» » » Bài viết tưởng niệm HT Thích Hạnh Tuấn

Bài viết tưởng niệm HT Thích Hạnh Tuấn

Mục Hạnh Tuấn

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính Bạch Chư Tôn Đức .
Kính Thưa Thầy,

Trong khoảng khắc nầy thời gian và không gian như ngừng đọng trước cảnh thiên thu vĩnh biệt, đại diện Tu Viện Cát Trắng tại Mims Florida, chúng con Châu Lam Sơn và Châu Minh Đức xin phép Chư Tôn Đức để thành kính có lời tưởng niệm dâng lên Giác linh Cố Hòa Thượng Thích Hạnh Tuấn trú trì chùa Trúc Lâm, Chicago, IL, vị Thầy vô vàn kính mến của Tu Viện Cát Trắng và gia đình họ Châu chúng con.

Kính Bạch Giác Linh Hòa Thượng,

Hôm nay là những giờ phút sau cùng, chúng con còn được đối trước Kim quan Thầy để tâm sự đầy vơi trong thâm tình tưởng nhớ. Thời gian sẽ từng nhịp trôi qua và chẳng còn bao lâu nữa, chúng con sẽ vĩnh viễn xa Thầy.

Giờ đây, dẫu kính thương vô hạn nhưng chúng con vẫn nén lòng để không bật thành tiếng khóc, chỉ một dạ chí thành cầu nguyện Giác linh Thầy thanh thản ra đi. Bởi Thầy thường dạy “Chuyện sinh tử là lẽ thường tình của con người cũng như tất cả vạn hữu, sinh diệt chỉ là bề mặt của hiện tượng, như mây trắng ngàn năm bây giờ vẫn còn bay mãi”. Vì vậy sự viên tịch của Thầy cũng đâu có mất đi, Thầy vẫn hiện hữu trong mỗi chúng con.

Kính bạch Giác Linh Hòa Thượng,

Dẫu biết là thế, nhưng hay tin Thầy viên tịch, chúng con thẫn thờ, bàng hoàng, đau xót rồi những kỷ niệm về Thầy lại lần trở về trong trí nhớ của chúng con.

Gia đình chúng con được nhân duyên quen biết Thầy từ lúc Thầy còn ở trong trại tỵ nạn Galang, từ đó theo thời gian tình Thầy Trò ngày một thêm sâu đậm. Chúng con vẫn còn nhớ sau khi Thầy qua Mỹ định cư chưa đầy một tháng, Thầy đã lặn lội sang Texas để thăm chúng con. Ngôi nhà hơn 100 năm mà chúng con thuê của trường Đại Học để tạm trú trong lúc mới vào đất Mỹ đã ghi dấu chân Thầy. Nhiều đêm Thầy trò chúng ta đã tâm sự, để rồi quyết định cả Thầy trò cùng cắp sách đến trường mặc dù bao khó khăn và gian khổ đang chờ ở con đường trước mắt, nhưng ước nguyện được học tập ở xứ người hầu mở mang trí tuệ, kiến thức mong sao sau này Thầy trò mình cùng phục vụ cho Đạo Pháp ở xứ người.

Rồi 10 năm trôi qua, với bao thăng trầm của cuộc sống cũng như con đường học tập, Thầy trò chúng ta cùng vững tâm để đạt đến ước nguyện của mình. Thầy theo học chương trình Tiến Sĩ tại Berkerly, CA và chúng con cũng hoàn thành chương trình học tập và ra trường bắt đầu xây dựng sự nghiệp.

Thầy tâm sự với chúng con, công việc học của Thầy đã tạm xong và Thầy muốn dành thời gian còn lại để đóng góp cho Phật sự nhiều hơn nữa. Ngày tin Thầy nhận chức Trụ Trì tại Chùa Trúc Lâm Chicago lòng chúng con thật vui mừng vì Thầy đã có một trú xứ để hành đạo và ước nguyện hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam tại xứ Người đã dần thành hiện thực, có lẽ Thầy là vị Tu Sỹ Việt Nam đầu tiên xử dụng công nghệ tin học để truyền bá chánh pháp của Như Lai.

Thời gian trôi qua, anh em chúng con theo gương Thầy và quý Cư Sỹ ngày xưa để cùng Thầy Tâm Thiện xây dựng Tu Viện Cát Trắng trên mảnh đất với rừng thông xanh vút cùng cát trắng rải đều trên lối đi. Ngôi Già Lam này đã và đang đón chào bao nhiêu hành giả đến tu tập và thực hành Giáo Lý của Như Lai. Nơi đây chúng con đã nhiều lần cung đón Thầy đến thuyết giảng, những lời giáo huấn, những buổi thiền tập, những câu kinh, tiếng kệ của Thầy vẫn âm vang và còn đọng mãi trong tâm trí của người Phật Tử Tu Viện Cát Trắng.

Trước di ảnh và Giác Linh Thầy, một lần nữa chúng con nguyện cùng nhau thực hiện những hạnh nguyện mà Thầy thường dạy bảo. Chúng con mong mỏi và tha thiết Thầy sẽ trở lại cõi Ta Bà để tiếp tục giáo hóa, độ sanh.

Chúng con xin cúi đầu – cung tiển Giác Linh Thầy Cao Đăng Phật Quốc.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Đệ Tử Châu Lam Sơn – Pháp Nguyên Quang
Đệ Tử Châu Minh Đức – Pháp Nguyên Độ
Thay mặt cho Tu Viện Cát Trắng

Hòa Thượng Hạnh Tuấn
với ước nguyện Phật Việt dang dở

Như thường lệ, mỗi sáng sớm tôi thức dậy công phu khuya xong thì mở máy để cập nhật tài liệu cho trang nhà Quảng Đức, sáng nay vừa mở máy thì nhận được email thông báo khẩn của TT Nguyên Đạt gởi đi từ Houston, Texas báo tin “TT Hạnh Tuấn qua đời vì tại nạn xe ở Chicago” và có cho số phone của Thầy Thông Viên để hỏi thăm chi tiết. Tôi liền gọi điện thoại viễn liên cho Thầy Thông Viên, Thầy ấy nghe phone và cho biết đang trên đường về lại Chùa Trúc Lâm từ địa điểm Thầy Hạnh Tuấn bị nạn. ĐĐ Thông Viên xác nhận tin buồn đó là sự thật. Tiếp đó Cư Sĩ Tâm Huy (Việt Báo Cali) gởi bản tin đầu tiên về sự ra đi bất ngờ của Thầy Hạnh Tuấn vì tai nạn nổ đường ống gas chứ không phải là tai nạn xe cộ.

Tin buồn này tiếp đó đã được trang nhà Quảng Đức loan tải và gởi đi khắp thế giới, khiến cho tất cả mọi người đều bàng hoàng sửng sốt về sự ra đi vĩnh viễn của Thầy Hạnh Tuấn, vì Thầy là một bậc Tăng tài của Giáo hội Hoa Kỳ cũng như Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh; Thầy là một vị Sa môn tài đức, khiêm hạ, hòa ái mà xả bỏ nhục thân quá sớm để Giáo Hội mất đi một Thích tử kế thừa mạng mạch, tục diệm truyền đăng, nhất là hàng Phật tử Chùa Trúc Lâm Chicago mất đi một vị Thầy đức độ khả kính.

Không biết có phải vì sự ra đi đột ngột của Thầy Hạnh Tuấn làm cho độc giả tò mò hay không, nhưng có thể nói trang Tưởng niệm Tang lễ của Thầy Hạnh Tuấn trên trang nhà Quảng Đức là một trong những trang có số lượng người xem kỷ lục, tính đến ngày Cung tống kim quan của Thầy Hạnh Tuấn đến nơi trà tỳ đã có hơn 20.000 người vào xem. Kính mời xem trang Tưởng niệm Thầy Hạnh Tuấn ở đây: http://quangduc.com/a57179/ht-thich-hanh-tuan-1956-2015

Lần đầu tiên tôi biết Thầy Hạnh Tuấn là do HT Tuệ Sỹ và HT Đức Thắng giới thiệu qua email cuối năm 2003, quý Ngài bảo tôi liên lạc với Thầy Hạnh Tuấn và Thầy Nhật Huệ để cùng nhau làm việc và giúp xây dựng trang nhà phatviet.com. Thầy Hạnh Tuấn là học Tăng ở Quảng Hương Già Lam niên khóa 1980-1984, và luôn thủy chung với hoài bão phụng sự Đạo Pháp và Dân Tộc.

HT Tuệ Sỹ được tự do vào năm 1998 và liền bắt tay vào công việc giảng dạy, viết lách và dịch thuật, trong đó nhu cầu một website để dung chứa và phổ biến Kinh sách là một điều kiện không thể thiếu. Biết được tâm nguyện này, Thầy Hạnh Tuấn cùng một số pháp hữu (cựu học tăng Quảng Hương Già Lam) bàn thảo và gầy dựng nên nhóm Thân Hữu Già Lam với tâm nguyện hỗ trợ quý Ngài ở nhà trong công cuộc phục hoạt GH và hoằng Pháp lợi sinh. Một trong những việc trước mắt mà Thầy Hạnh Tuấn cùng Thầy Nhật Huệ (Trụ Trì Chùa Duyên Giác, San Jose, nay đã được GH Hoa Kỳ tấn phong Hòa Thượng), cũng là học Tăng ở Quảng Hương Già Lam, đã phát tâm nhận lãnh phần đóng góp chi phí để mua domain name phatviet.com để cúng dường quý Ngài, không lâu sau đó trang nhà phatviet.com đã hình thành để phổ biến Kinh sách cho đến ngày hôm nay. Trước đó, dù ở trong thân phận người tỵ nạn ở Hoa Kỳ nhưng khi có cơ hội hồi hương, Thầy liền trở về thăm Hòa Thượng Y Chỉ Sư của Thầy đang nằm bệnh là Ôn Đôn Hậu ở Chùa Linh Mụ Huế và Ôn Huyền Quang đang bị quản thúc tại Chùa Nghĩa Phước tỉnh Bình Định. Chính những lần thăm viếng này đã hun đúc ở Thầy những hành trang và chí nguyện để phụng sự cho Giáo Hội sau này. Theo lời kể của Đạo Hữu Trần Việt Long, Thầy Hạnh Tuấn là một trong những thành viên trong ban sơ thảo Hiến Chương thành lập GHPGVNTN Hoa Kỳ theo sau lời kêu gọi của Hòa Thượng Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu & Hòa Thượng Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang vào năm 1992. (Tiểu ban sơ thảo Hiến Chương này gồm có: TT Thiện Trì, ĐĐ Hạnh Tuấn, GS Ngô Trọng Anh, Cư Sĩ Nguyên Toàn Trần Việt Long, làm việc tại Chùa Kim Quang, Sacramento; và sau đó một tháng, Tiểu Ban Soạn Thảo Hiến Chương: TT Viên Lý, GS Trần Quang Thuận, Cư Sĩ Quảng Thành Bùi Ngọc Đường, v.v…). Xin thành tâm tán dương công đức và tinh thần hộ trì Chánh Pháp của HT Hạnh Tuấn, như là một trong những người có công lớn trong quá trình làm sống lại nền PGVN Thống Nhất ở Hải Ngoại.

Tôi có duyên theo chân Hòa Thượng Phương Trượng Thích Như Điển đến giảng pháp tại Chùa Trúc Lâm trong 2 lần, lần đầu năm 2008 và lần thứ hai năm 2011. Lần đầu Thầy Hạnh Tuấn ra phi trường đón phái đoàn và Thầy dành sự ưu ái cho bản thân tôi, biết tôi là trang chủ (theo cách gọi của Thầy), nên Ngài đã xếp tôi nằm nghỉ ở một phòng đặc biệt ở góc phải gần cầu thang lên Chánh điện, đặc biệt theo cách diễn tả của Thầy chỉ vì nơi đó có gắn internet modem, một phương tiện thuận lợi để giúp tôi dễ dàng cập nhật tài liệu cho trang nhà quangduc.

Thầy Hạnh Tuấn là người thích tìm tòi và ứng dụng tiện ích của khoa học điện toán vào Phật Pháp như giảng pháp bằng head projector, đặc biệt là Thầy đã sáng kiến làm photo slideshow cho hiển thị tự động trên màn hình vi tính để thờ Chư Tổ Sư và Chư Hương Linh, mà sau chuyến hoằng pháp đó khi về lại Úc tôi đã áp dụng phương cách hiện đại này cho Tu Viện Quảng Đức.

