» » Tin Đức quốc tháng 02.2019

Tin Đức quốc tháng 02.2019

Thứ hai ngày 18.02.2018
Hàng ngàn máy trợ tim bị thu hồi để chỉnh lại.

Máy trợ tim (Herzschrittmacher) của nhà sản suất (Hersteller) Medtronic bị trục trặc sự vận hành (Funktionsfehler). Các bệnh nhân (Patient) được gắn máy (Gerät tragen) cần phải được bác sĩ (Arzt) chỉnh mới (neu einstellen) lại.

Theo nhà sản suất Medtronic thông báo (mitteilen), trong rất ít trường hợp (sehr seltener Fall) và chỉ ở một số loại máy nào đó (bestimmte Betriebsart) bị ngưng kích hoạt (Stimulationspause). Các bệnh nhân mang các loại máy đợt sản suất này có thể để bác sĩ viết lại lập trình (umprogrammieren) nhằm ngăn chận (verhindern) sự ngưng kích hoạt như vậy. Tuy nhiên, không cần (nicht erforderlich) phẫu thuật (operativer Eingriff) trong việc viết lại lập trình vận hành máy.

Các loại máy như vậy mang thương hiệu (Markennamen) Adapta, Versa, sensia, relia, Attesta và Sphera cũng như Vitatron đơt (Serie) A, E, G và Q. Các máy này đã được sử dụng trên toàn cầu (weltweit) từ ngày 10.03.2017 đến 01.01.2019. Trong số 156.957 máy trên toàn cầu có hai bệnh nhân báo cáo (berichten) về 4 vụ trục trặc (Störung). Những bệnh nhân này không phải trong nước Đức.

Ngay (bereits) trong tháng giêng (Januar) 2019, các bệnh viện (Klinik) và bác sĩ cũng đã được thông báo (unterrichten). Các bệnh nhân liên lụy cũng được bác sĩ của họ thông báo (informieren). Viện Liên Bang về Dược Phẩm và Sản Phẩm Y Khoa (Bundesinstitut für Arzneimittel und Medizinprodukte) đánh giá (bewerten) Medtronic là một biện pháp hỗ trợ (veranlasste Maßnahme) nhắm đến mục tiêu (zielführend) và thích hợp (geeignet) làm giảm (minimieren) những nguy cơ (Risiken) cho bệnh nhân. Giải pháp lâu dài (dauerhafte Lösung) là việc cập nhật lập trình (Software-Update) đang được nhà sản suất phát triển (entwickeln) và sẽ cho sử dụng nửa năm sau (zweite Jahreshälfte). Viện Liên Bang khuyên (raten) các bệnh nhân bị liên lụy nên hỏi (fragen) bác sĩ điều trị (behandelner Arzt) của họ.

Con số chính xác (exakte Zahl) về những bệnh nhân bị liên lụy trong nước Đức không được Medtronic nêu ra (nicht nennen) theo chỉ thị (auf Weisung) của trung ương (Zentrale) tại Mỹ. Theo sự tra cứu (recherchieren) của đài phát thanh NDR, có khoảng 600 bệnh nhân ở hai bệnh viện tại Hannover bị liên lụy. Medtronic là nhà sản suất lớn nhất (größter Hersteller) về sản phẩm y khoa trong nước Đức.

Tin dpa, hình minh họa của Stefan Sauer

Thứ năm ngày 14.02.2019
Ảnh hưởng sự dinh dưỡng sai lầm của người mẹ đối với thai nhi như thế nào?

Khi một phụ nữ sắp làm mẹ ngay lúc bắt đầu (Beginn) mang thai (Schwangerschaft) đã quá béo phì (stark übergewichtig) sẽ tăng (steigen) nguy hại sức khỏe (gesundheitliche Risiken) cho đứa bé (Kind). Làm thế nào tránh được bệnh hoạn do sự dinh dưỡng (ernährungsbedingte Krankheiten) cho trẻ)? Điều này đang được một viện mới (neues Institut) nghiên cứu (forschen) tại Karlsruhe.

