» » Tin Đức Quốc tháng 05.2019

Tin Đức Quốc tháng 05.2019

Thứ hai ngày 27.05.2019
Công Đoàn Đức cho rằng sự bình đẳng giữa nam nữ nhân viên chưa được thực hiện theo hiến pháp.

70 năm sau khi ban hành hiến pháp (Grundgesetz), điều (Artikel) ghi trong hiến pháp „nam nữ bình đẳng“ (Männer und Frauen sind gleichberechtigt) theo quan điểm (Sicht) của các công đoàn (Gewerkschaft) vẫn chưa được thực hiện (nicht erfüllt).

„Chính sách (Politik) cần phải làm nhiều hơn nữa (mehr tun) để hoàn thành (erfüllen) nhiệm vụ của hiến pháp (Verfassungsauftrag), bà Elke Hannack, phó chủ tịch công đoàn Đức (stellvertretende DGB-Vorsitzende) nói (sagen) với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa). Vẫn còn nhiều phụ nữ kiếm tiền (verdienen) ít hơn (verdienen) và là thiểu số (Minderheit) trong quốc hội (Parlament). „Những cải cách luật bầu cử sắp tới (anstehende Wahlrechtsreform) phải được chính phủ Đức (deutsche Regierung) và các tiểu bang (Länder) sử dụng, để thật sự (endlich) thiết lập (herstellen) sự bình đẳng (Parität) trong các quốc hội“, bà Hannack yêu cầu (fordern).

Để có nhiều phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo (Führungsposition), thì những tuyên bố ý muốn (Absichtserklärung) của kinh tế (Wirtschaft) vẫn chưa đủ (nicht ausreichen). „Quan trọng (wichtig) là những chỉ số cố định (feste Quote) và các biện pháp trừng phạt (Sanktion) không được tôn trọng (einhalten) và điều này cũng có giá trị cho các cấp lãnh đạo (Vorstandebene), bà Hannack nói. Ngoài ra (außerdem), chính sách cũng phải đảm bảo (sorgen) rằng, công việc làm (Erwerbsarbiet) và việc chăm sóc (Sorgearbeit) giữa (zwischen) các phái (Geschlecht) phải được phân bố (verteilen) công bằng (fair).

„Như vậy, chúng ta cần (brauchen) sự chủ quyền giờ giấc (Zeitsouveränität) vì lợi ích (im Sinne) của công nhân (Beschäftigte). Đây là sự đóng góp (Beitrag) cho một xã hội (Gesellschaft), ở trong đó sự bình đẳng không chỉ (nicht nur) trên giấy tờ (auf dem Papier), mà (sondern) nó cũng phải được thật sự thự thi (durchführen).

Tin dpa, hình Michael Kappeler

Chủ nhật ngày 26.05.2019
Ông Schäuble, Chủ Tịch Quốc Hội Đức,  khuyến cáo về sự quá tải của hiến pháp

Hiến Pháp (Grundgesetz) Đức nay đã 70 tuổi. Một vị thẩm phán tòa án hiến pháp (Verfassungsrichter) mô tả (bezeichnen) nó như “một trường hợp may mắn cho nước Đức” (Glücksfall für Deutschland). Nhưng (jedoch) ông Wolfgang Schäuble (CDU), chủ tịch quốc hội Đức (Bundestagspräsident) có những lời khuyến cáo (mahnende Worte). Ông đã yêu cầu (fordern) đừng làm quá tải (Überfrachtung) hiến pháp mà hãy dành chỗ (Spielraum) cho nền chính trị (Politik).

Trong một bài chia xẻ (Beitrag) cho tờ “Frankfurte Allgemeine Zeitung” nhân kỷ niệm 70 năm thành hình (Bestehen) hiến pháp Đức, ông đã cảnh báo (warnen) sự “hợp pháp hóa quá độ” (überbordende Verrechtlichung).

Ông đơn cử (nennen) một ví dụ (Beispiel) là việc cải cách luật bầu cử (Wahlrechtsreform). Bởi việc tuyên luật chi tiết quá (detailiertere Rechtssprechung) nên điều này „từ lâu (längst) đã trở thành một hình vuông của vòng tròn để giải thích theo xu hướng chính trị (Politik)“. Ông Schäuble nói thêm (hinzufügen) rằng „chúng ta không nên để cho những quy lệ (Ordnung) trở nên cứng nhắc (erstarren) bởi (durch) xu hướng cầu toàn (Perfektion) của mình để rồi không thể cải cách (reformieren) thêm được nữa (nicht mehr)“

Còn vị thẩm phán hiến pháp (Verfassungsrichter), ông Stephan Harbarth, đã mô tả (bezeichnen) hiến pháp hiện nay (derweil) như là một „trường hợp may mắn (Glücksfall) cho nước Đức“. Nó là „lá chắn bảo vệ (Schutzschild) chống lại những luồng (Strömung) phản nghịch hiến pháp (verfassungsfeindlich“, vị phó chủ tịch (Vizepräsident) tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) đã phát biểu (sagen) trên tờ „Rhein-Neckar-Zeitung“ phát hành (Ausgabe) hôm thứ năm (Donnerstag). Đồng thời (zudem), ông khuyến cáo (anmahnen) những nỗ lực đóng góp của quần chúng (bürgerliches Engagement) cho nền dân chủ (Demokratie). „Cho dù có một hiến pháp tốt nhất (beste Verfassung) mà không có sự hợp tác tích cực của nam nữ công dân cho tự do (Freiheit), dân chủ và pháp quyền (Rechtsstaatlichkeit) đối với (gegenüber) kẻ thù (Feinden) thì rốt cuộc (letztlich) nó cũng bất lực (wehrlos)“, ông nói.

Đúng 70 năm sau khi ban hành (Verkündung) hiến pháp, người Đức hôm thứ năm vừa qua đã tổ chức liên hoan (feiern) tại Berlin và Karlsruhe kỷ niệm ngày hiến pháp ra đời. Tổng Thống Đức (Bundespräsident), ông Frank-Walter Steinmeier, đã mời (einladen) 200 công dân (Bürger) tham dự bàn cà phê (Kaffeetafel) lúc 14:00 giờ trong công viên (Park) của lâu đài (Schloss) Bevellevue tại dinh Tổng Thống. Nơi đây, khách mời đã thảo luận (diskutieren) với Tổng Thống cũng như bà Thủ Tướng (Bundeskanzerlin) Angela Merkel (CDU), Chủ Tịch Quốc Hội Wolfgang Schäuble (CDU), Chủ Tịch Thượng Viện (Bundesratpräsident) Daniel Günther (CDU), Chủ Tịch Tòa Án Hiến Pháp Đức Andreas Voßkuhle về câu hỏi (Frage) đặt ra (stellen) là: „Nước Đức có tốt không?“ (Deutschland in guter Verfassung?)

Vào buổi tối (am Abend) tại Karlsruhe, nơi đặt trụ sở (Sitz) tòa án hiến pháp Đức, đã mở cửa (öffnen) nhiều ngày hội hiến pháp (mehrtägtiges Verfassungsfest) bắt đầu từ 20 gờ tối. Hiến pháp Đức được tuyên bố ngày 23 tháng năm (Mai) 1949 và sau đó (snschließend) có hiệu lực (in Kraft treten) cho Cộng Hòa Liên Bang Đức (Bundesrepulik). Trong cùng năm đó, nước DDR (Cộng Hòa Dân Chủ Đức, nước cộng sản Đông Đức trước đây) cũng cho ra đời một hiến pháp riêng của họ. Sau khi nước Đức thống nhất (Wiedervereinigung) thì Luật Căn Bản (Grundgesetz) là hiến pháp chung cho cả nước Đức (gesamtdeutsche Verfassung).

Tin dpa, hình Jens Kalaene

Thứ bảy ngày 25.05.2019
Người đóng bảo hiểm y tế theo luật định phải trả thêm tiền cho việc điều trị.

Vẫn luôn có nhiều (immer mehr) người đóng bảo hiểm y tế theo luật định (gesetzliche Krankenversicherte) phải chi thêm tiền (zuzahlen) cho việc điều trị (Heilbehandlung). Đây là câu trả lời (Antwort) của Bộ Y Tế Đức (Bundesgesundheitsministerium) đối với thắc mắc (Anfrage) của đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion) trong quốc hội Đức (Bundestag) được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết đến (vorliegen). Và nguồn tin này đã được Mạng Biên Tập Đức (Redaktionsnetzwerk Deutschland) tường thuật (berichten) trước nhất (zuerst) hôm thứ năm (Donnerstag).

Theo câu trả lời thì khoản chi thêm (Zuzahlung) đã tăng (steigen) giữa (zwischen) năm 2016 và 2018 từ 609 lên 668 triệu (Millionen) Euro. Lý do chính (Hauptgrund) của sự gia tăng (Anstieg) là mức chi cao đã được quyết định (beschlossene höhere Vergütung) cho công nhân (Beschäftigte) trong các lãnh vực (Bereich) từ những năm qua.

Người đóng bảo hiểm theo luật định phải trả (zahlen) thêm (zusätzlich) mười (zehn) Euro mỗi toa chỉ định (Verordnung) cho việc điều trị (Behandlung) với các nhà vật lý trị liệu (Physiotherapeut), động tác trị liệu (Ergotherapie) hoặc ngôn ngữ trị liệu (Logopädie) mười phần trăm phí tổn (Kosten).

Ông Achim Kessler, nghị viên quốc hội (Bundestagsabgeordnete) thuộc đảng Tả khuynh (Linke) yêu cầu (fordern) hãy hủy bỏ (abschaffen) hoàn toàn (komplett) việc trả thêm này (ZUzahlung). Vì lẽ, nó có thể dẫn đến tình trạng bệnh nhân không chịu điều trị bởi phải trả thêm tiền, mặc dù (obwohl) việc trị liệu thật sự (eigentlich) cần thiết (notwendig) đối với họ.

