mặt sau (Hintergrund) của vụ việc là một quyết định sắp diễn ra (bevorstehende Entscheidung) về (über) sự thiết lập nhân sự (Personalausstattung) trong các viện tâm thần. Trong ngày 19 tháng chín (September), Ủy Ban Liên Hợp Đức (Gemeinsame Bundesausschuss) sẽ quyết định về những tiêu chỉ (Vorgabe) cho sự thiết lập nhân sự. Đây là một hội đồng quyết định cao nhất (höchste Entscheidungsgremium) cho sự tự quản trị (Selbstverwaltung) trong ngạch y tế (Gesundheitswesen). Các công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenkasse), bệnh viện và bác sĩ đã đề xướng những tiêu chỉ tương ứng.

Bà Sylvia Bühler, thành viên ban lãnh đạo (Vorstandmitglied) công đoàn Verdi đã nói với thông tấn xã Đức dpa rằng: “Phải cấp bách (dringend) nâng lên (aufstocken) số lượng nhân sự.” Nhưng những tín hiệu (Signal) từ Ủy Ban Liên Hợp cho thấy rằng, đây là một đường hướng sai lầm (falsche Richtung). Khi không có sự chăm sóc tốt (gute Versorgung) hợp lý (nicht gerecht) theo đơn đề xuất (Antrag) của đại diện bảo hiểm y tế và nhà thương, thì chính phủ phải can thiệp (eingreifen). Chẳng hạn tăng (erhöhen) thời gian, dự kiến (vorsehen) là nhiều nhân viên lo mỗi bệnh nhân (pro Patient).

Tin dpa, hình Jörg Carstensen © dpa

Thứ tư ngày 11.09.2019
Khảo sát: Năm 2025 thiếu hơn 26.000 giáo viên tiểu học.

Nhiều trẻ em (Kinder) được sanh trong nước Đức và các trường tiểu học (Grundschule) ngày càng đầy hơn (voller) – nhưng (aber) thiếu (fehlen) giáo viên (Lehrer). Tổ Chức (Stiftung) Bertelsmann đã trình bày (vorlegen) những con số mới và quyết liệt (neue, dratische Zahlen). Các bộ trưởng văn hóa (Kultusminister) của những tiểu bang (Länder) nói (sagen) rằng: Đã (schon) được làm nhiều. Nhưng, đối với công đoàn (Gewerkschaft) GEW thì điều này vẫn chưa đủ (nicht ausreichen).

Đến năm 2025, theo dự báo (Prognose) của tổ chức Bertelsmann ít nhất (mindestens) thiếu 26.300 giáo viên cho các trường tiểu học. Như vậy, tình trạng (Lage) như vậy còn trầm trọng hơn (dramarischer) dự kiến (erwarten) của Hội Nghị Bộ Trưởng Văn Hóa (Kultusministerkonferenz, viết tắt là KMK). Hội nghị KMK trong tháng mười (Oktober) năm qua dự tính (errechnen) đến năm 2025 sẽ thiếu 15.300 giáo viên tiểu học (Grundschullehrer).

Sư khảo sát (Studie) của tổ chức Bertelsmann y cứ vào dự báo dân số (Bevölkerungsprognose) của Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) từ tháng sáu (Juni) vừa qua. Họ dự kiến (ausgehen) rằng đến năm 2025 có từ 3.254 đến (bis) 3.323 triệu trẻ em giữa (zwischen) 6 và 10 tuổi. Các chuyên gia (Expert) của công trình khảo sát Bertelsmann định hướng (sich orrientieren) theo những con số của họ và tính thêm 168.000 trẻ cộng vào số liệu cơ sở (Zahlenbasis) của hội nghị KMK đề xướng. Như vậy, theo các nhà khảo sát, thì đến năm 2015 phải tuyển (einstellen) thêm 11.000 giáo viên, chứ không như dự tính của KMK. Vì thế cho nên có con số 26.300 giáo viên tiểu học thiếu đến 2025.

Lý do (Grund), ngoài số sinh tăng (steigende Geburtenzahl), chủ yếu (vor allem) là sự nhập cư (Zuwanderung) vào Đức. “Một điều cũng cần phải được quan tâm đến (berücksichtigen) rằng, việc đào tạo (Ausbildung) giáo viên cũng phải mất (dauern) năm (fünf) đến (bis) bảy (sieben) năm. Nếu (wenn) hôm nay (heute) thiếu (Mangel) giáo viên toán (Mathematikerlehrer), thì phải mất đến bảy năm để có thêm (zusätzlich) giáo viên mới bổ sung (nachkommen)”, một vị bộ trưởng (Minister) giải thích (erklären).

Tuy nhiên, tình hình trong từng tiểu bang rất khác nhau (sehr unterschiedlich). Nên không phải là trong cả nước Đức thiếu toàn bộ hàng ngàn giáo viên được đào tạo đầy đủ.

