» » Tin Đức Quốc tháng 04.2019

Tin Đức Quốc tháng 04.2019

Thứ ba 30.04.2019
Tù nhân có quyền nhận trợ cấp HARTZ-IV trong thời gian gián đoạn sự giam giữ.

Tù nhân (Häftling) không được hưởng thêm (zusätzlicher Anspruch) trợ cấp xã hội (Sozialleistung). Vì lẽ, họ được chăm sóc (versorgen) trong tù (Gefängnis). Nhưng khi sự giam giữ (Haft) bị gián đoạn (unterbrechen), thì thế nào?

Trên nguyên tắc (in der Regel), ai bị giam không được nhận trợ cấp (Leistung) Hartz-IV. Nhưng (aber) ngược lại (anders) khi sự giam giữ bị gián đoạn (Haftunterbrechung). Trong thời gian (Dauer) điều trị trong một bệnh viện (stationäres Heilverfahren) bên ngoài (außerhalb) nhà giam thì tù nhân (Strafgefangene) được quyền nhận sự giúp đỡ (Anspruch auf Unterstützung). Bởi vì, trong suốt thời gian này, người này không được xem (gelten) là tù nhân, tòa án xã hội tiểu bang (Landessozialgericht) Niedersachsen-Bremen đã quyết định (entscheiden) như vậy – hồ sơ thụ lý Az.: l 11 AS 474/17.

Nhóm luật xã hội (Arbeitsgemeinschaft Sozialrecht) thuộc luật sư đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) đã thông báo trường hợp của một nam tù nhân 50 tuổi bị tù nhiều năm (Langzeithäftling). Trước khi (bevor) bị giam (inhaftieren) ông là người vô gia cư (obdachlos). Năm 2016, người này bị đau tim (herzkrank) cho nên cần phải (brauchen) làm phẩu thuật đặt mạch nối (Bypass-Operation). Thời gian điều trị trong bệnh viện (Krankenhausbehandlung) và sự hồi phục (Reha) đã kéo dài (dauern) tổng cộng (zusammen) khoảng (etwa) ba (drei) tuần lễ (Woche).

Trong thời gian này, ông đã làm đơn xin (beantragen) tài trợ (finanzielle Unterstützung), bởi vì (da) không có tiền (kein Geld) và không có quần áo (kaum Kleidung) để mặc (tragen) bên ngoài trại giam (Haft). Trung tâm tìm việc (JobCenter) đã bác (ablehnen) đơn (Antrag) của ông. Theo họ, mọi sự trợ cấp cho tù nhân theo luật định (gesetzlich) không có (ausgeschlossen).

Nhưng tòa án xã hội tiểu bang cho rằng nguyên cáo có lý (Recht haben). Họ đã phán (verurteilen) trung tâm tìm việc phải đảm bảo (Gewährung) trợ cấp dạng Hartz-IV cho người kiện (Kläger) theo tiêu chuẩn quy định (Regelsatz). Việc không trợ cấp (Leistungsausschuss) vì (wegen) sự lưu trú (Aufenthalt) trong một cơ sở giam giữ (Vollzugeinrichtung) không có hiệu lực, khi (wenn) sự thi hành (Vollstreckung) tù tội (Freiheitsstrafe) bị gián đoạn bởi việc nằm viện điều trị bên ngoài nhà giam. Và nguyên đơn trong suốt thời gian này không phải là tù nhân. Thời gian giam giữ (Haftzeit) đã bị đình chỉ trong suốt thời gian điều trị. Và vấn đề không chỉ liên quan đến việc trợ cấp cho ba tuần lễ. Luật pháp (Gesetz) không công nhận giới hạn thời gian tối thiểu (zeitliche Mindestgrenze) của sự trợ giúp (Hilfsbedürftigkeit). Đây là những luận cứ theo phán quyết của tòa.

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger

Thứ hai ngày 29.04.2019
Nước Đức nhận tỵ nạn nhiều nhất trong Cộng Đồng Âu Châu

Nước Đức trong năm 2018 so với Âu Châu đã nhận tỵ nạn (Asyl) nhiều nhất (häufigsten) hoặc (oder) đảm bảo (gewähren) một chế độ bảo vệ (Schutzstatus) khác. Gần (gut) 40 phần trăm các quyết định chấp thuận (positive Entscheidung) trong năm qua đã cấp (erteilen) trong nước Đức, theo thông báo (Mitteilung) của cơ quan thống kê (Statistikbehörde) Eurosat của Cộng Đồng Âu Châu.

Như vậy, có khoảng (rund) 139.000 trong số 333.400 đơn xin tỵ nạn được chấp thuận; kế đến là Ý (Italien) với 47.000 và Pháp (Frankreich) 41.000. Chỉ số (Quote) những quyết định thuận (positive Bescheide) trong nước Đức không vì thế (allerdings) đã cao nhất (nicht am höchsten). Ở thẩm đầu (erste Instanz), nước Đức có 42 phần trăm. Bồ Đào Nha (Portugal), Lục Xâm Bảo (Luxemburg) hoặc Ái Nhĩ Lan (Irland) ngược lại (hingegen) có giữa (zwischen) 60 và 85 phần trăm đơn xin (Antrag) được chấp thuận. Cơ hội (Chance) Ít nhất (am geringsten) để có một quyết định chấp nhận tỵ nạn (positiver Asylbescheid) tại Ba Lan (Polen) 14 phần trăm và Tiệp Khắc (Tschechien) 11 phần trăm.

Trong năm qua (Vorjahr), nước Đức đã chấp thuận 325.000 đơn xin tỵ nạn. So với năm 2017 là 60 phần trăm.

Trên toàn khối Cộng Đồng Âu Châu (EU-weit), số công nhận mới (neue Anerkennung) cho những người tìm sự bảo vệ (Schutzsuchende) so với năm trước đã giảm đi nhiều (weiter zurück), chỉ còn 40 phần trăm. Đa phần các đơn xin tỵ nạn được chấp thuận cho những người Syrer (96.100), A Phú Hãn (Afghanen) 53.000 và Iraker 24.600. Có 70 phần trăm người Syrer nhận (erhalten) chế độ bảo vệ trong nước Đức.

Tin dpa, hình Christoph Schmidt

Thứ bảy ngày 27.04.2019
Những yếu tố rủi ro về tim mạch cũng có thể ảnh hưởng đến não.

Ăn uống không lành mạnh (ungesunde Ernährung), vận động quá ít (zu wenig Bewegung) và hút thuốc (rauchen) không chỉ ảnh hưởng đến hệ thống tim mạch (Herz-Kreislauf-System). Mà cũng có thể gây hại (Schaden) cho não (Gehirn), theo một phân tích (Analyse) cho thấy (zeigen). Tuy nhiên (allerdings), những hậu quả (Folge) nào đối với khả năng tư duy (Denkvermögen) và những kỹ năng (Fähigkeit) khác thì vẫn chưa rõ (noch unklar).

