» » Tin Đức Quốc tháng 03.2019

Tin Đức Quốc tháng 03.2019

Thư1 bảy ngày 30.03.2019
Nhiều người dân cảm thấy mình không còn giá trị gi nữa

Theo nhà tâm lý học (Psychologe) Stephan Grünewald, phần lớn tầng lớp quần chúng (breite Bevölkerungsschicht) ở Đức cảm thấy (sich fühlen) không có giá trị nữa (nicht mehr wertgeschätzt)

“Họ trải nghiệm (erleben) như vậy, bởi họ cho rằng thành phần thương lưu ưu tú (Elite) khinh bỉ (naserümpfend) nhìn xuống họ (herabkucken) vì lẽ họ vẫn còn (immer noch) ăn (essen) thịt động vật (Fleisch), uống (trinken) rượu (Alkohol), hút (rauchen) thuốc (Zigarette), lái xe (fahren) dầu cặn (Diesel), xem (gucken) chương trình truyền hình hạ cấp (Unterschicht), dùng (verzehren) thức ăn ngọt (Süßspeise) và  những ngón tay (Finger) dính dầu mỡ (fetten) từ các túi (Tüte) Chips”, theo tác giả (Autor) và điều hành trưởng (Leiter) Viện (Institut) Kölner Rheingold nói (sagen) với Thông Tấn Xã Đức, viết tắt là dpa) tại Köln.

Không những từ thành phần thượng lưu ưu tú, mà nhiều người dân (Bürger) còn cảm thầy bị khinh thường (herabgesetzt) và hất hủi (abgeschrieben) bởi nhà nước (Staat). Grünewald cũng đề cập (verweisen) đến phòng ốc cư ngụ (Wohnraum) ngày càng đắt đỏ (immer teuer werden) trong các khu vực đô thị (Ballungsbebiet). “Ở đó, con người hoàn toàn bình thường (ganz normaler Mensch) cũng cảm nhận được số phận như bị xua đuổi (Vertriebenenschicksal) và điều này được giải thích (erklären) như là một sự phản chống (gegen) người di dân (Migranten).”
Tin dpa, hình Rolf Vennenbernd

Thứ sáu ngày 29.03.2019
Những hợp đồng có hạn định có thể mở một con đường dễ dàng cho thị trường lao động.

Các công việc hạn định (befristete Jobs) không được quần chúng (Bevölkerung) ưa thích. Nhưng hiện giờ (mittlerweile) được xem (gelten) như là một bậc nhún (Sprungbretter). Một cuộc khảo sát (Studie) cho thấy (zeigen) rằng, công việc (Arbeitsverhältnis) của người lao động (Beschäftigte) trong nhiều trường hợp sau một thời gian nhất định (bestimmte Zeit) được cải thiện tốt (verbessern).

Trên nguyên tắc, các hợp đồng lao động có thời hạn (befristeter Arbeitsvertrag) không nhất thiết bị thiệt thòi (Nachteil) so với (im Vergleich) một chỗ làm vô thời hạn (unbefrsitete Anstellung). Vì lẽ (denn), thông thường (verhältnismäßig) công nhân ngắn hạn (kurzzeitige Beschäftgite) sẽ được chuyển qua (übergehen) chỗ làm vô thời hạn.

Điều này tương ứng (nahelegen) kết quả cuộc khảo sát của Viện Kinh Tế Đức (Institut der deutschen Wirtschaft, viết tắt là IW) tại Köln. Theo đó, sau ba (drei) năm đã có hơn (mehr als) một nửa (Hälfte) – 56 phần trăm – có công việc làm vô thời hạn từ những công việc có thời hạn. Ít hơn (weniger als) một phần ba (Drittel) – 29 phần trăm – vẫn tiếp tục làm việc (beschäftigen) theo thời hạn (auf Zeit).

Việc đánh giá (Auswertung) cũng cho thấy rằng, người thất nghiệp (Arbeitslose) và không lao động (Nichterwertätigte) nhận (annehmen) công việc có thời hạn dễ dàng đặt chân (leichter Einstieg) vào thị trường lao động (Arbeitsmarkt). Theo (laut) phân tích (Analyse) của IW, thì những người tìm việc (Arbeitssuchende) nhận công việc có thời hạn sau thời gian ba năm so với nhóm kiểm tra (Kontrollgruppe) ít có thời gian thất ghiệp (Arbeitslosigkeit) và nói chung (insgesamt) có (erzielen) thu nhập cao hơn (höheres Einkommen).