Công Đoàn Giáo Dục và Khoa Học (Gewerkschaft Erziehung und Wissenschaft, viết tắt là GEW) yêu cầu (fordern) hãy để ý (mit Blick) đến việc khảo sát và hủy bỏ (abschaffen) tiêu chỉ ghi danh (Numerus clausus, viết tắt là NC) cho ngành sư phạm (Lehramt) tiểu học, cũng như (sowie) mở rộng (ausbauen) số lượng chỗ học cho ngành này. “Thật xấu hổ (Schande), khi những người trẻ đã quyết định chọn (sich entschieden) một nghề quan trọng (wichtiger Beruf) là giáo viên tiểu học, mà lại không có chỗ học (Studienplatz)”, ông Marlis Tepe, chủ tịch công đoàn GEW phát biểu (sagen).

Tin dpa, hình Daniel Rheinhardt © dpa

Thứ ba ngày 10.09.2019
Nhiều sự kích động và tấn công người tỵ nạn tại Brandenburg / Đông Đức.

Trong nửa năm đầu (erstes Halbjahr) của năm nay, cảnh sát (Polizei) cả nước Đức (bundesweit) ghi nhận (registrieren) có 609 vụ hình sự (Straftaten) nhắm đến (richten) việc chống đối (gegen) người tỵ nạn (Flüchtlinge) hoặc (oder) người đang xin tỵ nạn (Asylbewerber).

Những thủ phạm (Täter) đa phần (meistens) từ các thành phần cực đoan cánh hữu (Rechtsextremisten) . Đây là nội dung sự trả lời (Antwort) của chính phủ Đức (Bundesregierung) về thắc mắc (Anfrage) của đảng Tả khuynh (Linkspartei), và được tờ “Meue Osnabrücker Zeitung” thường thuật (berichten) trước tiên (zuerst).

Theo (laut) thống kê của cảnh sát (Polizeistatistik), trong quý thứ hai (2.Quartal) năm nay, riêng tại tiểu bang (Bundesland) Brandenburg ghi nhận đã có 124 vụ hình sự (Delikte) tấn công người tỵ nạn và những người đang xin tỵ nạn bên ngoài (außerhalb) chỗ cư ngụ (Unterlunft) của họ. Bối cảnh (Spektrum) sự việc đi từ sự kích động quần chúng (Volksverhetzung) như xúc phạm bằng lời lẽ (Beleidigung) cho đến (bis hin zu) việc đả thương nguy hiểm đến thân thể (gefährliche Körperverletzung). Trong tiểu bang Schleswig-Holstein, có cùng số cư dân (Einwohnerzahl) và trong cùng thời gian (Zeitraum), cũng đã có sáu (sechs) hành vi phạm pháp có động cơ chính trị (politisch motivierte Straftaten) nhắm đến người tỵ nạn và người đang xin tỵ nạn. Số lượng những người tìm sự che chở (Schutzsuchende) tại đây rõ ràng (deutlich) cao hơn (höher als) ở Brandenburg.

Phát ngôn viên (Sprecher) bộ nội vụ (Innenministerium) tại Postdam, thủ phủ (Hauptstadt) tiểu bang Brandenburg, ông Ingo Decker, giải thích (erklären) rằng, số lượng vụ việc (Fallzahlen) trong tiểu bang này ít ra (zumindest) đôi phần (teilweise) cũng là hậu quả (Folge) của “sự cảnh giác đặc biệt (besondere Wachsamkeit) của tiểu bang Brandenburg đối với (gegenüber) việc tuyên truyền của cánh hữu cực đoan (rechtsextreme Propaganda)”.  Điều này xảy ra, chẳng hạn việc treo (Aufhängen) một tấm áp phích gây tranh cải (umstrittenes Plakat) của đảng NPD (National Partei Deutschland, đảng cực hữu Đức) trong cuộc bầu cử quốc hội Âu châu (Europawahl) vừa qua đã bị các cơ quan an ninh (Sicherheitsberhöde) đánh giá (bewerten) như là một sự kích động quần chúng. Ở các tiểu bang khác, điều này được nhìn khác (anders sehen).

“Nhà nước (Staat) có bổn phận bảo vệ (Schutzpflicht) những người này”, bà Ulla Jelpke, chính khách nội chính (Innenpolitikerin) đảng Tả khuynh (Linkspartei) nhấn mạnh (betonen). Vấn đề này cũng được đánh giá đối với lời tuyên bố của ông Horst Seehofer (CSU), bộ trưởng nội vụ Đức (Bundesinnenminister), về vị trí mới (angekündigte Neuaufstellung) của các cơ quan an ninh trong phạm vi (Bereich) chủ nghĩa cực đoan hữu khuynh (Rechtsextremismus), sau vụ sát hại (Mord) ông Walter Lübcke, chủ tịch chính quyền (Regierungspräsident) tại Kassel.