Huyết áp cao (Bluthochdruck), tiểu đường (Diabetes), hút thuốc (Rauchen) và nhiều yếu tố rủi ro (Risikofaktor) khác đối với bệnh tim mạch (Herz-Kreislauf-Erkrankung) cũng có thể liên quan đến (verbinden) những thay đổi (Veränderung) trong não. Điều này được một công trình khảo sát (Studie) của Anh quốc xác nhận (belegen) qua dữ liệu (Daten) của 9722 bệnh nhân (Patient).

Các yếu tố rủi ro ở một bệnh nhân càng nhiều, thì cho thấy rõ ràng hơn (deutlicher) có nhiều thay đổi bệnh hoạn (krankhafte Veränderung) ở chất (Substanz) trắng (weiß) và xám (grau) cũng như dung tích của não (Gehirnvolume), theo báo cáo (Bericht) của các nghiên cứu gia (Forscher) của Simon Cox thuộc đại học (University) Edinburg – Anh quốc (Großbritannien), đăng trên tạp chí „European Heart Journal“

Các nhà khoa học (Wissenschaftler) đã sử dụng (nutzen) dữ liệu của „UK Biobank“, một công trình khảo sát lớn và dài hạn (große Langzeitstudie) tại Anh quốc với nhiều dữ liệu y tế (Gesundheitsdaten) của khoảng (rund) nửa triệu (halbe Million) người. Một số người tham gia (Teilnehmer) được chụp quét não bằng cộng hưởng từ (Kernspintomographie). Cox và các đồng nghiệp (Kollege) đã sàng lọc (aussortieren) những tham dự viên đã được chẩn đoán bệnh não hoặc thần kinh (diagnostisierte Gehirn- und Nervenkrankheit). Tất cả đối tượng được thử nghiệm (untersuchte Probande) đã cho thông tin (Auskunft) về các chỉ số như áp huyết (Blutdruck) và nhịp đập (Pulsdruck), tiểu dường, mức (Spiegel) Cholesterin và việc hút thuốc. Ngoài ra (außerdem), chỉ số về cơ địa (Body-Mass-Index, viết tắt là BMI) và tỷ lệ (Verhältnis) vòng bụng và hông (Bauch- und Hüpftumfang) cũng được đo (messen).

Những kết quả này được các nhà nghiên cứu thống kê hóa (statistisch) liên quan đến (in Beziehung) với những thay đổi ghi nhận được (erfasste Veränderung) trong não. Qua đó cho thấy (sich zeigen) rằng, những biểu hiện bất thường (Auffälligkeit) không được phân phối (verteilen) ngay lập tức (nicht gleich) trên não. „Các khu vực bị ảnh hưởng (betroffener Bereich) chủ yếu (hauptsächlich) là những khu vực đã được họ biết đến có liên quan đến kỹ năng tư duy phức tạp (komplexe Denkfähigkeit) của con người và những vùng xảy ra (auftreten) nhiều thay đổi ở chứng bệnh lãng trí (Demenz) và mất trí (Alzheimer)“, ông Cox giải thích (erklären). Các nhà khoa học không tìm thấy những thay đổi rõ ràng nào trong não liên quan đến mức cholesterin cao.

Nhóm (team) nghiên cứu cũng so sánh (vergleichen) hai nhóm nhỏ (Untergruppe): Một, liên quan đến những người không có yếu tố rủi ro về tim mạch; hai, những người có yếu tố cao nhất về rủi ro này. „Chúng tôi tìm ra được rằng, ở những người có rủi ro tim mạch cao thì tầm 18 mi-li-lít (Mililiter) hoặc gần (fast) ba (drei) phần trăm dung tích (Volumen) chất xám ít hơn so với người có rủi ro thấp nhất“, theo Cox. Chất xám chủ yếu sinh ra từ (aus) các tế bào thần kinh (Nervenzelle); chất trắng từ các dây thần kinh (Nervenbahnen). Ở điểm này, các nhà nghiên cứu thậm chí (sogar) còn tìm thấy sự thiệt hại (Schaden) gấp rưỡi (anderthalbfach).

Các nhà nghiên cứu viết (schreiben) rằng: Điều đáng chú ý (auffallend) là ngay cả ở những cá nhân tương đối khỏe mạnh (relativ gesunde Individuen) cũng có thể phát hiện (nachweisbar) nhiều liên hệ (Verbindung) giữa (zwischen) những yếu tố rủi ro về tim mạch và cấu trúc não (Gehirnstruktur). Ở một nhóm tiêu biểu (repräsentative Gruppe) khác, những thay đổi như vậy có thể còn lớn hơn (noch größer).

Tuy nhiên, ông Andreas Meisel, thần kinh học (Neurologe) thuộc đại học y (Universitätsmedizin) Charité Berlin không tham gia (beteiligen) sự phân tích (Analyse) này do dự (bedenken) rằng, một dung tích nhỏ của não (geringes Gehirnvolumen) vẫn chưa thể xem là bệnh (noch nicht krank).

Còn đối với ông Sven Poli thuộc Viện (Institut) Hertie về nghiên cứa não lâm sàng (klinische Hirnforschung) thuộc bệnh viện đại học (Universitätsklinikum) Tübingen cho rằng những kết quả (Ergebnisse) chỉ (nur bedingt) liên quan đến tình trạng (Situation) trong nước Đức. Nói chung (insgesamt), hệ thống y tế (Gesundheitssystem) Đức vẫn có nhiều thuận lợi (Vorteile) so với Anh quốc. Tuy nhiên (allerdings), việc hậu điều dưỡng (Nachsorge) chẳng hạn sau một sự đột quỵ (Schlaganfall) ở Anh quốc vẫn được tổ chức (organisieren) tốt hơn (besser). Ông Poli là thành viên (gehören) một nhóm nghiên cứu gia (Forschergruppe) tìm phương cách (nach Wegen suchen) để cải thiện (verbessern) việc hậu điều dưỡng thuộc dự án (Projekt) „SANO – Hậu điều dưỡng ngoại viện có cơ sở (strukturierte ambulante Nachsorge) sau đột quỵ“

Tin dpa, hình Waltraud Grubitzsch

Thứ năm ngày 25.04.2019
Vẫn còn có nhiều người không có bằng tốt nghiệp nghề.

Nền kinh tế (Wirtschaft) tìm kiếm (suchen) tuyệt vọng (händeringend) công nhân có tay nghề (Fachkraft). Người hoàn tất (absolvieren) học trình đào tạo nghề (Ausbildung) sẽ có cơ hội tốt (gute Chance) để tìm việc (Job). Nhưng nhiều người trẻ (junge Menschen) thậm chí (gar nicht) không tiến xa được.

Hơn (mehr als) hai triệu người trong độ tuổi từ 20 đến 34 không hoàn tất việc học nghề (Berufabschluss). Điều này được trích từ báo cáo đào tạo nghề (Berufsausbildungsbericht) năm 2019.