Các dữ liệu (Daten) của IW thu thập để đánh giá được thực hiện qua sự thăm dò ý kiến liên tục tiêu biểu hàng năm khoản (rund) 30.000 người trong nước Đức.
Tin dpa, hình Patrick Pleul

Thứ năm ngày 28.03.2019
Người trẻ có cảm giác cô đơn hơn người lớn tuổi.

Trẻ (jung), độc thân (Single) và cô đơn (einsam): Sống một mình (allein sein) không nhất thiết (nicht zwangläufig) là một thuộc tính (Attribut) của người già (ältere Menschen). Theo một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage), những người trẻ tuổi giữa hai mươi (Mittzwanziger) vẫn thường than phiền (plagen) về sự cô đơn (Einsamkeit) hơn người già (Ältere) mặc dù họ thường sử dụng phương tiện truyền thông xã hội (Sozial Media) và các ứng dụng hẹn hò (Dating-Apps).

Bối cảnh (Klischee) về người già độc thân (ältere Single) sống với cảnh cô đơn (einsam) và bất hạnh (unglücklich) đã qua (vergangen). Không có các nhóm tuổi (Altersgruppe) nào khác có cảm giác (Gefühl) cô đơn phổ biến (verbreitet) như ở những người độc thân tuổi giữa (zwischen) 50 và 60.

Chỉ có 22 phần trăm cảm thấy (sich fühlen) mình cô đơn. Nhưng (aber) 31 phần trăm những người không có bạn đời (Partner) tuổi giữa 25 và 34 mô tả (beschreiben) tình trạng sống (Lebenssituation) của họ cũng như vậy. Đây là kết quả (Ergebnis) một cuộc thăm dò ý kiến tiêu biểu (repräsentative Umfrage) của Viện Nghiên Cứu Thị Trường (Marktforschungsinstitut) Kantar TNS từ 2001 người độc thân được thực hiện qua sự ủy nhiệm (im Auftrag) của Dàn Hẹn Hò (Datingplattform) “Zweisam.de” .

Từ (ab) tuổi 50, chỉ (nur) có một trong mười người (19 phần trăm) chọn (wählen) cho mình bối cảnh buồn rầu (traurig) để mô tả cuộc sống của họ – ngược lại trong nhóm tuổi giữa 24 và 35 lại gấp đôi (doppelt so viele), nghĩa là 20 phần trăm.

Cảm giác tự do (Freiheit) chiếm ưu thế (dominierend) ở số người khoẻ mạnh nhất (Best-Ager): 59 phần trăm mô tả cảm giác sống của họ là sống ngay trong hiện tại (aktuelles Lebensgefühl). Để so sánh (zum Vergleich): Chỉ có 46 phần trăm số người dưới 25 tuổi cảm thấy tự do (frei). Cũng như vậy (ebenfalls), sự tự tin (Selbstvertrauen) nhận thấy nơi những người độc thân già dặn (reifere Single): 38 phần trăm cho biết họ có cảm giác tự tin; nhưng chỉ có 26 phần trăm tất cả số người độc thân có cảm giác này.
Tin dpa, hình của Interessenverband Unterhalt u. Familienrecht

 

Thứ tư ngày 27.03.2019
Vẫn có nhiều học sinh thi rớt tú tài.

Trong những tuần tới sẽ có nhiều học sinh bị căng thẳng thần kinh (stressig): Kỳ thi tú tài hay tốt nghiệp trung học phổ thông (Abiturprüfung) đang chờ họ. Vẫn luôn có sự than phiền về sự lạm phát (Inflation) điểm tốt (gute Note) – nhưng ở mặt khác đang có xu hướng đáng lo ngại (besorgniserregender Trend). Đây là kỳ thi lớn (große Prüfung) và nó luôn kết thúc (enden) với sự thất vọng tràn trề (handfeste Enttäuschung) của những người trẻ (junge Leute): Trong nước Đức, vẫn còn nhiều học sinh (Schüler) trượt kỳ thi tú tài.