Bộ nội vụ Đức bám chặt (festhalten) vào sự trả lời của họ rằng: “Tất cả nọi người trong xã hội (Gesellschaft) của chúng ta và cũng như nền chính trị (Politik) đều mang một trách nhiệm chung (gemeinsame Verantwortung tragen), trong việc phản chống một sự thỏa thuận im lặng (stilles Einverständnis) hoặc thậm chí (auch bloß) một sự chấp nhận thầm lặng (stilles Hinnehmen) những vụ tấn công như vậy (Anschag) rõ ràng (deutlich) từ một thiểu số (Minderheit) trong xã hội chúng ta.”

Trong nửa năm sau (zweites Halbesjahr) của 2018, con số các vụ tấn công có động cơ chính trị vào những người đang xin tỵ nạn và tỵ nạn thậm chí (sogar) còn cao hơn (noch höher) với 878 vụ hình sự. Tuy nhiên (allerdings), cảnh sát còn ghi nhận thêm (nachmelden) sau đó (später) nhiều vụ tấn công tiếp theo, một phần vì một động cơ chính trị (politisches Motiv) thường (manchmal) chỉ thể hiện (herausstellen) trong quá trình (im Lauf) các cuộc điều tra (Ermittlung).

Tin dpa, hình Nestor Bachmann © dpa

Thứ hai ngày 00.09.2019
Ung thư là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất trong các quốc gia giàu có.

Thế giới (Welt) hiện đang trải nghiệm (erleben) một sự chuyển tiếp (Übergang): Khi sự phát triển hiện nay (derzeitige Entwicklung) được duy trì (anhalten), thì chắc rằng trong tương lai (künftig) căn bệnh ung thư (Krebs) sẽ đứng hàng đầu (Spitzenreiter) các nguyên nhân phổ biến gây tử vong (globale Todesursache). Ít ra (zumindest), điếu này được các nghiên cứu gia (Forscher) đi đến kết luận từ sự phân tích (Analyse) hàng chục ngàn dữ liệu (Zehntausende Datensätze).

Những người ở lứa tuổi từ 35 đến 70 trong vài quốc gia giàu có và đang trên đà phát triển (reiche und aufstrebende Länder), thì ung thư hiện giờ (inszwischen) đã thay thế (ablösen) vị trí của các nguyên nhân chính gây tử vong (Haupttodesursache) là những bệnh như tuần hoàn tim-mạch (Herz-Kreislauf-Erkrankung). Đây là kết quả khảo sát (Studienergebnis) đã được trình bày (vorstellen) trong Hội Nghị Tim Mạch Âu Châu (Europäischer Kardiologie-Kongress, viết tắt là ESC) tại Paris, Pháp quốc.

Theo dữ liệu đã được công bố (veröffentliche Daten) trên tạp chí chuyên ngành (Fachmagazin) “Lancet”, thì thế giới hiện đang trải nghiệm (erleben) một sự thay đổi có tính cách quyết định (entscheidender Wandel) ở các bệnh không truyền nhiễm (Nichtübertragbare Krankheiten). Bởi vì bệnh tuần hoàn tim mạch tiếp tục (weiter) giảm (zurückgehen) trong nhiều quốc gia, thì ung thư có thể trở thành nguyên nhân gây tử vong đứng hàng đầu trên thế giới trong vài thập niên (Jahrzehnte) tới đây. Có thể nói rằng, các chiến lược y tế quốc gia (nationale Gesundheitsstrategie) cần quan tâm nhiều đến việc thích nghi (anpassen) tình trạng này.

Theo các nhà nghiên cứu, những bệnh tim mạch (kardiovaskuläre Erkrankung) trong các quốc gia giàu có kể từ chừng (etwa) một nửa thế kỷ (halber Jahrhundert) trở lại là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất (häufigste). Nhìn chung (insgesamt), bệnh tuần hoàn tim mạch vẫn còn tiếp tục là nguyên nhân chính gây tử vong: 40 phần trăm số ca tử vong (Todesfall) được ghi nhận có nền tảng (Hintergrund) ở tim mạch.

Trung bình (im Mittel), trong số những người tuổi từ 35 đến 70 sống trong các quốc gia giàu có hiện nay, các ca tử vong vì ung thư thường gấp đôi (doppelt) so với các bệnh tuần hoàn tim mạch. Các quốc gia giàu có theo một khảo sát (Untersuchung) được gọi là (sogenannte) “PURE” chẳng hạn như Kanada hoặc Thụy Điển (Schweden). Đức quốc (Deutschland) hoặc Áo (Österreich) không được nói đến (einbeziehen) trong sự phân tích (Analyse). Những quốc gia được xem là có mức thu nhập trung bình (mittleres Einkommen) như Trung Quốc (China), Ba Lan (Polen) và Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei); và các quốc gia nghèo (arme Länder) như Ấn Độ (Indien) và Tansnia.