Trong khuôn viên Chùa Trúc Lâm, nhìn đâu cũng thấy phảng phất những nét rất riêng “Phật Việt” của Thầy. Tôi đã chụp nhiều hình để giới thiệu nét riêng này. Nhân đây xin nhắc về bệnh nghề nghiệp của tôi, khi đi đâu cũng mang theo máy để chụp hình rồi giới thiệu vào trang nhà quangduc cho độc giả bốn phương, nhất là độc giả ở quê nhà VN, thích xem cảnh trí và sinh hoạt của chùa VN ở hải ngoại. Do đó thư viện hình ảnh trang nhà quangduc rất phong phú mà về sau này các host server đã từ chối quangduc.com vì họ không thể cung ứng nổi sức dung chứa của kho dữ liệu này.

Khi phái đoàn hoằng pháp đến Trúc Lâm Chicago, đoàn vào Chánh điện lễ Phật, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi đó là ánh hào quang của Phật tại ngôi chùa này. Vòng hào quang ở đây rất riêng do Thầy Hạnh Tuấn thiết kế, không theo kiểu hào quang truyền thống 5 màu (xanh dương đậm, vàng, đỏ, trắng, cam. Cờ PG làm theo màu của hào quang Phật) mà đó là hình ảnh của mặt trống đồng Đông Sơn & Ngọc Lũ của VN. Là người Việt, ai cũng biết, trống đồng tiêu biểu cho nền văn hóa và văn minh của người Việt cổ thời kỳ Hùng Vương dựng nước Văn Lang; trống đồng đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng của nền văn hóa dân tộc Việt. Có thể nói, hình ảnh hào quang Phật tại Chùa Trúc Lâm là độc nhất vô nhị trên thế giới, một sự phá cách ngoạn mục mà không hề sợ bị chỉ trích hay phê bình, khi Thầy mạnh dạn đưa Phật Giáo vào lòng của dân tộc Việt một cách tài tình, thật đúng như lời tôn vinh của thi sĩ Vũ Hoàng Chương rằng “Trang sử Việt cũng là trang sử Phật”. Phật giáo và dòng sử Việt luôn chan hòa với nhau như nước với sữa, như răng với môi, như bóng với hình một cách bất khả phân ly. Chính vì thẩm thấu điều này mà Thầy Hạnh Tuấn đã cố gắng vận dụng hết những gì có thể trong khả năng của Thầy để chuyển hiện những ước mơ Phật Việt kia đi vào trong đời sống và hành hoạt của Thầy.

Sau lưng Phật tượng này, thay vì vẽ cảnh cây Bồ Đề ở Bodhgaya như thường thấy, Thầy Hạnh Tuấn đã cho vẽ hình ảnh của một bầu trời xanh và mây trắng với ước mơ Phật Việt của Thầy bay cao, bay xa vào phương trời hải ngoại.

chua-truc-lam-haoquang
Hào quang Phật ở Chùa Trúc Lâm

Hành trình Phật Việt của Thầy Hạnh Tuấn cũng thể hiện rõ nét ở Tổ Đường Chùa Trúc Lâm qua phong cách thờ phượng của Thầy. Thầy không thờ Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (470-543) theo truyền thống mà lại tôn thờ Sơ Tổ Trúc Lâm (1258-1308, đạo hiệu của Vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia), người khai sáng Thiền phái Trúc Lâm trên núi Yên Tử, mở ra một trào lưu tu học Phật tại VN vào triều đại nhà Trần.

Một nét riêng Phật Việt khác của Thầy Hạnh Tuấn là tôn thờ và phổ biến tôn tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Pho tượng này đang tôn trí tại Chánh Điện Chùa Trúc Lâm từ 2007 là phục chế theo mẫu của pho tượng Quan Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt, một di sản, một bảo vật đang được bảo tồn tại Chùa Bút Tháp, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Đây là một kiệt tác nghệ thuật điêu khắc của nền PGVN mà chúng ta nên theo gương của Thầy Hạnh Tuấn để phổ biến và làm lớn mạnh. Thầy Hạnh Tuấn cho điêu khắc pho tượng lớn để thờ tại Chùa và còn làm thêm một số tượng nhỏ để cúng dường chư Tôn Đức và Phật tử đem về chiêm bái để hãnh diện và tự hào về nền Phật Việt.

chua-truc-lam-so-to-dieu-ngu-giac-hoang
Sơ Tổ Trúc Lâm thờ tại Tổ Đường Chùa Trúc Lâm

Hoài bão Phật Việt của Thầy Hạnh Tuấn không ngừng ở Trúc Lâm, Chicago mà năm 2012, bởi những thôi thúc của từ giới trẻ không những tại Chicago mà cả vùng Trung Tây Hoa Kỳ cho các cuộc trại huấn luyện, tu học của GĐPT. Thầy cùng một số huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Trúc Lâm ra ngoại ô Chicago tìm khu đất khả dĩ có thể thực hiện trại huấn luyện hàng năm. Khu đất được bao bọc bởi hàng rào cây xanh, riêng biệt với hàng xóm, có dốc đồi thoai thoải, phong cảnh trông rất đẹp mắt. Lẽ dĩ nhiên, để tránh nắng mưa, vệ sinh, ngủ nghỉ là nhu cầu cần thiết phải nghĩ tới. Thầy Hạnh Tuấn cùng các huynh trưởng mua khung sườn nhà kho tiền chế từ Home Deport. Sau khi dựng lên khung sườn nhà rồi, Thầy cho làm vách tường, lót trần nhà, tráng nền xi-măng, cài đặt hệ thống điện, nước; tiếp đó trang trí bên trong Thiền đường cũng như phân bố khu vực nhà bếp và nhà vệ sinh, tất cả được ngăn nắp đâu vào đấy và đưa vào sinh hoạt trong một thời gian ngắn sau đó. Ngôi Thiền đường này với sức chứa khoảng 300 người và Thầy đặt tên là Tinh Xá Trúc Lâm như ngôi Tinh Xá thời Phật còn tại thế dưới chân núi Linh Thứu bên Ấn Độ. Khi mua thì các huynh trưởng đứng tên, một tháng sau, khu đất này hợp thức hóa, miễn thuế và là tài sản chung của Chùa Trúc Lâm.

quan-am-thien-thu-thien-nhan
Tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn thờ tại Chùa Trúc Lâm, Chicago

Thầy Hạnh Tuấn tích cực với ước mơ Phật Việt của Thầy, do vì Chùa Trúc Lâm dưới phố Chicago không có bãi đậu xe và diện tích sân chùa không đủ rộng để tổ chức các khóa trại tu học. Hơn nữa, Chùa Trúc Lâm Chicago tọa lạc trong khu dân cư đông đúc nên bất tiện cho các khóa lễ ngoài trời khi cần và tiếng ồn ào của loa phóng thanh gây phiền phức cho người láng giềng.

Lúc Thầy thọ nạn là trong thời điểm Thầy đang bận rộn trồng cây và đổ đất làm những con đường để đi kinh hành và thiền hành trong khuôn viên rộng lớn của Trúc Lâm Tinh Xá. Thầy đã đặt một tượng Quán Thế Âm để sẵn sàng an vị tôn tượng, mặt Ngài nhìn xuống hồ Thanh Lương như dự tính. Nhìn thấy Thầy Hạnh Tuấn làm việc vất vả nhọc nhằn, nhóm Phật tử An Bằng đã tự vận động mua cúng dường Tinh Xá Trúc Lâm chiếc xe ủi Backhoe để Thầy tự lái đào lỗ trồng cây, xúc đất chỗ nầy đưa đến chỗ khác, làm cho khu đất chung quanh Tinh Xá trở nên đẹp đẽ. Hai bên đường vào Tinh Xá, Thầy trồng cây ăn trái và nhiều loại hoa, trong tương lai gần, chúng trưởng thành sẽ đẹp mắt như một danh lam thắng cảnh ở Chicago. Quả thật ước mơ Phật Việt của Thầy đang dần dần trở thành hiện thực ở cơ sở mới này. Tuy bận rộn và khoảng cách giữa Chùa Trúc Lâm và Tinh Xá Trúc Lâm mất hơn hai tiếng lái xe, nhưng Thầy Hạnh Tuấn vẫn ra vô Chicago để giảng dạy và làm Phật Sự cũng như chủ trì các phiên họp hàng tháng.

Theo lời tâm sự của Đạo hữu Tâm Bối, Chủ Bút tờ Chicago Việt Báo cũng là Phó Đại Diện Ngoại Vụ và là một trong những thành viên khai sáng Chùa Trúc Lâm (năm 1996), anh là một người sát cánh với Thầy Hạnh Tuấn trong hơn 10 năm qua tại Chicago trong công cuộc xây dựng Chùa Trúc Lâm, anh nói nếu không có Thầy Hạnh Tuấn thì không có chùa Trúc Lâm ngày nay. Kỳ thật đúng như vậy, với bầu nhiệt huyết mang nền Phật Việt để phổ độ quần sanh, nhất là lúc nào Thầy cũng yêu thương tổ chức GĐPT cũng như muốn tổ chức này thống nhất và đứng vững trong lòng của Giáo Hội để an tâm và phát triển lớn mạnh, với mục tiêu hướng dẫn và đào luyện thanh thiếu VN trở thành người Phật tử chân chính, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội trong đời sống hiện đại.

Tiếc thay mọi dự án cao đẹp về Phật Việt của Thầy đã đột ngột dừng lại ở đây, Đại Đức Thông Viên, vị kế thế trụ trì và hàng Phật tử cảm thấy lạc lõng bơ vơ, mất đi chỗ tựa nương vững chắc cho những người con Phật ở nơi này. Cầu nguyện Chư Phật gia hộ cho Thầy Tân Trụ Trì Trúc Lâm Tự cùng quý Phật tử Chùa Trúc Lâm đầy đủ dũng lực để kế thừa và gánh vác Phật sự của HT Hạnh Tuấn để lại.

Chúng con thành tâm đảnh lễ Giác linh Hòa Thượng và ngưỡng mong Hòa Thượng sớm tái sinh trở lại cõi giới này để tiếp tục công trình kiến thiết nền Phật Việt mà Ngài chưa hoàn tất.

Nam Mô A Di Đà Phật
Viết tại Tu Viện Quảng Đức 17-11-2015
TK. Thích Nguyên Tạng

Bài Học về Sự Sống và Cái Chết

Viết để tưởng nhớ Mẹ và Thầy Hạnh Tuấn Có lần chúng tôi ngắm hoa Quỳnh nở, trước vẻ đẹp thanh tao, hương thơm quyến rũ nhưng phảng phất lẽ vô thường trong cõi phù sinh kiếp người. Chúng tôi thầm hỏi, phải chăng sự sống bắt đầu từ lúc hoa Quỳnh nở và kết thúc khi hoa tàn? Điều đó tất nhiên, nhưng ý nghĩa quan trọng là: Mình đã làm được gì trong khoảng thời gian đó bùng nở đó?

Những năm trước, nhân đọc một bài pháp thoại, một vị Thiền sư hỏi những người đệ tử của mình, cuộc sống dài bao lâu? Có người bảo 100 năm, 75 năm, 50 năm, 25 năm, v.v… Nhưng câu trả lời của vị Thiền sư đó là: “Cuộc sống chỉ dài như một hơi thở”, vì nếu một hơi thở vào, mà không ra hoặc ngược lại, tức khắc chúng ta từ giã cuộc đời này. Tự nhiên, khi ngắm hoa Quỳnh nở rồi tàn trong một đêm trăng tròn Mười Sáu, chợt nhớ bài pháp thoại năm nao, tâm cảnh hữu tình mà sáng tác một bài thơ:
Nếu cuộc sống dài như hơi thở,
Ta làm gì giữa hơi thở trong ta.

Thật vậy, cuộc sống chỉ dài như hơi thở mà thôi. Mong manh và vô thường. Giữa sống và chết là một khoảng thời gian quý giá. Mình làm gì trong khoảng thời gian đó mới là điều quan trọng. Vì thế, niềm tin và thái độ về sự chết của chúng ta có một ảnh hưởng rất lớn đến cách sống của chính mình.

