» » Tin Đức quốc tháng 11.2018

Tin Đức quốc tháng 11.2018

Xem (365)

Thứ tư ngày 14.11.2018
Sinh viên y khoa có sự hiểu biết kém về thống kê

Kiến thức về thống kê (Statistikkenntnis) là điều không thể thiếu (unerlässlich) trong công việc y tế hàng ngày (medizinischer Arbeitsalltag). Rủi ro (Risiko) phải được đánh giá (einschätzen) đúng (richtig) và hiểu (verstehen) xác suất (Wahrscheinlichkeit) của nó. Một công trình khảo sát (Studie) cho thấy (zeigen) kiến thức (Wissen) của sinh viên y khoa (Medizinstudent) yếu kém (lückenhaft) ở điểm này.

Đánh giá (bewerten) các cơ hội (Chance) và rủi ro, suy ra (herleiten) mối liên hệ (Zusammenhang) của nó, lý giải (interpretieren) những kết quả (Ergebnis) là những kiến thức về thống kê cần phải có của sinh viên học y (Medizinstudierende). Nhưng (doch) nhiều sinh viên thiếu (mangeln) hiểu biết thích đáng (entsprechendes Verständnis). Điều này được Viện Nghiên Cứu Đào Tạo (Institut für Bildungsforschung) Max-Planck, viết tắt là MPIB, lưu ý (hinweisen) và đã tiến hành (durchführen) một cuộc khảo sát về chủ đề (Thema) này.

Trung tâm (Zentrum) Harding) về khả năng nhận biết rủi ro (Risikokompetnz) của MPIB đã thực hiện một bài kiểm tra nhanh (Schnelltest) dựa (anhand) vào mười câu hỏi trắc nghiệm đánh dấu (Multiple-Choice-Fragen) để kiểm tra (prüfen) kỹ năng (Fähigkeit) cần thiết (nötig) của bác sĩ (Arzt) trong cuộc sống hành nghề hằng ngày (praktischer Alltag). Ví dụ (zum Beispiel) đánh giá rủi ro và hiểu xác suất của nó. Có 169 sinh viên (Studierende) và 16 giảng viên (Lehrende) đã đánh dấu (ausfüllen) các câu hỏi của bài trắc nghiệm. Kết quả cho thấy: Trung bình (im Durchschnitt) chỉ có chừng (nur etwa) một nửa (Hälfte) trả lời (beantworten) đúng các câu hỏi, còn các giảng viên có ba phần tư (drei Viertel) trả lời chính xác (korrekte Antwort).

Tuy nhiên (aber), MPIB nhấn mạnh (hervorheben) rằng, sau một khóa học thống kê (Statistik-Kurs) tương ứng (entsprechend), có gần (fast) 90 phần trăm sinh viên đã trả lời đúng các câu hỏi. Trung Tâm Harding về thẩm quyền nhận biết rủi ro đã công bố (veröffentlichen) kết quả về bài kiểm tra nhanh: Như vậy sinh viên có thể tự kiểm tra (selbst überprüfen) kiến thức của mình.

Tin dpa, hình Swen Pförtner

Thứ ba ngày 13.11.2018
Hội Thánh Cơ Đốc đến năm 2030 thiếu khoảng 14.000 Mục Sư

Hội Thánh Tin Lành và Ka-Tô (evangelische und katholische Kirche) tại Đức, theo một báo cáo truyền thông (Medienbericht), cho đến năm 2030 thiếu (fehlen) khoảng (rund) 14.000 Mục Sư (Pfarrer).

Ủy Ban Trung Ương Ka-Tô Đức (Zentralkomitee der deutschen Katholiken, viết tắt là ZDK) dự tính (erwarten) cho đến thời điểm đó (bis dahin) có chừng (etwa) 7000 trong số 13.500 vị trí Linh Mục (Priesterstelle) vẫn còn trống (noch nicht besetzen), tờ „Focus“ viết (schreiben). Sự phát triển này (Entwicklung) thật „thảm khốc“ (katastrophal), theo vị chủ tịch (Präsident) ZDK, ông Thomas Sternberg nói (sagen) với tạp chí tin tức (Nachrichtenmagazin) này. „Chúng tôi không thể duy trì (nicht mehr halten) cấu trúc bình thường (gewohnter Struktur) được nữa. Con chiên (Laien) trong tương lai (in Zukunft) có thể đảm nhận (übernehmen) nhiều trách vụ (Aufgabe) hơn nữa (viel mehr).“

Hội Thánh Tin Lành Đức (Evangelische Kirche Deutschland, viết tắt là EKD) cũng có những khó khăn tương tự (vergleichbare Probleme), tạp chí „Focus“ viết tiếp. Hiệp Hội Mục Sư (Pfarrerverband) cho rằng, số lượng (Zahl) hiện nay khoảng 21.000 nam nữ Mục Sư sẽ giảm (redukzieren) khoảng một phần ba (Drittel). Qua đó (demnach), đến năm 2030 cũng có thể 7000 chỗ (Stelle) còn trống không thể bổ sung được (nachsetzen). „Điều này sẽ dẫn từng Mục Sư đến giới hạn gánh nặng (Belastungsgrenze)  mục vụ của họ – và còn hơn thế nữa (darüber hinaus)“, theo ông Andreas Kahnt, chủ tịch (Vorsitzender) hiệp hội Mục Sư.

Tin dpa, hình Peter Endig

Chủ nhật ngày 11.11.2018
Mặt sau sự nghiến răng thường là tâm trạng căng thẳng

Nhiều người hay nghiến răng (Zähneknirschen) đêm khuya (nachts). Một cái ngàm (Schiene) có thể bảo vệ (schützen) sự làm mòn (Abnutzung) răng (Zähne), nhưng (jedoch) nguyên nhân (Ursache) chứng bệnh (Beschwerden) vẫn chưa được tìm ra (finden).

Vì vậy cho nên, ai nghiến răng nên tìm hiểu nguyên nhân. Nha sĩ (Zahnarzt) có thể chẩn khám để biết rằng triệu chứng này không phải là những thay đổi hữu cơ (organische Veräderung), theo giáo sư (Professor, viết tắt là Prof.) Henrik Dommisch, điều hành trưởng (Leiter) khâu (Abteilung) nha khoa (Zahnmedizin) đại học y khoa (Universitätsmedizin) Charité tại Berlin, thì nó thuộc về tâm lý.

„Thường lý do (Grund) của những vấn đề tâm-thể (psychosomatisches Problem) – bệnh tâm biểu hiện nơi thân – là tâm trạng căng thẳng (Stress)“ theo ông. Trong trường hợp ngoài việc điều trị của nha sĩ (zahnärztliche Behandlung), bệnh nhân (Patient) cũng nên hỏi xem có cần một cái ngàm cho đêm khuya hay không. Và họ cũng nên để ý (achten) hàm răng nghiến (knirschen) trong tình huống (Situation) nào và tìm cách (versuchen) chủ động thư giản (aktiv zu entspannen). „Có nhiều các thư giản (verschiedene Entspannungstechnik) có thể hỗ trợ (helfen) như (wie) Yoga hoặc (oder) thiền (Meditation).“

Tin dpa, hình Christin Klose

 

Thứ sáu ngày 09.11.2018
Tiền bệnh chỉ được hưởng khi có chứng nhận liên tục

Muốn nhận (erhalten) tiền bệnh (Krankengeld), thì việc nghỉ bệnh không thể lao động (Arbeitsunfähigkeit) phải được một bác sĩ (Arzt) làm biên bản thành văn và liên tục (schriftlich und lückenlos festhalten). Việc liên hệ (Kontakt) với bác sĩ qua điện thoại (telefonisch) chưa đủ (nicht ausreichend).

Công nhân bị bệnh (erkrankter Arbeitnehmer) phải có chứng nhận liên tục (lückenlose Bescheinigung) về việc nghỉ bệnh không thể làm việc được của họ để hưởng quyền (Anspruch bewahren) được trả (Zahlung) tiền bệnh (Krankengeld).

Một trường hợp đã được phán xử (verhandelter Fall) bởi tòa án xã hội (Sozialgericht) tại Dortmund có liên quan đến một phũ nữ bị bệnh đã lâu (schon länger erkrankte Frau). Sau khi xuất viện (Entlassung aus dem Krankenhaus), bà đã điện thoại (telefonieren) với phòng khám bệnh của bác sĩ gia đình (Hausarztpraxis) ngày 22 tháng mười hai (Dezember) và nhận (bekommen) thông tin (Information) rằng, phòng khám bệnh đóng cửa (schließen) đến ngày 26 tháng mười hai. Giấy chứng nhận không thể lao động của bà được cấp ngày 27 tháng mười hai và có hiệu lực ngược lại cho những ngày trước đó (rückwirkend).

Nhưng công ty bảo hiểm sức khỏe (Krankenkasse) chỉ trả tiền bệnh đến ngày 22 tháng mười hai và viện lý do (begründen) rằng, vấn đề không thể làm việc cho đến ngày 27 phải có chứng minh (Nachweise) liên tục (lückenlos). Và tòa án xã hội đã bác (abweisen) đơn (Klage) của bà kiện công ty bảo hiểm sức khỏe. Vì lẽ (denn) nữ bệnh nhân (Patientin) đã chỉ điện thoại cho bác sĩ gia đình của bà và bổn phận (Plicht) của một người được bảo hiểm (Versicherte) là giấy chứng nhận nghỉ bệnh không làm việc được phải được bác sĩ chứng nhận liên tục. Trên nguyên tắc (in der regel) cần phải (nötig) có sự tiếp xúc trực tiếp (persönliche Kontakt) với bác sĩ. Trường hợp này đã được Phòng Bảo Vệ Luật Pháp (Rechtsschutz) của Công Đoàn Lao Động Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB) lưu ý (hinweisen). Hồ sợ thụ lý số Az.: S 39 KR 1512/17

Tin dpa, hình Andreas C.

 

Thứ tư ngày 07.11.2018
Những triệu chứng nào cho biết bị cúm

Cúm (Grippe) thường kéo dài từ ngày này sang ngày khác. Nó thường có những triệu chứng (Symptom) khác và nhiều báo hiệu (Warnsignal) bệnh (Krankheit). Khi có biểu hiện những triệu chứng như vậy, người bệnh nên đến bác sĩ để khám bệnh.

Biếng ăn (kein Appetit), luôn (ständig) mệt mõi (müde) đồng thời có triệu chứng cảm lạnh cũng có thể bị bệnh cúm, cho nên hãy đến bác sĩ. Điều này được lưu ý (hinweisen) bởi Viện Chất Lượng và Hiệu Quả Trong Ngành Y Tế (Institut für Qualität und Wirtschaftlichkeit im Gesundheitswesen, viết tắt là IQWiG). Trong lúc (wöhrend) sự cảm lạnh đến từ từ (schleichend kommen), thì bệnh cúm thường (häufig) xuất hiện chớp nhoáng từ ngày này sang ngày khác. Sốt cao (hohes Fieber) cũng là dấu hiệu tiêu biểu (typisches Anzeichen) của bệnh cúm, nên cần phải được bác sĩ chẩn trị. Ở trẻ sơ sinh (Baby) và trẻ nhỏ (Kleinkinder), rối loạn bao tử và dạ dày (Magen-Darm-Beschwerden) cũng thường là dấu hiệu của bệnh cúm.

Tin dpa, hình Maurizio Gambarini

Chủ nhật ngày 04.11.2018
Lương tối thiểu cho hàng triệu công nhân tăng lần thứ hai.

Từ (seit) hơn ba năm qua, hiện giờ (inzwischen) lương tối thiểu chung (allgemeiner Mindestlohn) có giá trị (gelten) cho người lao động (Beschäftigte).
Lương tối thiểu luật định (gesetzlicher Mindestlohn) cho hàng triệu công nhân (Arbeitnehmer) trong nước Đức sẽ tăng (erhöhen) lần thứ hai trong hai năm tới. Kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) 2019 hiện giờ (derzeit) là 8,84 Euro tăng 9,19 Euro mỗi giờ (pro Stunde) và kể từ ngày 01 tháng giêng 2020 tiếp tăng thành 9,35 Euro.
Điều này đã được nội các liên bang (Bundeskabinett) thông qua (beschließen) theo quy lệnh tương đương (entsprechende Verordung) của ông Hubertus Heil (SPD), bộ trưởng lao động Đức (Bundesarbeitsminister). Việc nâng cao (Anhebung) được quyết định trong tháng sáu (Juni) bởi một ủy ban thẩm quyền (zuständige Kommission) gồm đại diện (Vertreter) các chủ nhân (Arbeitgeber), công đoàn (Gewerkschafter) và khoa học (Wissenschaft). Độc lập (unabhängig) sự kiện này, một cuộc tranh luận (Debatte) tái (neu) bùng cháy (aufflammen) về giới hạn dưới mức (Untergrenze) 12 Euro.

Bởi áp lực (Druck) của đảng SPD năm 2015 trong liên minh lớn trước đây (damalige große Koalition), lương tối thiểu đã được thực hiện (eingeführter Mindestlohn) có giá trị cho tất cả công nhân trưởng thành (volljährige Arbeitnehmer) – ngoại trừ (außer) người thất nghiệp lâu năm (Langzeitsarbeitslose) sau khi (nach) nhận (Aufnahme) một công việc (Arbeit) trong sáu (sechs) tháng đầu tiên. Và không có gía trị cho người học nghề (Azbis), thực tập viên bắt buộc (Pflichtpraktika) hoặc thực tập viên (Praktika) dưới (unter) ba (drei) tháng. Lương tối thiểu lần đầu tiên đã tăng từ 8,50 Euro thành 8,84 Euro. Cơ sở (Grundlage) của vấn đề là việc phát triển (Entwicklung) lương quy định trung bình (durchschnittlicher Tariflohn). Trong nhiều ngành nghề (Branche) trả lương tối thiểu dưới mức trung bình.

Tin dpa, hình Oliver Berg

Thứ sáu ngày 02.11.2018
34.000 người nhận trợ cấp Hartz-IV bị cắt hoàn toàn.

Ai nhận (bekommen) Hartz-IV phải thỏa đáng (erfüllen) „bổn phận hợp tác“ (Mitwirkungspflicht). Bằng không (sonst) có nguy cơ (drohen) bị cắt giảm (Kürzung), thậm chí có thể cắt hẳn (ganz streichen). Thật ra (zwar) điều này tương đối (relativ) chỉ áp dụng cho ít trường hợp. Tuy nhiên (aber), các phê bình gia (Kritiker) cho rằng biện pháp này sẽ dẫn đến (führen) „không khí sợ hãi“ (Klima der Angst).

Dù vậy, trong năm qua có khoảng 34.000 người nhận (Empfänger) Hartz-IV bị cắt hoàn toàn (komplett). Ngoài ra, có 204.000 nhận (Bezieher) bị phạt (verhängen) từ hai (zwei) đến nhiều (mehr) lần cắt giảm (Sanktion) – theo sự trả lời (Antwort) của bộ lao động Đức (Bundesarbeitsministerium) về thắc mắc (Anfrage) của đảng Xanh (Grüne), được tờ „Reinische Post“ tường thuật (berichten) lần đầu (zuerst).

Đa phần, có hơn năm (fünf) triệu người được hưởng trợ cấp (Leistungsberechtigte) theo dữ liệu (Daten) của cục lao động Đức (Bundesarbeitsagentur) không bị cắt giảm (sanktionsfrei). Việc cắt giảm trợ cấp có thể xảy ra, khi ai đó (jemand) không đúng (nicht wahrnehmen) hẹn (Termin) của trung tâm tìm việc (Jobcenter) hoặc từ chối (verweigern) việc học bổ túc (Fortbildung).

Phát ngôn viên chính sách xã hội (sozialipolitischer Sprecher) đảng Xanh, ông Sven Lehmann, nói rằng (sprechen) việc cắt giảm gây ra „không khí sợ hãi“. „Khi (wenn) mức sống tối thiểu được đảm bảo theo luật định (gesetzlich garantiertes Existenzminimum) bị cắt giảm (kürzen) hoặc thậm chí (sogar) cắt hoàn toàn, sẽ không có sự tin tưởng (Vertrauen) nào nữa.“ Việc cắt giảm đặt trên cơ sở (basieren) sai lầm cho rằng (falsche Annahme), thất nghiệp (Erwerbslosigkeit) là sự bất lực cá nhân (individuelles Versagen). Ở đây, chính là việc thiếu (fehlen) chỗ làm thích hợp (passgenauer Arbeitsplatz) cho người thất nghiệp lâu năm (Langzeitarbeitslose) và trình độ cá nhân (individuelle Qualifizierung). „Chính phủ Đức (Bundesregierung) nên trang bị (ausstatten) cho các trung tâm tìm việc thích ứng theo nhu cầu (bedarfsdeckend) và cải thiện (verbessern) các biện pháp tài trợ (Fördermaßnahme).“

Hiện nay (derzeit), mức chuẩn (Regelsatz) Hartz-IV cho một người độc thân (Alleinstehende) mỗi tháng là 416 Euro. Cho một hộ gia đình (Bedarfsgemeinschaft) nhiều người trung bình (im Schnitt) là 954 Euro. Tổng cộng (insgesamt) con số cắt giảm trước đây theo cục lạo động  trong năm qua tăng nhẹ (leicht) thành 953.000. Trong số này, những người bị cắt nhiều lần cũng được tính vào.

Theo chính phủ, tổng cộng (Gesamtzahl) có 5,45 triệu người được ghi nhận (erfassen) theo thống kê (Statistik) ít nhất (mindestens) có mười hai tháng được xem là người lao động được hưởng trợ cấp (erwerbsfähige Leistungsberechtigte).

Tin dpa, hình tiêu biểu của Bernd Wüstneck

Xem (365)