Tại Đức, ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai (zweihäufigste) sau bệnh tuần hoàn tim mạch. 90 phần trăm trong số khoảng 230.000 ca tử vong vì ung thư mỗi năm không phải do khối u nguyên (Primärtumor), mà là (sondern) do di căn (Metastasen) – thường rất khó can thiệp (schwer bekämpfen). Khoảng (etwa) 500.000 bệnh ung thư mới được ghi nhận (registrieren) mỗi năm (jedes Jahr) trong nước Đức. Nguy cơ mắc bệnh (Erkrankungsrisiko) nhiều loại ung thư như vậy tăng (zunehmen) theo số tuổi (zunehmendes Alter). Như vậy, các con số này tăng theo sự lão hóa của xã hội Đức (älter werdende Gesellschaft). Các chuyên gia (Expert) dự đoán (ausgehen), mức tăng (Zunahme) lên tới 600.000 trường hợp mới mỗi năm (pro Jahr) cho đến năm 2030.

Những dữ liệu của khoảng 160.000 người ở độ tuổi từ 35 đến 70 của 21 quốc gia được phân tích cho các công trình khảo sát đã được trình bày tại Paris. Các ca tử vong liên quan đến bệnh tuần hoàn tim mạch của nhóm tuổi (Altersgruppe) trong các quốc gia đói nghèo lên đến khoảng hai rưỡi (zweieinhalb) nhiều hơn các nước giàu có – cho dù (obwohl) yếu tố rủi ro (Risikofaktor) đáng kể (wesentlich) đối với các bệnh như vậy trong các quốc gia công nghiệp giàu có phổ biến hơn

Nguyên nhân (Ursache) có lẽ (wahrscheinlich) rằng, sự chăm sóc sức khoẻ kém hơn (schlechtere Gesundheitsversorgung) trong các quốc gia đói nghèo, theo sự giải thích (Erklärung) của các nhà nghiên cứu thuộc nhóm ông Salim Yusuf thuộc đại học (Universität) MacMaster tại Hamilton và ông Gilles Dagenais thuộc đại học Laval – Quebec / Kanada. Nhìn chung, những yếu tố có thể tránh được (vermeidbare Faktor)  như béo phì (Übergewicht), thiếu vận động (Bewegungsmangel) và huyết áp cao (Bluthochdruck) đóng vai trò chính (große Rolle spielen) cho việc sinh ra (Entstehung) các chứng bệnh tuần hoàn tim mạch. Trong các quốc gia đói nghèo hơn, nạn ô nhiễm không khí (verschmuzte Luft) trong gia đình (Haushalt) và suy dinh dưỡng (Mangelernährung) cũng là những vần đề gây bệnh.

Ngay cả (auch wenn) việc có một cơ sở dữ kiện (Datenbasis) lớn (groß), thì cũng cần cẩn trọng (Vorsicht geboten) trong việc lý giải (Interpretation) các dữ liệu như vậy, các nhà nghiên cứu giải thích. Nhưng các kết quả (Ergebnisse) không thể được đánh đồng (generalisieren) cho tất cả các quốc gia trên quả địa cầu (Erde) này, vì lẽ (weil) “PURE” chưa đề cập đến (berücksichtigen) các quốc gia thuộc Tây và Bắc Phi (West- und Nordafrika) cũng như (sowie) Úc (Australien)

Tin dpa, hình Bernd von Juttrczenka © dpa

Thứ bảy ngày 07.09.2019
Làm thế nào áp dụng chánh niệm vào cuộc sống nghề nghiệp

Thay vì (statt) nhảy (springen) từ một công việc (Aufgabe) này sang những việc khác, khả quan và tiện ích hơn (produktiver) là nên tập trung (sich konzentrieren) vào một việc (Sache). Ai thực tập (üben) từng bước nhỏ (kleiner Schritt) chánh niệm (Achtsamkeit), có thể hỗ trợ (födern) khả năng (Fähigkeit) này trong việc làm (Job).

Không thể bất cứ ai cũng có thể hiểu (sich vorstellen) được khái niệm (Begriff) chánh niệm. Nó chủ yếu (vor allem) nói đến sự tập trung (Konzentration) vào sự việc Ngay Nơi Đây (Hier) và Bây Giờ (Jetzt).

Điều này cũng (auch) có thể giúp đỡ nhiều (hilfsreich) cho công việc, theo sự giải thích (Erklärung) của ông Dirk Windemuth, tâm lý gia (Psychologe) và giám đốc (Direktor) Viện Lao Động và Sức Khoẻ (Institut für Arbeit und Gesundheit, viết tắt là IAG) của Bảo Hiểm Tai Nạn Luật Định Đức (Deutsche Gesetzliche Unfallversicherung, trên tạp chí (Magazn) “Lao Động và Sức Khoẻ (Arbeit und Gesundheit), số phát hành (Ausagbe) 05/2019.