Cơ sở của bệnh hoạn từ sự dinh dưỡng ở trẻ theo quan niệm chắc thật (Überzeugung) của giáo sư y khoa (Medizinprofessorin) Regina Ensenauer thông thường (oftmals) từ sự dinh dưỡng sai lầm Fehlernährung) lúc (während) mang thai.

Sự béo phì (Übergewicht) của một người sắp làm mẹ (werdende Mutter) ngay lúc (bereits) có bầu (zu Beginn der Schwangerschaft) làm tăng (erhöhen) nguy cơ (Risiko) cho bé sau này (später) tự nó (selbst) sẽ béo phì và hậu bệnh (Folgeerkrankung) sẽ có như (wie) đường (Diabetes Typ-2), theo nữ giám đốc (Leiterin) một viện mới về dinh dưo74ng trẻ em (Kinderernährung) nói với (sagen) thông tấn xã Đức (Deutsche Presse Agentur, viết tắt là dpa) tại Karlsruhe.

„Những tác động (Einfluss) tính béo phì (Übergewichtigkeit) của người mẹ truyền sang (übergehen) bào thai (Fetus) và có thể gây hại (beeinträchtigen) trong sự phát triển (Entwicklung) của nó“, theo nữ bác sĩ nhi đồng (Kinderärztin). Lý do (Grund) là gen (Gene) có thể bị điều khiển (steuern) từ nhiều tác động bên ngoài (von außen). Sự phát triển các bộ phận (Organe) trong bào thai là một giai đoạn cực nhạy cảm (sehr sensitive Phase). „Khi có những tác động gây rối loạn (stören) sự phát triển thì nó sẽ không còn xảy ra (stattfinden) tự nhiên như bình thường.“

Viện Dinh Dưỡng Trẻ Em thuộc Viện Max Rubner, viết tắt là MRI, tư vấn (beraten) bộ canh nông (Landwirtschaftsministerium) và nghiên cứu (forschen) các lãnh vực (Bereich) dinh dưỡng và thực phẩm (Lebensmittel). Viện MRI còn đặt tru5cso73 (Standort) tại Kiel, Detmold và Kulmbach.

Họ theo đuổi (verfolgen) quan điểm chuyên biệt về giai đoạn sống (lebensphasenspezifischer Ansatz), theo bà Ensenauer. „Mỗi người cần (brauchen) có một công thức riêng (eigenes Konzept) để phòng ngừa (Vorbeugung) bệnh tật từ sự dinh dưỡng (ernährungsbedingte Krankheit).“ Công việc nghiên cứu còn phải cần (nötig) rất nhiều (noch viel) để tìm ra (finden) những phương thức tư vấn thích hợp (passende Beratungskonzepte).

Được yêu cầu (fördern) theo quan điểm của bà giám đốc là việc cho trẻ sơ sanh bú (Neugeborene stillen). Nó có hiệu dụng lớn (große Auswirkung) giúp trẻ có sự chấp nhận (Akzeptanz) sự đa dạng (Vielfalt) của thực phẩm. Theo bà Ensenauer thì không nên (für wenig sinnvoll) cho bé dùng thực phẩm đặc biệt dành cho trẻ (besondere Kinderlebensmittel), tốt hơn (besser) là cho trẻ thích nghi (einstellen) với những loại thực phẩm mà sau này khi lớn lên (Erwachsene) chúng phải ăn (essen).

Khi trái cây (Obst) hoặc cà rốt nghiền (Karottenbrei) được thế (ersetzen) bằng túi trái cây nghiền (Frucht-Quetschbeutel) thì đây là việc đi sai hướng (falsche Richtung). Việc đ1ut ăn (füttern) bằng muổng (Föffel) chẳng hạn sẽ kích hoạt cơ miệng (Mundmotorik) của bé. Ngoài ra (außerdem), các loại thức ăn nghiền (Quetschmus) thường (oft) được thế bằng nước trái cây (Fruchtsaft) và như vậy sẽ có thêm đường (zusätzlicher Zucker).