Số (Zahl) người trẻ không có bằng cấp (Abschluss) vì thế đã tăng (steigen) nội trong vòng (binnen) một năm từ 2,08 lên thành 2,21 triệu trong năm 2017. Ba năm trước đó chỉ có 1,88 triệu. Đặc biệt, nguy cơ sẽ đến với những người không có bằng tốt nghiệp (Schulabschluss). Nhóm (Gruppe) này có gần (fast) 70 phần trăm không có bằng nghề (beruflicher Abschluss).

Ở nhiều ngành nghề (Berufbranche), các công ty xí nghiệp (Firma) gặp khó khăn (Schwierigkeit) trong việc tìm người  học nghề. Cho nên, trong năm 2018 có bốn trong số năm chỗ đào tạo (Ausbildungsplatz) bán hàng chuyên nghiệp (Fachverkäufer) trong ngành thực phẩm (Lebensmittelhandwerk) vẫn không có người ghi danh học (unbesetzt), cũng như vậy đối với nghề làm thịt (Fleischer), khoảng (rund) 37 phần trăm đối với nghề thợ sửa ống (Klempner) và chuyên viên nhà hàng (Restaurantfachleute). Riêng (allein) ngành thủ công (Handwerk), theo hiệp hội trung ương (Zentralverband), có hơn 17.000 chỗ (Platz) – chủ yếu (vor allem) ở các doanh nghiệp nhỏ (Kleinbetrieb) vẫn còn trống (nicht besetzt).

Ngược lại (im Gegensatz), đặc biệt (besonders) những người trẻ thường (oft) không thành công (ohne Erfolg) để có một chỗ học nghề như chăm sóc thú vật (Tierpfleger) với 46 phần trăm, thiết kế tiếp thị trực quan (Gestalter für visuelles Marketing) với 45 phần trăm và thiết kế truyền thông (Mediengestalter) với 44 phần trăm.

Tin dpa, hình Felix Kästle

Thứ năm ngày 18.04.2019
Làm thế nào để có thể biết sớm căn bệnh Parkinson.

Trong nước Đức (Bundesrepublik Deutschland, viết tắt là BRD) hiện (aktuell) có khoảng (etwa) 400.000 người mắc bệnh (erkranken) Parkinson. Chủ yếu (vor allem) ở người già (ältere Menschen), thông thường nhận ra từ sự rối loạn vận động (Bewegungsstörung) ở thời kỳ đã phát triển (fortgeschrittenes Stadium). Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu sớm (frühe Anzeichen) biển hiện (auftreten).

Parkinson liên quan (verbinden) nhiều đến sự vận động chậm chạp (langsame Bewegung) và bàn tay run rẫy (zitternde Hände). Nhưng đây chưa phải là các triệu chứng đầu tiên (erstes Symptom) của căn bệnh (Krankheit), ông Hilker-Roggendorf giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) của Tổ Chức Parkinson Đức (Deutsche Gesellschaft für Parkinson) giải thích (erklären) trên tờ “Neue Apotheken Illustrierte” (Tạp Chí Tân Dược Phòng), số phát hành (Ausgabe) 1.04.2019.

Như vậy, những dấu hiệu đầu khả thi (mögliche erste Anzeichen) của chứng bệnh Parkinson là rối loạn giấc ngủ (Schlafstörung), có vấn đề (Problem) về ngửi (Riechen) và tâm thái bất thường (Stimmungsschwankung). Những người này nên đến bác sĩ (Arzt), khi các triệu chứng như vậy xảy ra (auftreten) thường xuyên hơn (gehäuft) và chưa có lời giải thích rõ ràng (nahliegende Erklärung) nào, chẳng hạn sự rối loạn ngửi (Reichstörung) có nguyên nhân (Ursache) từ hút thuốc (Rauchen). Điều này đặc biệt đối với những người có liên hệ họ hàng (nahe Verwandte) với người mắc chứng bệnh Parkinson.

Cho đến nay, bệnh Parkinson không thể chữa lành được (unheilbar). Nếu chứng bệnh càng sớm (je früher) được phát hiện (erkennen), thì bác sĩ có thể khắc phục (gegensteuern) tốt hơn (besser) và các triệu chứng có thể ngăn chận được, theo các nhà thần kinh học (Neurologe) giải thích. Người ta có thể dùng thuốc (Medikament), nhưng cũng có nhiều hình thức điều trị (Behandlungsform) khác như (wie) vật lý trị liệu (Physiotherapie) và liệu pháp thích nghi vận động (Ergotherapie).

Parkinson là một sự rối loạn vận động bởi thần kinh (nervenbedingte Bewegungstörung), chủ yếu ở người già. Nguyên nhân (ursache) đặt tên cho chứng bệnh từ sự run rẩy tê liệt (Schüttellähmung) là sự hủy hoại (Absterben) những tế bào thần kinh (Nervenzellen) trong não (Gehirn). Chúng không còn sản suất (produkzieren) chất dẫn truyền thần kinh (Botenstoffe) mang tên là Dopamin nữa (nicht mehr) và chất này giúp cơ thể (Körper) điều chỉnh(steuern) sự vận động bình thường (normale Bewegung). Hệ quả (Folge) của nó dẫn đến vô số sự rối loạn (zahlreiche Störungen) như: Run rẩy (zittern), căng cơ bắp (verspannte Muskeln) cũng như (sowie) rối loạn bước đi và mất thăng bằng (Gang- und Gleichgewichtstörung). Thêm vào đó (hinzu), tiếng nói (Sprache) nhẹ (leise) và đơn điệu (monoton) cũng như nét mặt cứng nhắc (starre Mimik). Những triệu chứng khác (zusätzliches Symptom) cũng có thể là rối loạn giấc ngủ (Schlafstörung), trầm cảm (Depression) và chậm phát triển trí tuệ (geistige Beeinträchtigung) cho đến (bis hin) lãng trí (Demenz).

Morbus Parkinson sau chứng bệnh mất trí (Alzheimer) là căn bệnh thoái hóa thần kinh đứng hàng thứ hai (zweihäufigste neurodegenerative Erkrankung). Trong nước Đức, theo các dữ liệu của bảo hiểm sức khỏe (Krankenkassendaten) hiện nay (aktuell) có khoảng 400.000 người mắc phải chứng bệnh nan y (unheilbare Leiden) này, Tổ Chức Parkinson Đức viết (schreiben). Trung bình (im Durschnitt), các bệnh nhân (Patient) được chẩn đoán (Diagnose) ở tuổi 60. Nam giới (Männer) bị ảnh hưởng nhiều hơn nữ giới (Frauen).

Tin dpa, hình Britta Pedersen

Thứ tư ngày 17.04.2019
Có nhiều đào tạo sinh cho các nhành nghề kim loại và điện

Ngành kim loại và điện (Metall- und Elektrobranche) không cần lo lắng (sorgen) việc thiếu người. Trong các xí nghiệp (Betrieb) rõ ràng có sự gia tăng (Zuwachs) người học nghề (Auszubildenede). Theo Hiệp Hội Chủ Nhân (Arbeitgeberverband), đây là hai nghề đang được ưa chuộng (Favorit) hiện nay.