Người nào có thể điều khiển (leiten) chánh niệm, sẽ khả quan hơn (besser) nơi công việc,có sự tĩnh sáng (Reine) tự thân (selbst) và cuối cùng (am Ende) ít bị căng thẳng hơn (weniger gestresst). Để thực tập (trainieren) điều này, Bảo Hiểm Tai Nạn Luật Định Đức khuyên (empfehlen) nên làm những bài tập (Übung) sau đây cho cuộc sống nghề nghiệp hàng ngày (Berufsalltag)

– Hít thở sâu (tief durchatmen): Tốt nhất là trước (vor) khi làm việc, để tĩnh tâm (innehalten) và tập trung cho công việc sắp giải quyết

– Làm (arbeiten) từng bước một (Schritt für Schritt): Người nào suy nghĩ (sich überlegen) đến các mục tiêu (Ziel) họ có thể đạt được (erreichen) trong ngày (am Tag), và làm thế nào để bắt tay (angehen) vào công việc, thì có thể giảm bớt (reduzieren) sự căng thẳng (Stress).

– Vận động có ý thức (bewusst bewegen): Không suy nghĩ (den Kopf freikriegen) và chỉ (nur) tập trung (sich konzentrieren) vào sự đi dạo (Spaziergang) – điều này giúp cho sự thực tập chánh niệm.

– Đặt nghi vấn về những phản ứng (Reaktionen hinterfragen): Người nào luôn (immer wieder) bị kích thích (gereizt) hoặc có cảm giác quá tải (überfordert) trong một số tình huống nào đó (bestimmte Situation), thì nên tìm ra lý do (auf Grund gehen) của hành vi (Verhalten) đó. Cách làm việc có chánh niệm hơn (achtsamerer Arbeitsstil) là tìm cách (einen Weg finden) xuyên thủng (durchbrechen) cơ chế tự động (Automatismen) như vậy.

– Lắng nghe nhiều hơn (mehr zuhören): Trong các cuộc nói chuyện (Gespräche), người ta nên hướng (lenken) sự tập trung về người đối diện (Gegenüber), chứ không phải bản thân họ (auf sich selbst). Hãy để những người khác nói xong (ausreden) thay vì cướp lời họ (ins Wort fallen), như vậy sự truyền thông (Kommunikation) tự thiết lập (sich gestalten) khả quan và tiện ích hơn.

Tin dpa, hình Dietmar Gabbert © dpa

Thứ sáu ngày 06.09.2019
Một trong bốn sinh viên cư ngụ ở nhà hoặc ở thân nhân họ hàng.

Cư ngụ tập thể (Wohngemeinschaft, viết tắt là WG) là dạng cư ngụ ưa chuộng nhất (beliebteste Wohnform) của các sinh viên (Studierende). Tuy nhiên, các thành phố đại học (Universitätsstädte) vẫn thiếu (mangeln) chỗ ở có thể trả tiền được (bezahlbarer Wohnraum), cho nên các sinh viên thường (oft) phải sống với cha mẹ (Eltern) hay ở thân nhân họ hàng (Verwandte). Một công trình khảo sát (Studie) nay (nun) cho thấy (zeigen) tình trạng này như thế nào.

Ai học (studieren) trong các đô thị lớn (Großstadt) thường cư ngụ (wohnen) với cha mẹ. Theo một khảo sát của dịch vụ nhân sự (Personalanbieter) tìm việc làm cho sinh viên (Studentenjob) “Studitemps” cho thấy, trên cả nước Đức (bundesweit) có 24,5 phần trăm sinh viên sống (leben) với phụ huynh hoặc thân nhân họ hàng.

“Người nào đến từ một đô thị lớn và học ở đó (bleiben), đơn giản (einfach) sống tiếp tục với cha mẹ. Tiền mướn nhà cao (hohe Miete) thường (oftmals) không cho phép (zulassen) họ có một bước tiến (Schritt) cho tính tự lập (Selbstständigkeit)”, theo ông Eckhard Köhn, quản đốc (Geschäftsführer) dịch vụ trên.

Những con số cập nhật (aktuelle Zahlen) của khóa mùa đông (Wintersemester) vừa qua 2018/19 cho thấy rằng, ví dụ (beispielsweise) tại Frankfurt am Main có nhiều hơn (weit mehr als) một trong ba sinh viên (37,2 phần trăm) vẫn (noch) cư ngụ ở nhà (zu Hause). Cũng như vậy, tại Hamburg (28 phần trăm) và München (33,3 phần trăm), đây là loại ưa thích nhất của sinh viên về việc cư ngụ.