Tin dpa, hình minh hoạ (Illustration) của Lino Mirgeler

Thứ sáu ngày 24.05.2019
Người hưu trí phải báo dịch vụ hưu trí biết khi thay đổi địa chỉ cư ngụ.

Lúc dọn nhà (Umzug), người hưu trí (Rentner) thường không nghĩ (denken) ngay (sofort) đến việc khai báo (melden) địa chỉ mới (neue Adresse) cho dịch vụ hưu trí (Renten Service). Điều này rất quan trọng (sehr wichtig) để tiền hưu (Rente) được tiếp tục (weiterhin) chuyển vào trương mục (Konto) của họ. Việc làm này bắt buộc (unabhängig) cho dù việc dọn nhà ngay trong (innerhalb) nước Đức hoặc (oder) ra nước ngoài (ins Ausland). Cần thiết (erforderlich) là một văn kiện thông báo (schriftliche MItteilung) ghi rõ số bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherungsnummer) của đương sự. Điều này được Liên Hội Bảo Hiểm Hưu Trí Đức (Deutscher Rentenversicherung Bund) tại Berlin lưu ý (hinweisen).

Để có thể trả (auszahlen) tiền hưu trí. cơ quan dịch vụ hưu trí cần (benötigen) địa chỉ hiện thời (akteulle Adresse) của người hưu trí. Nếu không khai báo địa chỉ mới sau khi dọn nhà thì cơ quan dịch vụ hư trí có thể tạm (zunächst) ngưng (stoppen) việc trả tiền hưu tiếp tục để tránh (veremeiden) việc trả quá mức (Überzahlung).

Khi đương sự (Betroffene) tự khai báo (sich melden) địa chỉ mới nơi cơ quan dịch vụ hưu trí, thì tiền hưu được chuyển trở lại (wieder überweisen). Trong tờ quyết định hưu trí (Rentenbescheid) và trên thông báo  thích nghi tiền hưu (Rentenanpassungsmitteilung) có ghi (vermerken) địa chỉ của cơ quan dịch vụ hưu trí thẩm quyền (zuständig).

Tin dap, hình Philipp Brandstädter

Thứ năm ngày 23.05.2019
Quốc Hội Đức chấp thuận cho người khuyết tật có quyền bỏ phiếu bầu cử.

Người khuyết tật (Behinderte) được chăm sóc (betreuen) mọi lãnh vực trong cuộc sống (Lebensbereiche) cũng được bỏ phiếu bầu quốc hội Đức (Bundestagswahl) và bầu cử Âu Châu (Europawahl).

Quy định không cho người khuyết tật bỏ phiếu đã được quốc hội Đức hủy bỏ (aufheben). Trước cuộc bầu cử quốc hội Âu Châu thật sự (zwar) việc cải cách (Reform) này đến quá trễ (zu spät), nhưng những người khuyết tật cũng có thể làm đơn (auf Antrag) tham gia cuộc bầu cử Âu Châu vào ngày chủ nhật (Sonntag) 26.05 tới đây, vì tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) trong tháng qua đã chấp thuận (stattgeben) đơn khẩn (Eilantrag) liên quan đến vụ việc.

Hiện có hơn (mehr als) 80.000 người khuyết tật sống trong nước Đức và được tòa án (Gericht) cử (bestellen) người chăm sóc (Betreuer) cho tất cả lãnh vực trong cuộc sống, cũng chỉ vì họ bị tâm lý (psychisch) hay tâm thần (geistig beeinträchtigt).

Việc loại bỏ quyền bầu cử chung chung (genereller Wahlrechtsausschuss) đối với thành phần này đã bị tòa án hiến pháp Đức xếp vào loại (einstufen) vi hiến (verfassungswidrig). Do đó (deshalb), quyền bầu cử của những người khuyết tật được chăm sóc hoàn toàn (vollbetreute Behinderten) nay (nun) được công nhận (zuerkennen) chẳng hạn (wie) những phạm nhân (Straftäter) được điều trị trong một bệnh viện tâm thần (psychiatrische Klinik) vì không có khả năng gây tội (Schulunfähigkeit) bởi vấn đề tâm lý hay tâm thần, mà cho đến nay (bislang) vì lẽ đó họ không thể đi bỏ phiếu (zur Wahl gehen) được.

Tin dpa, hình Jörg Carstensen

Thứ tư ngày 22.05.2019
Thuốc chống đau nhức nào không thích hợp cho thanh thiều niên?

Khi không thể chịu đựng được (unerträglich) cơn đau nhức (Schmerz) thì trẻ em (Kinder) và thanh thiếu niên (Jugendliche) cũng có thể uống (einnehmen) thuốc chống đau nhức (Schmerztablette). Nhưng (doch) không phải tất cả các chất tác dụng (Wirkstoffe) đều thích hợp (geeignet) cho người trẻ nên phụ huynh (Eltern) cũng nên cẫn trọng (aufpassen) về liều lượng (Menge) của nó.

Đối với chứng đau đầu (Kopfschmerz) và nhiều chứng đau nhức khác thì thanh thiếu niên cũng có thể dùng (nehmen) thuốc chống đau nhức (Schmerzmittel) như (genau) người lớn (Erwachsene). Tuy nhiên (allerdings), không để chúng tự sử dụng mà không giám sát (unbeaufsichtigt) và không có giới hạn (unbegrenzt), vì (denn) chúng vẫn thiếu (fehlen) kinh nghiệm (Erfahrung). Điều này đã được Phòng Dược Phẩm (Apothekerkammer) tiểu bang Niedersachsen lưu ý (hinweisen).

Đồng thời không phải tất cả các loại thuốc (Medikament) nào chống đau nhức cũng phù hợp với mọi lứa tuổi (Alterklasse). Chất tác dụng ASS (Acetylsalicylsäure, còn gọi là aspirin) chẳng hạn trên nguyên tắt (in der Regel) không dành cho (nichts) thanh thiếu niên và trẻ dưới 12 tuổi. Thay vào đó (stattdessen), nên dùng thuốc có chứa chất Paracetamol, Ibuprofen hoặc (oder) Naproxen. Triptane được sử dụng để chống đau nhức nửa đầu (Migräne) không được phép cho trẻ dưới tuổi thành niên (Minderjährige) uống và tự chịu trách nhiệm (auf eigene Faust).

Bằng không (ansonsten), các quy tắc tương tự (ähnliche Regel) cũng có giá trị (gelten) cho người lớn cũng như thanh thiếu niên. Khi chưa có sự tư vấn của bác sĩ (ärztliche Beratung) thì chúng chỉ được phép uống thuốc chống đau nhức liên tục (am Stück) tối đa (höchstens) ba (drei) đến (bis) bốn (vier) ngày và không hơn (nicht mehr) mười (zehn) ngày mỗi tháng (pro Monat).

Những người thường (häufig) cầm cự (kämpfen) đau đầu và những chứng đau nhức khác cũng nên thích ứng với cách khác như kỹ thuật thư giãn (Entspannungstechnik) chống (gegen) căng thẳng (Stress) chẳng hạn (etwa) như kem mỡ nhiệt (Wärmesalben) xoa chống đau lưng. Và uống nước (Trinken) cũng có thể giúp đỡ (helfen), bởi nguyên nhân (Ursache) của một cơn nhức đầu nhẹ (leichter Kopfschmerz) thường(oft) đơn giản do thiếu nước (simpler Flüssigkeitsmangel) trong cơ thể (Körper).

Tin dpa, hình Andrea Warnecke

Thứ ba ngày 21.05.2019
Hàng trăm ngàn người Đức đi lại ra nước ngoài lám việc.

Hàng triệu người sống trong nước Đức chấp nhận di chuyển đoạn đường xa (weite Strecke) để đến chỗ làm (Arbeitsplatz). Cho nên, họ đi lại (pendeln) không chỉ riêng bên trong (innerhalb) ranh giới quốc gia (Landesgrenze).

Hàng trăm ngàn người lao động (hunderttausende Beschäftigte) trong nước Đức đi lại sang nước ngoài (Ausland) để làm việc (arbeiten). Theo kết quả một thống kê Âu Châu (europäische Statistik), trong năm qua có 282.100 người đi lại (Pendler) ra nước ngoài.

Sự khảo sát (Erhebung) của Cơ Quan Thống Kê (Statistikbehörde) Eurosat được cánh Tả khuynh (Linke) đặt vấn đề được thông tấn xã (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết đến (vorliegen). Trong mười (zehn) năm qua, con số (Zahl) dao động (schwanken) giữa (zwischen) 259.300 và 289.000. Năm 2002 chỉ có 86.400 người.

Con số tuyệt đối (absolute Zahl) 78.3000 về số người lao động đi lại trong tiểu bang Baden-Württemberg với dòng người đi lại (Pendlerstrom) ra nước ngoài làm việc là con số lớn nhất (größte), và Thụy Sĩ (Schweiz) đóng vai trò quan trọng nhất (wichtigste Rolle) trong sự việc này. Tiểu bang Nordrhein-Westfallen với 44.000, tiểu bang Rheinland-Pfalz với 42.100 và Bayern với 38.200 người.

Trong nước Đức, theo một thống kê khác của Cục Lao Động (Bundesagentru für Arbeit, viết tắt là BA) có khoảng (rund) 12,8 triệu người lao động đến các khu vực khác để làm việc. Từ các quốc gia ngoài nước Đức có tổng cộng (insgesamt) 212.500 người (Person) đến Đức làm việc và đóng bảo hiểm xã hội (sozialversicherungspflichtige Beschäftigung).