Bà Julia Klöckner (CDU) , bộ trưởng bộ dinh dưỡng Đức (undesernährungsministerin) nhấn mạnh (unterstreichen) nhân ngày khánh thành (Eröffnung) ý nghĩa (Bedeutung) của viện mới này: „Lần đầu (r´´erstmal) chúng ta nghiên cứu khoa học (wissenschaftlich erforschen) xem cần sự dinh dưỡng nào thật sự wirklich) cho trẻ em. Công việc (Arbeit) của viện tạo cho (schaffen) chúng ta một ngọn hải đăng (Leuchtturm) cho việc nghiên cứu trong lãnh vực này – tại Đức và Âu Châu.“

Tin dpa, hình Klinikum der Universität München

Thứ ba ngày 05.02.2019
Có thể đánh bại bệnh ung thư trong 10 đến 20 năm tới chăng?

Ung thư (Krebs) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu (zweithäufige Todesursache) đứng sau căn bệnh tuần hoàn tim mạch (Herz-Kreislauf-Erkrankung). Việc phòng ngừa (Prävention) và các phương pháp điều trị (Behandlungsmethode) có thể đánh bại (besiegen) các loại ung thư (Krebsarten) trong tương lai gần (in naher Zukunft) chăng?

Ông Jens Spahn, bộ trưởng y tế Đức (Bundesgesundheitsminister), cho rằng (halten), bệnh ung thư (Krebsleiden) có thể đánh bại (besiegbar) trong tương lai gần (in absehbarer Zeit). Việc này có thể đạt được (erreichen) trong vòng (innerhalb) một đến hai thập niên (Jahrzehnte), chính khách đảng CDU phát biểu (sagen) trên tờ “Rheinische Post”.

Lời tuyên bố (Aussage): “Có nhiều khả năng tốt (gute Chance) để chúng ta có thể đánh bại ung thư trong 10 đến 20 năm tới.”
Sự đánh giá: Rất khó khả thi (sehr unwahrscheinlich)

Dữ kiện (Fakten)
Khoảng (etwa) 500.000 ca ung thư mới (Krebsneuerkrankung) được ghi nhận (regietrieren) hiện nay (derzeit) mỗi năm (jedes Jahr) trong nước Đức. Ở nhiều loại ung thư, nguy cơ mắc bệnh (Erkrankungsrisiko) tăng theo tuổi (zunehmender Alter) ngày càng tăng (zunehmen). Như vậy, số ca mắc bệnh tăng lên trong một xã hội lão hóa của Đức (älter werdende Gesellschaft). Các chuyên gia (Expert) cho rằng (ausgehen) mức tăng lên đến 600.00 mỗi năm cho đến 2030, theo Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư Đức (Deutsches Krebsforschungszentrum, viết tắt là DKFZ).

Y học ung thư (Krebsmedizin) đã có những tiến bộ đáng kể (beträchtliche Erfolge) trong những thập niên gần đây. Tuy nhiên (doch), ung thư vẫn còn là (noch immer) nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai sau bệnh tim mạch trong nước Đức. Đối với một số loại ung thư như ung thư tuyến tụy (Bauchspeicheldrüsenkrebs) viễn ảnh chữa làn (Heilungsaussicht) không đáng kể (unvermindert gering).

Khoảng 230.000 người chết (sterben) mỗi năm (jährlich) vì ung thư. Trong khi đó (inzwischen), 90 phần trăm trường hợp tử vong (Todesfall) không phải do khối u nguyên (Primärtumor), mà (sondern) do di căn (Metastassen) – thường rất khó (oft schwer) khắc phục (bekämpfen). Điều này trỡ nên rõ ràng (deutlich) chẳng hạn (etwa) ung thư vú (Brustkrebs), dạng ung thư phổ biến nhất (häufigste Krebsform) ở phụ nữ (Frauen). Một trong tám người bị bệnh trong nước Đức trong quá trình sống của họ (im Lauf ihres Lebens).

Đa phần (in der Mehrheit), khối u (Tumor) ban đầu (zunächst) có thể được điều trị thành công (erfolgreich) – tuy nhiên (allerdings) ung thư tái phát (zurückkehren) ở ba đến bốn phụ nữ. Điều này cũng có thể xảy ra (passieren) thậm chí nhiều năm sau ca điều trị thành công đầu tiên.