Từ nhiều năm qua, số sinh viên trên cả nước sống với cha mẹ hoặc thân nhân họ hàng ngày càng tăng (steigen). Trong khóa mùa động 2014/15 chỉ có một trong năm người. Ba (drei) khóa mùa đông sau đó (später) như 2017/18 con số cao nhất (Höchstwert) đạt (erreichen) đến 25,1 phần trăm. Tuy nhiên, cư ngụ tập là một hình thức cư ngụ ưa chuộng nhất của hầu hết các sinh viên. Theo ông Köhn, các phòng (Zimmer) trong WG tương đối (relativ) là một giải pháp với giá cả phù hợp (preisgünstige Lösung).

Tin dpa, hình Jens Kalaene © dpa

Thứ năm ngày 05.09.2019
Đa phần những người cần điều dưỡng trong năm 2017 đã được chăm sóc tại nhà.

Điều này có liên quan đến 2,59 triệu người hoặc (oder) 76 phần trăm tất cả những người cần điều dưỡng (Pflegebedürtige), theo Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) thông báo (mitteilen).

Nói chung (insgesamt), cuối năm 2017 và sau đó (danach) có 3,41 triệu người có nhu cầu chăm sóc (pflegebedürftig) theo tinh thấn (im Sinne) đạo luật bảo hiểm điều dưỡng (Pflegeversicherungsgesetz). Đối với năm 2018, vẫn chưa cập nhật con số thống kê (aktuelle statistische Angaben).

Thân nhân gia đình (Familienangehörige) rất thường (sehr häufig) đảm nhận (übernehmen) việc chăm sóc, có 1,76 triệu trường hợp (Fall), theo Cục Thống Kê Đức. Thêm vào đó (hinzu), có 830.000 người cần điều dưỡng sinh sống (leben) trong hộ gia đình tư (private Haushalte). Tuy nhiên (allerdings) đôi phần (teilweise) hoặc được hoàn toàn (vollständig) chăm sóc bởi các dịch vụ điều dưỡng bên ngoài (ambulanter Pflegedienst). Gần (knapp) một phần tư (Viertel) những người cần điều dưỡng, tổng cộng (insgesamt) 820.000, được chăm nom (betreuen) hoàn toàn (vollstationär) trong các viện điều dưỡng (Pflegeheim).

Tin dpa, hình Jana Bauch © dpa

Thứ tư ngày 04.09.2019
Bạn lật tẩy những thư đòi nợ như sau.

Khi một thư đòi nợ (Inkasso-Schreiben) bay (flattern) vào nhà (ins Haus), thường gây sự hoảng sợ (Schreck) lớn (groß). Nhưng không phải lúc nào (nicht immer) việc đòi hỏi (Forderung) như vậy chính đáng (berechtigt). Vì lẽ (denn), trong nhiều trường hợp (Fall), bưu phẩm (Post) từ những bọn lừa đảo (Betrüger). Làm thế nào để lật mặt (enttarnen) bọn lừa tiền (Abzocke):

Ai không mau (schnell) chuyển tiền (überweisen), sẽ bị ép trả tiền (Zwangsvollstreckung). Với giọng điễu hâm dọa (Drohung) này, kẻ lừa đảo gây áp lực (Druck aufbauen) lên các Bạn. Họ tự cho (sich ausgeben) rằng, họ là dịch vụ đòi tiền (Inkassodienste) được chủ nợ (Gläubiger) ủy nhiệm (beauftragen), để thu (eintreiben) những món nợ (Schulden).

Nếu ai nhận (erhalten) một loại thư như vậy (solches Schreiben), thì điều trước tiên (erst) nên tự hỏi (sich fragen) rằng, có phải họ đã đặt hàng (bestellen) như vậy hay không, trung tâm người tiêu dùng (Verbraucherzentrale) Brandenburg khuyên (raten) như vậy.

Khi có sự hoài nghi (Zweifel) thì số tài khoản (Kontonummer) có thể là một ẩn số (Indiz) của một vụ tìm cách lừa đảo (Betrugsversuche): Chì khi ở đầu (am Anfang) có hai mẫu tự lớn (beide Großbuchstaben) DE, thì nó liên quan đến một tài khoản Đức (deutsches Konto). Một số nước ngoài (ausländische Nummer) chứng tỏ đây là một bức thư không đúng đắn (unseriöses Schreiben), theo các nhà bảo vệ người tiêu thụ (Verbraucherschützer). Trung tâm người tiêu thụ Brandenburg có công khai (veröffentlichen) trên trang trực tuyến của họ (Internetseite) một danh sách (Liste) những số IBAN được bọn lừa đảo sử dụng (verwenden). Và như thế, Bạn đừng bao giờ chuyển tiền cho bọn chúng.

Tin dpa, hình Jens Buttner © dpa

Thứ ba ngày 03.09.2019
Bệnh sởi đang gia tăng tại Châu Âu

Sau nhiều năm nỗ lực (Austrengung) diệt trừ (ausrotten) virút gây tử vong (tödlicher Virus), nay ngày càng có (wieder mehr) nhiều người tại châu Âu bị nhiễm (sich anstecken) sởi (Masern). So (im Vergleich) với năm 2018, số lượng (Zahl) người bệnh (Erkrankte) đã tăng gấp đôi (Doppelte).

Con số bệnh sởi tại châu Âu trong năm nay rõ ràng (deutlich) đã gia tăng (zunehmen). Tổ Chức Y Tế Thế Giới (Weltgesundheitsorganisation, viết tắt là WHO) đã tính (zählen) trong sáu tháng đầu có (bereits) khoảng 90.000 trường hợp (Fall). Rõ ràng, so với năm 2018 đã tăng gấp đôi, theo thông báo (Mitteilung) của WHO hôm thứ năm (Donnerstag) tuần trước (Vorwoche) tại Genf. Ngoài ra (außerdem), có bốn (vier) quốc gia (Länder) bị mất (verlieren) chế độ (Status) “không mắc bệnh sởi” (masernfrei) là Albanien, Tschechien (Tiệp), Griechenland (Hy Lạp) và Großbritannien (Anh Quốc).

Tổng cộng (insgesamt), có 53 quốc gia được tổ chức WHO xem là những khu vực cần kiểm tra (untersuchte Gebiet) đang có sự lan truyền (Verbreitung) bệnh sởi và đỏ ngứa bởi virus (Röteln). Trong số này có 48 quốc gia đang bị những trường hợp sởi. Đặc biệt (besonders), là Ukraine, Kasachstan, Georgien und Russland (Nga). Bệnh sởi đã xuất hiện (auftreten) ở đó trong nửa năm đầu là 78 phần trăm. Sởi diễn ra (vorkommen) trong nước Đức còn (noch) giới hạn (begrenzt) tùy địa phương (regional).

Một sự phát triển như vậy (solche Entwicklung) đã không còn kể từ khi bắt đầu (beginnen) có sự giám sát chính xác (genaue Überwachung) từ năm 2012. “Sự trở lại (Rückkehr) bệnh sởi thật đáng lo ngại (besorgniserregend)”, theo ông Günther Pfaff, một chuyên gia (Expert) của tổ chức WHO. Nếu không có chỉ số chích ngừa phổ biến cao (verbreitet hohe Impfrate) thì trẻ em (Kinder) cũng như (wie) người lớn (Erwachsene) phải mắc bệnh (leiden) vô cớ (unnötig) và chết thảm thiết (tragischerweise sterben). Kể từ (seit) tháng giêng (Januar) 2018, khoảng (rund) 100 người trong châu Âu bị bệnh truyền nhiễm nặng (hochansteckende Infektionskrankheit). Sự phát triển (Entwicklung) này cho thấy (zeigen) tính cấp thiết (Notwendigkeit) về sự chích ngừa khoảng 95 phần trăm trong quần chúng (Bevölkerung). Theo tổ chức WHO, có 39 quốc gia được xem là không bị bệnh truyền nhiễm, như vậy có thêm hai quốc gia nhiều hơn năm 2017.

Những nỗ lực nhiều năm qua gần như (fast) đã diệt trừ bệnh sởi. „Nhưng sự bộc phát (Ausbruch) của nó cho thấy rằng, vẫn cần phải nỗ lực (Mühe) nhiều hơn nữa“, theo bà Zsuzsanna Jakab, giám đốc khu vực (Regionaldirektorin) Âu Châu của tổ chức WHO. Đã đến lúc phải nói lên (ansprechen) điều gì dẫn đến việc ngăn chận sự lan tràn tiếp tục con Virus giết người này. Cho nên, cần phải tận dụng mọi cơ hội (Gelegenheit) chích ngừa thường xuyên cho trẻ em. Đối với người lớn, cần phải giải thích cặn kẽ (aufklären) chế độ chích ngừa (Impfstatus) và nhất là phải chích ngừa.

Theo Viện (Institut) Robert-Koch, đến cuối tháng bảy (Ende Juli), trong nước Đức có hơn (mehr als) 450 trường hợp bệnh sởi (Masernfälle). Năm 2018 có khoảng (etwa) 540 vụ, 2017 tầm 930. Sự bộc phát bệnh sởi xảy ra hàng năm (jährlich) và tùy địa phương, số lượng có chênh lệch cao (große Schwankung).