Theo Eurosat, toàn cõi EU (EU-weit) trong năm 2018 có khoảng 2,15 triệu đi lại làm việc ở nước ngoài. Cũng theo sự khảo sát cho biết có 445.100 tại Pháp (Frankreich) đến từ Ba Lan (Polen) trong năm qua, trong số này có 214.000 đến từ Đức. Theo tin tức (Angabe) của Eurosat, các khu vực (Region) trả lương cao (höherer Lohn) và nhiều chỗ làm hơn (mehr freie Stellen) thu hút (anziehen) những cư dân sống gần biên giới (Grenzbewohner).

Nữ phát ngôn viên chính sách thị trường lao động (arbeitsmarktpolitische Sprecherin) đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion), bà Sabine Zimmermann, nói rằng, “Về cơ bản (grundsätzlich), cái giá của sự đi lại (Pendelspreis) và tăng tính di động (erhöhte Mobilität) làm tăng sự căng thẳng (zunehmende Stress), cho đến việc gây ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ (gesundheitliche Beeinträchtigung). Đối với cuộc sống gia đình (Familienleben), người lao động đi lại thường (oft) là gánh nặng lớn (große Belastung). “Áp lực (Druck) phải di động (mobil zu sein) và phải đi (zurücklegen) quãng đường xa (weiter Weg) để đến chỗ làm, điều này trong khối Liên Minh Âu Châu (Europäische Union) ngày càng (immer mehr) có nhiều người cảm nhận (spüren), bà Zimmemann nói. Điều cần thiết (nötig) là việc cần có nhiều tiêu chuẩn thị trường lao động và lương bổng chung (gemeinsame Arbeitsmarkt- und Lohn-Standards) hơn.

Tin dpa, hình Marius Becker

Thứ hai ngày 20.05.2019
Người Đức ít dùng túi nhựa.

Những túi mang (Tragetasche) không còn cho miễn phí (umsonst) ở các quầy thu ngân (Kasse). Như vậy việc sử dụng túi ny-lon giảm đi (zurückgehen) như thế nào?

Túi nhưa (Plastiktüte) ở quầy thu ngân trong các cửa hàng (Ladenkasse) ngày dần trở thành (mehr und mehr) mẫu hết thời (Auslaufmodell). Mỗi đầu người (pro Kopf)  trong nước Đức vẫn còn sử dụng (verwenden) 24 túi (Tüte) trong năm qua – ít ra cũng ít hơn (weniger) năm (fünf) túi so với năm trước đó (zuvor), theo Tổ Chức Nghiên Cứu Thị Trường Đóng Gói (Verpackungsmarktforschung) truy ra (ermitteln).

Như vậy (damit), tổng số (Gesamtzahl) các túi nhựa đã tiêu thụ (verbrauchte Plastiktüte) giảm (zurückgehen) chừng (etwa) một phần năm (Fünftel) còn hai (zwei) tỷ (Milliarden). Năm 2016 vẫn còn 45 túi mỗi đầu người. Mặt sau (Hintergrund) của vụ việc là các doanh thương bán lẻ (Händler) không còn tung ra (ausgeben) túi nhựa mang (Kunststoff-Tragetasche) miễn phí (umsonst) nữa, mà (sondern) tự nguyện (freiwillig) đòi (verlangen) phải trả tiền (zahlen).

“Người Đức ngày càng ít (immer seltener) dùng túi nhưa”, bà Svenja Schulze (SPD), bộ trưởng bộ môi sinh (Bundesumweltministerin) nói (sagen). Điều này cho thấy (zeigen) rằng bổn phận trả tiền thỏa thuận (vereinbarte Bezahlpflicht) với thương trường (Handel) đã có tác dụng (wirken). Tuy nhiên (aber), đây “chỉ là một sự bắt đầu (nur ein Anfang)”. “Mục tiêu (Ziel) của tôi là việc sử dụng túi nhưa cần giảm thiểu (reduzieren) nói chung (insgesamt) ở mức hợp lý (sinnvolles Maß)”, bà Schulze giải thích (erklären). Do đó (daher), bà sẽ có những thỏa thuận tiếp theo (weitere Vereinbarung) với thương trường, đặc biệt (vor allem) là ít đóng gói trái cây (Obst) và rau quả (Gemüse)

Tin dpa, hình Bernd Wüstneck

Chủ nhật ngày 19.05.2019
Đặc Ủy Hội Nhập yêu cầu cứu xét việc đội khăn trùm đầu ở học đường.

Bà Annette Widmann-Mauz, đặc ủy hội nhập (Integrationsbeauftragte) chính phủ Đức (Bundesregierung), đã yêu cầu (fordern) cứu xét (Prüfung) việc cấm đội khăn trùm đầu (Kopftuchsverbot) đối với trẻ em (Kinder) trong các trường học (Schule).

“Việc những bé gái (kleine Mädchen) đội trùm (tragen) khăn trên đầu là vô lý (absurd) – hầu hết người theo đạo Hồi (meiste Muslime) cũng (auch) nhìn thấy như vậy (so sehen). Mọi biện pháp (Maßnahme) để phòng hộ (schützen) các bé gái này, từ việc nói chuyện với phụ huynh (Elterngespräch) đến sự cấm đoán (Verbot), cần phải cứu xét và thực hiện (angehen)”, nữ chính khách (Politikerin) đảng CDU nói (sagen) với tờ báo (Zeitung) “Bild” (Hình Ảnh) hôm thứ sáu (Freitag) vừa qua.

Quốc Hội (Parlament) Áo (Österreich) đã quyết định (beschließen) hôm thứ tư (Mittwoch) cấm đội trùm khăn trên đầu trong các trường tiểu học (Grundschule) của họ. Còn tại Đức, một lệnh cấm như vậy theo quan điểm (Ansicht) của cơ quan Dịch Vụ Khoa Học (Wissenschaftlicher Dienst) của quốc hội Đức (Bundestag) hoàn toàn (wohl) vi hiến (grundgesetzwidrig).

Ông Heinz-Peter Meidinger, Chủ Tịch (Präsident) Hiệp Hội Giáo Viên Đức (Deutscher Lehrerverband) nghi đoán (vermuten) rằng phụ huynh đặt áp lực (Druck) lên các trẻ nhỏ phải đội trùm khăn trên đầu. “Đội trùm khăn trên đầu trong trường học là một sự đối đầu việc hội nhập (integrationsfeindlich), vì (weil) ngay trong vườn trẻ (Kindergarten) và tiều học cũng đã góp phần (beitragen) cho việc phân định bề ngoài (äußerliche Abgrenzung)”, ông nói với tờ báo “Bild” như thế. Vì thế (deshalb), ông hoan nghênh (begrüßen) việc cấm đội trùm khăn trên đầu trong các vườn trẻ và tiểu học.

Ông Marcus Weinberg, phát ngôn viên  chính sách gia đình (familienpolitischer Sprecher) liên minh Cơ Đốc CDU/CSU đảng khối trong quốc hội (Bundestagsfraktion), ngược lại (hingegen) nhìn thấy (sehen) việc cấm đội trùm khăn trên đầu rất quan ngại (kritisch). “Việc cấm chung chung (pauschales Verbot) đội trùm khăn trên đầu như tại Áo cũng sẽ gây thất lợi (benachteiligen) cho nhiều bé gái đã tự nguyện (freiwillig) quyết định đội trùm khăn trên đầu như là một biểu hiện (Zeichen) tôn giáo (Religion) của họ”, ông phát biểu trên tờ “Bild”. Ông quy chiếu (verweisen) “quyền (Recht) quy định (verankern) trong hiến pháp (Grundgesetz) rằng, họ có thể được tự do (frei) hành đạo (Region ausüben) của họ”.

Tin dpa, hình minh hoạ Boris Roessler

Thứ bảy ngày 18.05.2019
Những người hành nghề tự lập quan ngại về việc chăm lo tuổi già

Liệu sự để dành  (Ersparte) đủ (reichen) sống lúc tuổi già (Alter)? Câu hỏi (Frage) này phải được những người hành nghề tự lập (Selbständige) tự đặt ra (sich stellen) cho mình. Theo cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage), đã có rất nhiều người trong số này tin rằng việc để dành (vorsorgen) không đủ (nicht ausreichend) cho việc nghỉ hưu (Ruhestand).

Việc chăm lo tuổi già (Altersvorsorge) vẫn luôn là đề tài (Thema) làm đau đầu (Kopfschmerz) nhiều người hành nghề tự lập. Gần (fast) hai phần ba (Zweidrittel) tất cả người tự lập (62 phần trăm) quan ngại đến việc đảm bảo tài chánh (finanzielle Absicherung) khi về già (im Alter), theo (wie) kết quả một cuộc thăm dò ý kiến của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGoV Đức cho thấy (zeigen).

Nữ giới (Frauen) với 68 phần trăm nhiều hơn (mehr als) nam giới (Männer) 59 phần trăm. Đối với việc chăm lo tuổi già thì người tự lập không có bổn phận theo luật định (gesetzliche Pflicht). Ông Hubertus Heil, bộ trưởng bộ lao động Đức (Bundesarbeitsminister) muốn đệ trình (vorlegen) một đạo luật dự thảo (Gesetzentwurf) trong năm nay.

Việc khảo sát tiêu biểu (repräsentative Studie) trên toàn quốc (bundesweit) được ngân hàng tư (Privatbank) Quirin ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) đã hỏi (befragen) tổng cộng (insgesamt) 1008 người tự lập và hành nghề tư do (Freiberufler) trong nước Đức kể cả (inklusiv) các bác sĩ (Arzt) hành nghề có phòng khám riêng (eigene Praxis). Cuộc thăm dò ý kiến được thực hiện (durchführen) trong tháng ba (März) và tháng tư (April) 2019.