Không phải mỗi loại ung thư nào cũng có thể tránh được (vermeidbar)!

“Bởi sự đa dạng sinh học (biologische Vielfalt) của nó nên ung thư là một trong những căn bệnh phức tạp nhất (komplexeste Erkrankung), ông Michael Baumann – chủ tịch hội đồng lãnh đạo (Vorstandvorsitzender) Trung Tâm Nghiên Cứu Ung Thư Đức, giải thích (erklären). Thật ra (zwar) trong 10 đến 20 năm tới dự kiến (erwarten) có nhiều cải thiện đáng kể ở tỷ lệ người bị ung thư sống sót (Krebsüberlebensraten) – dự đoán theo thời gian (zeitliche Prognose) thì một sự “chiến thắng ung thư” (Sieg über den Krebs) vẫn là điều khó khăn (schwierig), như kinh nghiệm (Erfharung) từ quá khứ (Vergangenheit) đã cho thấy (zeigen). Dù vậy, trong việc phòng ngừa ung thư (Krebsprävention) có lẽ (möglicherweise) cần thời gian lâu dài để đạt thành công.

Nhiều trường hợp ung thư (Krebsfall) được xem là (gelten) có thể tránh được (vermeidbar), vì (weil) các yếu tố (Faktor) như hút thuôc (Rauchen)  và uống rượu (Alkoholkonsum), béo phí (Übergewicht) và thiếu vận động (Bewegungsmangel) đóng một vai trò (Rolle) không nhỏ. Theo một phân tích (Analyse) của DKFZ được trình bày trong năm ngoái, ước tính (schätzen) có khoảng 37 phần trăm ca bệnh ung thư mới có nguyên nhân từ một số yếu tố nguy cơ nhất định (bestimmte Risikofaktor). Một phần lớn (großer Teil) do (bedingen) di truyền (genetisch) hoặc (oder) sinh ra (entstehen) bởi nhiễm trùng (Infektion), ông Bernhard Wörmann, bác sĩ ung thư (Krebsmediziner) tại đại học Charité ở Berlin. “Không phải mọi bệnh ung thư nào cũng có thể phòng ngừa được.”

Các phương pháp điều trị mới

Nhiều hy vọng lớn (große Hoffnung) hiện giờ (derzeit) nhắm vào (richten) các phương pháp điều trị mới (Behandlungsansätze) như liệu pháp miễn dịch (Immuntherapie), đặ biệt (insbesondere) là liệu pháp ức chế trạm kiểm tra (Checkpoint-Inhibitor-Therapie). Mục đích làm cho các chất tác dụng (Wirkstoffe) giải tỏa (lösen) sự hãm phân tử (molekulare Bremsen) của các tế bào miễn dịch (Immunzellen) – được gọi là (sogenannte) Checkpoint (trạm kiểm tra) – nhờ vậy, phản ứng (Reaktion) của hệ miễn dịch (Immunsystem) chống lại (gegen) các khối u  được tháo gỡ (entfesseln). Các phương pháp điều trị như vậy đã có kết quả khá ấn tượng (beeindruckende Erfolge), đặc biệt ở ung thư da đen (Schwarz Hautkrebs), một phần ở ung thư phổi (Lungenkrebs) và ung thư vú. Tuy nhiên, việc điều trị chỉ ảnh hưởng đến (anschlagen) một tỷ lệ bệnh nhân (Patient) tương đối ít (relativ gering) – còn ở ung thư vú chỉ có khoảng 10 đến 20 phần trăm. Tại sao như vậy, hiện nay vẫn chưa sáng tỏ (unklar).