Các nghề kim loại và điện trong nước Đức có quá nhiều (so viel) người theo học như chưa hề có từ mười (zehn) năm qua. Năm 2018 đã bắt đầu (beginnen) có hơn (mehr als) 78.000 người được đào tạo (ausbilden) trong lãnh vực (Bereich) này, theo Hiệp Hội Chủ Nhân Tổng Kim Loại (Gesamtmetall) đã thông báo (mitteilen).

Như vậy có 5,7 phần trăm nhiều hơn so với năm 2017. Nghề đào tạo được ưa chuộng nhất (beliebtester Ausbildungsberuf) theo hiệp hội này là chuyên viên điện toán (Fachinformatiker) với gần (knapp) 15.000 đào tạo sinh trong năm 2018. Từ năm (fünf) năm trở lại, mỗi năm có thêm khoảng mười phần trăm các nơi đào tạo (Ausbildungsstelle) vẫn còn chỗ trống (unbesetzt). Các xí nghiệp đã không tìm (finden) đủ (nicht genügend) ứng viên thích hợp (geeignete Bewerber), theo hiệp hội cho biết. Vì thế ông Rainer Dulger, chủ tịch (Präsident) Tổng Kim Loại yêu cầu (fordern) nên có nhiều đầu tư (mehr Investition) của liên bang (Bund) trong các trường học (Schule). Ông nói: „Là phụ huynh (Eltern), kinh tế (Wirtschaftl), xã hội (Gesellschaft) và chính trị (Politik) chúng ta không thể chấp nhận (hinnehmen) lâu hơn nữa (länger) rằng, mỗi năm có 50.000 người trẻ rời ghế nhà trường (Schule verlassen) không có bằng tốt ghiệp (ohne Abschluss).

Tin dpa, hình Felix Kästle

Thứ ba ngày 16.04.2019
152 triệu Euro trợ cấp phụ huynh cho các gia đình trong tiểu bang Thüringen.

Các gia đình (Familie) trong tiểu bang Thüringen, khu vực Đông Đức, trong năm qua đã nhận (erhalten) khoảng (rund) 152,3 triệu (Millionen) Euro trợ cấp phụ huynh (Elterngeld). Theo thông báo (Mitteilung) trả lời của Bộ Xã Hội (Sozialministerium) một thắc mắc (Anfrage) đặt ra cho họ. Tổng cộng (insgesamt) trong năm 2018 có chừng (knapp) 25.700 người cha (Vater) và mẹ (Mutter) đã làm đơn xin (Beantragen) tài trợ (finanzielle Unterstützung) – ít hơn (wniger) hơn (als) năm trước (Vorjahr) 26.100 người. Theo dữ liệu được biết, rõ ràng có nhiều phụ nữ (Frauen) nhận trợ cấp (Leistung) với 15.600 người; chỉ có 7.400 người cha. Một số đơn xin (Antrag) trợ cấp phụ huynh theo cơ quan chức trách (Behörde) vẫn chưa được chấp thận (noch nicht bewilligen).

Cũng trong những năm qua, người mẹ nhận trợ cấp phụ huynh rõ ràng vẫn nhiều hơn người cha. Tài trợ này thay thế (ersetzen) ít ra (zumindest) một phần tiền lương (Gehalt) của người mẹ hay cha phải gián đoạn (unterbrechen) hay giảm thiểu (redukzieren) công ăn việc làm (Berufstätigkeit) sau khi sinh một đứa con (Geburt eines Kindes)

Tin dpa, hình tư liệu của Felix Kästle

Thứ hai ngày 15.04.2019
Vẫn có nhiều người cha nhận trợ cấp phụ huynh

Thật tế (zwar) rõ ràng (deutlich) vẫn còn nhiều (noch immer mehr) người mẹ (Mutter) hưởng quyền lợi (in Anspruch nehmen) hơn cha (Vater), nhưng (doch) con số này sẽ tăng (steigen). Tuy nhiên (allerdings) người mẹ nhận trợ cấp (Leistung) lâu hơn (länger).

Số người cha, vì con trẻ (Nachwuchs) đành nghỉ việc (berufliche Auszeit nehmen) và nhận (beziehen) trợ cấp phụ huynh (Elterngeld), trong năm qua (Vorjahr) đã tăng rõ rệt. Theo Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) tại Wiesbaden thông báo (mitteilen) và cho biết so với (im Vergleich) năm 2017 tăng bảy (sieben) phần trăm (Prozent). Số người mẹ nhận trợ cấp ngược lại (dagegen) chỉ (nur) tăng (zunehmen) ba (drei) phần trăm. Nhưng các người mẹ nhận trợ cấp phụ huynh rõ ràng lâu hơn người cha, theo dữ liệu thống kê (statistische Daten) cho thấy (zeigen).

Nói chung (insgesamt), phái nữ (weibliches Geschlecht) vẫn chiếm đa số (Mehrzahl) trong việc tài trợ (finanzielle Unterstützung) này cho việc chăm sóc con trẻ (Kinderbetreuung): Theo dữ liệu, năm 2018 có khoảng (rund) 1,4 triệu người mẹ và 433.000 người cha nhận trợ cấp phụ huynh. Tính chung (zusammengerechnet), năm 2018 đã có bốn (vier) phần trăm nhiều hơn (mehr als) năm 2017.

Tin dpa, hình Monika Smolimowska

Chủ nhật ngày 14.04.2019
Máy di động không phải cho việc sử dụng liên tục.

Trong cuộc sống hàng ngày (Alltag), máy điện thoại di động (Handy) và cùng loại không thể thiếu đối với một số người. Tuy nhiên (jedoch), hạn chế (nur bedingt) việc sử dụng (Einsatz) ở chỗ làm (Arbeitsplatz).

Máy tính bảng (Tablet) hoặc điện thoại cầm tay, nghĩa là những loại máy (Geräte) không có bàn phiếm (ohne Tastatur) chỉ được sử dụng (nutzen) ở chỗ làm cho thời gian ngắn (nur für kurze Zeit). Và chỉ khi công việc không thể giải quyết (erledigen) với một máy khác. Đồng thời (zudem), các thiết bị phải thích ứng một số quy tắc tương đối giữa người và điều kiện lao động của họ (ergonomische Vorgabe): Chẳng hạn (etwa), màn hình (Bildschirm) phải độ phản chiếu thấp (reflxionsarm). Kích thước (Größe), hình thể (Form) và trọng lượng (Gewicht) phải phù hợp (angemessen) với công việc (Aufgabe).

Tất cả những điều này được quy định (regeln) bởi những Quy Định Về Chỗ Làm (Arbeitsstättenverordnung), theo tòa soạn (Verlag) BUND thông báo (informieren) trên Blog của họ dành cho các hội đồng xí nghiệp (Betriebrat). Trong đó ghi (festhalten) những quy định tối thiểu theo luật định (gesetzliche Mindestvorschrift) về sức khỏe (Gesundheit) và an toàn (Sicherheit) cho người lao động (Beschäftigte) ở chỗ làm, bao gồm (unter anderem) cả công việc làm ở màn hình (Bildschirmarbeit).

Tuy nhiên, quy định không ghi những thông tin (Angabe) có hiệu lực (gelten) khi công nhân sử dụng các máy di động ngoài phạm vi (außerhalb) xí nghiệp (Betrieb) – nghĩa là (also) ví dụ (zum Beispiel) dọc đường (unterwegs) hoặc ở nhà (zu Hause). Đối với những tình trạng lao động (Arbeitssituation) này, những quy định bảo vệ nguy hiểm (Gefahrschutzvorschrift) được áp dụng, chẳng hạn quy định an toàn xí nghiệp (Betriebssicherheitsverordnung).

Tin dpa, hình Hauke Christian

Thứ bảy ngày 13.04.2019
Trợ cấp ốm đau vẫn phải trả dù đang nghỉ phép ở nước ngoài.

Được nghỉ bệnh (krankgeschrieben) vẫn (trotzdem) đi nghỉ phép (Urlaub fahren) có được không? Điều này hoàn toàn (durchaus) khả thi (möglich). Thậm chí (sogar), quyền lợi (Anspruch) được hưởng trợ cấp ốm đau (Krankengeld) trong trường hợp (Fall) này vẫn phải được duy trì (bestehen bleiben).

Người bệnh (Kranke) có thể nhận (erhalten) ttrợ cấp ốm đau. Điều này cũng (auch) có giá trị (gelten) cho ai đó (jemand) trong lúc (während) được phép nghỉ bệnh mà đi nghỉ phép. Với điều kiện (Vorrausetzung) tình trạng bất lực lao động (Arbeitsunfähigkeit) được chứng nhận (bescheinigen)

Ngoài ra (außerdem), bác sĩ điều trị (behandelnder Arzt) không có nghi ngại gì (keine Bedenken) về việc nghỉ phép ở nước ngoài (Auslandsurlaub). Tổ Luật Xã Hội (Arbeitsgemeinschaft Sozialrecht) của Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) thông báo (informieren) một quyết định (Entscheidung) của Tòa Án Xã Hội (Sozialgericht) Karlsruhe, hồ sơ thụ lý Az.: S 4 KR 2398/17.

Vụ xử (verhandelter Fall) liên quan đến một người đàn ông (Mann) nhận (beziehen) trợ cấp ốm đau của công ty bảo hiểm sức khỏe theo luật định (gesetzliche Krankenkasse) của mình. Vì (da) ông đã đặt vé (buchen) đi nghỉ phép (Urlaub) trước khi bị bệnh (Erkrankung), và đã dò hỏi (nachfragen) rằng, liệu (ob) ông có thể đi nghỉ phép tịnh dưỡng (Erholungsurlaub) gần (knapp) hai tuần lễ với gia đình của mình trong một căn nhà nghỉ hè (Ferienhaus) ở bờ biển Địa Trung Hải được không. Và đã xuất trình (vorlegen) giấy chứng nhận của bác sĩ nhà (Hausarzt) về khả năng đi du lịch (Reisefähigkeit) của ông. Cũng như, trong khoản thời gian (Zeitraum) này không có dự định (planen) một cuộc hẹn nào của bác sĩ (Arzttermin) cả. Tuy nhiên (jedoch), công ty bảo hiểm sức khỏe không muốn trả (zahlen) trợ cấp ốm đau cho việc nghỉ phép ở nước ngoài. Họ quy chiếu (verweisen) rằng, ảnh hưởng tốt (positive Auswirkung) của việc nghỉ phép không đảm bảo (nicht sichern) cho việc hồi phục sức khỏe (Genesung).

Người này đã đấu tranh (durchsetzen) những quyền lợi của mình ở tòa án xã hội. Công ty bảo hiểm sức khỏe đã thực hiện (ausüben) quyết định (Ermessen) của họ sai lầm (fehlerhaft), theo tòa án (Gericht). Lẽ ra, họ phải quan tâm (berücksichtigen) tốt hơn (besser) cho người kiện (Kläger) về những lợi ích có thể (mögliche Vorteile) của việc nghỉ phép tịnh dưỡng. Ngoài ra, công ty bảo hiểm sức khỏe đã không để ý (beachten) rằng, việc đi nghỉ phép đã (schon) lên chương trình và đặt vé trước (vor) tình trạng không thể lao động được.

Thật ra (zwar), cũng có những quy định (Vorschrift) cho việc không thanh toán (Nichtzahlung) trợ cấp ốm đau vì nghỉ phép ở nước ngoài. Tuy nhiên (aber), mục đích (Zweck) của quy định này là việc ngăn chận (verhindern) sự nhận vô lý (ungerechtfertigte Inanspruchnahme) trợ cấp ốm đau trong nhiều trường hợp mà tình trạng không thể lao động được ở nước ngoài khó (mit Schwierigkeit) có thể xác định (feststellen) được. Dù vậy, đối với trường hợp trên, người này đã có giấy phép nghỉ bệnh ngay (schon) trong nước Đức. Vì vậy (daher), việc từ chối (Ablehnung) của công ty bảo hiểm sức khỏe không hợp lý

Thứ năm ngày 11.04.2019
Gần hai triệu người lệ thuộc thuốc chống đau nhức và thuốc ngủ.

Trong cuộc sống hàng ngày (im Alltag) vẫn có nhiều người trong nước Đức bị lệ thuộc (abhängig) thuốc chống đau nhức (Schmerzmittel), thuốc ngủ (Schafmittel) hoặc thuốc an thần (Beruhigungsmittel). Nguy hại (Gehar) lớn (groß) vì việc sử dụng thường xuyên (regelmäßige Einnahme) sẽ dẫn đến (entwicklen) nghiện (Sucht). Những con số của Bộ Y Tế Đức (Bundesgesundheitsministerium).

Gần (fast) hei triệu người trong nước Đức, theo những dữ liệu khảo sát mới (neue Studiendaten), bị lệ thuộc vào một số thuốc men (Medikament). Thuốc ngủ có khoảng 1,6 triệu người, theo sự trả lời (Anwort) của Bộ Y Tế Đức về sự thắc mắc (Anfrage) của đảng FDP.  Có 361.00 người dùng thuốc ngủ và an thần.

Những thiếu nữ (junge Frauen) giữa (zwischen) 18 và 20 tuổi bị lệ thuộc vào hai loại thuốc này nhiều hơn nam giới. Tuổi càng cao thì sự lệ thuộc (Abhängigkeit) ở nam giới lại thường hơn (häufiger), nữ giới hiếm hơn (seltener). Sự đánh giá chính xác (präzise Auswertung) đối với giống phái (Geschlecht) và tuổi tác (Alter) bởi con số đánh giá ít nên chưa rõ ràng. Tổ chức ESA đã thăm dò thường xuyên (wiederholte Befragung) ý kiến quần chúng (Bevölkerung) trong nước Đức từ (seit) năm 1980 về việc sử dụng (Gebrauch) và lạm dụng (Missbrauch) những chất ích tâm thần (psychoaktiver Substanze).

Trong năm qua, một quy định mới (Neuregelung) đã có hiệu lực (in Kraft treten) rằng, phải có sự lưu ý cảnh báo (Warnhinweise) mới cho việc cung cấp thuốc chống đau nhức như Aspirin hoặc (oder) Ibuprofen khi không có toa chỉ định (ohne Rezept). Bên ngoài bao bì (Außenpackung) phải có in (aufdrucken) hàng chữ: „Khi bị đau nhức (Schmerzen) hoặc sốt (Fieber) không có lời khuyên của bác sĩ (ohne ärztlichen Rat) không được sử dụng (anwenden) lâu hơn (nicht länger) như quy định (Vorgabe) tờ kèm theo bao bì (Packungsbeilage)!“ Nhờ vậy (dadurch), những tác dụng phụ (Nebenwirkung) như (wie) đột quỵ (Schlaganfall), ra máu ở đường ruột (Magenblutung) hoặc hại thận (Nierenschäden) sẽ tránh được (vermeiden). Đối với những nhóm thuốc khác (weitere Arzneimittelgruppe) hiện (derzeit) chưa có quy định lưu ý cảnh báo, bộ (Ministerium) này giải thích (erklären).

Tin dpa, hình Friso Gentsch

Thứ tư ngày 10.04.2019
Quá nhiều sinh viên không có tú tài như chưa hề có.

Số sinh viên (Studierende) không có bằng tú tài hay tốt nghiệp trung học phổ thông (ohne Abitur) đạt (erreichen) con số kỷ lục mới (neue Rekordzahl). Chính (selbst) trong các môn kỹ sư khoa học (Ingenieurwissenschaft) và y khoa (Medizin) vẫn có cơ hội (Chance) cho dù không có bằng tú tài.

Khoảng (knapp) 60.000 người học đại học (studieren) trong năm 2017 không có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông (tú tài). Như vậy, con số này đã tăng gấp bốn lần (sich vervierfachen) trong mười năm gần đây, theo Thông Tấn Xã Dức (Deutsche Press-Agentur, viết tắt là dpa) có từ kết quả sự khảo sát của trung tâm (Centrum) CHE về sự phát triển cao học (Hochschuleentwicklung).

Cũng như năm trước, sinh viên không có tú tài ghi danh học chủ yếu (vor allem) các môn (Fach) Luật (Rechtswissenschaft), Kinh Tế (Wirtschaftwissenschaft) và Xã Hội (Sozialwissenschaft) – cũng như ngành Kỹ Sư và Y Khoa. Theo CHE, họ vẫn chứa có dữ liệu chính xác về số sinh viên học Kỹ Sư và Y Khoa không có bằng tú tài. Thật tế (tatsächlich) cho thấy, trong năm qua có khoảng 800 trong tổng số (insgesamt) 109.000 sinh viên Y Khoa đã có chỗ học đã không có bằng tú tài

Trình độ chuyên môn (Qualifikation) lúc nộp đơn xin (Bewerbung) trong nhiều trường hợp được căn cứ vào kinh nghiệm nghề nghiệp (Berufpraxis). Như vậy, điểm các kỳ thi (Prüfung) chuyên gia (Meister) hoặc chuyên ngành (Fachwirt) thay thế (ersetzen) cho điểm tú tài (Abinote). Việc kết thúc đào tạo nghề (abgeschlossene Berufsausbildung) cũng như (sowie) có đủ kinh nghiệm nghề (ausreichende Berufserfahrung) vẫn là điều bắt buộc (Pflicht).

Với con số 8100 sinh viên tốt nghiệp (Studienabsolvent) không có tú tài so với năm 2007 đã tăng gấp bốn lần. Đây là một dấu hiệu (Indiz) cho thấy rằng „khả năng học tập thướng được nói đến (oft zitierte Studierfähigkeit) không phụ thuộc (nicht abhängig) với bằng tốt nghiệp trung học (Abiturzeugnis)“, theo giải thích (Erklärung) của bà Sigrun Nickel thuộc tổ chức CHE.

Tin dpa, hình Rafael Knipping

Thứ hai ngày 08.04.2019
Thể thao buổi tối có thể làm mất ngủ?

Mỗi tối (abends) tập thể dục hết mình (richtig auspowern), rồi sau đó lăn lộn (rumwälzen) trên giường (im Bett) không ngủ được (schlaflos). Hai việc này có liên hệ (Zusammenhang) gì với nhau? Hãy đọc kết quả một cuộc khảo sát (Studie).

Ngày (Tage) trở nên dài hơn (länger). Hứng thú (Lust) vận động (sich bewegen) tăng (steigen): Chạy bộ (joggen) chơi bóng đá (Fußball) ngoài trời (im Freien) hoặc trong các phòng thể dục (Fitnessstudio) sau giờ làm việc (nach der Arbeit). Thể thao (Sport) tốt (gut) cho sự thay đổi chất (Stoffwechsel), hệ miễn dịch (Immunsystem) và sức khoẻ (Wohlbefinden). Nhưng điều này có tốt cho giấc ngủ (Schlaf) hay không?

Ai mỗi đêm cử tạ (Gewichte stemmen) hoặc đạp xe đua (Rennrad) sẽ ngủ (schlafen) tệ hơn (schlechter), theo một sự tin tưởng phổ biến (verbreitetes Glauben). Rối loạn giấc ngủ (gestörter Schlaf) ngược lại (wiederum) làm tăng (erhöhen) nguy cơ (Risiko) gây nhồi máu cơ tim (Herzinfarkte), béo phí (Übergewicht) và rối loạn tâm lý (psychische Störung).

Tổ Chức Đức Nghiên Cứu Giấc Ngủ và Y Khoa Giấc Ngủ (Deutsche Gesellschafte für Schlafforschung und Schlafmedizin, viết tắt là DGSM) lưu ý (hinweisen) trên tờ Khuyên Nhủ (Ratgeber) rằng, thể thao trước khi lên gường ngủ (Zubettgehen) có thể làm rối loạn (stören) giấc ngủ. Nhiều công trình khảo sát mới cho thấy (zeigen) hình ảnh mâu thuẩn (widersprüchliches Bild) của vấn đề.

Các khoa học gia về thể thao (Sportwissenschaftler) của ETH Zürich đã đánh giá (auswerten) 23 khảo sát (Studie) phân tích (Analyse) lớn đã được công bố (erscheinen) trong tháng hai (Februar) trên tờ “Y Khoa Thể Dục Thể Thao” (Sports Medicine). Kết quả (Ergebnis): Người nào luyện tập (trainieren) tích cực (inetnsiv) ít hơn (weniger) một tiếng đồng hồ (Stunde) trước khi lên giường ngủ thật sự (tatsächlich) cần nhiều giờ hơn (länger) mới vào giấc ngủ (Einschlafen) được và ít ngủ hơn (weniger Schlaf).

Nói chung (allgemein), chơi thể thao tối (Abendsport) bốn tiếng trước khi ngủ không ảnh hưởng đến giấc ngủ. Trái lại (im Gegenteil), vận động vào buổi tối (späte Bewegung) thậm chí (sogar) có thể hỗ trợ (fördern) cho giấc ngủ rất tốt. Tuy nhiên (allerdings), hiệu quả (Effekt) của nó không đáng kể (klein).

Các khoa học gia (Wissenschaftler) vẫn cón hoài nghi về các cơ chế (Mechanismen) ảnh hưởng thật sự đến giấc ngủ qua việc thể thao buồi tối. Tăng nhiệt độ cơ thể (höhere Körpertemperatur)? Căng cơ bắp (Muskelkater)? Nhịp tim (Herzschlag)? Đói khuya (nächtlicher Hunger)?…Những yếu tố này vẫn chưa được khảo sát rõ ràng (nicht eindeutig).

Tin dpa, hình Frank Rumpenhorst

Thứ bảy ngày 06.04.2019
Những ngày nghỉ làm vì vấn đề tâm lý tăng mạnh

Quá bệnh (zu krank) vì công việc (Arbeit) – trong những ngày gần đây, điều này thường (immer öfter) xảy ra vì những khổ đau tâm lý (psychische Leiden). Có nhiều ý kiến (Meinung) khác nhau về việc cần phải làm gì để khắc phục.

Số (Zahl) ngày bệnh (Krankentage) bởi các vấn đề tâm lý (psychische Probleme) trong vòng (innerhalb) 10 năm trở lại tăng gấp đôi (sich verdoppeln) là 107 triệu lần mỗi năm (pro Jahr)

Năm 2007 vẫn còn 48 triệu ngày. Các chi phí ngưng làm việc (Ausfallkosten) tổng cộng trong khoản thời gian (Zeitraum) này thậm chí (sogar) tăng gần (fast) gấp ba lần (sich verdreifachen) – từ 12,4 tỷ (Milliarden) lên thành 33,9 tỷ Euro

Tuy nhiên (allerdings), trong năm 2018 công ty sức khoẻ (Gesundheitsunternehmen) DAK ghi nhận (registrieren) rằng, kể từ (seit) 2006 đã có sự gia giảm (Rückgang). Tháng giêng (Januar) năm nay, công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenkasse) này đã cho biết (mitteilen) rằng, số ngày nghỉ làm vì bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) của những người lao động đóng bảo hiểm sức khoẻ (erwerbstätige Versicherte) trong năm qua so với (im Vergleich) năm trước (Vorjahr) giảm (sinken) 5,6 phần trăm. Những bệnh tâm lý vẫn còn (immer noch) là nguyên nhân đứng thứ ba (dritthäufigste Ursache) của sự nghỉ việc (Fehltage) với 15,2 phần trăm. Đứng đầu (an erster Stelle) là các bệnh liên quan đến hệ thống cơ-xương (Muskel-Skelett-System) với 20,9 phần trăm, đứng hàng thứ hai là các bệnh về hô hấp (Atemleiden) với 16,0 phần trăm.

Theo sự trả lời của chính phủ (Regierungsantwort), giữa (zwischen) năm 2007 và 2017 số người nghỉ hưu (Renteneintritt) cũng tăng (ansteigen) vì giảm khả năng lao động (verminderte Erwerbsfähigkeit) bởi (aufgrund) rối loạn tâm lý (psychische Störung), từ khoảng (rund) 53.900 lên thành 71.300 người. Năm 2017 có khoảng 41.200 phụ nữ (Frauen) nghỉ hưu sớm (vorzeitig) vì chẩn đoán bị tâm lý (psychische Diagnose). Ở nam giới (Männer) khoảng 30.100 người. Các số liệu quy chiếu (basieren) theo báo cáo (Bericht) về các dữ liệu bảo hiểm xã hội (Sozialversicherungsdaten) và sự tính toán (Berechnung) của Viện Liên Bang về Phòng Hộ Lao Động và Y Khoa Lao Động (Bundesanstalt für Arbeitsschutz und Arbeitsmedizin). Số liệu cho năm 2018 vẫn chưa (noch nicht) có (vorliegen)

Chính phủ Đức (Bundesregierung) nhận thấy (sehen) chủ yếu (vor allem) là bổn phận (Pflicht) của các chủ nhân (Arbeitgeber): Đối đầu (gegen) những gánh nặng tâm lý (psychische Belastung) sẽ không được các quy định mới về việc an toàn lao động (neue Arbeitsschutzregel) hỗ trợ (helfen), các tờ báo (Zeitung) của tập đoàn Funke trích (zitieren) từ sự trả lời của chính phủ. Mục tiêu (Ziel) cần phải nhiều hơn (vielmehr) để tạo điều kiện (befähigen) cho xí nghiệp (Betrieb) và công nhân (Beschäftigte) sử dụng (nutzen) được các công cụ thiết bị an toàn lao động hiện có (vorhandenes Arbeitsschutz-Instrumentarium), Bà Jutta Hrellmann, phát ngôn viên về chính sách lao động (arbeitspolitische Sprecherin) đảng khối Tả khuynh trong quốc hội (Linksfraktion), đã phê phán kịch liệt (scharf kritisieren) vấn đề này. “Nhiều chủ nhân đi vào vết hao mòn (Verschleiß): Áp lực cao (starker Druck), tính linh hoạt cao (hohe Flexibilität) – lúc nào (immer) cũng nhanh hơn (schneller), nhiều hơn (immer mehr). Người lao động bị dồn (treiben) vượt khỏi (über) giới hạn chịu đựng (Belastungsgrenze) của họ”, bà nói với các tờ báo của tập đoàn Funke. “Còn chính phủ thì khoanh tay (Däumchen drehen) nhìn (schauen).”

Tin dpa, hình Christin Klose

Thứ tư ngày 03.04.2019
Chấm dứt việc làm phải viết thành văn bản.

Sự chấm dứt (Kündigung) việc làm (Job) chủ yếu (vor allem) là tính cách ràng buộc về mặt pháp lý (rechtlich bindend). Chấm dứt việc làm trong nước Đức để được đảm bảo pháp lý (Rechtssicher) chỉ (nur) là một văn bản viết (schriftlich) và tự (eigenhändig) ký tên (unterzeichnen).