Tin dpa, hình Friso Gentsch © dpa

Thứ hai ngày 02.09.2019
Nghi phạm phải vào bệnh viện tâm thần

Một tháng sau vụ tấn công gây tử thương (tödliche Attacke) ở sân ga (Gleis) nhà ga chính (Hauptbahnhof, thường viết tắt là HB) tại thành phố Frankfurt, nghi phạm (Tatverdächtiger) tạm thời (vorläufig) được giam giữ (unterbringen) trong một bệnh viện tâm thần (psychiatrisches Krankenhaus). Theo Công Tố Viện (Staatsanwaltschaft) tại Frankfurt cho biết (mitteilen) rằng, lệnh bắt giam (Haftbefehl) được chuyển đổi (umwandeln) thành một lệnh tạm trú (Unterbringungsbefehl) tương xứng (entsprechend). Việc này cần thiết (erforderlich), vì lẽ (da) người đàn ông (Mann) 40 tuổi này là „mối nguy hại cho công chúng“ (Gefahr für die Allgemeinheit).

Người đến từ Eritree, sống (leben) ở Thụy Sĩ (Schweiz) từ năm 2006, bị cáo buộc (vorwerfen) rằng, vào ngày 29 tháng bảy (Juli) 2019 đã xô (stoßen) một cậu bé tám tuổi (Achtjährige) cùng người mẹ của bé xuống đường rầy, trong lúc đoàn tàu ICE đang tiến vào nhà ga (einfahren). Đứa bé trai (Junge) chết (sterben) ngay trên đường rầy (Gleisbett); người mẹ vào giây phút cuối (letzte Sekunde) đã có thể tự cứu sống (sich retten). Một bà cụ (ältere Frau) khác cũng bị tấn công (attackieren), nhưng đã có thể tự bảo vệ, nên không bị đẩy xuống đường rầy.

Theo một giám định viên (Sachverständige), đã khám nghiệm (überprüfen) tình trạng tinh thần (psychische Verfassung) của nghi phạm trong tuần qua, cho biết rằng, người đàn ông này bị „chứng bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenie), theo kiến thức hiện thời (gegenwärtiger Erkenntnisstand) rất có thể (am ehesten) là chứng tâm thần phân liệt hoang tưởng (paranoide Schizophrenie)“, theo Công Tố Viện cho biết (mitteilen). Xác suất cao (hohe Wahrscheinlichkeit) là do căn bệnh (Erkrankung), y vẫn có thể tiếp tục thực hiện (begehen) những hành vi bất hợp pháp đáng kể (erhebliche rechtswidrige Taten) trong tương lai (künftig). Vì lẽ đó (deshalb), việc đưa vào ở (Unterbringung) trong một bệnh viện tâm thần là điều cần thiết.

Tin dpa, hình Arne Dedert © dpa

Chủ nhật ngày 01.09.2019
Vẫn còn nhiều công ty tìm người học nghề.

Gần (kurz) bắt đầu năm đào tạo mới (nue Ausbildungsjahr), nhiều công ty (Betrieb) vẫn (noch) đang tìm (auf der Suche) người học nghề (Auszubildende, viết tắt là Azubis). Đơn cử (zum Beispiel), tình trạng đào tạo (Ausbildungssituation) cho ứng viên (Bewerber) tại Frankfurt hiện nay (derzeit) rất tốt đẹp (sehr gut), theo chuyên gia về đào tạo (Ausbildungsexperte) của Cục Công Nghệ và Thương Mãi (Industrie- und Handelskammer, viết tắt là IHK) tại Frankfurt, ông Frank Ziemer. Thị trường chỗ đào tạo (Lehrstelle-Börse) của IHK tại Frankfurt cho biết mới đây (zuletzt) vẫn còn 680 chỗ chưa người ghi danh (unbesetzt).

Cuối tháng sáu (Juni) năm nay, Cục Tiểu Công Nghệ (Handwerkskammer, viết tắt là HWK) tiểu bang Hessen cho biết (melden) rằng, đã có 4998 hợp đồng đào tạo mới (neuer Lehrvertrag) được ký kết (abschließen). Tương đương (entsprechen) cộng (Plus) 1,7 phần trăm so với (im Vergleich) cùng tháng năm ngoái (Vorjahrsmonat).

Lấy tiểu bang Hessen làm ví dụ, cho thấy cơ hội tốt (gute Chance) cho người học nghề cũng được Cục Lao Động (Arbeitsagentur) xác nhận (belegen) qua những con số (Zahl) ghi nhận của họ. Trong tháng sáu, riêng trong tiểu bang Hessen còn khoảng 16.000 chỗ học chưa người ghi danh, đồng thời (gleichzeitig), vẫn có khoảng 14.600 thanh thiếu niên (Jugendliche) đang tìm chỗ đào tạo. Điều này cho thấy rằng, vẫn còn nhiều chỗ trống hơn năm ngoái.

Các lý do (Grund) được nhà chức trách (Behörde) nêu ra (nennen) rằng, nói chung (insgesamt) có ít học sinh rời ghế nhà trường (wenige Schulabgänger) và đa phần có xu hướng (trend) tiếp tục lên (fortfahren) đại học (Studium) sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông với bằng tú tài (Abitur), hơn là đi học nghề.

Tin dpa, hình tư liệu của Jan Woitas © dpa

Xem (435)