Cũng như các liệu pháp gen (Gentherapie) trị ung thư đang trên đà phát triển, nhưng việc sử dụng quy mô rộng rãi (großflächiger Einsatz) trong 10 đến 20 năm đến cũng chưa có hy vọng (nicht zu erwarten), theo ông Wörmann. Nhiều loại ung thư sẽ không được chữa lành trong nhiều năm tới, căn bệnh chỉ được kìm hãm (in Schach halten) bằng cách uống thuốc (Medikament einnehmen) suốt đời (lebenslang). “CHúng tôi sẽ có thể làm cho nhiều bệnh ung thư cấp tính (akut) thành mãn tính (chronisch), nhưng không thể “đánh bại” chúng theo ý nghĩa là hoàn toàn sẽ không còn ung thư nữa, điều này tôi cho rằng không thực tế (unrealistisch).”

Tin dpa, hình Bernd Wüstneck

CUNG CHÚC TÂN XUÂN – KỶ HỢI 2019

Chúng con cung kính chúc
Chư Tôn Hoà Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức
Tăng Ni trong mười phương

PHÁP THỂ KHINH AN
CHÚNG SANH DỊ ĐỘ
VIÊN THÀNH ĐẠO NGHIỆP

Thương kính chúc
Quý Đạo Hữu trong mười phương cùng thân quyến

SỨC KHỎE – HẠNH PHÚC
AN VUI – AN LẠC – AN LÀNH
Ý NHƯ VẠN SỰ

THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
thứ hai ngày 04.02.2019

Chủ nhật ngày 03.02.2019
Trẻ em cũng có thể bị thử gen.

Con người có quyền (Recht) biết về nguồn gốc của họ (eigene Herkunft). Vì vậy, ngay cả (auch) trẻ em (Kinder) cũng có thể bị buộc (verpflichten) thử gen (Gentest) để giải thích rõ ràng (Aufklärung) tính sinh học của phụ huynh (biologische Elternschaft) về người cha ruột (leiblicher Vater) của chúng.

Việc phát hiện tính sinh hóa của phụ huynh thường (häufig) trải qua một cuộc thử nghiệm gen.

Trong một vụ xử (Verhandlung) tại tòa án cao thẩm tiểu bang (Oberlandesgericht) Oldenburg, một thiếu phụ trưởng thành (erwachsene Frau) muốn biết (wissen) ai là người cha ruột (biologischer Vater) của mình. Người cha theo pháp lý (gesetzlicher Vater) đã kể (berichten) về một vụ ngoại tình (Seitensprung) của vợ (Ehefrau) ông. Và ông cho rằng (meinen) rằng, chính người đàn ông đó là cha ruột của bà. Tuy nhiên (allerdings), người đàn ông bị tình nghi là cha ruột của cô đã (bereits) qua đời (verstorben) từ lâu. Vì thế thiếu phụ này muốn rằng những người con trai (Sohn) của ông phải thử nghiệm gen, nhưng (jedoch) họ đã từ chối.

Những người anh em (Brüder) của bà phải cung cấp (liefern) gen để thử nghiệm. Tòa án (Gericht) đã xác định qua kết quả (Testergebnis) đó rằng, người cha của họ cũng là cha của thiếu phụ này. Các thẩm phán (Richter) nhấn mạnh đến ý nghĩa (Bedeutung) về kiến thức (Wissen) liên quan đến gốc gác riêng.

Việc thử gen có tố chất quyết định (entscheidend) về sự hiểu biết (Verständnis) và phát huy (Entfaltung) bản sắc của từng cá nhân (Individualität). Con người có quyền biết về cội nguồn của mình (eigene Abstammung). Hồ sơ thụ lý mang số Az.: 4 UF 106/17. Nhóm làm việc về luật gia đình (Arbeitsgemeinschaft Familienrecht) thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) đã tường thuật (berichten) trường hợp (Fall) này.

Tin dpa, hình Bodo Marks

Thứ bảy ngày 02.02.2019
Vì sao thuốc chống trầm cảm không thể thay thế được tâm lý trị liệu.

Có phải những người bị trầm cảm cần phải có cuộc sống hàng ngày cụ thể rõ rệt, những quy tắc hành vi nhất định, trị liệu và uống thuốc chăng? Vâng, đúng vậy, theo chuyên gia Tom Bschor. Nhưng thuốc viên không phải là cách đầu tiên và duy nhất cho việc cải thiện bệnh chứng. Nhưng trong việc thực hành rất tiếc thường khác hẳn.

Trầm cảm là một căn bệnh. Và nếu ai bị bệnh này, thì phải uống thuốc chống trầm cảm. Hoặc cách khác? Tiếc thay vấn đề không đơn giản như thế, theo giáo sư Tom Bschor. Vị bác sĩ trưởng (Chefarzt) khoa tâm thần bệnh viện Schlosspark tại thủ đô Bá Linh, Đức quốc, đã biên soạn một quyển sách về thuốc chống trầm cảm. Hầu hết bệnh nhân chỉ dùng thuốc viên, ông phát biểu trong một cuộc phỏng vấn của Thông Tấn Xã Đức về đề mục này và ngoài ra không có sự trợ giúp nào nữa để chống lại chứng bệnh trầm cảm.

Quyển sách mang tựa đề: Antidepressiva: Wie man sie richtig anwendet und wer sie nicht nehmen sollte (Thuốc chống trầm cảm. Sử dụng đúng như thế nào và ai không cần phải uống), nhà suất bản Südwest, 224 trang, giá 20 Euro, đăng ký thư viện quốc gia với mã số: ISBN-13: 978-3517097367

Trích lời phát biểu của giáo sư Tom Bschor: „…Tôi có ấn tượng rằng, thuốc chống trầm cảm rõ ràng thường được ra toa quá nhiều – cho dù không có triệu chứng trầm cảm hoặc thuốc chống trầm cảm hoàn toàn không giúp gì được cho bệnh nhân. Nhưng vẫn có nhiều trường hợp, bệnh nhân dùng thuốc chống trầm cảm hơn nhiều tháng thậm chí tiếp tục dùng năm này qua năm nọ, mặc dù hoàn toàn không nhất thiết phải sử dụng nó. Hậu quả của nó là những biểu hiện cai thuốc sau khi cắt thuốc hoặc cái gọi là Rebound (tái phát), nghĩa là chứng trầm cảm trở lại cực kỳ mãnh liệt…“

Tin và hình dpa

Thứ sáu ngày 01.02.2019
Thuốc viên và việc trị liệu tốt nhất phải song hành nhau.

Chưa hề (kaum) có một loại thuốc (Medikamentenklasse) nào bị nhiều tiếng xấu (schlechten Ruf) như thuốc tâm thần (Psychopharmaka). Tuy nhiên loại thuốc này thường (meist) phải đồng hành với tâm lý trị liệu (begleitende Psychotherapie) ở những chứng bệnh tâm thần nặng (schwere seelische Erkrankung) mới thật sự khả thi (erst möglich).

Phải chăng thuốc tâm thần gây (machen) nghiện (anhängig), thay đổi (verändern) cá tính (Persönlichkeit) và có nhiều tác dụng phụ (Nebenwirkung) hơn là hiệu năng (Wirkung). Mặc dù (obwohl) hiện giờ (mittlerweile) nhiều bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) được điều trị (behandeln) bằng thuốc tâm thần, tuy nhiên loại thuốc này vẫn còn bị tai tiếng.

Theo bà Annette Sonntag, giám đốc bệnh viện ngày (Tagklinik) về trầm cảm (Depression) thuộc viện (Institut) Max-Planck về Tâm Thần (Psychiatrie) tại München nói rằng „cần phải có nhiều việc làm giải thích cặn kẽ (Aufklärungsarbeit) về vấn đề này…“

„Những loại thuốc này được dùng nhiều nhất (am häufigsten) ở bệnh trầm cảm nặng“, theo bà Sonntag. Bệnh tâm thần phân liệt hay hoang tưởng (Schizophrenie) hoàn toàn được điều trị ngoài việc uống thuốc còn phải được tâm lý trị liệu – kể cả những bệnh sợ hãi (Angststörung) và ép buộc (Zwangsstörung).

Việc điều trị bằng thuốc (medikamentöse Therapie) chỉ (nur) là một phần của việc trị liệu (Therapie), bà Isabella Heuser-Collier, giám đốc bệnh viện (Klinik) Tâm Thần và Tâm Lý Trị Liệu của đại học Charite tại Berlin, bổ sung (ergänzen). Không có sự đồng hành việc chẩn trị của tâm lý trị liệu viên thì việc sử dụng (Einsatz) thuốc an thần vô nghĩa (kaum Sinn).

Trước tiên (in erster Linie), thuốc chỉ giảm (mindern) một số triệu chứng của căn bệnh (bestimmte Krankheitssymtome). Khi một người trầm cảm (depressiver Mensch) bị rối loạn giấc ngủ (Schlafstörung) uống (einnehmen) thuốc có tác dụng hỗ trợ cho việc ngủ nghỉ (schlaffördernde Wirkung), thì họ khả quan hơn (besser) vào ban ngày (tagsüber). Nhờ vậy (dadurch) họ dễ dàng hơn (leichter) việc khắc phục (bewältigen) các triệu chứng còn lại (übrige Symptome), thoe bà Sonntag. Thường bệnh nhân nhờ thuốc mà không chịu điều trị tâm lý.

Tuy nhiên (allerdings), thuốc tâm thần cũng có những tác dụng bất ngờ (unerwünschte Wirkung). Cho nên bệnh nhân cần phải được giải thích cặn kẽ (ausführlich aufklären), bà Isabella Heuser-Collier nói. Những tác dụng phụ như rối loạn sự cường dương (Erektionsstörung) ở nam giới hoặc tâng cân (Gewichtszunahme) bởi thuốc chống trầm cảm gây ngủ (schlafanstoßende Antidepressiva) phải luôn được quan tâm đến. Cho nên, tính thành thật (Ehrlichkeit) đối với (gegenüber) bác sĩ (Arzt) vì thế là chuyện khó nói đến.

Một số thuốc tâm thần như Benzodiazepine, tương tự chất Valium, sử dụng lâu ngày (auf Dauer) có thể gây nghiện. Vì thế cho nên không được sự dụng lâu dài (nie langfristig).

Thuốc tâm thần có tác dụng thẩng và trực tiếp (direkt) vào não (Gehirn). Nó tấn công (eingreifen) hệ thay đổi chất dẫn truyền thần kinh (Neurotransmitterstoffwechsel), cho nên ãnh hưởng (beeinflussen) chất dẫn truyền (Botenstoffe) trong não liên quan quan trọng (wichtig) đến hành vi (Verhalten), cảm xúc (Emotion), sự nhận biết (Wahrnehmung), hệ thần kinh thực vật (vegetative Nervensystem) và hệ thần kinh tự trị (autonomes Nervensystem). Cuối cùng (letztlich), những chất tác dụng tìm cách (versuchen) tái thiết lập (wieder herstellen) ở đó sự cân bằng (Gleichgewicht), thro bà Cica Vissiennon, dược phẩm học gia (Pharmakologin) đang nghiên cứu (forschen) tại Viện Vật Lý Y Khoa và Vật Lý Sinh Hóa (Institut für Medizinische Physik und Biophysik) đại học (Universität) Leipzig.

Theo bà, việc điều trị bằng thuốc tâm thần vì thế là một quá trình dài lâu (langwieriger Prozess). Tác dụng mong muốn thường sau nhiều ngày hoặc nhiều tuần lễ – trong khi đó, những tác dụng phụ đã có hiệu quả ngay (sofort). Vì thế cho nên, điều không ít quan trọng là bệnh nhân phải khắc phục để vượt qua giai đoạn khó khăn này. Vì vậy, việc áp dụng tâm lý trị liệu trong khoảng thời gian cho đến khi tác dụng của thuốc thật sự hiệu nghiệm là điều rất quan trọng.

Nói chung, ai có vấn đề tâm lý thì không nên chần chừ. Căn bệnh càng sớm tìm ra thì việc điều trị sẽ khả quan hơn. „Điều này không có nghĩa rằng, bệnh nhân phải uống thuốc ngay. Có những người được can thiệp giúp đỡ chữa lành bằng một số ca tâm lý trị liệu“, theo bà Heuser-Collier.

Tin và hình dpa

Xem (240)