Trong chín (neun) năm qua, chỉ số (Qoute) những học sinh không đậu kỳ thi này tăng (steigen) đều (stetig), theo sự đánh giá (Auswertung) của thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) cho thầy (zeigen). Lần cuối (zuletzt) có một trong 26 thí sinh (Prüfling) thất bại (scheitern). Các chuyên gia (Expert) phê bình (kritisieren) rằng, học sinh có thể quân bình (ausgleichen) quá đơn giản (zu einfach) năng suất kém (schlechte Leistung) trước (vor) kỳ thi – nhưng trong lúc thi lại càng không thể được nữa (nicht mehr).

Theo thống kê (Statistik) của Hội Nghị Bộ Trưởng Văn Hóa (Kulturministerreferenz), trong khi (während) năm tú tài (Abiturjahrgang) 2008 còn (noch) 2,34 phần trăm học sinh thi rớt (durchfallen), thì trong năm 2017 đã lên 3,78 phần trăm. Đối với năm 2018 vẫn chưa có con số cụ thể (konkret) từ các tiểu bang (Bundesland), tuy nhiên xu hướng (Tendenz) xác nhận (bestätigen) rằng, chỉ số thi trượt (Durchfall-Quote) sẽ tăng tiếp (erneut) trong nhiều tiểu bang. Đặc biệt (besonders) cao (hoch) trong tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern chỉ có một trong số 14 thí sinh tú tài thi trượt trong năm 2017.

Nhưng đồng thời (zugleich), điểm 1 thường được cho (vergeben) trên toàn quốc (bundesweit). Hầu như (fast) một trong bốn (vier) thí sinh tú tài có điểm 1 trước dấu phẩy (Komma) trong năm 2017. Điểm tú tài (Abinoten) vì thế đã trở thành cực khó hơn (extremer). Điều này cho thấy rõ (verdeutlichen) sự lệ thuộc (Abhängigkeit) vào việc đào tạo thành công (Bildungserfolg) từ gia đình (Elternhaus) của trẻ (Kinder), theo ông Udo Beckmann, chủ tịch (Vorsitzender) Hiệp Hội Đào Tạo và Giáo Dục (Verband Bildung und Erziehung, viết tắt là VBE). Ở một nhóm (Gruppe) nào đó, phụ huynh có thể lo (organisieren) tài chánh và hỗ trợ cần thiết (notwendige Förderung und Unterstützung) có tính cách cá nhân (privat), còn số khác không được gì cả. “Gọng kìm (Schere) ngày càng mở (sich öffnen) rộng ra (immer weiter)”, ông Beckmann nói (sagen).

Bà chủ tịch Hiệp Hội Ngôn Ngữ Học (Philologenverband), Susanne Lin-Klitzing, nhận thấy (sehen) trước hết (eher) là sự sai lầm (Fehler) trong phương thức (Konzeption) của các kỳ thi tú tài. “Trong việc học thi tú tài cho thấy có sự sợ sệt (Furcht) việc học không ngừng nghỉ (kontinuierliches Lernen) và khả năng (Fähigkeit) – về mặt tích cực (Positiv) cũng như (wie) tiêu cực (Negativ)”, bà nói. Học sinh đã không được đòi hỏi (abfordern) sự liên tục (Kontinuität) này, một vài em (manche) ở trung học cấp I (Unterstufe) và cấp II (Mittelstufe) được lên lớp (versetzen), chỉ vì năng suất kém (schlechte Leistung) của một môn học (Fach) nào đó có thể được quân bình (ausbügeln) bởi điểm cao của một môn học khác. “Và chỉ lúc cuối cùng (am Schluss), trong kỳ thi tú tài, các môn toán (Mathe), tiếng Đức (Deutsch) và một môn ngoại ngữ (Fremdsprache) bắt buộc (verbindlich) phải đậu (bestehen), thì ở đây sự quân bình (Ausgleich) điểm không còn giúp (helfen) được gì nữa”, theo nữ khoa học giáo dục (Erziehungswissenschaftlerin) đại diện (vertreten) các giáo viên trung học (Gymnasiallehrer) của hiệp hội này.

Ngoài ra (außerdem), nhiều thanh thiếu niên (Jugendliche) gặp khó khăn (schwer fallen) phải chuẩn bị (vorbereiten) ngay (schon) trong tháng giêng (Januar) cho các kỳ thi trong tháng tư (April), theo bà Lin-Klitzing. Theo các quy định kỳ thi tú tài (Abitur-Regelung) của các bộ trưởng bộ văn hoá (Kulturminister) thì việc học liên tục (kontinuierliches Lernen) chưa được tài trợ (fördern) và đòi hỏi (fordern) đủ (nicht gegnügend). Cho nên, học sinh trung học cấp III (Oberstufe) chỉ mang vào (einbringen) kỳ thi tú tài 32 đến 40 khóa học. Nhưng họ đã ghi danh (belegen) rõ ràng (deutlich) nhiều hơn (mehr) – trong khi đó, điểm của các khóa học này không được tính (zählen) vào điểm kỳ thi tú tài. Và nếu tính các điểm đó vào (hinzurechnen) điểm kỳ thi tú tài (Abi-Berechnung), thì các học sinh này được phép thi trượt tám lần (achtmal).

Vì thế cho nên (also), thanh thiếu niên đã học và hoàn toàn không phải (gar nicht immer) mang năng suất tốt nhất (beste Leistung) vào kỳ thi tú tài. “Học nhiều môn trên quan điểm nào đó (vielerlei Hinsicht) cũng có ý nghĩa của nó, vì lẽ đó là một biểu hiện tốt (besseres Abbild) về năng suất không ngừng nghỉ (kontinuierliche Leistung) của toàn năm học trung học cấp III (Oberstufe)”, bà Lin-Klitzing nói . Tuy nhiên có một sự động viên (Ansporn) khác hoặc học sinh đã tự (selbst) biết (merken) kịp thời hơn (rechtzeitiger) rằng, những năng suất của họ vẫn chưa đủ. Ở trường hợp này, họ phải mở máy (zünden) học hết mình (Lernturbo) hay tự nguyện (freiwillig) học lại (wiederholen) các môn học. Việc thực hiện (einführen) cho ở lại lớp (Sitzenbleiben) trong (während) quá trình học tập chuẩn bị kỳ thi tú tài, theo bà Lin-Klitzing vì thế không thích hợp (nicht sinnvoll).

Vị chủ tịch Hiệp Hội Ngôn Ngữ cổ vũ (plädieren) việc quan tâm đến năng suất của học sinh nhiều hơn trong việc đánh giá (Bewertung) các thí sinh tú tài . “Điều tôi mong muốn là một năng suất tốt hay khá (gute Leistung) phải được đánh giá “tốt” hay “khá” (gut), năng suất rất tốt hay giỏi (sehr gute Leistung) là “rất tốt” hay “giỏi” (sehr gut); nhưng năng suất “chưa đủ” (kém) (nicht-ausreichende Leistung) cũng phải được đánh giá là “chưa đủ” (nicht ausreichend).” Hiện giờ (zur Zeit), một học sinh không cần (brauchen) một nửa (Hälfte) điểm tối đa (Maximalpunktzahl) để đậu (bestehen) kỳ thi. Điều này làm cho người trẻ khó chuẩn bị (vorbereiten) cho cuộc sống lao động (Arbeitswelt) và học trình đại học (Studium) trong tương lai (Zukunft)

Nói chung (insgesamt), điểm tú tài trong những năm qua thật ra (zwar) đã có cải thiện (besser), nhưng chưa nhiều (doch nicht stark). Điểm cao nhất trung bình (bester Notendurchschnitt) trong năm 2017 tại tiểu bang Thüringen vùng Đông Đức là 2,18, và tệ nhất (schlechtesten) trong tiểu bang Niedersachsen là 2,57

Tin dpa, hình Bernd Wüstneck

Thứ ba ngày 26.03.2019
Liên minh cầm quyền cứu xét việc chích ngừa bệnh sởi vì sự gia tăng của căn bệnh này.

Sự truyền nhiễm (Ansteckung) bệnh sởi (Masern) ở trẻ em (Kleinkinder) rất dễ. Trong nước Đức không bắt buộc chích ngừa (Impfpflicht), tuy nhiên vẫn có những trận dịch lớn (größerer Ausbruch) – hoàn toàn không cần thiết (völlig unnötig), theo các chuyên gia (Fachleute).

Liên quan (angesichts) đến con số cao (hohe Zahl) kéo dài (anhaltend) các chứng bệnh sởi (Masern-Erkrankung), liên minh lớn (große Koalition) đang cân nhắc (erwägen) việc bắt buộc chích ngừa cho trẻ em.

Cuộc đàm phán (Gespräche) còn đang diễn ra (noch laufen), vì thế (daher) ông không thể phản ảnh (wiedergeben) được tình trạng (Sachstand) của sự tranh luận (Debatte), theo lời phát ngôn viên (Sprecher) Bộ Y Tế Đức (Bundesgesundheitsministerium) tại Berlin. Nhưng bộ này rất lo lắng (große Sorge) về sự lây lan (Ausbreitung) căn bệnh truyền nhiễm (ansteckende Krankheit) này.

Về mặt pháp lý (rechtlich), việc ép buộc (Zwang) chích ngừa bệnh sởi không dễ (nicht leicht) thực hiện (durchsetzen). Cơ quan dịch vụ khoa học (wissenschaftliche Dienst) của quốc hội (Bundestag) đã (schon) lưu ý (hinweisen) trước đây hai năm về các vấn đề liên quan đến hiến pháp (verfassungsrechtliches Problem).

Nhưng (aber) các chuyên gia (Expert) giới hạn khả năng (Möglichkeit) thực hiện  chích ngừa bắt buộc cho một số bệnh nhất định.  Trong mọi trường hợp (in jedem Fall), thì việc ép chích ngừa xâm phạm (eingreifen) quyền phụ huynh (Elternrecht) hoặc tùy trường hợp (gegebenenfalls) cũng có thể xâm phạm vào quyền tự do tín ngưỡng (Religionsfreiheit).

Dù vậy (dennoch), ông Karl Lauterbach, chuyên gia y tế (Gesundheitsexperte) đảng SPD, vẫn tự tin (zuversichtlich zeigen) rằng “chúng tôi sắp tới (demnächst) có thể gửi (vorlegen) một đề nghị tương ứng (entsprechender Vorschlag)”. Và hiện ông đang đàm phán với ông Jens Spahn đảng CDU, Bộ Trưởng Bộ Y Tế Đức (Bundesgesundheitsminister).

Ngược lại (hingegen), đảng Xanh (Grüne) rất hoài nghi (sehr skeptisch) việc ép chích ngừa. Thay vì (statt) ép buộc và trừng phạt (Sanktion), người ta cần củng cố (stärken) niềm tin (Vertrauen) bằng sự tư vấn tốt (gute Beratung) để tránh (vermeiden) những bất an (Verunsicherung) cho người dân (Bürger), theo bà Schulz-Asche, nữ chuyên gia y tế đảng Xanh, phát biểu (sagen) trên đài RND hôm thứ hai (Montag).

Viện (Institut) Robert-Koch ghi nhận có 543 trường hợp bị sởi trong năm 2018. Kể từ đầu (Anfang) năm 2019, tiểu bang Niedersachsen ghi nhận (registrieren) có hàng loạt bệnh sởi. Tại thành phố Hildesheim có 80 học sinh (Schüler) phải nghĩ học hai tuần bởi vì thiếu sự chích ngừa sởi. Và ở hai trường học (Schule) khác có chín (neun) trẻ phải ở nhà (zu Hause bleiben) đến tháng tư (April) vì không có sự chích ngừa phòng hộ đầy đủ (ausreichender Impfschutz).

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (Weltgesundheitsorganisation, viết tắt là WHO) đã tường thuật (berichten) trong tháng một (Januar) rằng, trong năm 2017 các trường hợp mắc bệnh sởi trên thế giới (weltweit) đã tăng (ansteigen) 30 phần trăm so với (im Vergleich) năm trước (Vorjahr). Gần đây (zuletzt), sự gia tăng (Anstieg) cũng xảy ra trong khu vực (Region) của WHO tại châu Âu (Europa): Trong năm 2017, tại đó (dort) có 23.927 người bị bệnh (erkranken); 2016 chỉ có 5,273 người. Bệnh sởi rất dễ truyền nhiễm (hochrangig ansteckend) và có thể dẫn đến (führen) các chứng viêm não gây tử vong (potentiell tödliche Hirnentzündung) nhiều năm sau đó (noch Jahre später).

Liên Hội Bảo Hiểm Y Tế Đức (Kassenärztliche Bundesvereinigung, viết tắt là KBV) kêu gọi (appellieren) phụ huynh (Eltern) hãy cho con trẻ chích ngừa. Nếu cần thiết (notfalls), ngưòi ta phải nghĩ đến (nachdenken) bổn phận pháp lý (gesetzliche Pflicht) việc chích ngừa. Ngay cả (sowohl) quan điểm y học (medizinische Sicht) cũng như (als auch) quan điểm đạo đức (etische Sicht) thì chỉ số chích ngừa (Impfrate) ép buộc (zwingend) phải tăng (erhöhen)”, ông Andreas Gassen, chủ tịch hội đồng lãnh đạo (Vorstandvorsitzender) KBV khuyến cáo (mahnen). “Phụ huynh có con trẻ không chích ngừa sẽ không những (nicht nur) gây nguy hiểm (Gefährdung) cho chính con mình. Nó cũng gây nguy hiểm cho các trẻ không thể chích ngừa được, chẳng hạn trẻ sơ sinh (Baby) dưới một tuổi (unter einem Jahr).”

Tin dpa, hình Hauke-Christian Dittrich

Thứ hai ngày 25.03.2019
Một trong hai người không còn tin tưởng ngân hàng nữa.

Cơn khủng hoảng tài chánh (Finanzkrise) 2009 đã làm cho nhiều ngân hàng (Bank) bị tiếng xấu (Verruf). Hậu quả (Folge) của nó là sự mất mặt (Ansehen) trầm trọng (dratisch) đối với người tiêu thụ (Verbraucher). Và mối tương quan (Verhältnis) của nó đối với khách hàng (Kunde) ngày nay (heute) như thế nào?

Sự tin tưởng đối với các ngân hàng Đức từ phía khách hàng theo (laut) một cuộc thăm dò dư luận (Umfrage) kể từ cơn khủng hoảng tài chánh ngày dần được cải thiện. 44 phần trăm đã có niềm tin đối với ngân hàng hay các cơ sở tài chánh (Finanzinstitut), theo thông báo (Mitteilung) của tổ chức nghiên cứu tư tưởng (Meinungsforschungsunternehmen) Gallup.

Như vậy, chỉ có 4 phần trăm nhiều hơn (mehr als) năm 2009 trực tiếp (unmittelbar) cơn khủng hoảng tài chánh. Theo cuộc thăm dò ý kiến tiêu biểu (repräsentativ) cho biết vẫn còn một trong hai người (jeder Zweite) – 50 phần trăm – không tin (misstrauen) các ngân hàng.

“Niềm tin này cần phải được các ngân hàng nỗ lực (mühsam) tái thiết lập (wiederherstellen) trong nhiều năm, những gì đã sụp đỗ (zusammenbrechen) chỉ trong vòng (innerhalb) một năm”, ông Marco Nink, người điều hành cuộc khảo sát (Studienleiter) giải thích (erklären). Và “tiếng tăm (Ruf) của ngân hàng vẫn (noch) chưa được phục hồi (sich nicht erholen) bởi cơn khủng hoảng tài chánh”, ông nói thêm (hinzufügen).

Tuy nhiên (allerdings), người dân Đức (Bundesbürger) theo dữ liệu (Daten) có tư tưởng (Meinung) khác liên quan đến các ngân hàng trước (vor) cơn khủng hoảng tài chánh: Năm 2007 có 57 phần trăm còn tin tưởng, 39 phần trăm mất lòng tin (Misstrauen)

Tin dpa, hình Boris Roessler

Thứ tư ngày 13.03.2019
Các chuyến tàu bị hủy vì bão – xin lỗi vì đến trễ

Các chuyến tàu bị hủy (Zugsausfall) gây sự chậm trễ (Verspätung). Cho dù (auch wenn) trận bão (Sturm) „Eberhard“ đã qua (Ende) và để lại nhiều hậu quả (Folge) cho hành khách (Reisende) vào đầu tuần (Wochenbeginn), nên nhiều người đi làm đã không thể đến chỗ làm (Arbeitsplatz) đúng giờ (pünktlich). Họ có phải bị khuyến cáo (Abmahnung) chăng?

Công nhân (Arbeitnehmer) có bổn phận (verantwortlich) đến làm việc (Arbeit) đúng giờ. Điều này vẫn có giá trị (gelten) khi lưu thông đường sắt (Bahnverkehr) bị hủy (ausfallen) vì bão hoặc thời tiết xấu (Unwetter), bà Nathalie Oberthür, nữ luật sư chuyên ngành (Fachanwältin) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Köln giải thích (erklären).

Người lao động không thể vin vào thời tiết. Những người đi lại trong tuần (Wochenpendler) phải chịu trận vì các chuyến tàu bị hủy, thì họ không may mắn (Pech). Công nhân phải dự tính (rechnen), họ có thể không được nhận (erhalten) lương (Lohn) khi đến chỗ làm quá trễ (zu spät zur Arbeit), theo bà Oberthür). Tuy nhiên, điều khả thi là cộng sự viên (Mitarbeiter) phải làm bù (nacharbeiten) những giờ đã hủy (ausgefallene Zeit).

Một sự trừng phạt (Sanktion) như (wie) khuyến cáo trên nguyên tắc (in der Regel) đối với người thợ đến làm trễ vì bão ảnh hưởng sau đó (Nachwirkung) đến sự lưu thông gần và xa (Nah- und Fernverkehr). „Không một chủ nhân (Arbeitgeber) nào thực hiện điều này cả!“, bà Oberthür nói (sagen) – chỉ khi hệ quả (Auswirkung) của một cơn bão không thể dự kiến trước được (nicht schon im Voraus absehbar)

Tin dpa, hình Oliver Berg

Thứ ba ngày 12.03.2019
Theo một báo cáo sức khoẻ người nhận Hartz-IV thường hay bệnh.

Người lớn (Erwachsene) và trẻ em (Kinder) sống nhờ vào trợ cấp Hartz-IV phải khắc phục vấn đề sức khoẻ (Gesundheitsproblem) nhiều hơn công nhân viên (angestellte Arbeitnehmer).

Một báo cáo sức khoẻ chưa công bố (unveröffentliche Gesundheitsreport) của bảo hiểm y tế (Krankenkasse) AOK Rheinland/Hamburg đã được tờ “Rheinische Post” tiết lộ. Theo đó, khoảng (etwa) 5,5 phần trăm người lao động mắc bệnh đường (Diabetes) Typ-2, trong khi đó người nhận (Bezieher) tiền thất nghiệp loại 2 (Arbeitslosengeld II) tương đương Hartz-IV lên đến 9,1 phần trăm. Tương tự (ähnlich) như vậy đối với bệnh nghẽn tim mạch (Verengunng der Herzkranzgefäße).

Báo cáo (Report) cho tờ “Rheinische Post” biết thêm rằng, có nhiều ví dụ (Beispiel) cho thấy sự mất quân bình (Ungleichgewichte) về vấn đề sức khoẻ (Gesundheit) ở tầng lớp xã hội (soziale Schichte). Cho nên, khoảng 78 phần trăm trẻ em 6 tuổi của người lao động có hàm răng (Gebiss) không cần trám (Füllung). Trẻ em của người nhận (Empfänger) Hartz-IV chỉ tầm 68 phần trăm. Người ta chỉ (nur) quan sát (betrachten) trẻ em của những người lao động tự nguyện (freiwillig) đóng bảo hiểm y tế theo luật định (gesetzliche Krankenkasse) có thu nhập hàng năm (Jahreseinkommen) ít nhất 60.750 Euro và nhận thấy rằng tầm 83 phần trăm trẻ em đến 6 tuổi không cần trám răng.

Theo báo báo, tình trạng sức khoẻ (Gesundheitszustand) của người dân (Bürger) cũng đi xuống theo chế độ thành thị (Stadt) và thôn quê (Land). Trong các làng quê, trẻ em bị bệnh đường (Zuckerkrankheit), béo phì (Fettleibigkeit) và viêm gan vàng da (Hepatitis C) rõ ràng (deutlich) nhiều hơn so với trẻ ở thành phố. Vị giám đốc (Chef) AOK Rheinland/Hamburg, ông Günter Wältermann, đã nói (sagen) với tờ báo trên rằng: “Những sai biệt xã hội (soziale Unterschiede) ảnh hưởng (beeinflussen) đáng kể (erheblich) đến sức khoẻ của người di dân (Migranten) và mức độ chăm sóc kém (geringer Versorgungsgrad).”

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger

Xem (417)