Tin dpa, hình Monika Skolimowska

Thứ sáu ngày 17.05.2019
Các đảng phái chính trị nhận nhiều tiền từ ngân sách nhà nước.

Theo báo cáo (Unterrichtung) của Chủ Tịch Quốc Hội Đức (Bundestagspräsident) ông Wolfgang Schäuble (CDU), mức cao (Obergrenze) của tổng ngân sách nhà nước hàng năm (jährliches Gesamtvolum staatlicher Mittel) trong năm nay tăng 1,9 phần trăm thành 193,6 triệu (Millionen) Euro dành tài trợ cho các đảng phái chính trị.

Lần cuối (zuletzt), mức cao tuyệt đối (absolute Obergrenze) là 190,00 triệu Euro. Con số gia tăng (Erhöhung) 1,9 phần trăm cũng được xem là sự tài trợ (Förderung) cho mỗi phiếu bấu (Wählerstimme) – mỗi phiếu 1 xu (Cent). Cho bốn (vier) triệu phiếu đầu tiên, các đảng phái chính trị (politische Partei) hiện nay (nun) nhận được (erhalten) 1,03 Euro và cho những phiếu bầu tiếp theo là 0,85 Euro.

Bảng tính (Berechnung) ngân sách quốc gia dựa (sich richten) vào chỉ số giá (Preisindex) cho việc chi tiêu (Ausgaben) điển hình (typisch) của các đảng phái. Điều này được Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) xác định (ermitteln). Chỉ số đảng phái (Parteien-Index), theo Cục Thống Kê Đức, đã tăng (sich erhöhen) 1,94 phần trăm từ năm 2017 sang năm 2018, ông Schäuble cho biết (mitteilen).

Việc tài trợ đảng phái (Parteienfinanzierung) vẫn luôn (immer wieder) là đề mục tranh cãi (Streitpunkt). Năm ngoái, các đảng khối (Fraktion) của liên hiệp Cơ Đốc (Union = CDU + CSU) và đảng SDP đã quyết định (beschließen) chống lại những phiếu (Stimme) của phe đối lập (Opposition) về việc gia tăng mạnh mẽ (dratische Erhöhung) bất kể (unabhängig) chỉ số giá cả. Các đảng khối liên minh cầm quyền (Koalitionsfraktion) đã viện dẫn (begründen) chủ yếu (vor allem) liên quan đến những yêu cầu mới (neue Anforderung) về việc số hoá (Digitalisierung), chẳng hạn (etwa) đàm thoại (Kommunikation) trên các mạng xã hội (soziale Netzwerk) và sự phòng hộ (Schutz) chống lại tin tặc (Hacker). Các đảng FDP, Tả Khuynh (Linke) và Xanh (Grüne) vì thế sau đó (daraufhin) đã nộp đơn tố tụng (Klage) liên quan đến vấn đề kiểm soát quy chế (Normenkontrolle) lên tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht) tại Karlsruhe. Và pháp đình này đến nay vẫn chưa (noch nicht) có quyết định (entscheiden).

Trước đây (vor) mười (zehn) năm, mức cao trong năm 2009 cho việc tài trợ các đảng phái là 133 triệu Euro.

Tin dpa, hình Deutsche Bundesbank (Ngân Hàng Liên Bang Đức)

Thứ năm ngày 16.05.2019
Cấp trên có được phép đọc điện thư hay không?

Ngay cả các điện thư (E-Mails) cũng được xem là bí mật của thư tín (Briefgeheimnis). Nhưng (doch) thư công vụ (Dienstmails) không phải lúc nào (nicht immer) cũng được phòng hộ (schützen) khỏi bị đọc (Mitlesen) bởi người thứ ba (Dritter). Một luật sư chuyên (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) giải thích (Erklären) rằng, khi nào thì cấp trên (Vorgesetzte) hay xếp (Chef) được phép theo dõi (mitverfolgen) các điệu thư luân lưu (Mailverkehr).

Những điện thư trong hòm thư công vụ (dienstliches Postfach) chỉ liên quan đến công việc (Arbeit). Một số (manch) chủ nhân muốn biết (wissen) chính xác (genau) điều này và đòi hỏi (Verlangen) nhân viên (Angestellte) của họ cho phép được đọc các điện thư ấy. Họ có được phép thực hiện yêu cầu này chăng?

Điều kiện (Voraussetzung) cho quyền (recht) này trước tiên (zunächst) là người chủ (Arbeitgeber) đã ngăn cấm (Verbieten) trước đó (zuvor) việc sử dụng cá nhân (private Nutzung) hòm thư các điện thư công vụ. Sau đó (dann), cấp trên ra chỉ thị làm việc (Arbeitsanweisung) rằng, ông có thẩm quyền xem điện thư công vụ tùy theo trường hợp (bestimmter Fall) hoặc (oder) gửi (zusenden) cho họ bản sao (Kopie), theo ông Peter Meyer, luật sư chuyên về luật lao động.

Ngay cả trong trường hợp nghỉ phép (Urlaub) và bệnh hoạn (Krankheit) của một công nhân (Arbeitnehmer) vẫn có ý kiến phổ biến (herrschende Meinung) rằng lợi ích công vụ (dienstliche Interesse) của chủ nhân đối với (gegenüber) quyền cá nhân (Persönlichkeitsrecht) của công nhân vắng mặt (abwesender Arbeitnehmer) vẫn ưu tiên (überwiegen). Điều này có nghĩa rằng, chủ nhân sẽ có quyền truy cập (zugreifen) việc đàm thoại công vụ (dientsliche Konservation) trong hòm điện thư của công nhân bị bệnh hay vắng mặt. „Và công nhân có bổn phận (verpflichten) phải cho phép chủ nhân điều này“, theo ông Myer, thành viên (Mitglied) nhóm luật lao động của Luật Sư Đoàn Đức (Deutsche Anwaltsverein, viết tắt là DAV).

Tuy nhiên (allerdings), chính (selbst) việc cấm (Verbot) sử dụng điện thư cá nhân không hợp lý (unzulässig), khi chủ nhân luôn (immer) đọc tất cả (alle) điện thư của công nhân hoặc thậm chí (gar) giám sát (überwachen) các điện thư bằng (mittels) phần mềm kiểm soát đặc biệt (spezielle Kontrollsoftware). „Việc này sẽ là sự xâm phạm bất hợp pháp (rechtswidriger Eingriff) đến quyền cá nhân của công nhân (Beschäftigte)“, ông Meyer nói (sagen).

Nếu chủ nhân cho phép (erlauben) viết (schreiben) và nhận (empfangen) qua (über) tài khoản điện thư công vụ (dienstlicher E-Mail-Account) cũng như điện thư riêng tư, thì họ sẽ mất quyền (verwirken) được phép xem (einsehen) các điện thư khi không có sự đồng ý cụ thể (ohne konkrete Einwilligung).

Tin dpa, hình Andrea Warnecke

Thứ ba ngày 14.05.2019
Lương tối tiểu cho đào tạo sinh kể từ 2020 là 515 Euro mỗi tháng.

Đào tạo sinh (Auszubildende), theo một báo cáo (Bericht) kể từ năm 2020 nhận (erhalten) lương tối thiểu (Mindestvergütung) 515 Euro mỗi tháng (pro Monat) cho năm học nghề đầu tiên (erstes Ausbildungsjahr).

Các tờ báo (Zeitung) của nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke hôm thứ hai (Montag) viết (schreiben) quy chiếu (unter Berufung) theo nguồn tin của bộ đào tạo Đức (Bundesbildungsministerium) rằng, các năm tiếp theo (Folgejahre) lương đào tạo tối thiểu (Mindestausbildungsvergütung) sẽ tăng tiếp (weiter erhöhen) – trong năm 2021 là 550 Euro, 2022 là 585 Euro và kể từ (ab) 2023 là 620 Euro. Lương cho năm thứ hai và ba học nghề (Lehrjahr) dự định (planen) cũng sẽ tăng. Theo báo cáo, việc cải cách (Reform) đạo luật đào tạo nghề nghiệp (Berufsbildungsgesetz) của bà bộ trưởng đào tạo (Bildungsministerin) Anja Karliczek (CDU) sẽ được nội các (Kabinet) thông qua (beschließen) vào ngày thứ tư (Mittwoch).

Lần đầu tiên (erstmal) việc cải cách mức thấp theo luật định (gesetzliche Untergrenze) về tiền lương (Vergütung) của đào tạo sinh được quy định (festschreiben) trong nước Đức – tương tự lương tối thiểu theo luật định (gesetzlicher Mindestlohn) của người lao động (Beschäftigte). Gần đây (bis zuletzt), mức độ trả tiền (Zahlung) đã gây tranh cãi (umstritten). „Mức độ quy định về lương đào tạo tối thiểu là một sự công nhận (Anerkennung) năng suất (Leistung) của những đào tạo sinh trong xí nghiệp (Betrieb). Mặt khác (anderseits), cũng phải đảm bảo (sicherstellen) rằng sự động viên (Motivation) của xí nghiệp cũng phải duy trì (erhalten bleiben) để cung cấp (anbieten) chỗ học nghề (Ausbildungsplatz)“, theo báo cáo của bộ.

Như vậy, bà Karliczek cũng thú nhận (zugeben) rằng, ở đâu có lương theo hợp đồng bắt buộc (Tarifbindung) thì ở đó điều có thể xảy ra (passieren) rằng đào tạo sinh vẫn còn tiếp tục (auch weiterhin) nhận ít hơn (weniger) lương tối thiểu.

Tin dpa, hình minh họa của Sebastian Gollnow

Thứ hai ngày 13.05.2019
Ty Tài Chánh công nhận cho phí cho một số công việc nhà

Rất nhiều người biết đến (kennen) một vấn đề (Problem) là, ngay khi mặt trời (Sonne) chiếu rọi (scheinen) chưa gay gắt lắm (kaum intensiver) thì họ cũng có thề nhìn thấy  (sehen) bụi bặm (Staub) rõ hơn nhiều (besser). Điều này chỉ (nur) có cách lau chùi dọn vào đầu năm (Frühjahrputz). Tin (Nachricht) tốt (gut): Ai cần giúp đỡ (Hilfe) cũng có thể khai thuế (steuerabsetzen) chi phí (Kosten) cho các công việc này.

Lau chùi cửa sổ (Fenster putzen), làm bóng sàn nhà (Boden wienern), chăm lo vườn tược (Garten pflegen) và còn nhiều việc khác cho việc chùi dọn nữa. Thông thường (oft), người tiêu thụ (Verbraucher) gọi (sich holen) các chuyên viên (Profis) đến nhà (ins Haus) để giải quyết những công việc (Arbeiten) này cho họ. Và ty tài chánh (Finanzamt) sẽ hỗ trợ (sich beteiligen) trong nhiều trường hợp các chi phí này, Cục Tư Vấn Thuế Liên Bang (Bundessteuerberaterkammer) giải thích (erklären).

Lý do (Grund): Hầu hết những công việc này được xem là (gelten) các “dịch vụ liên quan đến công việc nhà” (haushaltsnahe Dienstleistung). Khái niệm (Begriff) này lúc nào (immer) cũng được dùng đến (verwenden) khi hành động (Tätigkeit) thông thường (normalerweise) do thành viên (Mitglieder) trong gia đình (privates Haushalt) thực hiện (erledigen) và khi có liên quan đến (zusammenhängen) việc quản lý hộ gia đình (Haushaltsführung). Một phần (Teil) công việc này được ty tài chánh công nhận (anerkennen) để được giảm thuế (steurmindernd).

Luật pháp (Gesetz) phân biệt (unterscheiden) ba loại khác nhau (drei verschiedene Art) về dịch vụ gia đình. Cho mỗi loại có những quy tắc thuế khác nhau (unterschiedliche steuerliche Regel). Tổng quan (Überblick) như sau:

– Những việc làm ít giờ (geringfügige Beschäftigungsverhältnisse): Phụ giúp chùi dọn (Putzhilfe) hoặc (oder) chăm sóc trẻ em (Kinderbetreuung) thường được thực hiện như một việc làm ít giờ (Minijob). Cho nên mức thu nhập (Verdienstobergrenze) là 450 Euro mỗi tháng )monatlich). Như vậy, thuế thu nhập (Einkommensteuer) sẽ được giảm (vermindern) khoảng (um) 20 phần trăm chi tiêu (Aufwendung) theo đơn yêu cầu (auf Antrag), nhưng tối đa (höchstens) khoảng 510 Euro mỗi năm (jährlich).

– Những việc làm khác liên quan đến công việc gia đình: Các dịch vụ gồm có (einschließlich) nuôi dưỡng (Pflege) và chăm sóc (Betreuung) có thể khai báo thuế giảm thuế (steuer geltend machen) 20 phần trăm chi tiêu – nghĩa là tiền lương (Arbeitslohn). Tuy nhiên (allerdings) chỉ đến (nur bis) mức tối đa (Höchstgrenze) là 4.000 Euro một năm.

– Các dịch vụ thủ công (Handwerkerleistung) cho công việc gia đình: Khi một thợ thủ công (Handwerker) thực hiện (ausführen) việc sửa chữa (Reparatur) trong gia đình thì người giao việc (Auftragsgeber) có thể được giảm thuế 20 phần trăm chi phí lao động Arbeitskosten) cũng như (sowie) chi phí di chuyển và máy móc (Fahrt- und Maschinenkosten) đến tối đa (maximal) 1.200 Euro mỗi năm. Các chi tiêu cho vật liệu (Material) không được công nhận (anerkennen).

Tin dpa, hình Hauke-Christian Dittrich

Thứ sáu ngày 10.05.2019
Hàng triệu người không thể đọc và viết đúng tiếng Đức.

Ngay cả những đoạn văn tiếng Đức đơn giản (einfache deutsche Texte) cũng là một trở ngại không thể vượt qua (unüberwindbare Hürde) đối với hàng triệu người Đức. Cho nên, họ thường (oft) khó (schwer) đối phó (bewältigen) với cuộc sống hàng ngày (Alltag). Điều này không chỉ đối với người di dân (Migranten).

6,2 triệu người lớn (Erwachsene) trong nước Đức không thể đọc (lesen) và viết (schreiben) đúng (richtig) tiếng Đức. Trong số này có 52,6 phần trăm hơn một nửa (mehr als die Hälfte) là tiếng mẹ đẻ (Muttersprache).

Trích từ kết quả một cuộc khảo sát được tài trợ (geförderte Studie) bởi Bộ Giáo Dục Đào Tạo Đức (Bundesbildungsministerium) được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết đến (vorliegen). Khảo sát này mang tên “LEO 2018 – Sống Với Trình Độ Văn Hóa Kém” (Leben mit geringer Literalität) đã được công bố (veröffentlichen) tại Berlin.

Có 47,7 phần trăm có gốc di dân (Migrationshintergrund) và trước hết (als erstes) đã học (lernen) một ngôn ngữ khác ngoài tiếng Đức. Trong số 2,9 triệu người này, chỉ tầm 78 phần trăm cho biết họ có thể đọc và viết tiếng mẹ. Nhìn chung (insgesamt), có 7,3 phần trăm người lớn theo sự khảo sát ít gặp khó khăn trong việc đọc và viết. Đối với những người có ngôn ngữ gốc (Herkunftssprache) khác nhau thì tỷ lệ (anteilsmäßig) là 42,6 phần trăm đọc và viết tiếng Đức kém (schlecht).

Năm 2011, tổng cộng còn (noch) 7,5 triệu người kém (gering) khả năng đọc và viết (Lese- und Schreibfähigkeit) – khoảng 1,3 triệu người. Ở dạng (Kategorie) này bao gồm những người có thể đọc hay viết những câu riêng lẻ (einzelne Sätze) nhưng không hiểu (verstehen) những đoạn văn mạch lạc (zusammenhängende Texte) cũng như ngắn hơn (kürzerer). Bà Anja Karliczek (CDU), nữ bộ trưởng bộ giáo dục đào tạo Đức đánh giá (bewerten) sự giảm thiểu (Rückgang) này là một “sự thành công (Erfolg) cho hệ thống giáo dục đào tạo (Bildungssystem) của chúng ta”, bà nói (sagen) với dpa.

Tỷ lệ những người có trình độ hiểu biết tiếng Đức thấp hơn liên quan đến tiếng Đức và tiếng mẹ đẻ so với sự khảo sát trước đây (Vorgängerstudie) rõ ràng (deutlich) không thay đổi (ändern). Theo (laut) khảo sát, 62,3 phần trăm người bị ảnh hưởng (Betroffene) vẫn có công ăn việc làm (erwerbstätig) cho dù (trotz) đọc và viết (Lese- und Schreibschwäche) kém. Hơn một trong năm người (Fünfte) không có bằng cấp (Schulabschluss), hai phần trăm khác chỉ ở mức độ thấp.

Ngay cả những người lớn, thật ra (zwar) hiểu được những đoạn văn mạch lạc, nhưng vẫn chưa đọc tốt (gut) và viết rất tệ (sehr fehlerhaft) cũng đã có tiến bộ (Fortschritt). Ở điểm này, con số giảm (veringern) từ 13,4 triệu trong năm 2011 nay còn 10,6 triệu người.

Việc xoá đi (Entttabulisierung) sự yếu kém đọc và viết cũng như nhiều cơ hội cho việc học theo bộ là vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu con số. Nữ tác giả khảo sát (Studienautorin) Anke Grotlüschen nói với dpa rằng, sự tiến bộ có được vì lẽ họ bằng cấp tốt hơn (besserer Schulabschluss) và sự tham gia lao động cao hơn (höhrere Erwerbsbeteiligung).

Có 7.200 người lớn nói tiếng Đức trong độ tuổi từ 18 đến 64 đã được hỏi (befragen) cho cuộc khảo sát trong mùa hè (Sommer) 2018. Những người được hỏi ý kiến phải nói được (ausreichend) tiếng Đức để có thể được hỏi chừng một tiếng đồng hồ (einstündige Befragung).

Theo bà Karliczek, mặc dù có sự tiến bộ, nhưng nền chính trị (Politik) và xã hội (Gesellschaft) cũng không được lơ là (nachlassen). Chính (gerade) những người lớn thường phải mất nhiều nổ lực để khắc phục mọi vấn đề (Problem) khó khăn cho việc đọc và viết. Lại càng phải quan tâm (beachten) nhiều hơn (stärker) nữa đến những người có gốc di dân.

Tin dpa, hình Bernd Wüstneck

Thứ năm ngày 09.05.2019
Khi phụ huynh ngăn cấm con cái xâm mình

Xâm mình (Tattoo) đối với thanh thiếu niên (Jugendliche) là một ước mơ ấp ủ từ lâu (langer gehegter Wunsch), nhưng là một điều khó hiểu (Unverständliches) đối với phụ huynh (Eltern). Nhưng liệu họ có cho phép (gestatten) việc cải dạng hình thể (Körpermodifikation) này chăng?

Đứa trẻ (Kind) muốn chạy quanh (herumlaufen) với một hình xâm nào đó (bestimmtes Tattoo) hoặc (oder) một lỗ khủng (Riesen-Loch) ở lỗ tai (Ohr) – những cái theo khái niệm thời trang đương đại gọi là “đường hầm” (Tunnel). Một số (manch) phụ huynh cảm thấy (empfinden) đây là một sự tàn phá thân thể (körperliche Verschandung). Nhưng rồi liệu họ có cho phép (erlauben) chúng làm điều này hay không?

“Đây là câu hỏi (Frage) về sự trưởng thành chín mùi (Reife) của đứa trẻ”, theo Ulric Ritzer-Sachs tư vấn trực tuyến (Onlineberatung) Hội Nghị Liên Bang (Bundeskonferenz) về Tư Vấn Giáo Dục (Erziehungsberatung). Các thanh thiếu niên (Jugendliche) 16 tuổi đã (bereits) biết (wissen) chính xác (Genau) điều chúng muốn làm (tun) – và cũng nhiều điều chưa biết. Khi thanh thiếu niên trình bày (vorbringen) những lập luận tốt (gute Argumente) và có thái độ vững chắc (gefestiges Auftreten) thì điều này cho thấy (zeigen) mức độ trưởng thành (gewisse Reife) của chúng, chẳng hạn (etwa) là sự tin cậy (Zuverlässigkeit), sẳn sàng giúp đỡ (Hilfsbereitschaft) công việc nhà (im Hauhalt) hoặc với một nhóm bạn bè thân (fester Freundeskreis). Hoặc không cần phải nhắc nhở mà đã biết chính xác muốn trở thành thế nào.

Mặt khác (anderseits), phụ huynh cũng nên đưa ra một quyết định (Entscheidung) và có thái độ của mình (Haltung stehen). Khi xảy ra xung đột (Auseinandersetzung) thì người ta phải hướng dẫn (führen) chúng. “Khi làm như vậy, phụ huynh cần phải xem xét (bedenken) liệu ước muốn như vậy có liên quan đến một ý tưởng nhất định (fixe Idee) hoặc chỉ là một đề tài lâu dài (Dauerthema) được đứa trẻ đề cập đến từ sáu tháng qua”, theo Ritzer-Sachs.

Người ta cũng có thể chờ một ít thời gian trước khi có quyết định để tìm hiểu thêm thông tin (Information), chẳng hạn việc làm khoen lỗ tai có thể liền lại (wieder zuwachsen) sau này (später). Nếu không (falls nicht), phụ huynh vẫn giữ (bleiben) quyết định “không” (nein) cho phép. “Nhưng nếu có thể, phụ huynh nên nói rằng: Về việc này, bố mẹ cần suy nghĩ (nachdenken) trước (erst)”, chuyên gia giáo dục (Erziehungsexperte) khuyên (raten). Và ông nói rõ (klarstellen) rằng: “Giới trẻ (Jugend) bây giờ (nun) luôn có nhiều quan niệm (Vorstellung) khác!”

Tin dpa, hình Franciska Gabbert

Thứ tư ngày 08.05.2019
Số lượng tín đồ Ki-Tô giáo tại Đức đến năm 2060 chỉ còn một nửa.

Liên quan đến thành viên (Mitglieder) và tài chánh (Finanz) thì cả hai tôn giáo lớn tại Đức sẽ phải đối mặt (entgegen) những thời kỳ ảm đạm (düstere Zeit). Hai giáo hội Cơ Đốc (katholische Kirche) và Tin Lành (evangelische Kirche) nay (jetzt) đã tự chứng nhận (bescheinigen) điều này. Tuy nhiên (dennoch), một tia hy vọng (Lichtblick) vẫn có thể theo một cuộc khảo sát (Untersuchung).

Theo (laut) một công trình khảo sát (Studie), số lượng tín đồ của giáo hội (Kirchenmitglieder) trong nước Đức đang giảm mạnh (dratisch) – đến (bis) năm 2060 giảm khoảng 49 phần trăm còn 22,7 triệu người.

Các lý do chính (Hauptgrund) cho việc ra khỏi giáo hội (Austritt) là ít rửa tội hơn (weniger Taufen) cũng như (sowie) quần chúng già nua (alternde Bevölkerung), theo (wie) sự khảo sát của đại học (Universität) Freiburg cho thấy (zeigen). Xu hướng đi xuống (Abwärtstrend) cũng có thể mang đến (führen) những lỗ hổng tài chánh đáng kể (dramatische Finanzierungslücken) cho cả hai giáo hội. Kết quả cuộc khảo sát của Trung Tâm Nghiên Cứu Vấn Đề Thế Hệ (Forschungszentrum Generationverträge, viết tắt là FZG) đã được công bố (veröffentlichen) bởi Hội Đồng Giám Mục Đức (Deutsche Bischofskonferenz) và Giáo Hội Tin Lành Đức (Evangelische Kirche in Deutschland, viết tắt là EKD).

Trên danh nghĩa (nominell gesehen) thì đến năm 2060 số tiền thuế nhà thờ (Kirchensteuer) thật ra (zwar) vẫn ở mức hiện tại (aktuelles Niveau) là 12 tỷ Euro. Nhưng nếu tính đến (einberechnen) việc tăng lương (steigende Gehälter) và sự lạm phát (Inflation), theo khảo sát thì giáo hội phải cần (brauchen) tài chánh (Finanzierung) cho nhân viên (Personal) và cơ sở (Gebäude) tầm (knapp) 25 tỳ Euro. Cho nên (daher), sự khảo sát ước tính (einschätzen) hai giáo hội này sẽ mất (Verlust) khoảng 51 phần trăm nguồn tài chánh.

Liên quan đến số thành viên của hai giáo hội, khảo sát cho biết ngay (bereits) năm 2035 sẽ giảm (Rückgang) khoảng mười (zehn) triệu người còn 34,8 triệu. Ở miền Đông Đức (Ost Deutschland), nơi (wo) hiện có (jetzt schon) ít Kitô hữu (Christen) sinh sống (leben), đến năm 2060 cả hai giáo hội chỉ còn (nur noch) 1,5 triệu thành viên – năm 2017 vẫn còn 3,2 triệu người, Tuy nhiên (aber), những con số tuyệt đối (absolute Zahl) về sự suy giảm cao và rõ rệt ở các khu vực khác của nước Đức cũng đã được ghi nhận.

Liên quan đến yếu tố nhân khẩu học (demografischer Faktor) như già nua (Überalterung) và suy giảm dân số (Bevölkerungsrückgang) thì cuộc khảo sát cho thấy chỉ có một phần ba (Drittel) phát triển dự báo (prognosische Entwicklung) có liên quan đến vấn đề. Có trọng lượng nhiều hơn (stärkeres Gewicht) là nhiều yếu tố khác như việc ra khỏi giáo hội hoặc hành vi rửa tội (Taufverhalten) và thu nhận (Aufnahmeverhalten).

Ngoài ra, vị điều hành (Leiter) cuộc khảo sát, giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) Bern Raffelhüschen, nhà khoa học tài chánh (Finantwissenschaftler) tỏ ra (sich zeigen) ngạc nhiên (überraschen). Cả hai giáo hội cùng có cơ hội (Chance) phát triển (entwickeln) các chiến lược (Strategie) chẳng hạn (etwa) ngăn chận (Verhinderung) việc ra khỏi giáo hội. Quan trọng (wichtig) đối với sự thu nhập (Einnahme) của họ chính là (gerade) nhiều thuế (steuerstark) của tầng lớp trung và thượng lưu (Mittel- und Oberschicht).

Về ước tính con số thành viên, giáo hội Kitô vận hành tốt hơn (besser) do cấu trúc tuổi tác (Alterstruktur) và sự nhập cư gần đây (jüngste Zuwanderung) từ những người Kitô đến từ các quốc gia Đông Âu (Osten Europa). Vẫn luôn có nhiều người ra khỏi giáo hội Tin Lành – tuy nhiên cũng có nhiều người gia nhập trở lại (Wiedereintritte). Nói chung (generell), sự khảo sát những người ra khòi giáo hội trong các năm qua cho thấy có một mối tương quan rõ rệt (eindeutiger Zusammenhang) đối với các sự kiện đương đại (aktuelle Ereignisse) chẳng hạn (wie etwa) những tiết lộ (Enthüllung) về sự lạm dụng (Missbrauch) trẻ em (Kinder) của các giáo sĩ (Geistliche).

Dự báo (Projektion) của FZG mô tả (beschreiben) xu hướng đã được một nghiên cứu xã hội (Sozialforschung) xác định trước đây nhiều năm, theo giải thích (ERklärung) của ông Heinrich Bedford-Strohm, chủ tịch hội đồng (Ratsvorsitzender) EKD. “Chúng tôi không thể thay đổi (ändern) được gì ở việc suy giảm số thành viên của giáo hội. Nhưng vẫn có cách khác (anders).” Vị chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức, Đức Hồng Y (Kardinal) Reinhard Marx, giải thích rằng, người ta phải thích ứng (ausrichten) công việc (Arbeit) với những điều kiện đã thay đổi (veränderte Bedingung). Một khảo sát đánh giá (werten) lời tuyên bố của Ngài như là một lời “kêu gọi truyền giáo” (Aufruf zur Mission).

Tin dpa, hình tư liệu của Matthias Balk

Thứ ba ngày 07.05.2019
Số lượng bác sĩ và tâm lý trị liệu ngày càng gia tăng

Đối với bệnh nhân (Patient) trong tiểu bang (Bundesland) Saarland thì ngày càng có nhiều (immer mehr) phòng khám (Praxis) của bác sĩ (Arzt) và tâm lý trị liệu (Psychotherapeut). Trong năm qua có 221,7 chuyên gia (Fachleute) cho 100.000 cư dân (Einwohner) và như vậy nhiều hơn năm trước đó với 219,7. Trích dữ liệu (Daten) của Sổ Ghi Danh Bác Sĩ (Bundesarztregister) được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết đến (vorliegen). So với cả nước (im bundesweiten Vergleich), tiểu bang Saaland nằm trên mức trung bình (im oberen Mittelfeld). Mạng lưới bác sĩ (Ärztenetz) dày đặc hơn (dichter) chỉ ở Bremen, Hamburg, Berlin và khu vực (Region) phía Bắc sông Rhein (Nordrhein).

Thống kê (Statistik) cũng cho thấy rằng (zeigen), độ tuổi trung bình (Alterdurchschnitt) của các bác sĩ tại Saarland tương đối cao (relativ hoch). Trong năm qua là 54,8 tuổi. Tuổi cao hơn (höher) chỉ có tại Berlin) và Bremen. Nói chung (insgesamt), 12 phần trăm các các bác sĩ và tâm lý trị liệu trong tiểu bang Saarland trong năm qua ít nhất (mindestens) 65 tuổi.

Đối với việc chăm sóc sức khoẻ (Gesundheitsversorgung) trong từng khu vực (jeweilige Region) thì các phòng khám (Praxis) của bác sĩ thuộc bảo hiểm y tế (Kassenarzt) không phải gánh vác (tragen) một mình (alleine). Thêm vào đó, còn có bác sĩ bệnh viện (Krankenhaus) cũng như (sowie) chuyên gia vật lý trị liệu (Physiotherapeut), ngôn ngữ trị liệu (Logopädie) và những người hành nghề điều trị (Heilberufler) khác.

Tin dpa, hình tư liệu của Rolf Vennenbernd

Thứ hai ngày 06.05.2019
Hầu như một trong hai người rất muốn giảm giờ làm việc

Làm việc ít hơn (weniger Arbeit), nhiều thời gian giải trí hơn (mehr Freizeit) – đây là ước mơ (Wunsch) của nhiều người lao động (Berufstätiger). Nhưng đã có mấy người muốn chịu thiệt thòi về việc ít tiền lương khi giảm giờ làm việc.

Gần như (fast) có một trong hai nhân viên (Angestellte) trong nước Đức muốn giảm bớt (reduzieren) giờ làm việc (Arbeitszeit) của họ, cho dù (auch wenn) ít tiền hơn (weniger Geld). Đây là kết quả (Ergebnis) một công trình khảo sát chung (gemeinsame Studie) của Viện Nghiên Cứu Về Tương Lai Sự Lao Động (Forschungsinstitut zur Zukunft der Arbeit, viết tắt là IZA) và Mạng Lưới Công Việc (Job-Netzwerk) Xing.

48 phần trăm trong số 2.364 người được hỏi ý kiến (Befragte) cho rằng, họ muốn giảm giờ làm việc, nhưng không hơn (nihct mehr als) mười (zehn) phần trăm mỗi tuần (pro Woche).

Đồng thời (gleichzeitig) cũng có nhiều công nhân (Beschäftigte) lại muốn làm thêm giờ: Gần một trong số năm người (jeder Fünfte) – 18 phần trăm – cho rằng, họ có thể làm (arbeiten) thêm mỗi tuần mười tiếng (Stunde); 4 phần trăm thậm chí (sogar) còn nhiều hơn thế nữa (noch mehr). 30 phần trăm số người tham dự (Teilnehmer) cuộc khảo sát cho biết rằng, họ hài lòng (zufrieden) với số giờ (Studenzahl) hiện có.

Tin dpa, hình Frank Rumpenhorst

Chủ nhật ngày 05.05.2019
Bảo hiểm hưu trí giúp đỡ việc khai thuế

Trước khi (bevor) người hưu trí (Rentner) làm (machen) khai thuế (Steuererklärung), thì họ nên có một tờ chứng nhận (Bescheinigung) của bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherung). Giấy này giúp (helfen) họ việc điền trả lời (Ausfüllen) những câu hỏi liên quan (relevante Frage) đến vụ việc (Angelegenheit). Nhưng làm thế nào (wie) để có chứng từ này và xin (anfordern) ở đâu (wo)?

Ngày càng có nhiều (immer mehr) người hưu trí có bổn phận (verpflichten) nộp (abgeben) giấy khai thuế. Đây là trường hợp khi (wenn) mức thu nhập bị đánh thuế (versteuerndes Einkommen) vượt quá (überschreiten) khoản căn bản được miễn thuế (Grundfreibetrag). Khoản này đối với người độc thân (Alleinstehende) trong năm 2018 là 9.000 Euro và cho nhựng người kết hôn (Verheiratete) là 18.000 Euro.

Như vậy (damit), để ty tài chánh (Finanzamt) có thể cứu xét (ermitteln) chính xác (korrekt) phần chịu thuế (steuerpflichtiger Anteil) của lương hưu theo luật định (gesetzliche Rente), thì người hưu trí phải nộp kèm (beifügen) mẫu có sẳn đã điền (ausgefüllte Vordrucke) “phụ bản R” (Anlage R) và “phụ bản chi phí chăm lo” (Anlage Vorsorgeaufwand). Giấy chứng nhận miễn phí (kostenlose Bescheinigung) của bảo hiểm hưu trí sẽ giúp họ việc này, cái gọi là (sogenannte) “Thông báo xuất trình ty tài chánh” (Mitteilung zur Vorlage beim Finanzamt). Điều này được Bảo Hiểm Hưu Trí Đức (Deutsche Rentenversicherung Bund) tại Berlin chỉ dẫn (hinweisen).

Giấy chứng nhận bao gồm (enthalten) tất cả (alle) các khoản liên quan đến thuế (steuerrechtlich relevante Beträge) và sự chỉ dẫn (Hinweise) cách điền các dòng (Zeile) mẫu thuế. Bất cứ ai làm đơn (beantragen) một lần (einmal) sẽ được tự động (automatisch) gửi đến (zuschicken) trong những năm kế tiếp (Folgejahren).

Nếu giấy chứng nhận này cần (benötigen) lần đầu tiên (erstmalig) thì có thể viết thư (per Brief), Fax hoặc qua internet để xin (anfordern). Cũng có thể điện thoại qua dịch vụ điện đàm miễn phí (gebührenfreier Servicetelefon) của Bảo Hiểm Hưu Trí Đức theo số (unter der Nummer) 0800/1000 4800.

Điều quan trọng cần lưu ý (wichtig zu beachten) là: Cho biết (angeben) số bảo hiểm hưu trí cá nhân (persönliche Rentenversicherungsnummer) khi xin chứng nhận. Ai cần giấy chứng nhận cho một người hưu trí còn sống (Hinterbliebenenrente) thì phải cho biết số bảo hiểm (Versicherungsnummer) của người đã qua đời (Verstorbene).

Tin dpa, hình Hans Wiedl

Thứ sáu ngày 03.05.2019
Người nhận trợ cấp Hartz-IV phải tự trả phí cho các phương pháp y học bổ sung.

Các trung tâm tìm việc (Jobcenter) phải đảm bảo (sicherstellen) đầy đủ việc chăm lo y tế (ausreichende medizinische Versorgung) cho người nhận (Empfänger ) trợ cấp (Leistung) Hartz-IV. Việc này trên nguyên tắc (in der Regel) diễn ra (geschehen) qua (durch) sự tiếp nhận (Übernahme) phí đóng bảo hiểm sức khoẻ (Krankenversicherungsbeitrag). Nhưng (doch) điều gì xảy ra khi một bệnh nhân (Patient) khai báo (anmelden) cần thêm nhu cầu (Mehrbedarf)?

Phí đóng bảo hiểm sức khoẻ của người nhận trợ cấp Hartz-IV trên nguyên tắc được trung tâm tìm việc thanh toán (zahlen). Vượt khỏi mức này (darüber hinaus) thì người nhận trợ cấp không được hưởng (Anspruch) thêm một trợ cấp nào về y tế (gesundheitliche Leistung), theo quyết định (Entscheidung) của tòa án xã hội tiểu bang (Landessozialgericht) Niedersachsen-Bremen cho thấy (zeigen) – hồ sơ thụ lý Az.: L 15 AS 262/16.

Vì (denn) những biện pháp (Maßnahme) ngoài tập liệt kê những trợ cấp (Leistungskatalog) của các bảo hiểm sức khoẻ theo luật định (gesetzliche Krankenkasse) sẽ không được trung tâm tìm việc đảm nhận (nicht übernehmen). Tuy nhiên (allerdings), đối với những trường hợp ngoại lệ (Ausnahme) luôn có những điều kiện khắt khe (strenge Voraussetzung) quy định (regeln), theo sự giải thích (Erläuterung) của nhóm luật xã hội (Arbeitsgemeinschaft Sozialrecht) thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) chỉ dẫn (hinweisen) chiếu theo phán quyết (Urteil).

Trường hợp (Fall) của một người đàn ông 64 tuổi nhận trợ cấp Hartz-IV muốn trung tâm tìm việc thanh toán chi phí (bezahlen) cho các phương pháp y học bổ sung (alternativmedizinische Mittel). Ông đã đòi hỏi (verlangen) những trợ cấp gọi là (sogenannte) thêm nhu cầu (Mehrbedarfsleistung) 150 Euro mỗi tháng (pro Monat) cho nhiều loại thuốc (diverse Präparate) như (wie) Kytta, Quark, Retterspitz, Ingwer, Glucosamin, Magnesium hoặc (oder) Arnika. Lý do ông viện dẫn (begründen) rằng, ông không dùng được (nicht vertragen) những loại dược phẩm thông thường (herkömmliche Arzneimittel). Và bởi bảo hiểm sức khoẻ của ông không chịu thanh toán chi phí cho các loại thuốc trên, nên trung tâm tìm việc phải chi các khoản này, theo nguyên cáo (Kläger).

Phán quyết: Tòa án xã hội tiểu bang bác (ablehnen) yêu cầu (Anspruch) của ông. Đối với các loại thuốc ngoài (außerhalb) tập liệt kê trợ cấp của các bảo hiểm sức khoẻ theo luật định thì người liên đới (Betroffene) phải tự chịu trách nhiệm (selbst verantwortlichen). Những trường hợp ngoại lệ đều có các điều kiện khắt khe quy định: Khi một nhu cầu không thể tránh được (unabweisbarer Bedarf) cần phải được một chỉ định y tế (medizinische Indikation) chứng minh (nachweisen). Nếu không (andernfalls) một cánh cổng (Tor) sẽ được mở ra (öffenen) cho bất kỳ (beliebig) một loại thuốc nào mong muốn (Wunschmittel) được tài trợ (finanzieren) từ thuế (Steuermittel). Cho nên (daher), việc quả quyết (behaupten) chung chung (pauschal) rằng không thể chịu được thuốc uống (Medikamentenunverträglichkeit) chưa đủ (nicht ausreichend) thuyết phục. Các loại thực phẩm (Lebensmittel) như Quark và Ingwer (gừng) dù gì (ohnehin) cũng đã được thanh toán từ (aus) tiêu chuẩn trợ cấp (Regelleistung) Hartz-IV.

Tin dpa, hình Patrick Pleuel

Thứ năm ngày 02.05.2019
Cortison không nên ngưng đột ngột.

Cortisol có thể được sử dụng (einsetzen) để điều trị (Behandlung) nhiều chứng bệnh hoàn toàn khác nhau (ganz unterschiedliche Krankheit). Nếu sử dụng nhiều (viel) trong một thời gian lâu (über längere Zeit) thì thân thể (Körper) sẽ quen dần (sich gewöhnen) thuốc. Sau liệu trình điều trị, nội tiết tố (Hormon) này vì thế không nên ngưng (absetzen) một cách đột ngột (abrupt). Bằng không (sonst), sẽ dẫn đến nguy cơ (drohen) có những biểu hiện cai nghiện (Entzugserscheinung), Tổng hội các hiệp hội dược phòng Đức (Bundesvereinigung Deutscher Apotheker-Verbände, viết tắt là ABDA) cảnh báo (warnen) trên tờ „Neue Apotheken Illustrierten“ (Tân Dược Phòng Tạp Chí) số phát hành (Ausgabe) 15.04.2019.

„Điều này dẫn đến việc cai (Entzug) nội tiết tố Steroid và có thể nhận biết (erkennen) qua sự yếu đuối (Schwäche), mệt mõi (Müdigkeit), nôn ọe (Übelkeit) hoặc đau khớp (Gelenkschmerzen). Áp huyết (Blutdruck) hạ (sinken) gây tâm trạng bối rối (verwirrt)“, bà Ursula Sellerberg, dược sĩ (Apothekerin) thuộc ABDA giải thích (erklären). Ngoài ra (außerdem), căn bệnh cũng có thể tái (wieder) khởi phát (aufflammen).

Lý do là sự cân bằng nội tiết tố của cơ thể (körpereigener Hormonhaushalt). Cortison cũng như những nội tiết tố Steroid khác được thành hình (bilden) ở vỏ thượng thận (Nebennierenrinde). Cơ thể tự sản suất (produzieren) nó theo nhu cầu (auf Bedarf). Nếu sử dụng (einnehmen) thêm (zusätzlich) Cortison từ ngoài, thi cơ thể cho rằng nhu cầu sản suất của nó đã được đáp ứng (decken). Còn khi đã sử dụng lâu dài (langfristige Einnahme), thì vỏ thượng thận thậm chí (sogar) sẽ giảm việc sản suất (sich zurückbilden) nột tiết tố này. Nên khi nguồn cung từ bên ngoài (externe Zufuhr) đột ngột ngưng lại (aufhören), thì cơ thể không thể kịp quân bình (ausgleichen) ngay lập tức (auf Anhieb); mà cần (brauchen) có thời gian để tái (wieder) kích hoạt (hochfahren) sự sản suất của tự thân (körpereigene Produktion).

Vì vậy (daher) tổng hội (ABDA) khuyên (raten) rằng, nên từ từ (langsam) ngưng dần (ausschleichen) việc sử dụng Cortison. Bác sĩ (Arzt) sẽ quyết định (entscheiden) việc giảm liều (Dosis zurückfahren) chính xác (genau) như thế nào (wie) và vào lúc nào (wann).

Tin dpa, hình Christin Klose

Thứ tư ngày 01.05.2019
Vẫn luôn có nhiều người không thể lao động vì những vấn đề tâm lý.

Số công nhân (Arbeitnehmer) nghỉ bệnh (krank geschrieben) vì rối loạn tâm lý (psychische Störung) ngày càng tăng (immer mehr). Điều này dẫn đến nhiều hậu quả lâu dài (langfristige Folgen).

Kiệt sức (Burnout), trầm cảm (Depression), rối loạn sợ hãi (Angststörung) và nhiều chứng bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) khác theo một khảo sát mới (neue Studie) của “Swiss Life” là những nguyên nhân thường nhất (häufigste Ursache) của tính chất bất lực lao động (Berufsunfähigkeit) tại Đức.

Theo sự phân tích (Analyse) của công ty bảo hiểm (Versicherung) thì bệnh tâm lý nhiều hơn một phần ba (Drittel) với 37 phần trăm trường hợp (Fall) là nguyên nhân (Ursache) cho việc từ giả sớm (vorzeitiges Ausscheiden) cuộc sống lao động (Arbeitsleben).

“Riêng (allein) trong mười năm gần đây, chúng tôi ghi nhận (registrieren) có tăng (Zunahme) khoảng 40 phần trăm trong lãnh vực (Segment) này”, theo ông Amar Banerjee, điều hành trưởng (Leiter) sản suất bảo hiểm (Versicherungsproduktion) của Swiss Life Deutschland tại Garching gần München. Như vậy, theo sự đánh giá (Einschätzung) của doanh nghiệp (Unternehmen) này thì sự gia tăng do căng thẳng tinh thần (Stress), áp lực năng suất (Leistungsdruck) và thiếu sự quân bình (mangelnder Ausgleich) trong cuộc sống lao động.

Công ty bảo hiểm đã đánh giá (auswerten) các dữ liệu (Daten) của khách hàng (Kunden) họ. Kết quả cho thấy, tiếp (folgen) sau (nach) các bệnh tâm lý là các bệnh (Krankheit) thuộc cơ quan vận động (Bewegungsapparat) với 24 phần trăm, trước các tai nạn (Unfall) tầm 14 phần trăm. Theo thông tin (Angabe) của doanh nghiệp Swiss Life, việc bảo hiểm bất lực lao động (Berufsunfähigkeitsversicherung) chiếm hơn (über) bảy (sieben) phần trăm trên thị thường lao động Đức (deutscher Markt); tuy nhiên (aber) họ cũng không đưa ra những con số cụ thể (absolute Zahlen).

Việc phân tích ăn khớp (sich decken) những con số của bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherung) Đức tại Berlin. Nữ giới (Frauen) rõ ràng (offensichtlich) có nguy cơ nhiều (sehr viel gefährderter) hơn nam giới (Männer): Theo Swiss Life, nữ giới với 44 phần trăm nghỉ việc vì bệnh tâm lý; ở nam giới chỉ (lediglich) 28 phần trăm. Ngoài ra (außerdem), nữ giới thường (häufig) đã (bereits) bị bệnh tâm lý (psychisch krank) lúc còn trẻ (in jungen Jahren); ở nam giới xảy ra (auftreten) theo chẩn đoán (Diagnose) sau tuổi 40.

Đặc biệt (besonders) rõ ràng (deutlich) trong xu hướng (Trend) đối chiếu lâu dài (Langfristvergleich): Bảo hiểm hưu trí Đức đã trả (zahlen) trong năm 1983 ít hơn (weniger) mười (zehn) phần trăm hưu trí vì giảm sức lao động (Erwerbsminderungsrenten) do bệnh tâm lý; năm 2017 gần như (fast) một nửa (Hälfte) – 41.186 trong số 83.583 trường hợp.

Bảo hiểm hưu trí trong mười năm gần đây cũng đã ghi nhận có sự gia tăng mạnh về các bệnh tâm lý: Năm 2018 đã chấp thuận (bewilligen) cho hơn 170.000 trường hồi dưỡng trong bệnh viện (statipnäre Rehabilitation) vì các chứng bệnh tâm lý; nhiều hơn (mehr als) 50.000 lần so với mười năm trước đây. Tương đượng (entsprechend) sự gia tăng (Anstieg) khoảng 40 phần trăm.

Các chuyên gia (Fachleute) của bảo hiểm hưu trí vẫn không cho rằng, người dân Đức (Bundesbürger) ngày nay (heute) thường bệnh tâm lý nhiều hơn thập niên trước (früheres Jahrzehnte), chỉ vì trầm cảm, kiệt lực và những bệnh khác. Ngày nay, các chứng bệnh này được phát hiện (erkennen) tốt hơn (besser) và chẩn đoán thường hơn.

Tin dpa, hình Marijan Murat

Xem (362)