» » Tin Đức Quốc tháng 10.2018

Tin Đức Quốc tháng 10.2018

Xem (281)

Thứ ba ngày 09.10.2018
1,5 triệu người hưu trí sẽ chuyển tiền ra nước ngoài.

Người hưu trí (Rentner) có lương hưu (Altersbezug) từ quỹ hưu trí theo luật định (gesetzliche Rentenkasse) sống (leben) ở nước ngoài (Ausland) thường hơn (immer häufiger). Kể từ năm 2000, con số tăng (steigen) từ 1,1 đến 1,5 triệu người chuyển (überweisen) tiền hưu trí của họ từ Đức ra nước ngoài, theo một báo cáo truyền thông (Medienbericht).

Tờ „Saarbrücker Zeitung“ đã tường thuật (berichten) quy chiếu (unter Berufung) những con số mới nhất (aktuelle Zahl) của Liên Hội Bảo Hiểm Hưu Trí Đức (Deutscher Rentenversicherung Bund). Qua đó (demnach), trong năm qua có 1,75 triệu trả tiền hưu trí (Rentenzahlung) ra nước ngoài – tương đương mức (Neveau) của năm 2016; trong năm 2000, theo báo cáo chỉ có 1,21 triệu. Ngoài tiền hưu trí chẳng hạn (etwa) tiền hưu quá bụa và giảm sức lao động (Witwen- und Erwerbsminderungsrente)…, nhiều người cao niên còn hưởng (Anspruch) thêm nhiều loại tiền hưu trí khác (mehrere Rentenart).

Phát ngôn viên (Sprecher) bảo hiểm hưu trí nói (sagen) với tờ báo (Zeitung) rằng, việc tăng (Anstieg) trả tiền hưu trí chuyển ra nước ngoài bởi phần lớn (großes Teil) liên quan đến việc nhập cư (Zuwanderung) của công nhân (Arbeitnehmer) chủ yếu (vor allem) đến từ Ý (Italien), Tây Ban Nha (Spanien), Hy Lạp (Griechenland), Nam Tư  trước đây (ehemaliges Jugoslawien) và Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei) trong những thập niên 60 – 70 và có liên quan đến việc trả (Zahlung) khoản đóng (Beitrag) bảo hiểm hưu trí theo luật định trong nước Đức. Đa phần, nay (nunmehr) trong tuổi hưu và nhận tiền hưu trí ở Đức chuyển cho họ khi họ quay lại (Rückkehr) quê hương xứ sở (Heimatland).

Tin dpa, hình Oliver Berg.

Thứ hai ngày 08.10.2018
Ngay việc tống táng cũng xảy ra tai nạn lao động.

Ngay trong lãnh vực (Bereich) tống táng (Bestattungswesen) cũng có thể xảy ra tai nạn (Unfall). Trong một trường hợp, một người nhà quàn (Bestater) bị cụp vai khi khiêng (tragen) một người chết (Verstorbene). Công ty bảo hiểm tai nạn (Unfallversicherung) không chịu trả tiền (zahlen) – những việc (Tätigigkeit) „bình thường“ như vậy không được bảo hiểm. Nay (nun) tòa án (Gericht) nhìn vụ việc này khác (anders).

Nếu nhân viên nhà quàn bị thương tích (Verletzung) lúc nâng (Anheben) một xác chết (Leichnam) thì sự kiện này có liên quan đến một tai nạn lao động (Arbeitsunfall). Công ty bảo hiểm tai nạn luật định (gesetzliche Unfallversicherung) có bổn phận phải trả tiền. Theo một quyết định (Entscheidung) của tòa án xã hội tiểu bang (Landessozialversicherung) Baden-Württemberg – hồ sơ thụ lý Az.: l 6 U 1695/18.

Điều này đã được Nhóm Luật Xã Hội (Arbeitsgemeinschaft Sozialrecht) Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) thông báo (mitteilen). Trường hợp (Fall): Một người đàn ông (Mann) làm việc (arbeiten) từ (seit) năm 2002 là nhân viên nghĩa trang (Friedhofsmitarbeiter). Công việc của ông còn có việc đến nhận (abholen) người chết. Tháng tám (August) 2016 ông muốn cùng một đồng nghiệp (Kollege) vận chuyển (transportieren) tử thi của một phụ nữ đã qua đời. Người chết (Tote) phải được chuyển từ giường nằm (Bett) xuống một băng-ca (Trage) trên mặt đất (am Boden). Lúc nâng (Anheben) tử thi (Leiche) lên, nguyên cáo (Kläger) cảm nhận (verspüren) một tiếng cụp (Knachken) ở cánh tay trên bên phải (rechter Oberarm) và cơn đau nóng buốt (brenenneder Schmerz) trực tiếp (direkt) lan đến phần trên (oberhalb) cùi chỏ (Ellenbogen) vết sưng hiện ra nhìn thấy được (sichtbar).

Trong bệnh viện, xác định (feststellen) rằng có sự mất lực rõ rệt (deutlicher Krafverlust) vùng cơ bắp tay (Bizepsmuskulatur), đè đau (Druckschmerz) và vùng cơ bụng (Muskelbauch) phần trên cánh tay mặt. Tuy nhiên, công ty bảo hiểm tai nạn vẫn bác bỏ (ablehnen) việc công nhận (Anerkennung) đây là một tai nạn lao động, vì lẽ (da) không có một lực tác động từ ngoài (äußere Krafteinwirkung) đưa đến. Ngoài ra (außerdem) còn có những sự kiện (Vorgang) được xem là „bình thường (üblich) và „tự nhiên“ (selbstverständlich) không được sự bảo hộ (Schutz) của bảo hiểm tai nạn.

Phán quyết (Urteil): Tòa án xã hội (Sozialgericht) Reutlingen cũng như tòa án xã hội tiểu bang tại Stuttgart đã công nhận người bị nạn có lý (Recht). Theo sự đánh giá (Einschätzung) của các thẩm phán (Richter), đây chính là (vorliegen) một tai nạn lao động. Cho nên người này phải được bảo hiểm tai nạn theo luật định bảo hộ. Việc bảo hiểm (Versicherung) là cho tất cả công việc có liên quan đến nội tình và vụ việc (sachlicher, innerer Zusammenhang) với một công việc được bảo hiểm. Cho nên không có chuyện phân biệt (Differenzierung) giữa một công việc „bình thường“ không được bảo hiểm và công việc „không bình thường (unüblich) được bảo hiểm.

Tin dpa, hình Franziska Koard.

Thứ bảy ngày 06.10.2018
Một trong năm công nhân có ý muốn sớm đổi việc.

Hoàn toàn (vollkommen) hài lòng (zufrieden) với chỗ làm (Arbeitsplatz) hầu như có rất ít người. Tuy nhiên (doch), có nhiều công nhân (Arbeitnehmer) rõ ràng (offenbar) ê chề (Frust), nên tốt nhất (am liebsten) là tìm ngay một việc mới (neuer Job). Theo một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage).

Sự thay đổi (Abwechslung) công việc cũng được đề cập đến trong thế giới lao động (Arbeitswelt). Một trong năm (Fünfte) người dự tính (planen) đổi việc (Jobwechsel) trong sáu tháng tới. Đây là kết quả một sự thăm dò ý kiến tiêu biểu dân chúng (Bevölkerungsrepräsentativ) được tổ chức tư vấn nhân viên (Personalberatung) Avantgarde Expert ủy nhiệm (im Auftrag) thực hiện.

Chủ yếu (vor allem) là các lực lượng lãnh đạo trẻ (jüngere Führungskräfte), họ đã nghĩ đến việc đổi nghề (Berufswechsel). Những người trên 60 tuổi chỉ chiếm 8 phần trăm. Cho nên cấp lãnh đạo (Vorgesetzte) cần phải biết (wissen) rõ  rằng, về vấn đề  ngăn chận (abhalten) sực đổi việc có 79 phần trăm người được hỏi ý kiến (Befragte) cho biết rằng phải lên lương (mehr Gerhalt) cho họ. Giờ làm việc linh hoạt hơn (flexiblere Arbeitszeit) và nhiều ngày nghĩ hè (mehr Urlaub) cũng đóng vai trò quan trọng (wichtige Rolle).

Các điều kiện tốt (gute Bedingung) khác như giờ làm việc linh hoạt (47 phần trăm) và các khoản đóng xã hội (Sozialleistung) 39 phần trăm đối với người lao động (Beschäftigte) ngoài (neben) tiền lương (Gehalt) cũng là những tiêu chí quyết định (entscheidende Kriterien) mà một chủ nhân lý tưởng (idealer Arbeitgeber) cần đáp ứng (erfüllen). Những cơ hội phát huy cá nhân (persönliche Entwicklungsmöglichkeit) và công việc đa dạng (abwechslungsreiche Tätigkeit) được một phần ba (Drittel) người được hỏi ý kiến mong muốn (wünschen) ở người chủ của họ

Tin dpa, hình Alexander Hein.

 

Thứ tư ngày 03.10.2018

Khoảng cách giữa Đông và Tây Đức ít hơn, nhưng vẫn còn nhiều khác biệt.

„Bây giờ (nun) hãy cùng nhau (zusammen) lớn mạnh (wachsen) với những gì thuộc về nhau (zusammenhören)“, đây là tiêu đề (Motto) lúc nước Đức thống nhất (deutsche Wiedervereinigung). Nhưng (doch) vẫn còn có nhiều khác biệt (Unterschiede) giữa hai miền Đông (Ost) và Tây (West) Đức – không chỉ (nicht nur) ở tương quan cuộc sống (Lebensverhältnis).

Sự phát triển quần chúng (Bevölkerungsentwicklung), hạnh phúc (Wohlstand), quan điểm (Einstellung) đối với (zu) người ngoại quốc (Ausländer) hiện nay ra sao?

Ngay sau 28 năm thống nhất nước Đức, nhiều khác biệt vẫn còn đeo đuổi (klaffen) giữa hai miền Đông và Tây Đức. Tuy nhiên, nó đã vơi đi nhiều (weniger) theo năm tháng (mit den Jahren), theo kết quả của hiều thống kê đánh giá (Statistikauswertung) được công bố (veröffentlichen) hôm thứ hai (Montag).

Kết quả (Ergebnis): Phía Đông đã theo kịp (aufholen) đà kinh tế (wirtschaftlich), nhưng cũng có thể sớm (bald) tái (wieder) thoái lui (zurückfallen). Tổng quan (Überblick) theo đề mục (Thema):

NGHÈO ĐÓI

Ai sống ở phía Đông theo thống kê (Statistik) dễ bị sự nghèo đói đe dọa (bedrohen) mạnh hơn (stärker) người dân ở phía Tây – theo dữ liệu (Daten) của Cục và các Ty Thống Kê Đức (Statistisches Amt des Bundes) và các tiểu bang (Länder), đã được đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion) trong quốc hội Đức (Bundestag) lưu ý (aufmerksam machen).

Như vậy (so), trong năm qua các tiểu bang phí Đông kể cả (einschließlich) Berlin có 17,8 phần trăm người dân (Bürger) bị nghèo đói (armutsgefährdet) – phía Tây 15,3 phần trăm. Trong vòng (binnen) một năm, con số giảm (sinken) khoảng 0,6 phần trăm ở phía Đông, phía Tây khoảng 0,3 phần trăm. Mười năm trước đây (vorher), phía Đông 19,5 phần trăm và phía Tây 12,9 phần trăm.

Nữ chuyên gia xã hội (Sozialexpertin) đảng khối Tả khuynh, Sabine Zimmermann, cáo buộc (vorwerfen) chính phủ Đức (Bundesregierung) „hoàn toàn bất lực“ (Totalversagen) trong chính sách phòng chống nghèo đói (Armutbekämpfung). „Hơn (über) một phần tư thế kỷ (Vierteljahrhundert) sau (nach) khi nước Đức thống nhất (Deutsche Einheit, ngày 03.10.1990), người ta cũng không thể hiểu nổi (nicht nachvollziehbar) khi vẫn còn (immer noch) có sự sai khác mức thu nhập (Einkommensunterschiede) giữa hai miền Đông và Tây Đức“, bà nói với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa). Những công việc bấp bênh (prekäre Beschäftigung) cần phải bị đẩy lui (zurückdrängen), lương tối thiểu (Mindestlohn) phải được nâng lên (erhöhen).

TIÊU THỤ

Mỗi ngày chi hết bao nhiêu? Việc chi tiêu thụ (Konsumausgaben) trung bình (durchschnittlich) của một hộ tư nhân (private Haushalte) ở phía Đông trong năm 2016 là 2.078 Euro, khoảng (rund) 80 phần trăm mức chi tiêu ở phía Tây là 2.587 Euro, Cục Thống Kê Đức tường thuật (berichten).
Tuy nhiên (dennoch) hành vi tiêu thụ (Konsumverhalten) gần như (nahezu) giống nhau (identisch): Đối với những nhu cầu chính yếu (Grundbedürfnis) như (wie) chỗ ở (Wohnen), ăn (Essen) và quần áo (Bekleidung), các hộ tư nhân chi (verwenden) trung bình khoảng (etwa) một nửa (Hälfte) toàn bộ chi tiêu thụ của họ với 53,6 phần trăm ở phía Tây và 53,3 phần trăm phía Đông.

PHÁT TRIỂN KINH TẾ (wirtschaftliche Entwicklung)

Phía Đông đã theo kịp đà kinh tế, nhưng theo công trình khảo sát (Studie) của Prognos AG thì họ sẽ sớm tái thoái lui. „Đến năm 2025, độ dốc (Gefälle) theo dự tính (Prognose) của chúng tôi sẽ tăng (zunehmen) trở lại (wieder)“, theo công trình khảo sát cung cấp cho thông tấn xã Đức. Lý do (Grund) là sự di tản (Abwanderung) và giảm số sinh đẻ (geringe Geburtenzahl).

Tuy nhiên (allerdings), không những chỉ có độ dốc giữa Tây và Đông, mà (sondern) còn giữa Bắc và Nam Đức. Nếu năng suất kinh tế (Wirtschaftsleistung) tính đầu người (pro Kopf) ở phía Đông kể cả Berlin ngày nay là ba phần tư (Dreiviertel) so với phía Tây (Westniveau), đến năm 2045 còn ít hơn khoảng hai phần ba (Zweidrittel) như vậy thậm chí (sogar) dưới mức của năm 2000. „Nếu tiếp tục (Fortsetzung) chính sách hiện nay (bisherige Politik) thì sự tương quan cuộc sống vật chất (materielles Lebensverhältnis) giữa Đông và Tây sẽ không cân bằng (angleichen)“, các chuyên gia khảo cứu cảnh báo (warnen).

Theo dữ liệu của Viện Kinh Tế Đức (Institut der Deutschen Wirtschaft) thì nền kinh tế trong các tiểu bang phía Đông và Berlin trong năm qua đã tăng (wachsen) khoảng 1,9 phần trăm (không tính Berlin là 1,4), trong khi tổng sản phẩm nội địa (Bruttoinlandsprodukt) phía Tây Đức (Westdeutschland) tăng thêm (zulegen) 2,3 phần trăm. Lỗi (Schuld) chủ yếu (vor allem) là sự thay đổi nhân khẩu (demografische Wandel), nghĩa là ở phía Đông nhiều người già (Ältere) sắp ăn hưu (in Rente), còn người trẻ (Junge) nối gót (nachrücken) vào thị trường lao động (Arbeitsmarkt). Lương chính (Bruttolohn) ở mức 82 phần trăm ít hơn mức trung bình (Durchschnitt) của phía Tây. Dù vậy (immerhin), nhờ giá cả thấp (niedriges Preisniveau) nên phía Đông đã lấp khoảng trống (Lücke) của thu nhập ròng (Nettorealeinkommen).

TĂNG TRƯỞNG (Zuwachs) và DI TẢN (Abwanderung)

Gần (fast) một trong năm người trong số khoảng 82,8 triệu người trong nước Đức theo Cục Thống Kê Đức sống (leben) ở Đông Đức. Nhưng trong khi đó (während) ở phía Tây trong năm qua có khoảng 5 triệu người kể từ thời điểm (zur Zeit) đổi đời (Wende), thì số quần chúng trong các tiểu bang mới và Berlin giảm (zurückgehen) khoảng 2 triệu người. Vì vậy cho nên trong phía Tây có sự tăng trưởng khoảng 8,2 phần trăm và phía Đông giảm (Rückgang) khoảng 11 phần trăm.

TRẺ EM (Kinder), GIA ĐÌNH (Familie) và LAO ĐỘNG (Arbeit)

Những khác biệt giữa Đông và Tây Đức cũng có nơi những người độc thân nuôi con (Alleinerziehende) và những cơ hội (Möglichkeit) quân bình cuộc sống giữa nghề nghiệp (Beruf) và gia đình. Trong khi đó, tính theo mức trung bình của Đức, một trong năm gia đình có con trẻ chỉ được một phụ huynh (Elternteil) giáo dưỡng (aufziehen), còn số người sống độc thân nuôi con ở phía Tây chiếm gần một phần tư (Viertel) tất cả các gia đình (24,9 phần trăm) và ở phía Đông một phần sáu (Sechstel) với 17,5 phần trăm. Số người độc thân nuôi con ít nhất (wenigsten) trong tiểu bang Baden-Württemberg (15,3 phần trăm) và Bayern (16,2 phần trăm), đa phần (meisten) tại Berlin và Sachsen-Anhalt (25,6 phần trăm).

Dù có phải sống độc thân nuôi con hay không, khi một người mẹ có trẻ nhỏ (Kleinkind) muốn mau (schnell) quay lại (wieder zurückkehren) nghề nghiệp (Beruf), thì ở phía Đông cung cấp (Angebot) nhiều điều kiện (Möglichkeit) chăm sóc trẻ (Kinderbetreuung). Cả nước (bundesweit) trong năm 2017 có một trong ba trẻ dưới ba tuổi (33,1 phần trăm) được chăm nom (betreuen) trong một cơ sở trẻ cả ngày (Kindertageseinrichtung) hoặc chăm nuôi cả ngày (Kindertagespflege).

Tuy nhiên, trong khi chỉ số chăm sóc (Betreuungsquote) cho nhóm tuổi (Altersgruppe) này trong khu vực liên bang cũ chiếm 28,8 phần trăm, thì trong các tiểu bang mới và Berlin là 51,3 phần trăm. Đứng đầu là tiểu bang Sachsen-Anhalt với chỉ số 56,9 phần trăm, kế đến (gefolgt) là Mecklenburg-Vorpommern 56,0 phần trăm và Brandenburg 55,8 phần trăm. Chỉ số thấp nhất (niedrigste) là trong tiểu bang Nordrhein-Westfallen với 26,3 phần trăm, Bremen 26,4 phần trăm và Bayern 27,4 phần trăm. Chỉ số chăm sóc trẻ em ở tuổi vào vườn trẻ (Kindergartenalter) ngược lại (dagegen) hoàn toàn (kaum) không có sự sai khác giữa các khu vực (regionale Unterschiede): Phía Tây 93 phần trăm, phía Đông kể cả Berlin 94,8 phần trăm.

TÂM TÍNH (Mentalität) và DI DÂN (Migration)

Những khác biệt giữa Đông và Tây cũng là vấn đề giữa các thế hệ (Generationenfrage) – kết quả (Ergebnis) một khảo sát mới của ifo-Institut (Viện ifo). „Chủ yếu là những người trẻ trong cả hai phần đất (Landesteil) cho thấy có những quan điểm (Einstellung) và mẫu hành vi (Verhaltensmuster) tương tự (ähnlich)“, theo vị điều hành trưởng (Leiter) công trình nghiên cứu (Forschungsprojekt), Helmut Rainer. „Người già phía Đông Đức đã từng sống trong chế độ DDR cộng sản Đức ngược lại tự tách biệt họ (sich unterscheiden) nhiều hơn (stärker) đối với người cùng tuổi (Gleichaltrige) ở phía Tây.“

Đặc biệt đối với những người có gốc di dân (Migrationshintergrund), theo ông Rainer có sự khác biệt lớn hơn giữa hai miền Đông và Tây Đức. Nghĩa là một người hồi cư (Aussiedler), Ý (Italiener), Thổ (Türke) hoặc xin tỵ nạn (Asylbewerber) đối với người dân Đông Đức rõ ràng (deutlich) ít được yêu mến (weniger lieb) hơn là dân sống ở Tây Đức.

„Cũng như niềm tin (Vertrauen) đối với thể chế dân chủ (demokratische Institution) ở phía Đông ít có ấn tượng hơn (geringer ausgeprägt)“, theo vị trợ tá khảo sát, ông Joachim Ragnitz. Nói chung (generell) việc sẳn sàng (Bereitschaft) đóng góp thiện nguyện (ehrenamtliches Engagement) và tham gia (Beteiligung) bầu cử (Wahl) trong các tiểu bang phía Đông thấp hơn (niedriger) phía Tây, ngược lại (daggen) sự mong đợi (Erwartung) của họ ở nhà nước (Staat) lại lớn hơn (größer).

Người dân Đông Đức vẫn còn bám chặt (hartnäckig) cảm giác (Gefühl) cho rằng họ đã bị bỏ rơi (abgehängt zu sein) và họ không thể hiểu được, theo Viện Kinh Tế Đức nhân ngày kỷ niệm (Jahrestag) thống nhất (Wiedervereinigung) hai miền Đông và Tây Đức. Điều này cũng có thể do nhiều hạn chế (Einschränkung) trong cuộc sống công cộng (öffentliches Leben), vì ở các vùng ít dân sinh sống phía đông thiếu điều kiện mua sắm (Einkaufsmöglichkeit), trường học (Schule) và phòng mạch bác sĩ (Arztpraxis) và xe buýt (Bus) thường (oft) chỉ (nur) có lịch chạy một lần (einmal) trong ngày (am Tag) ở các vùng quê (ländliche Region) như vậy.

Tin dpa, hình Jens Kalaene

Xem (281)