Có thể nói không có nỗi đau buồn nào lớn hơn khi phải chia tay vĩnh viễn với người thân. Mặc dù chúng ta biết rất chắc chắn có sinh có tử, và thời gian của chúng ta với cuộc đời này có hạn và không ai có thể thoát khỏi sự vô thường của cuộc sống. Nhưng chúng ta cũng phải trải qua những cú sốc về cái chết của người thân của mình, nhất là Ba Mẹ. Nói như vậy để chúng ta có thể sống và hành hoạt để chuẩn bị cho một hành trình ra đi vĩnh cữu của chính mình.

Những câu hỏi như con người từ đâu đến và chết sẽ đi về đâu? Khi chết chúng ta để lại những gì? Thực ra trong quá trình tìm kiếm những giải đáp cho những câu hỏi này, Phật giáo ra đời. Đạo Phật dạy chúng ta không nên thờ ơ với cái chết, chúng ta nên đối diện với chính nó khi những cánh cửa sanh lão bệnh tử từ từ mở ra. Phải chăng văn hóa đương đại là cố gắng tránh né hoặc từ chối nhìn thẳng vào cái chết của con người. Tuy nhiên, khi chúng ta có được nhận thức đúng đắn về sự ra đi vĩnh cữu, chúng ta buộc phải xem xét cuộc sống của chúng ta và tìm cách sống cho nó có ý nghĩa và lợi lạc hơn. Sự trở về với cát bụi làm cho chúng ta trân quý cuộc sống này; nó có thể đánh thức chúng ta sống tử tế hơn trong từng giây từng phút.

Theo quan điểm Phật giáo, sự sống và cái chết là hai giai đoạn của một sự liên tục. Cuộc sống không phải bắt đầu từ lúc chúng ta sinh ra hoặc kết thúc vào khi nhắm mắt. Tất cả mọi thứ trong hoàn vũ – từ sinh vật nhỏ bé vô hình trong không khí (vô sắc giới) mà chúng ta đang hít thở cho đến vòng xoáy của những dải ngân hà – đều đi qua các giai đoạn thành trụ hoại không. Cuộc sống cá nhân của chúng ta có chăng là một phần tử của nhịp điệu hoà hợp trong vũ trụ bao la này. Cuộc sống và mọi thứ trong vũ trụ lệ thuộc nhau, tương quan tương ái. Tất cả như một dòng chảy nó không có khởi đầu và không có kết thúc.

Thuở ban đầu, giáo lý Phật giáo cho rằng quá trình sinh-tử là một thực trạng không thể tránh khỏi và chúng ta có thể thoát khỏi thực trạng khổ đau này. Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni nhận thức rằng sự ham muốn cho cuộc sống này được tái diễn đã buộc chúng ta luôn ở trong vòng sanh tử luân hồi. Nhưng nếu chúng ta loại bỏ được sự ham muốn (ly ái – diệt tham luyến ái), chúng ta có thể cắt đứt các nguồn năng lượng của nghiệp lực đã đưa ta vào vòng xoáy của sinh-tử. Hay nói một cách khác, chúng ta thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi, đạt đến cảnh giới Niết bàn là mục đích tối hậu của giáo lý Phật Đà. Ngày nay, có những truyền thống Phật giáo cũng cho rằng cuộc sống là một chu kỳ của khổ đau và từ đó chúng ta có thể giải thoát.

Tuy nhiên, trong kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra) đã chiếu sáng một tư duy hoàn toàn mới mẻ mang tính cách mạng cho con người, đó là khẳng định mục đích sâu sắc trong cuộc sống của chúng ta trên thế giới này. Đức Phật Thích Ca nhấn mạnh rằng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, và bản chất thiết yếu trong cuộc đời này, chúng ta có thể sống và trang trải tất cả những phẩm chất và hạnh nguyện của một vị Phật đang hiện hữu. Khi chúng ta tỉnh ngộ với sự thật là Phật tánh vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, con người sẽ khám phá ý nghĩa cơ bản quan trong về mục đích, và cuộc sống mang một chất lượng hoàn toàn khác nhau, lạc quan, an vui và vô giá.

Vậy, Phật tánh là gì và làm thế nào chúng ta làm sống lại? Về bản chất, Phật tánh là khả năng trở thành Phật, là sự thúc đẩy vốn có trong cuộc sống để giảm bớt đau khổ và mang lại hạnh phúc cho người khác. Nó được cô đọng trong kinh Pháp Hoa bằng tuyên bố: “Một là tất cả, tất cả là một”.

Từ quan điểm giác ngộ của Đức từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, chúng ta có đầy đủ nhân duyên, sinh vào thế giới này. Chúng ta phải quyết tâm đánh thức Phật tính của mình và của người khác (Tự độ, độ tha). Chúng ta hãytự giác, giác tha, rồi mới đến giác hạnh viên mãn. Khi chúng ta tỉnh táo với mục đích này, các nguyên nhân và tác động trong cuộc sống của mình trở thành những đức tính của Phật. Tất cả những hoàn cảnh, kinh nghiệm trong cuộc sống, từ những khổ đau tột cùng đến hạnh phúc viên dung đều là phương tiện để chúng ta chứng minh sức mạnh của Phật tánh và tìm về với bến giác. Vì tánh bình đẳng của Phật tánh, nên chúng ta sẽ sống tử tế hơn, tôn trọng nhau hơn và tìm cách làm dịu những cơn đau và làm tăng thêm hạnh phúc cho mình, cho người và cho mọi loài.

Nói tóm lại, việc sanh tử là trọng đại, chúng ta sống để chuẩn bị cho cái chết. Ai có sự chứng nghiệm thì mới hiểu. Tháng trước Mẹ của mình vẫn còn tỉnh táo và minh mẫn. Thế rồi bị bệnh cảm, chuyển sang viêm phổi, tuổi già sức yếu, Mẹ đã thanh thản ra đi chỉ vỏn vẹn trong một tuần. Chiều nay, nghe tin Thầy Hạnh Tuấn thâu thần thị tịch, lòng băn khoăn, day dứt. Nỗi buồn này chồng chất nỗi buồn khác. Qua những chứng kiến hoặc trải nghiệm về sinh lão bệnh tử, chúng ta trở nên ý thức hơn về phẩm chất và giá trị của cuộc sống, chúng ta có lẽ sẽ dễ dàng thông cảm với những đau khổ của kẻ khác và làm cuộc sống này ngày càng có ý nghĩa.

Sống và chết. Đến và đi. Có chăng chỉ là lý thuyết và niềm tin. Điều quan trọng là chúng ta có lối sống, nhận thức và biết trân quý giá trị của cuộc đời này. Xin hãy nhớ và quán chiếu, Ta đang làm gì trong khoảng thời gian chúng ta hiện hữu trong cõi đời này. Xin hãy làm lợi mình, lợi người, trong hiện tại và luôn cả tương lai. Xin hãy bắt đầu bạn nhé.

Cuối cùng xin chia sẻ hai bài thơ mới viết, một để tưởng niệm Mẹ, bài kia để tưởng niệm Giác linh Thầy Hạnh Tuấn để kết thúc bài viết Bài Học về Sự Sống và Cái Chết

MẸ – TÌNH THƯƠNG BAN ĐẦU

Ngày Mẹ mất, tiếng Nam mô vang vọng
Mẹ đến đi tự tại thong dong.
Mẹ hiện thân của cõi vô song.
Con nối tiếp, nguyện sống đời tao nhã.

THẦY – CÂY TRÚC VÀNG

Tưởng niệm Thầy Hạnh Tuấn

Ngày Thầy mất, vía Quán Âm Bồ Tát
Hiện thân Thầy cũng Bồ Tát Quán Âm
Thầy lắng nghe đời vô thường đau khổ
Đem Từ bi, Trí tuệ gieo bốn phương
Thầy – sống vị tha hoá độ khôn lường
Nay xả bỏ báo thân về Cõi Tịnh
Thầy – Hoàng trúc nhẹ lay
in hình mặt đất
vô sanh.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Tâm Thường Định
Sacramento, tuần thứ 5 cúng Mẹ.

ĐƯỜNG ĐI VÔ HẠN, NHỚ LỜI XƯA…

“I feel blessed since not too many people can do what we are doing. Working in this field required a lot of energy and sacrifice. We are in this position as a spiritual leader and carrying out the message of the Buddha to help ourselves and others. To be happy, one must be at ease and mindful about our existence.” Thích Hạnh Tuấn

Tiếng chuông reo vừa dứt, dạy lớp học Honors Chemistry cuối cùng trong ngày vừa xong, thở một hơi và ngồi xuống mở điện thư, thấy anh Quảng Tịnh Nguyễn Chí Thanh gởi email Tin Buồn, đọc mà không tin vào mắt mình, rồi đọc lại lần nữa: “Chúng con/chúng chúng tôi kính báo tin: Thượng Tọa Thích Hạnh Tuấn… Đã viên tịch trưa hôm nay, thứ Sáu ngày 30/10/2015…

Vẫn không tin vào mắt mình!

Cùng lúc quý anh Thị Nghĩa, Quảng Pháp và Nguyên Túc cũng nhắn tin qua Facebook. Chúng tôi gọi chị trưởng Tâm Phùng để kiểm chứng.

Thật rồi! Thầy đi thật rồi!
Bàng hoàng và xót xa!

Không biết làm sao hơn, lúc này, chỉ ngồi xuống—hít thở sâu và chậm. Tự nhiên nhớ hai câu cuối trong bài thơ Dạ Toạ của Ôn Tuệ Sỹ, mà thầy thay mặt ký tặng vào năm 2002, tại Tu Viện Kim Sơn:

“Không môn thiên viễn do hòai mộng
Quy lộ vô kỳ nhiệm chuyển bồng”

(Hình bóng chùa xưa còn nhớ mãi
Đường về vô hạn, rối lòng thêm)

Thầy ơi! mới ngày nào đây mà, còn hẹn anh chị Nguyên Phú và Nguyên Nhơn sẽ về thăm Thầy và GĐPT Trúc Lâm. Nhớ ngày nào gặp Thầy tại Chùa Việt Nam, Houston, TX trong kỳ trại Huấn Luyện A-Dục Lộc Uyển, 1998 nghe Thầy giảng pháp thật hay. Nhưng giây phút gây ấn tượng và sâu đậm nhất mà chúng tôi nhớ mãi là Thầy lên sân khấu, hát bài “Tôi Yêu Màu Lam” của nhạc sĩ Trần Nhật Thanh. Đó cũng là lần đầu tiên, chúng tôi biết bài hát ấy. Dạt dào cảm xúc!

Chúng tôi yêu màu Lam là màu thêm sức sống
Chúng tôi yêu màu Lam màu kết bao tình thương
Lòng mến yêu vô vàn về đây ta cùng hát
Hát lên cho đời hết bao đau buồn

ĐK:

Bạn hỡi về đây ta sống vui bên nhau
Xây mộng ước mai sau cho tương lai thêm đầm ấm
Bạn hỡi về đây tay nắm tay vang ca
Với lời ước cho nhau một nguồn sống bao chan hòa
Chúng tôi yêu đàn em bằng tình thương cao quý

Hôm nay về đây nhìn các em hồn nhiên
Đời sống vui an lành. Và chúng tôi yêu màu Lam
Với bao nhiêu thành kính trong tâm hồn.

Hát xong, Thầy còn nói là Thầy được “độc quyền hát” bài này. Bài hát mà Thầy yêu quý nhất và Thầy luôn hát mỗi khi đi trại với Gia Đình Phật Tử, nhưng lý do nào Thầy chọn khoác áo Đà thay áo Lam? Thầy quan niệm rằng màu Nâu sồng là sự hòa quyện tuyệt vời giữa màu Lam và huyết tạng, biểu tượng của lòng nhiệt huyết và tình thương của tuổi trẻ mang chí nguyện đem Đạo vào đời. Đó cũng là bài học kỷ niệm đánh dấu cuộc đời Huynh trưởng của chúng tôi trong tổ chức GĐPT Việt Nam.

Sự dấn thân huynh trưởng của chúng chúng tôi từ đó được dìu dắt, thương yêu và nâng đỡ của nhiều vị Chư Tôn Túc tại Hòa Kỳ, trong đó có Thầy. Lần đầu tiên gặp mặt và tâm sự với Thầy thật lâu là dịp Thanksgiving tại Tu Viện Kim Sơn, 2002, sau khi chia sẻ những ưu tư và hoài vọng cho tổ chức GĐPT, Thầy lấy tập thơ của Ôn Tuệ Sỹ, Ngục Trung Mị Ngữ do Quảng Hương Tùng Thư xuất bản năm 1988, ký tặng, vì biết chúng tôi là người yêu thơ văn. Nhưng hơn thế nữa Thầy tâm sự, Ôn Tuệ Sỹ là một thiên tài, có chí lớn cho Phật giáo, Quốc gia và Dân tộc, nên chúng ta phải học hỏi và noi theo. Vì thế, bản thân Thầy cũng đang theo đuổi chương trình Tiến Sĩ Phật Học (Buddhist Studies) tại University of California at Berkeley, sau khi học xong văn bằng Thạc Sỹ Tôn Giáo Tỷ Giảo (Master of Theology Studies) tại Harvard University. Thật tự hào vì Thầy là người Tu sỹ mà mình có duyên gần gũi tiếp xúc. Chúng chúng tôi rất kính trọng Thầy, ủng hộ và noi theo hạnh nguyện cao cả của Thầy. Rồi năm 2006, Thầy được thỉnh về trụ Trì Chùa Trúc Lâm, thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, USA để hành đạo.

Từ ngày Thầy đảm nhiệm trọng trách Trụ Trì Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Chùa Trúc Lâm, Phật giáo Việt Nam tại tiểu bang Illinois nói riêng và trung Mỹ nói chung ngày càng phát triển, trong đó có tổ chức Gia đình Phật tử, nhất là GĐPT Trúc Lâm mà Thầy luôn tự hào và chia sẻ những thành công với chúng chúng tôi.

Từ đó về sau, mỗi khi Thầy về thăm Tu Viện Kim Sơn, Chùa Phổ Từ, Chùa Kim Quang hay đơn vị GĐPT Kim Quang là dịp chúng tôi được duyên lành hội ngộ. Ngoài ra, trong mỗi lần học Phật pháp cho các trại huấn luyện, chúng tôi đều có cơ duyên gặp Thầy, lần cuối cùng gặp và tâm sự cùng Thầy bằng xương bằng thịt là ngày phỏng vấn Thầy và Thầy Từ Lực cho luận án tại Tu Viện Kim Sơn vào năm 2013. Chúng tôi học hỏi từ Thầy rất nhiều, lần chót là Kinh Thắng Man trong bậc Lực trong trại Vạn Hạnh. Sau đại hội ‘hợp nhất’ toàn quốc 2004 tại chùa Diệu Pháp, Monterey Park, California, tổ chức GĐPTVN Hoa Kỳ xác nhận lập trường trực) thuộc vào ‘thế’ truyền thống trong hệ thống GHPGVNTN, mà sau này vào năm 2008, Thầy đảm nhận chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên của Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK. Hòai vọng của Thầy cũng như Chư Tôn Túc là sự ngồi lại, hòa giải, và hợp nhất lại tổ chức GĐPT Việt Nam tại Hoa Kỳ vì đang bị chia rẽ. Làm được như vậy, tổ chức GĐPT Việt Nam tại Hoa Kỳ mới lớn mạnh hầu giúp cho Giáo Hội, giúp Phật Giáo Việt Nam tiếp tục sứ mệnh của mình một cách vững chãi là đem đạo Phật giúp cho đời bớt khổ, nhất là giúp giới trẻ, gia đình họ và xã hội nói chung. Uớc mơ, hy vọng và hòai bão đó cũng là nỗi niềm chung của rất nhiều Chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni mà duyên lành vẫn chưa đủ, mà Thầy tình nguyện dấn thân chỉ vì tình yêu thương màu Lam bất diệt trong Thầy. Có lẽ bài học vô thường trong sự ra đi đột ngột của Thầy sẽ làm quý anh chị lớn có quyền hạn, bổn phận và trách nhiệm trong tổ chức GĐPT ngồi lại và tìm lối đi chung của Tổ Chức, cho Phật giáo Việt Nam ngày càng lợi lạc.

Trở lại việc Thầy trò, chúng tôi với tư cách và trách nhiệm của hàng huynh trưởng cấp Tín, chúng con/chúng tôi đã và đang làm những gì có thể cho tổ chức và cho Phật giáo Việt Nam như lời Thầy dạy. Khi chúng tôi, có cơ duyên phỏng vấn Thầy cho luận án của mình, những chi tiết về cách hành hoạt, tu học, lãnh đạo, dấn thân của Thầy có thể là kim chỉ nam cho nhiều người. Thầy là một học giả uyên thâm, Thầy là một trong số ít Tăng Ni Phật giáo Việt Nam viết Phật pháp bằng tiếng Anh và giảng dạy tiếng Anh một cách lưu loát.

Công hạnh và hạnh nguyện của Thầy thì làm sao nói hết, Thầy đi chúng con xót thương, như biết Thầy đã dạy: “Sự vô thường, tuổi già và bệnh tật không bao giờ hứa hẹn với chúng ta. Chúng có thể đến bất cứ lúc nào mà không một lời báo trước. Bởi vì cuộc sống là vô thường, nên chúng ta không biết chắc rằng chúng ta có còn sống ở sát-na kế tiếp hay không. Nếu một tai nạn xảy đến, chúng ta sẽ biến mất khỏi thế giới này ngay tức khắc. Mạng sống của chúng ta ví như hạt sương đọng lại trên đầu ngọn cỏ trong buổi sáng mùa xuân. Nó sẽ bị tan biến ngay khi ánh mặt trời ló dạng. Những ý niệm của chúng ta thay đổi rất nhanh trong từng sát-na. Thời gian rất ngắn ngủi. Nó chỉ kéo dài trong một sát-na (kṣaṇa), giống như hơi thở. Nếu chúng ta thở vào mà không thở ra, chúng ta sẽ chết”. Hôm nay ngồi đây, nhớ Thầy nhớ giọng nói tiếng cười và bài hát tuyệt vời, xuất phát từ trái tim yêu màu áo Lam của Thầy. Với chúng con Thầy là đấng Trượng phu, là bậc trưởng tử Như lai mà chúng con thương kính. Đây là bài thơ kính bái biệt Thầy.

Đọc thêm bài: TT Thích Hạnh Tuấn Cố Vấn Giáo Hạnh BHD GĐPT Miền Khánh Hòa, Hoa Kỳ

Lửa Rực Tầng Mây

Thành kính tưởng niệm Giác Linh cố Hòa Thượng Thích Hạnh Tuấn
Với lòng ngưỡng mộ và biết ơn sâu sa.
Thích nữ Huệ Trân khải bạch.

Một chiều thứ sáu của cuối tháng mười, trên đường từ chùa về thất, lòng bỗng như tờ giấy trắng, trắng mênh mông, trắng im lìm, trắng lạnh lẽo. Rõ ràng vẫn đang trôi theo giòng xe cộ giữa xôn xao đời thường, mà như kẻ đứng bên lề, bơ vơ, lạc lõng …

Về đến thất, vừa chắp tay lạy Đức Bổn Sư, tôi cảm nhận ngay qua ánh mắt từ ái của Ngài, lời an ủi, vỗ về. Luôn luôn như thế, không phải chờ đợi lâu, cũng chẳng tìm nơi xa, mà về đến thất là những buồn lo, phiền não đều tự động dừng lại bên ngoài, vì nơi nội thất, vòng tay Chư Phật luôn mở rộng bao dung.

Rót ly nước lạnh, hớp một ngụm nhỏ, và tôi biết rất rõ, tôi sẽ làm gì.

Làm, mà thực chẳng làm. Đó là ngồi xuống bồ đoàn, khoanh chân kiết già, hai bàn tay mở ngửa, đặt lên nhau, khép hờ mắt.

Ngồi như thế bao lâu, tôi thực tình không biết, chỉ tỉnh hồn khi tâm bỗng khởi lên lời Thiền Sư Đạo Nguyên nhắc nhở: “Tọa thiền không phải đơn thuần chỉ là ngồi yên, là điều phục thân tâm tĩnh lặng, mà còn là ngồi với tâm cao thượng, trang nghiêm, cùng với lòng biết ơn Chư Phật, Chư Tổ, Chư Thánh Chúng mười phương, cùng với tất cả những ai đã, và đang góp sức làm cho Pháp Phật hiện thân …”

Câu này tôi đọc được ở đâu đó, trong vô vàn thiện ngôn đã được các thiện trí thức ghi lại lời các bậc minh sư, mà đầu óc già nua của tôi không nhớ hết tên tác giả. Tôi xin sám hối.

Nhưng giờ phút này, trong tịnh thất tĩnh lặng, lời Ngài Đạo Nguyên đang chậm rãi thảo từng nét trên tờ giấy trắng, để tờ giấy không còn trắng mênh mông, trắng im lìm, trắng lạnh lẽo nữa.

lua-ruc-tang-may-01Tọa thiền với lòng biết ơn như thế, tôi đang được thiền lực đưa về những cơ duyên của thời điểm tháng 11 năm 2007.

Tôi ngồi gõ những dòng này, là buổi sáng ngày 4 tháng 11 năm 2015. Cách đây đúng 8 năm, tôi có mặt tại tư gia của cư sỹ Liên Hoa-Diệu Tịnh, ở tiểu bang Texas, để chuẩn bị buổi ra mắt cuốn Huyền Thoại Duy Ma Cật của Thầy Tuệ Sỹ tại thành phố Houston, vào chiều ngày 4 tháng 11 năm 2007.

lua-ruc-tang-may-02Tôi được chủ nhân Liên Hoa-Diệu Tịnh ưu ái dành một phòng trên lầu, và trong buổi điểm tâm thân mật tại đây, tôi được duyên lành hội kiến Thầy Hạnh Tuấn, Thầy Tâm Hòa và nhà văn Vĩnh Hảo.

Viết tới đây, tôi cũng xin thắp một nén tâm hương, hướng về cư sỹ Liên Hoa, người con Phật luôn thể hiện trọn vẹn tấm lòng kính Phật trọng Tăng. Mấy năm trước, sau cơn bạo bệnh kéo dài, Liên Hoa cũng đã về với Phật, để lại bao thương tiếc cho thân quyến, bạn bè và rất nhiều bài viết còn lưu lại trên các trang nhà Phật Giáo.

Thầy Tâm Hòa thì tôi đã hân hạnh biết từ trước vì được Thầy chiếu cố dăm bài viết sơ sài mà khi nhận được là Thầy post ngay lên trang nhà chùa Pháp Vân. Nhà văn Vĩnh Hảo tôi cũng được biết, qua sự trao đổi bài vở. Riêng Thầy Hạnh Tuấn thì đây là lần đầu tôi được diện kiến.

Thầy điềm đạm, ít nói, nhưng hễ nói thì đó là lời chia sẻ giúp người, giúp đời. Như khi biết tôi đang nương tựa chùa Phật Tổ, Thầy bảo: “Tôi nghe chùa Phật Tổ đông Phật tử lắm, chắc cũng nhiều gia đình mang vong về ký tự. Tôi vừa dùng kỹ thuật điện toán, set up hình hương linh để không tốn nhiều chỗ, mà khi cúng giỗ thì cũng rất tiện. Sư cô thưa quý thầy xem, nếu có muốn thay đổi hình thức thì tôi giúp”.

lua-ruc-tang-may-03Rồi sau những bận rộn của buổi ra mắt cuốn Huyền Thoại Duy Ma Cật, biết tôi có lòng quý trọng đặc biệt đối với ni sư Thanh Lương, trụ trì Ni Viện Viên Thông Tự, Thầy đã từ bi mở lời:
“Tôi sắp đi thăm Viên Thông Tự, sư cô có muốn cùng đi không?”

Thầy như thế, như luôn thấy trước những mong cầu của người mà sẵn sàng ban cho.

Đến Viên Thông Tự, thấy tôi tần ngần trước cổng vào, tay xoa nhẹ trên hai thân cột mà tôi ngỡ là thân tre, Thầy mỉm cười bảo: “ Ống nhôm thường dùng làm ống máng đó. Với tài nghệ của sư cô Viên Thuận thì một chút mầu sắc và tiểu sảo kỹ thuật cũng thành cổng tre. Đẹp quá hỉ?”

Cuối tháng Ba, năm 2007, về Houston dự Lễ Hội Quan Âm, tôi đã bị hớp hồn khi thấy và nghe, qua hành trình nhập Như-Lai-Thất của sư cô Viên Thuận. Sư cô là điêu khắc gia Mai Chi, người nhận trách nhiệm tạc tôn tượng Đức Quan Thế

Âm, để an vị trên hồ Hương Thủy trong khuôn viên chùa Việt Nam mà nay được chính thức công nhận là kỳ quan của thành phố Houston. Cô chia sẻ là, càng gần ngày hoàn tất tôn tượng bao nhiêu thì lòng cô càng nao nức bấy nhiêu. Và ngay khi những đường nét cuối cùng trên tôn tượng vừa dứt điểm cũng chính là phút giây cô biết rõ sự nao nức bấy lâu là gì. Cô buông hết danh vọng, tiền tài, lập tức xin ni sư Thanh Lương chứng minh cho cô được xuống tóc xuất gia, trở thành sư cô Viên Thuận.

Hôm đó, cùng với hai cư sỹ Liên Hoa-Diệu Tịnh, chúng tôi được Thầy Hạnh Tuấn cho tháp tùng đến thăm Ni Viện biểu hiện đầy trang nghiêm, trí tuệ và mỹ thuật này.

Theo bước chân Thầy qua từng phòng, với sự hướng dẫn của ni sư Thanh Lương, tôi cảm nhận biết bao là phước đức đang có.

lua-ruc-tang-may-04Khi được ni sư mời vào trà thất dùng trà, tôi đã thất lễ, vì Thầy đã vào mà tôi còn ngẩn ngơ bên vách tường vì 2 câu thư pháp:
“Người về bỏ dở chung trà nguội
Mới biết tri âm chẳng dễ là”

Trà thất Viên Thông Tự quả là một tuyệt tác phẩm. Rất mực đơn sơ mà một bông hoa, một cán bút, được để đúng chỗ đã thầm lặng trở thành thập phần mỹ thuật!

Khi từ trà thất đi ra, ngang qua vách tường có câu thư pháp làm tôi ngẩn ngơ, tôi đã giật mình khi Thầy mỉm cười nói nhỏ: “Tương đắc 2 câu này lắm ư? “

Không ngờ Thầy để ý như vậy!

Vốn hay lang thang vào các trang nhà Phật Giáo, tôi tình cờ đọc được một vài tác phẩm của Thầy. Dù chỉ mới được đọc một phần rất nhỏ, trong thư viện đồ sộ mà Thầy đã trải tâm huyết và trí tuệ để truyền bá Giáo Pháp, tôi cũng phải nhận ra ngay, đây là một bậc Thầy hiếm hoi, kiên trì học hỏi để hoằng pháp bằng con đường trí tuệ đa văn hóa, đa ngôn ngữ.

Được xuất gia từ thuở nhỏ, Thầy đã âm thầm thành tựu biết bao chương trình Phật học trong nước. Ra hải ngoại, Thầy lại tiếp tục ngay từ College lên tới Đại Học, tại các địa danh nổi tiếng, từ San Francisco, tới Harvard University, Berkeley University với những ngành học cam go như chương trình Cao Học Tôn Giáo Tỷ Giáo, chương trình Tiến Sỹ Phật Học, ngành Tâm Lý Học, ngôn ngữ văn minh Trung Hoa …v…v…

Với sở học uyên thâm về căn bản giáo pháp, Thầy đã xử dụng khả năng nói và viết thông thạo Anh ngữ để truyền bá Giáo Pháp Như Lai với Tây Phương qua biết bao bài viết và đầu sách bằng Anh ngữ mà chỉ nhìn tựa đề mỗi luận án, mỗi tác phẩm, người đủ duyên được thấy, được đọc, không thể không sửng sốt trước một trưởng tử Như Lai uyên bác nhường ấy mà lại vô cùng khiêm hạ.

Quả thật, Thầy đã hiện thân như lời Phật dạy trong kinh Kokaliya: “Cái gì trống thì cái ấy kêu to. Cái gì đầy thì cái ấy im lặng”.
Bồ Tát vào đời như thế. Không cần ai biết tới. Chỉ cần làm những việc đáng làm.

Kính bạch Thầy,

Chiều nay, ngồi viết những dòng chân thành này, con không thể không thổn thức vì hình ảnh khi ra đi của Thầy. Chẳng ai được chứng kiến vì Thầy đã chọn phút ra đi chỉ có một mình. Nhưng lạ thay, không ai chứng kiến nhưng dường như ai cũng có thể thấy rất rõ, vì hình ảnh đó cực kỳ tượng hình, cực kỳ tượng thanh, cực kỳ mạnh mẽ, mà cũng cực kỳ thanh thoát nhẹ nhàng …..

Một tiếng nổ lớn, vỡ tung không gian, thức tỉnh mọi người. Một vùng lửa lớn phá tan bóng tối, soi tỏ đường đi.

Một vầng mây trên cao lãng đãng đón ngọn Lửa Tam Muội nhập vào. Và một sự im lặng sấm sét.

Rồi Thầy biến mất khỏi cõi ta-bà. Thầy biến mất mà không mất. Thầy đã đi mà không đi.

Vì những gì Thầy dâng hiến để thăng hoa Đạo Pháp là những gì đã hòa nhập vào không gian này, không khí này, đại địa này, làm sao mà từng bông hoa, từng ngọn cỏ không cất tiếng giao giảng lời Phật dạy!

Kính bạch Giác Linh Thầy,

Đêm nay, con xin được “Tọa thiền với lòng biết ơn Chư Phật, Chư Tổ, Chư Thánh Chúng mười phương, cùng tất cả những ai đã, và đang góp sức làm cho Phật Pháp hiện thân”.

Thầy đã Nhập-Như-Lai-Thất, Trước-Như-Lai-Y, nguyện xin Giác Linh

Thầy cao đăng Phật Quốc, Tọa-Như-Lai-Tòa, trọn phần mãn nguyện.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Thích nữ Huệ Trân cẩn bái.
(Tào Khê tịnh thất, tưởng niệm về chiều thứ sáu 30-10-2015)

Và Nơi Đây Vẫn Mãi Còn Thầy

Sáng sớm trời mưa nhẹ nơi Seattle, con thành kính tiễn đưa nhục thân Thầy bằng thời kinh “Kim Cang”. Cố gắng lắm mà vẫn không sao làm chủ được cảm xúc, con nghe giọng nghẹn lại, và nước mắt đã rơi xuống tự khi nào… Nhưng rồi lời kinh, “Gươm báu cắt đứt phiền não” đã đưa con về với thực tại nhiệm mầu. Với năng lượng bình an của tâm hồn, hòa cùng âm thanh tụng kinh của đại chúng, con chấp tay đảnh lễ, tiễn đưa nhục thân Thầy lần cuối với niềm thương kính vô biên.

Vài hôm nữa con sẽ trở về “bổn xứ”, tiếp tục bổn phận “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”, và chắc chắn sự ra đi của Thầy là một nhắc nhở, tác động không nhỏ đối với con trong những ngày tu tập và làm Phật sự tới đây.

Kính Bạch Giác Linh Thầy,

Trên con đường phụng sự Tam Bảo, nỗi niềm trăn trở, thao thức nhất của con là làm sao để tuổi trẻ đến với chùa, với đạo Pháp, nhất là tuổi trẻ ở phương Tây, nơi mà nền văn minh, vật chất thịnh hành, và đời sống cá nhân được đề cao. Con rất vui sau một lần thưa chuyện với Thầy qua điện thoai. Hôm ấy, Thầy đã động viên, góp ý giúp con tìm phương cách giải quyết vấn đề học phí để hoàn tất chương trình mà con đang theo đuổi, và không quên kèm theo lời nhắn nhủ ” ngôn ngữ là hàng rào ngăn cản lớn nhất trong công việc hoằng Pháp, nhất là tuổi trẻ Việt Nam sanh ra từ đất nước này…, các em là mầm non của đạo Pháp… nên quí Thầy Cô phải cố gắng…” Không biết tự bao giờ, tinh thương màu Lam đã có mặt rất sâu đậm trong trái tim con, vì vậy, chỉ vài lời nhắn gửi của Thầy, con hiểu rất rõ tâm tư tình cảm, cũng như ước mơ, hoài bảo của Thầy dành cho tuổi trẻ, cho tổ chức Áo Lam ở hải ngoại.

Thời gian trôi nhanh. Con đầy đủ thiện duyên thực hiện lời khuyên tấn của Thầy năm nào. Cứ tưởng, sẽ có duyên du lịch về miền đất lạnh, ghé Trúc Lâm, thăm Thầy và lắng nghe những lời pháp nhũ của Thầy để làm hành trang cho những Phật sự sắp tới. Ngờ đâu ngọn lửa vô thường đã làm thay đổi tất cả… Nhục thân Thầy trở về với cát bụi, nhưng Pháp thân Thầy thì tự tại, đến đi không ngăn ngại. Tùy tâm ứng hiện, Thầy có mặt khắp mọi nơi.

Sáng nay, bên tách trà nóng, trong không gian tịch mịch của ngôi Thiền Thất, với niềm kính thương và tưởng nhớ về Thầy vô hạn, bất chợt con thấy Thầy đang ở quanh đây, và nơi đây vẫn mãi còn Thầy, lắng nghe và thấu hiểu được những tâm nguyện của con. Con nghe như được an ủi phần nào, và tự nhắc nhở mình hãy theo dấu chân Thầy. Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy từ bi gia hộ cho chúng con, đàn hậu sanh, có đủ khả năng để tiếp tục thực hiện ước mơ, hoài bảo đang còn dang dở của Thầy.

Seattle 11/9/2015
Cúi Lạy Giác Linh Thầy.
Con: Nguyên Ân

Con,

Thầy đi vội quá như sao lạc

Thầy đi vội quá như sao lạc
Giữa lúc rừng thu ngập lá vàng

Chắc ở trên cõi Lạc Bang mà Thầy đọc được hai câu thơ này thì Thầy sẽ cười vì nghĩ rằng mình quen biết nhau trên ba mươi lăm năm chưa hề thấy tôi làm thơ vậy mà bây giờ Thầy đi rồi lại bày đặt thơ với thẩn!

Nhưng thú thật, sáng nay nghĩ tới Thầy thì bổng dưng mấy câu thơ đó từ đâu không biết lại hiện ra trong đầu. Dường như cảm xúc bàng hoàng, đau buồn mấy bữa nay, từ khi nghe tin Thầy ra đi, nó cứ lảng vảng mãi trong tôi như một thứ công án nung cháy tâm hồn đến mức nó phải bốc hơi ra thành lời như vậy đó. Thầy đừng cười tôi làm thơ dở nghe. Cái đặc biệt là nó hiếm lắm đó. Thầy biết quá mà, phải không!

Mấy bữa nay, có lúc tôi nghĩ, chắc Thầy đang lịch nghiệm lời Phật dạy trong Kinh Pháp Hoa về thí dụ ba cõi như là ngôi nhà lửa đang rực cháy. Có lẽ nghe tôi nói vậy thì Thầy cười tươi như hoa sen, biểu tượng của Phật quả trong Kinh Pháp Hoa, mà nghĩ rằng, thì đúng vậy, chẳng phải chúng ta đang sống trong ngôi nhà lửa Tam Giới đang rực cháy bởi tham lam, thù hận và si mê đó sao! Thứ lửa đó còn hung dữ, còn mãnh liệt, còn kéo dài gấp triệu lần cái lửa nổ bình gas mà Thầy đã chứng nghiệm hôm nọ, kia mà. Tâm không nhiệt não thì thế giới này dù ở đâu cũng là ao sen thất bảo, phải không Thầy!

Nghe tin Thầy tịch mấy hôm nay, tự nhiên bao nhiêu ký ức và kỷ niệm xa xôi từ thuở mình mới gặp nhau ở mái Chùa Già Lam, Vạn Hạnh đến nay cứ tuôn ra mãi trong đầu tôi. Tôi nhớ từ năm 1980, khi lớp học cao cấp đặc biệt ở Già Lam bắt đầu, ngày nào mình cũng đạp xe đạp đổ mồ hôi mồ kê tới Vạn Hạnh, tới Già Lam để học. Thầy lúc đó ở Chùa Bửu Đà. Ở đó còn có Thầy Thiện Quang, Thầy Tâm Kinh, v.v… còn mấy Thầy nữa mà lâu quá tôi quên mất. Tôi thì ở Chủa Từ Hiếu tận bên Quận 8. Cái thời đó, dù hoàn cảnh xã hội và đất nước cay nghiệt, dù kinh tế nghèo nàn, nhưng anh em tăng sĩ trẻ của tụi mình tràn đầy nhiệt huyết, ham học và kham nhẫn nên dù cuộc sống cực khổ thiếu thốn trăm bề mà vẫn lạc quan, tự tại, vui vẻ. Trong tang lễ của Ôn Già Lam, tháng 4 năm 1984, mấy anh em tăng sĩ trẻ tụi mình đều chia sẻ một nhận thức chung là tình hình Phật Giáo Việt Nam, đặc biệt số phận của những tăng sĩ tạm trú không có hộ khẩu như tụi mình, bắt đầu chịu đựng một tình cảnh mới, nghiệt ngã, khó khăn và bế tắc hơn trước. Vì vậy mỗi người đều tìm cách đi ra nước ngoài. Cái kỷ niệm mà tới giờ này tôi vẫn còn nhớ về Thầy, về một vị tăng trẻ tài hoa, lịch lãm. Đó là trong đêm tất niên tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, có lẽ vào cuối năm 1982, Thầy lên hát một bài hát mà Thầy đặt lời rất vui, lâu quá tôi lại quên lời bài hát. Đêm đó có Ôn Già Lam, có Thầy Tuệ Sỹ, và Thầy Lê Mạnh Thát dự.

Thầy đi qua Mỹ trước tôi. Lúc tôi ở Pulau Bidong cũng như khi sang Bataan để chuẩn bị đi Mỹ thì Thầy và Thầy Minh Dung thường xuyên liên lạc bằng thư từ để thăm hỏi và động viên tinh thần nhiều nhất. Lúc ở đảo, lâu lâu nhận được thư của hai Thầy, mở ra thì thấy có tiền gửi cho. Cái thời ở đảo mà được tiếp tế như vậy là quý hiếm vô cùng tận. Nhưng cái quý giá nhất mà tiền bạc cũng không mua được là thân tình pháp hữu Thầy đã dành cho tôi suốt mấy chục năm qua chưa hề phai nhạt.

Khi tôi qua Mỹ ở New York vào cuối năm 1987 thì Thầy cũng là người liên lạc và thăm hỏi đầu tiên. Thầy còn gửi tặng cho tôi tấm hình Đức Phật Bổn Sư bán thân màu trắng đen bằng sơn màu rất đẹp mà cho tới nay tôi vẫn còn thờ trong nhà. Mỗi lần lễ bái Đức Phật là tôi nhớ tới Thầy. Trong thư viết tay, hồi đó những năm cuối thập niên 1980 chưa có email, thăm tôi, Thầy giới thiệu tạp chí Chân Nguyên và khuyến khích tôi viết bài cho Chân Nguyên đăng. Nhờ nhân duyên đó mà tôi đã cộng tác với Chân Nguyên.

Đầu năm 1991, tôi từ New York qua Cali ở luôn thì mình có dịp gặp nhau thường. Cuối năm 1991, đáp ứng lời hiệu triệu qua Tâm Thư của Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Xử Lý Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN, Thầy cùng quý Ôn, qúy Thầy nỗ lực vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam, mà kết qủa là một Đại Hội thành lập GHPGVNTN Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã diễn ra trọng thể tại San Jose vào cuối tháng 9 năm 1992. Trong Đại Hội, Thầy đã xin không nắm giữ chức vụ gì để tiếp tục việc học. Đúng là công thành thân thoái. Thầy thong dong tự tại lo việc đèn sách.

Tháng 10 năm 2003, Thầy rủ hai anh em Tâm Quang Vĩnh Hảo và tôi lên Tu Viện Kim Sơn thăm và đàm đạo về việc ngồi lại của quý Thầy cựu học Tăng lớp cao cấp đặc biệt tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam từ năm 1980 tới 1984 và một số pháp hữu trong nhóm Thân Hữu Già Lam để nối kết thân tình pháp lữ nơi xứ lạ quê người. Đầu tháng mười năm 2003, tôi lại quên ngày nào rồi, dường như trước lễ Colombus Day, tôi và Tâm Quang lái xe từ Nam Cali lên thăm Thầy. Tôi còn nhớ cái đêm đó sương mù giăng dày đặt ngọn núi Kim Sơn. Lái xe mà chỉ có thể nhìn ra phía trước vài ba mét là cùng, còn ngoài ra là mù mịt trắng xóa không thấy gì. Lái được tới Tu Viện thì cũng hơn 8 giờ tối. Mừng hết lớn, vì được an toàn lên tới nơi. Đêm đó Thầy đãi mì gói trộn với xà lách tươi và giòn, thật là ngon miệng. Ăn xong thì uống trà và đàm đạo. Khung cảnh đêm khuya nơi núi rừng cô tịch và lạnh lẽo làm cho hương vị trà thêm ấm áp và thơm nồng hơn. Sáng sớm hôm sau khi Thầy dẫn lên đảnh lễ Ôn Viện Chủ, Hòa Thượng Thích Tịnh Từ, lại được Ôn đãi trà và ăn sáng thật là ngon. Một chuyến đi nhiều kỷ niệm khó quên trong đời.

Tháng 3 năm 2004, quý Thầy cựu học Tăng và pháp hữu gặp mặt tại Tu Viện Pháp Vương, Thành Phố Escondido, Quận San Diego, Nam California, để đi đến quyết định ra đời Hội Thân Hữu Già Lam. Tôi nhớ hôm đó có đông đảo quý Thầy cựu học Tăng Già Lam và nhiều pháp hữu, như Thầy Thái Siêu, Thầy Quảng Thanh, Thầy Nguyên Siêu, Thầy Bổn Đạt, Thầy Đức Niệm, Thầy, Thầy Giác Như, Thầy Thông Niệm, Thầy Nhựt Huệ, Thầy Minh Dung, Thầy Nhật Quán, Thầy Tâm Hòa, Thầy Tâm Tường, Thầy Nhật Trí, Vĩnh Hảo, Như Hùng, và Tôi. Đây là lần đầu tiên sau 20 năm ly loạn có cơ hội ngồi lại với nhau trong đạo tình pháp lữ. Ai nấy đều hoan hỷ suốt 3 ngày gặp mặt. Thầy được quý Thầy trao trách nhiệm Tổng Thư Ký. Hội Thân Hữu Già Lam chỉ là những cựu học Tăng Già Lam và các pháp hữu ngồi lại để nối kết thân tình pháp lữ và cùng nhau làm được Phật sự gì thì làm theo khả năng của mình trong lãnh vực văn hóa, giáo dục và từ thiện xã hội để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển nền Phật Giáo Việt Nam trong và ngoài nước.

Khi Thầy nhận lời tham gia và đảm nhận chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên của Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK vào tháng 9 năm 2008, tôi còn nhớ Thầy có tâm sự là việc học của Thầy đã tạm xong và Thầy muốn dành thời gian còn lại để đóng góp Phật sự cho Giáo Hội, cho cộng đồng Phật Giáo Việt Nam. Tôi rất hoan hỷ và ủng hộ hết mình trước quyết định này của Thầy. Tôi nghĩ với tài đức xuất chúng của Thầy mà Thầy chịu hy sinh để đóng góp thì Phật Giáo Việt Nam sẽ có nhiều thành tựu khả quan lắm.

Cách nay khoảng 3 năm, vào dịp cuối tuần, Thầy có Phật sự về Nam Cali, Thầy nhắn tôi lên Tu Viện Sơn Tùng, Thành Phố Phelan, Quận San Bernardino, Nam California của Thầy Minh Dung để gặp mặt thăm chơi. Buổi chiều mấy huynh đệ cùng tảng bộ trong khuôn viên rộng lớn của Sơn Tùng, Thầy nói cười rất thoải mái. Thầy mở iphone cho tôi xem khu đất mà Thầy đã mua để làm thiền thất tịnh tu. Tôi hỏi vậy còn Chùa Trúc Lâm thì sao? Thầy nói Chùa Trúc Lâm thì có vài Thầy trẻ giúp coi ngó ngày thường, còn cuối tuần thì Thầy về lo Phật sự. Thầy còn nhắc tôi khi nào có điều kiện thì lên thiền thất thăm Thầy. Tôi không dám hứa với Thầy vì không biết khi nào mình có thể đi được. Đêm đó, Thầy Minh Dung cho tôi nằm chung phòng với Thầy Hạnh Tuấn. Chúng tôi hàn huyên tới khuya lắc khuya lơ rồi mới chịu ngủ. Thầy kể cho tôi nghe về tình hình của Gia Đình Phật Tử Việt Nam và tâm nguyện của Thầy về việc tạo sự ngồi lại của các tổ chức GĐPT tại Hoa Kỳ để cùng nhau tiếp tục sứ mệnh đem đạo Phật vào giới trẻ, vào gia đình và xã hội.

Than ôi, nhiều Phật sự còn chờ những Sứ Giả Như Lai tài đức vẹn toàn như Thầy để thực hiện, để phát dương quang đại nền Phật Giáo Việt Nam trên xứ người, vậy mà Thầy đã vội vàng cất bước ra đi!

Mấy bữa nay tôi cứ nghĩ có lẽ Thầy chỉ đến Lạc Bang, như đi vacation, để nghỉ ngơi vài ngày cho thư thả rồi sẽ trở lại Ta Bà để tiếp tục sự nghiệp “Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự,” có phải không Thầy? Thầy ơi, chúng sinh cõi này còn nhiều khổ não lắm!

Xin mau mau trở lại nghen Thầy! Mong lắm thay, Thầy ạ!
Cúi đầu, nhất tâm cung tiễn Giác Linh Thầy thượng lộ bình an!

Nam Mô Lạc Bang Thế Giới Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang Như Lai.

Một pháp hữu của Thầy,
Tâm Huy Huỳnh Kim Quang

Bên Di Ảnh Thầy

(Kính tưởng niệm về Thầy Thích Hạnh Tuấn vừa viên tịch vào ngày 30 tháng 10 năm 2015)

Buổi chiều hôm 30 tháng 10, chúng tôi đang đi bách bộ, thì điện thoại reo, xem vị nào gọi thấy hiện lên là Thầy Minh Dung, tôi thăm hỏi nói cười vui vẻ. Thầy gọi để báo một hung tin, thầy Hạnh Tuấn đã ra đi trong tại nạn nổ bình gas ở Tinh Xá Trúc Lâm. Tai tôi nghe mà lòng bàng hoàng sững sốt, cầm điện thoại trên tay mà thẩn thờ như kẻ mất hồn mất viá. Chúng tôi lập tức trở về nhà check email và xem trên mạng, lúc đó mới đành lòng chấp nhận thầy đã ra đi. Thời kinh tối hôm ấy, chúng tôi dành để tưởng niệm thầy, một người bạn thân từ thuở thiếu thời cho đến trưởng thành, đã đành lòng bỏ cuộc chơi, bỏ bạn bè trông đợi, bỏ Phật tử bơ vơ, vội ra đi về miền tịch lặng.

Cả đêm hôm đó tôi không tài nào ngủ được, cứ hồi tưởng và nhớ về thầy, lâu lâu lại vào trang nhà Quảng Đức và Hoa Vô Ưu xem, để nhìn lại hình bóng và nghe giọng tụng kinh của thầy.

Sáng nay Chủ Nhật về chùa Quang Thiện nơi Thầy Minh Dung Trụ Trì để làm lễ viá Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, khi bước vào chánh điện lễ Phật, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là di ảnh của thầy được thiết lập ngay tại chánh điện để chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật Tử chùa Quang Thiện tưởng niệm và cầu nguyện cho Thầy sớm về miền Lạc Cảnh. Tôi quỳ xuống đảnh lễ thầy ba lạy, khấn nguyện thầy Cao Đăng Phật Quốc.

Từ khi nghe tin thầy viên tịch, bao nhiêu kỷ niệm xưa nay với thầy như bừng sống dậy trong tôi, thi nhau kéo về đầy ắp, từ khi còn nhỏ cho đến khi lớn, cứ thế mà trở về đong đầy choáng ngợp. Phải, chúng tôi quen biết nhau từ khi còn nhỏ, là bạn “nối khố” nếu tính ra thì cũng gần 50 mươi năm. Nhà thầy cách nhà tôi chỉ một cái bàu (con rạch nhỏ) đó là tính bây giờ, chứ trước năm 1975 trong thời chiến tranh, gia đình của thầy phải di cư lên đây ở để được an ninh hơn, nhà thầy chỉ cách nhà tôi khoảng mấy chục căn, xóm trên và xóm dưới vậy.

Thầy lớn hơn tôi hai tuổi, khi còn nhỏ chúng tôi sinh hoạt trong tổ chức gia đình Phật Tử ở khuôn hội chùa Mỹ An. Thân phụ của thầy và thân phụ của tôi cũng là bạn tâm giao và cùng sinh hoạt chung dưới một mái chùa, lúc ấy tôi là oanh vũ thì thầy đã là thiếu nam. Sau đó, nhà của song thân chúng tôi được quý bác trong khuôn hội mượn tạm để làm Niệm Phật Đường Mỹ An, vì ngôi chùa cũ nằm trên đồi cao, chính quyền sở tại trưng dụng và biến thành đồn lính, cơ sở quân sự nên cấm người dân không được phép lai vãng.

Thầy thường nói chúng tôi là bạn “ăn cùng mâm ngủ cùng phòng” khi vào chùa, tôi chọn ở chùa Phước Lâm nơi thầy Bổn Sư của thầy Trụ Trì, dù tôi là đệ tử ở bên chùa Long Tuyền. Hòa Thượng chùa Phước Lâm mỗi khi Ngài về quê để thăm song thân của ngài, ngài thường ghé Niệm Phật Đường để thăm phụ mẫu của tôi. Khi gặp ngài tôi cung kính chấp tay đảnh lễ, những khi đó ngài thường bảo với phụ mẫu của tôi “khi nào nó lớn lên cho xuống chùa tôi tu” do Ngài rất dễ gần gũi và đức độ nên tôi thích xuống tu ở chùa Phước Lâm là vậy.

Năm 1972 chị tôi dẫn tôi xuống chùa Phước Lâm để xin ở tu, một vài tháng sau vào một buổi chiều, HT Phước Lâm sau khi về quê thăm song thân trở lại chùa, ngài có chở theo một chú đó là thầy Hạnh Tuấn sau này. Anh em gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, mới mười mấy tuổi mà phải sống xa vòng tay của song thân và gia đình, tôi nhớ nhà nhớ người thân, nên lúc gặp lại thầy, người bạn “nối khố” ở cùng xóm, tôi thật sự rất đỗi vui mừng. Lúc đó thầy kể cho tôi nghe “tôi chận xe thầy lại để xin đi tu”. Thầy rất thông minh học đâu nhớ đó, hai thời công phu với bộ Tỳ Ni Nhật Dụng sau một tháng hơn là thầy đã thuộc làu, còn tôi thì phải mất tới mấy tháng. Tôi thường chọc thầy tại đầu của thầy có trái “gáo” (to và tròn như trái dừa) nên thông minh là phải. Mấy tháng sau nhân vía Phật Thích Ca thành đạo, chúng tôi được làm lễ thế phát xuất gia, trở thành hai chú tiểu trên đầu còn lại chỏm tóc. Những tháng ngày sáng trưa chiều, hai anh em đạp xe xuống phố để đi học, chúng tôi học ở trường trung học công lập Trần Quý Cáp Hội An.

Năm 1973 ở Nha Trang có tổ chức Đại Giới Đàn Phước Huệ, thầy Bổn Sư của thầy cho phép chúng tôi và một số quý chú vào Nha Trang để thọ giới Sa Di. HT Thích Quảng Hạnh ở Lan Nhã Đại Tòng Lâm ở Bà Rịa bây giờ, lúc ấy ngài dẫn chúng tôi vào Nha Trang thọ giới. Tôi còn nhớ lúc ấy trời mưa lụt xe bị hư đoàn của chúng tôi vào trể, giới đàn đã xong phần khảo hạch giới tử. Lần đầu tiên được đi xa nên chúng tôi vui lắm, cái gì cũng mới cũng lạ. Chư Tôn Đức Tăng Ni và giới tử đông ơi là đông, giới đàn trang nghiêm và oai lực. Tôi ở chùa Phước Lâm thêm một thời gian nữa, trong dịp qua chùa Long Tuyền nơi thầy Bổn Sư của tôi trụ trì để an cư (an cư xong chùa có tổ chức Đại Giới Đàn) nên các nơi cùng về an cư đông lắm, thầy Bổn Sư của tôi la cho một trận, và bảo tôi phải ở lại chùa Long Tuyền để nhập chúng tu học. Tôi ở Phật Học Viện từ đó và xa thầy từ đây, thỉnh thoảng chúng tôi mới có dịp gặp lại, dù ở không xa lắm.

Ký ức năm xưa lại cứ tiếp tục trở về, lịch sử dân tộc sang trang, cuối năm 1975 hay đầu năm 1976 gì đó, HT Thích Minh Đạt ở Đại Tòng Lâm Bà Rịa Vũng Tàu, trong một dịp ngài về thăm quê, ngài có nói ở trong đó sắp tới sẽ có các khoá học, các chú vào trong đó mà tu học, nghe vậy chúng tôi mừng lắm. Khoảng đầu năm 1976 thầy và tôi vào đến Đại Tòng Lâm, xin nhập chúng tu học. Ở trong đây dù mỗi ngày cầm cuốc ra đồng lao động nhưng vẫn nhàn hạ hơn ở ngoài Trung rất nhiều, ở ngoài ấy cho dù làm lụng vất vả, nhưng khi thu hoạch vẫn cứ mất mùa và luôn đói khổ, quả thật ở trong miền Nam phước báo hơn nhiều.

Tôi còn nhớ Đức Đệ Tứ Tăng Thống khi ôn từ chùa Ấn Quang ra đây để dạy Đại Chúng học, Ôn ở lại nơi cái cốc hình lục giác sát bên chánh điện của chùa. Những buổi chiều dạy chúng học, Ôn phải đi bộ thật xa mới ra đến lớp học (nghe nói khuôn viên của Đại Tòng Lâm rất rộng cả mấy trăm mẫu). Sau khi miền Nam mất, qúi Ôn để cho Tăng Ni từ các tự viện ở trong Sài Gòn ra đó có đất đai để canh tác sống tự túc. Với chính quyền lúc đó, thì tôn giáo là thuốc phiện, ăn bám xã hội…, nên quý thầy cô phải tự canh tác để mà sống, vì ôn dạy nên quý thầy cô ở các tự viện chung quanh đều đến học đông lắm. Hình như Ôn Huyền Quang dạy Kinh Tứ Thập Nhị Chương thì phải, lâu quá không biết có nhớ đúng không nữa, Ôn dạy ở đó một thời gian, rồi phải vào lại Sài Gòn. Tôi nhớ vào một buổi chiều HT Minh Đạt ra ngoài Công An xã về, ngài báo tin thời gian tạm trú của hai chú đã hết, công an không cho gia hạn thêm nữa, họ bắt hai chú phải rời khỏi điạ phương, chúng tôi ở đó được hơn sáu tháng.

Tôi thì về lại cũng không được ở cũng không xong, hộ khẩu ở chùa Long Tuyền chắc đã bị cắt, thôi đành tiếp tục đánh cú liều. HT Minh Đạt dẫn tôi vào Sài Gòn để giao cho Chị Tịnh, còn thầy thì về lại miền Trung, năm đó tôi mới 17 tuổi, lại bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới ở cái đất Sài Gòn xa lạ. Chị Tịnh của tôi dù vào Sài Gòn từ trước, nhưng là Ni chúng ở Ni trường Dược Sư, không quen biết với quý Thầy, nên không có nơi để gởi gấm em mình ở. Tôi hỏi chị đường để đón xe buýt đi trường đua Phú Thọ, tới chùa Vạn Phước để thăm chú Nguyên Luận trước đó cùng học chung ở Phật Học Viện Quảng Nam, nghe tin chú mới vào đang ở nơi chùa Vạn Phước. Duyên may xin Ôn Vạn Phước để ở lại được ôn hứa khả tôi vui mừng lắm.

Tôi cùng chú Nguyên Luận đi học châm cứu ở chùa Giác Ngộ quận 10, HT Minh Thành ở chùa Ấn Quang làm trưởng lớp. Yên ổn cũng chỉ một thời gian thôi, ở vào thời đó không có giấy tờ, hộ khẩu, tuổi phải đi nghĩa vụ quân sự, chúng tôi phải sống nay chổ này mai chổ khác, tôi ở Pháp Duyên rồi Phước Sơn, lang thang nơi này chốn nọ, nơi nào cũng phải ở chui ở lén, trốn tránh công an, mình sống trên chính quê hương của mình mà trở nên người xa lạ, nghĩ cũng tức thiệt.

Sau đó thầy Hạnh Tuấn vào Sài Gòn ở chùa Bửu Đà để đi học ở Già Lam, Vạn Hạnh, niên khóa 1980-1984. Tôi đạp xe từ Phú Lâm đến tận Gò Vấp, xa hơn thầy tới nữa đường, thầy đi từ chùa Bửu Đà ở quận 10 nên gần hơn tôi đến nửa chặng. Tôi cũng đi học nơi Thanh Minh Thiền Viện do Đức Đệ Ngũ Tăng Thống dạy kinh, HT Minh Thông dạy ở chùa Vĩnh Nghiêm quận 3 nữa, nơi thì có thầy cùng học, nơi thì không, một mình tôi dạo bước.

Những chuyện xưa cứ dồn dập hiện về, tôi còn nhớ lần cuối tôi đi vượt biên, có một buổi chiều khoảng tháng ba năm 1983. Thầy đi xe honda lên chùa Phước Sơn ở Tân Bình (ngôi chùa cuối cùng tôi ở trước khi đi vượt biên) báo tin chị Tịnh kêu ngày mai đi vượt biên, tôi hỏi thầy có cùng đi không? Thầy nói có, hẹn gặp nhau mười giờ sáng ở cổng chùa Ấn Quang, rồi thầy tức tốc quay xe về. Sáng hôm theo hẹn tôi đến cổng chùa Ấn Quang, hai anh em quanh quẩn ở đó chờ đợi, chị tôi đến và bảo chờ ở đó để chị đi liên hệ. Chờ mãi rồi chị tôi cũng trở lại, lúc đó chị tôi mới bảo trong hai người họ chỉ cho đi có một vì không còn chổ nữa, ai muốn đi? Lúc đó tôi trả lời thôi để em đi, tôi và thầy đều nước mắt lưng tròng, người đi kẻ ở lại, trong thâm tâm tôi nghĩ chưa chắc đi được, thôi cứ đánh liều. Chuyến đi nầy không cần phải giao vàng trước, đến nơi đánh điện tín về họ mới lấy vàng, cũng may chứ họ đòi vàng trước, chúng tôi không có vàng để giao, không ngờ chuyến đi đó tôi trót lọt, lại xa thầy thêm lần nữa.

Hơn một năm ở trại tỵ nạn Galang, tháng 4 năm 1984 tôi lên đường đi định cư, một hay hai tháng sau gì đó thầy Hạnh Tuấn vượt biên thành công đến được trại tỵ nạn Galang nơi tôi đã từng ở trước đó. Mấy anh em huynh trưởng trong gia đình Phật Tử Long Hoa ở trại Tỵ Nạn Galang thường nói, cứ mỗi lần hoa Quỳnh ở chùa Quan Âm nở, thì các em biết thế nào cũng có quý thầy sẽ đến đảo. Tôi tin chắc một điều, trước khi thầy đến đảo hoa Quỳnh ở chùa dịp đó, nở rộ hơn đẹp hơn toả sắc nhiều hơn vì mừng thầy đến.

Một năm sau tôi định cư ở Mỹ, thầy cũng qua đến Mỹ, thầy được HT Minh Thông chùa Vĩnh Nghiêm ở Pomona bảo trợ, giai đoạn đó ngài cũng bảo trợ một số đông quý thầy nữa. Tôi xuống đón thầy lên chùa Việt Nam ở Los chơi, thầy ở đây một thời gian ngắn, sau đó thầy xin về chùa Từ Quang ở miền bắc Cali để đi học, thầy tiếp tục thăng tiến trên con đường học vấn, mỗi người mỗi nơi, lâu lâu chúng tôi mới có dịp gặp lại.

Tôi nhớ, tuần Quán Niệm đầu tiên do Thiền Sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn tại Tu Viện Kim Sơn, Hoa Kỳ, chúng tôi từ chùa Việt Nam Los Angeles lên tu học. Trong giờ chia xẻ tâm tình, thầy hát bài “Những Đồi Hoa Sim” được thầy chế lời thành“Những Đời Tu Sỹ” đại chúng được một phen rộn ràng vui vẽ hoan hỷ, phải công nhận thầy đã tài ba lại có chất hài hước trong người.

Con đường học vấn đã xong, đến lúc thầy hành đạo, thầy nhận Trụ Trì chùa trúc Lâm ở Chicago, tôi có qua tham dự ngày thầy chính thức nhận trách nhiệm trụ trì. Hành trang tôi mang về đó là bức tượng Bồ tát Quán Thế Âm ngàn mắt ngàn tay, được những nghệ nhân tạc từ nguyên mẫu xưa nhất đang thờ tại chùa Bút Tháp ngoài Bắc, bức tượng gổ được thầy tặng, tôi vẫn đang thờ ở Tịnh Thất Trúc Viên.

Trong lần thứ hai về lại Trúc Lâm để tham dự họp mặt Hội Thân Hữu Già Lam. Tôi và sư Hạnh Tịnh chị của tôi từ Việt Nam sang, (được thầy gởi giấy mời qua thăm cho biết xứ Hoa Kỳ), chúng tôi ở lại thêm mấy ngày nữa cùng thầy hàn huyên. Tối hôm đó sau thời kinh Thầy mời chúng tôi cùng một số Phật Tử chùa Trúc Lâm đến tiệm ăn Pizza để thầy đãi và kỷ niệm ngày thầy đi tu. Thầy tâm sự lý do thầy đi tu là nhờ vào hình bóng của thân phụ tôi, cụ cạo đầu mặc áo cư sỹ và tu tại gia. Cụ phát nguyện tu hành từ khi sinh ra tôi, mẹ tôi sinh mười lần tất cả đều là chị gái, đến phiên tôi là thứ mười một và là “con cầu con khẩn” gì đó. Người thứ hai là chị tôi, hình ảnh người nữ tu trông thanh thoát và cao đẹp, đó là động lực khiến thầy nuôi lớn chí nguyện xuất gia.

Thầy đi Phật Sự thường xuyên ở các nơi, phi trường Chicago trở thành quen thuộc với thầy, đến độ thầy không cần phải sắp hàng dài dòng để đi qua cửa an ninh, thầy có thẻ đi nhanh, lịch bay của thầy dày đặc, thường xuyên ở trên máy bay, nên tôi đặt cho thầy ngoại hiệu “người không gian”. Mỗi khi thầy có dịp về miền Nam Cali tôi đón thầy về nhà chúng tôi thăm viếng ở lại. Khi chúng tôi tạo thêm Tịnh Thất, thầy cũng đều ghé lại, cả hai nơi đều in đậm hình bóng và dấu chân thầy. Sau nầy có Tu Viện Sơn Tùng, do thầy Minh Dung làm Viện Chủ chúng tôi đón thầy về đây thường hơn. Những năm sau này, thầy mới bớt đi lại, cách đây mấy tuần tôi có liên lạc với thầy, khi ấy thầy đang ở bên Texas, không ngờ đó là lần cuối tôi liên lạc với thầy.

Ngẫm nghĩ lại cái gì tôi cũng đi trước thầy, đi tu tôi cũng đi trước thầy, vào Sài Gòn ở tôi cũng đi trước thầy, đến trại tỵ nạn tôi cũng đến trước thầy, đến Mỹ tôi cũng đến trước thầy, nơi nào có dấu chân tôi thì trước sau cũng có dấu chân thầy. Nhưng có hai việc thầy lại đến trước tôi. Khi tôi rời thuyền sang ngang sang dọc rồi ngược rồi xuôi, lên bờ ngắm hoa sinh tử, thì thầy vẫn vững tay chèo trên con thuyền Bát Nhã độ người qua sông. Khi rũ bỏ cõi tử sanh huyễn mộng thì thầy cũng giành tôi mà đi trước, hay là thầy dọn đường sẵn để chỉ cho tôi sau này. Nhưng thầy ơi tôi còn nặng nghiệp lắm, thầy thì hồng trần đã dứt tuyệt, còn tôi thì đêm ngày còn lặn hụp, hơn nữa làm sao tôi về được cùng chổ với thầy đây, khó lắm khó lắm thầy ơi. Những tưởng vài năm nữa tôi sẽ bám lại con thuyền xưa, thầy sẽ là người liệng chiếc phao cứu sinh để kéo tôi lên, ai ngờ thầy âm thầm giả từ cõi tạm quá sớm, khiến lòng tôi càng hụt hẩng.

Vé máy bay thầy Minh Dung cũng đã mua hộ, sáng thứ năm nầy cùng đi với qúy Thầy, trở lại Chicago thành phố được mệnh danh Windy City. Mỗi lần tôi điện thoại thăm hỏi thầy đang ở đâu? Thầy trả lời ở “hàn băng địa ngục” nếu đang ở Chicago. Hạnh nguyện cao cả của thầy vào nơi lạnh giá để cứu độ, đây sẽ là lần thứ ba tôi trở lại. Lần này, dù chưa đi nhưng khi biết thầy không còn nữa, thấy cõi lòng mình lạnh thật lạnh quá thầy ơi, trống vắng quá thầy ơi, chưa đến mà đã tái tê giá buốt rồi, nhưng cũng ráng mà đi, để được gần nhục thân của thầy thêm mấy hôm nữa, và cũng để tiển đưa thầy lần cuối về với Phật.

Thầy Hạnh Tuấn đã lấy thân làm đuốc soi sáng nẽo vô minh tăm tối, sưởi ấm những tâm hồn còn đang giá lạnh. Sự ra đi của thầy do nổ bình hơi gas cũng là hồi chuông nhắc nhở cho mấy triệu đơn vị gia cư người Mỹ, vì không có đường dẫn trực tiếp từ công ty gas, nên xử dụng đến loại bình chứa to lớn nầy, phải thường xuyên kiểm tra cẩn trọng. Sự viên tịch của thầy mang nhiều ý nghĩa, chỉ có những bậc vì hạnh nguyện cao cả mới chọn cách hy sinh thân mạng để nhắc nhở bao người, ông bạn hiền của tôi ơi, thầy yên lòng về với Phật, sứ mạng độ sanh của thầy đã vuông tròn.

Trong hai anh em chúng tôi, nếu ai “bỏ cuộc chơi” sớm thì tôi vẫn tin rằng những dòng hồi ức nầy sẽ vẫn được ghi lại, chỉ khác tên người viết mà thôi. Có điều, tôi tự hỏi không biết sao mà nó được viết ra sớm quá vậy thôi. Thầy ơi! Vô thường réo gọi, nếu ở bên ấy thầy có đọc được, thôi thì, như một nén nhang sắc không, giấy ngắn đong đầy tình, tiễn biệt thầy lên đường về nơi vô tận thầy nhé.

Thời kinh đêm nay đêm mai và những đêm sau nữa, cũng để góp phần cầu nguyện cho thầy sớm về miền lạc cảnh, dù cho cõi ấy có an lành tuyệt đẹp, có phiêu bồng nhẹ gót, có an tịnh bất tận, thì cũng xin thầy hãy trở lại cõi Ta Bà nầy, nơi có bao người mong đợi, Phật Tử chùa Trúc Lâm chờ thầy về, những Đạo Tràng tu học đợi cung đón thầy, và có biết bao chúng sanh trầm luân đang cần sự ra tay cứu độ của thầy. Thầy ơi! Thầy ơi! Xin một lần trở lại nhé.

Như Hùng
Tháng Tạ Ơn 2015

Tưởng Nhớ Về Thầy

(HT Thích Hạnh Tuấn tân viên tịch)

Từ Tổ Đình Phước Lâm Hội An phố
Nơi xuất gia hành điệu những tháng ngày
Nên huệ mạng từ thuở nhỏ đến nay
Góp tài đức cùng Tăng già khắp chốn

Vào Pháp Bảo trong những ngày thiếu thốn (sau 1975)
Sản xuất cùng dệt vải để nuôi thân
Tưởng đâu rằng sẽ yên phận đỡ đần
Nhưng nghiệp dĩ phải vào Nam giữ đạo

Chùa Bửu Đà nơi dung thông Tam bảo
Quy tu nhiều anh kiệt của quê hương
Lập đạo tràng tu tập thật phi thường
Bao khó khăn cùng nhau đồng hóa giải

Tính bất khuất hiên ngang đầy khẳng khái
Tìm tự do qua những chuyến vượt biên
Nơi Mỹ quốc định cư vẫn tịnh thiền
Bằng tiến sĩ nhiều năm liền bảo vệ

Chùa Trúc Lâm Thiền đường đang kế thế
Với biết bao kỳ vọng ở tương lai
Nhưng vô thường đã cướp mất hình hài
Đăng Phật quốc sớm Ta bà hồi nhập

Vô cùng cảm xúc khi hay tin
Thầy vội đi như vì sao lạc

Thành kính tưởng niệm về Thầy Thích Hạnh Tuấn, nguyện cầu Giác linh của cố Hòa Thượng, thong dong miền Lạc Cảnh, sớm hồi nhập Ta bà để tiếp tục những hành trạng còn dang dỡ. Thành thật chia sẻ cùng Tăng thân, môn đồ pháp quyến và Đạo Hữu Phật Tử chùa Trúc Lâm – Chicago – IIIinois

An Lạc thất, Adelaide Nam Úc những ngày tịnh dưỡng
Nay kính
Pháp hữu Hạnh Trung (Viên Thành)
Và gia đình đồng tu cùng tưởng niệm & kính lễ

Tháng 7 năm tới, Kim Sơn mãi vắng bóng Thầy

Tưởng niệm Hoà Thượng Hạnh Tuấn, Trụ trì chùa Trúc Lâm, Chicago, một vị Thầy, một người Bạn trong nhà Lam…

Viết cho nỗi buồn lắng xuống…
Có người mà khi đến và đi đều để lại bóng dáng và kỷ niệm trong lòng người ở lại và nơi mảnh đất người đã đặt chân. Đó là trường hợp thầy Hạnh Tuấn. Mỗi lần nhớ đến Thầy là tôi lại nhớ đến tháng bảy mùa hè, mùa An Cư ở tu viện Kim Sơn. Sau khi nhận lời về trụ trì chùa Trúc Lâm ở Chicago, Thầy có lời nguyện với anh em chúng tôi rằng trừ khi có chuyện “bất khả kháng”, còn không, năm nào Thầy cũng về với núi rừng Kim Sơn. Trở về đây để tận hưởng không khí nhẹ nhàng, êm ả của núi rừng và lại có dịp thủ thúc thân tâm. Thầy vui lắm. Năm nào cũng lưu lại có khi vài tuần, mươì ngày hay cả tháng.

Nhân chuyến trở về miền Bắc Cali, Thầy không quên dành thì giờ thăm viếng chư Tôn Túc trong vùng cùng thăm hỏi Huynh đệ, Pháp hữu.

Chúng tôi quen biết nhau đã ngót ba mươi năm khi Thầy về trú ngụ ở Từ Quang, lo chuyện học hành vào năm 1987. Đây cũng là lúc, tôi rời tổ ấm Từ Quang để về Hayward bắt đầu con đường hành thế. Thầy có tiếng là người cầu tiến, rất mực siêng năng đèn sách. Từ City College of San Francisco rồi chuyển qua SF State University, lên Cao học ở Harvard University, rồi cuối cùng về UC Berkeley học chương trình tiến sĩ, trước sau tròn 12 năm. Việc đèn sách, Thầy miệt mài gắn bó. Chuyện Phật sự, Thầy hết lòng lo toan. Chẳng giây phút nào xao lãng trong việc thực tập và trì tụng kinh điển như là nếp sống đúng mực của người tăng sĩ chân chính.

Tôi chẳng quên buổi gặp mặt khi Thầy còn học tại Harvard, cùng nhau hàn huyên bên mâm cơm thanh đạm cùng người bạn tăng sