» » Cố HT Thích Chơn Phát (1931–2016)

Cố HT Thích Chơn Phát (1931–2016)

ht-thichchonphat (Andere)Hòa thượng thế danh Nguyễn Nghi sinh ngày 13 tháng 10 năm Tân Mùi (1931) tại làng Kim Bồng, xã Cẩm Kim, thành phố Hội An. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Gia pháp danh Ấn Hoa và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Sách.

Năm Đinh Sửu (1937), thân phụ Ngài qua đời, kế tiếp năm sau thân mẫu cũng tạ thế để lại nhiều nỗi thương cảm trong lòng Ngài khi tuổi quá nhỏ.

Năm Mậu Dần (1938), Ngài đến xuất gia tại chùa Long Tuyền với Hòa thượng Phổ Thoại cũng là chú ruột và được Bổn sư ban cho pháp danh Chơn Phát. Từ đây Ngài hầu Thầy học đạo, tuy là cháu ruột nhưng Hòa thượng Bổn sư rất khắt khe hơn so với các chúng điệu cùng trang lứa.

Năm 1946, người Pháp trở lại đánh chiếm Việt Nam, Ngài theo dòng người tản cư lên Thanh Châu một thời gian dài. Năm 1949, sau khi hồi cư, Ngài nhập chúng tu học tại Tổ đình Phước Lâm do Hòa thượng Đương Như trụ trì và Ngài được đề cử làm tri sự chăm lo việc chúng.

Năm Canh Dần (1950) Ngài về lại chùa Long Tuyền hầy Thầy. Cũng trong năm này, Hòa thượng Bổn sư truyền giới Sa di cho Ngài và ban pháp tự Đạo Dũng.

Năm Tân Mão (1951), Ngài được Bổn sư cho nhập chúng tu học dưới sự chỉ dạy của Hòa thượng Tăng cang Thích Thiện Quả.

Đầu năm Giáp Ngọ (1954), thấy Hòa thượng Bổn sư sức khỏe yếu dần, Ngài về lại Long Tuyền hầu Thầy. Vào ngày 15 tháng 3 năm Bính Ngọc (1954), Ngài được Bổn sư phú pháp hiệu là Long Tông đại sư.

Ngày mồng 9 tháng 4 năm Giáp Ngọ (1954), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài cùng môn đồ lo việc tang lễ và xây dựng bảo tháp để báo đáp thâm ân giáo dưỡng của Thầy tổ.

Sau khi tang lễ viên mãn, Hòa thượng Tăng cang Thiện Quả đã cử Ngài làm tự trưởng chùa Long Tuyền. Tuy nhiên, vì muốn thăng tiến trong việc tu học, Ngài đã thỉnh Hòa thượng Đương Như về trụ trì chùa Long Tuyền, còn mình thì vào miền Nam tu học.

Tháng 4 năm Ất Mùi (1955), dưới sự trợ duyên của Thượng tọa Thích Trí Giác, Ngài xuống tàu vào Nam tu học. Ngài trụ tại chùa Hưng Long, Sài Gòn và được Hòa thượng Thích Trí Hữu giới thiệu vào học tại Phật học đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn do Hòa thượng Thích Thiện Hòa làm đốc giáo. Cũng trong năm này, Ngài chính thức thọ Sa di giới tại Ấn Quang do Hòa thượng Thích Huệ Quang làm Đàn đầu.

Năm Đinh Dậu (1957), Hòa thượng thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Hải Đức, Nha Trang do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Đàn đầu truyền giới.

Năm Canh Tý (1960), sau khi tốt nghiệp Phật học đường Nam Việt, Ngài được Ban giám đốc cử làm kiểm khan điều khiển chi nhánh Phật học đường Nam Việt tại chùa Giác Sanh. Đồng thời, Ngài tham gia vào Ban giảng sư của hội Phật học Nam Việt đi giảng dạy tại các chùa như Vạn Thọ, Giác Nguyên, Phổ Quang v.v…Cùng thời gian này, Ngài mở các khóa giáo lý cho cư sĩ tại gia cũng như thành lập các niệm Phật đường tại ngã tư Bảy Hiền và Phú Thọ Hòa, quy tụ bà con Phật tử người Quảng Nam vào lập nghiệp miền Nam quay về tu học.

Năm Tân Sửu (1961), để đầy đủ giới pháp trước khi về quê hương hành đạo, Hòa thượng đã thọ Bồ tát giới tại chùa Ấn Quang do Hòa thượng Khánh Anh làm Đàn đầu.

Tháng 3 năm Nhâm Dần (1962), Ngài trở về Long Tuyền. Lúc này Hòa thượng Đương Như đã già yếu nên giao việc trụ trì để Ngài tiếp tục gánh vác Phật sự mà Thầy tổ đã dày công gây dựng. Năm này, Ngài được chư tôn đức mời giữ chức vụ Trị sự phó Giáo hội Tăng già Quảng Nam kiêm giảng sư của Tỉnh hội.

Tháng 3 năm Quý Mão (1963), Hòa thượng được mời nhận chức vụ Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già Quảng Nam.

Năm Quý Mão (1963), Phật giáo rơi vào pháp nạn, Hòa thượng là một trong những nhà lãnh đạo Phật giáo Quảng Nam tranh đấu cho sự trường tồn của chánh pháp.

Năm Giáp Thìn (1964), GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam thành lập, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Đặc ủy Tăng sự qua các nhiệm kỳ.

Năm Ất Tỵ (1965), trường trung học Bồ đề Hội An được thành lập, Hòa thượng được mời giữ chức vụ Giám đốc của trường.

Năm Bính Ngọ (1966), Ngài đảm nhận chức vụ Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam.

Kể từ ngày kế nghiệp trú trì chùa Long Tuyền, hàng năm Ngài đều tập chúng an cư tại đây. Từ đó, việc an cư tập trung của chư Tăng Quảng Nam được hình thành và duy trì suốt mấy thập kỷ qua.

Vào các năm 1962, 1963, 1965, 1967, 1974 Ngài thường mở các đàn giới Sa–di để truyền trao giới pháp cho hàng xuất gia. Trong các đàn giới này, Ngài được cung thỉnh làm Yết–ma và Giáo thọ.

Là một người luôn ưu tư cho sự giáo dục của Phật giáo tỉnh nhà, vào năm Canh Tuất (1970), Hòa thượng mở Phật học viện tại Long Tuyền và giữ chức Giám viện. Phật học viện đã quy tụ chư Tăng các tỉnh miền Trung theo học nhưng đến năm 1975 vì điều kiện khách quan nên trường không hoạt động nữa.

Sau năm 1975, Hòa thượng nghỉ tất cả các chức vụ Giáo hội và lui về tu niệm. Ngài hành trì pháp môn Tịnh Độ và xiển dương giáo nghĩa của pháp môn này.

Năm Ất Sửu (1985), Hòa thượng khai giới đàn tại chùa Long Tuyền và được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng.

Hòa thượng đã biên soạn và dịch một số tác phẩm sau:
– Lịch sử Phật giáo Việt Nam
– Danh tăng tự viện Phật giáo Quảng Nam
– Chùa Long Tuyền xưa và nay
– Thập đại đệ tử Phật (dịch)

Phần lớn những tác phẩm của Ngài đều in dưới dạng lưu hành nội bộ để phổ biến cho Tăng ni Phật tử trong tỉnh tham cứu.

Kể từ khi trú trì chùa đến nay, Hòa thượng từng bước kiến thiết chùa Long Tuyền qua các giai đoạn với những công trình sau: Tăng đường (1965), Thiền đường (1969), Giảng đường (1970), Tháp Đa Bảo (1984), Hộ pháp đường (1988), Tam quan (1989), đài Quán Thế Âm (1990), ao Thất bảo (1992). Vào năm 1993, Hòa thượng đại trùng tu lại Chánh điện và Tổ đường chùa Long Tuyền nguy nga tráng lệ, trở thành một trong những danh lam của Phật giáo Quảng Nam.

Năm 1997, GHPGVN tỉnh Quảng Nam thành lập, Hòa thượng được cung thỉnh làm Chứng minh Ban trị sự PGQN.

Hòa thượng đã an nhiên thị tịch vào lúc 18 giờ 00 ngày 22 tháng 4 năm Bính Thân (28/5/2016), hưởng thọ 86 tuổi và 59 hạ lạp.

Xem (321)