Một sự chấm dứt việc làm ở hình thức điện tử (elektronische Form) – chẳng hạn (etwa) bằng (per) E-Mail hoặc qua (via) tin nhắn (Messenger) trong nước Đức không có giá trị hay hợp lệ (nicht gültig). Bởi vì (denn) pháp luật (Gesetz) quy định (vorschreiben) việc chấm dứt hợp đồng lao động (Arbeitsvertrag) là thể loại văn bản (Schriftform).

Điều này cũng có hiệu lực (gelten) cho các hợp đồng giải thể (Auflösungsvertrag), theo giải thích (Erklärung) của ông luật sư (Rechtsanwalt) Carsten M.Müller trong một bài viết (Beitrag) đăng trên blog của Hội Đồng Xí Nghiệp (Betriebsrat) thuộc nhá xuất bản liên bang (Bund-Verlag). Ý nghĩa (Bedeutung) về hình thức văn bản chính xác (genau) như thế nào đã được quy định (regeln) trong điều (Paragraf) 126 Bộ Luật Dân Sự (Bürgerliches Gesetzbuch). Trong đó ghi chẳng hạn, việc chấm dứt việc làm phải được tư tay ký tên.

Tuy nhiên, chẳng hạn một khuyến cáo (Abmahnung) thì khác (anders). Ở đây không có quy định pháp lý (gesetzliche Vorgaben) về nội dung (Inhalt) và hình thức (Form), theo luật sư giải thích (erläutern).

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger

Thứ ba ngày 02.04.2019
Đơn xin tài trợ trẻ có thể nộp miễn phí trên toàn nước Đức.

Kỹ thuật số hóa (Digitalisierung) sẽ giúp phụ huynh (Eltern) giảm thiểu nhiều chướng ngại quan liêu (bürokratische Hürde). Nay, họ có thể dễ dàng (problemlos) nộp đơn (Antrag stellen) trực tuyến (online) xin tài trợ trẻ (Kindergeld) . Tuy nhiên (jedoch), bạn không nên sử dụng (nutzen) dịch vụ (Dienste) của các nhà thương mại cung cấp (kommerzielle Anbieter).

Tài trợ trẻ vẫn có thể làm đơn (beantragen) miễn phí (kostenlos) trên toàn nước Đức (bundesweit) tại các quỹ gia đình (Familienkasse). Điều này đã được Cục Lao Động (Arbeitsagentur) tiểu bang Rheinland-Pfalz và Saarland lưu ý (aufmerksam machen).

Cha mẹ cũng có thể nộp đơn trực tuyến – cho trẻ sơ sinh (Neugeborene) lẫn (als auch) trẻ đã trưởng thành (volljährig). Những bằng chứng (Nachweise) đang học đại học (Aufnahme eines Studiums) hoặc (oder) đang học nghề (Berufsausbildung) cũng có thể gửi (einreichen) trực tuyến.

Theo thông tin (Angabe) của Cục Lao Động, cũng có những nhà thương mại cung cấp dịch vụ này. Họ đòi (verlangen) phí (Gebühr) cho cùng một dịch vụ (gleiche Service). Đồng thời (zudem), các tổ chức đó sử dụng (verwenden) những tờ chỉ dẫn (Merkblätter) hoặc mẫu in sẳn (Formular) không phải lúc nào (nicht immer) cũng đã được cập nhật (auf dem neuesten Stand). Tất cả thông tin hiện tại (aktuelle Information), mẫu đơn in sẳn (Antragsformular) và mẫu ghi bằng chứng in sẳn (Nachweisvordrucke) đều có (verfügbar) trên mạng Internet, bạn chỉ cần tải xuống (herunterladen) sử dụng.

Tin dpa, hình Jens Büttner

Thứ hai ngày 01.04.2019
Rời khỏi Đông Đức sau khi tốt nghiệp đại học.

Những người trẻ thường thích đến các thành phố đại học (Uni-Stadt) trong tiểu bang phía Đông Đức (Ostdeutschland) để học (studieren). Nhưng (doch) họ sẽ đi đâu, sau khi tốt nghiệp (Abschluss schaffen)? Miền Đông Đức không còn hấp dẫn (Attraktiv) nữa (nicht mehr), theo một cuộc khảo sát (Studie) cho thấy (zeigen).

Ai có bằng tốt nghiệp đại học ở Đông Đức thường (häufig) đóng gói dọn nhà (Umzugskarton packen) và dời đi (wegziehen) đến nơi khác, theo kết quả một cuộc khảo sát. Như vậy, có khoảng (etwa) hai phần ba (zwei Drittel) sinh viên (Student) trong tiểu bang Sachsen-Anhalt sau khi tốt nghiệp đã dọn sang một tiểu bang (Bundesland) khác để kiếm sống.

Các tiểu bang khác ở Đông Đức cũng không khác (ähnlich), tuy nhiên (allerdings) tiểu bang và thủ đô Berlin thì ngược lại (andersrum), theo một cuộc khảo sát đã phổ biến (publizierte Studie) tại Köln thuộc đại học (universität) Maastricht và tổ chức dịch vụ nhân viên (Personaldienstleister) Studitemps cho biết. Trong tháng chín (September) 2018 trên toàn quốc (bundesweit) có khoảng (rund) 18.700 sinh viên vừa mới ra trường (frischgebackene Absonventen) được hỏi ý kiến (befragen).

Phân tích (Analyse): Các thành phố đại học miền Đông Đức có hấp lực (Anziehungskraft) rất cao đối với người trẻ (junge Leute). Nhưng điều này bị tắt ngúm (erlöschen) ở câu hỏi, họ muốn kiếm ăn (Brötchen verdienen) sau này (später) ở đâu; ngoại trừ (Ausnahme) thủ đô Đức quốc (Bundeshauptstadt).

Đối với tiểu bang Rheinland-Pfalz, thì kết quả khảo sát cho thấy cũng tệ (mies) tương tự. Nhiều sinh viên chen lấn (drängen) sau khi tốt nghiệp vào thủ đô hoặc trong các tiểu bang Bayern và Baden-Württemberg, nghĩa là các tiểu bang miền Nam nước Đức, vì lẽ ở đó có nền công nghệ mạnh (strake Industrie) và nhiều công việc (viele Jobs). Xu hướng bỏ đi (Abwanderung) đối với tiểu bang Hamburg khoảng 160 phần trăm và Berlin 78 phần trăm.

“Đông Đức mất (verlieren) rất nhiều (massiv) sinh viên tốt nghiệp, trong khi đó (während) các tiểu bang có thành phố lớn và các khu vưc có nền kinh tế mạnh chiếm nhiều ưu điểm hơn (vorteilhafter)”, theo ông Eckhard Köhn giám đốc Studitemps . Việc bỏ đi này gây không ít thiệt hại tài chánh (finanzieller Ballast) cho các tiểu bang liên hệ. Các đại học trên nguyên tắc (in der Regel) được tài trợ (finanzieren) bởi các tiểu bang, ngoài ra còn có các đại học tư (Privathochschule).

Tin dpa, hình Waltraud Grubitsch

Xem (341)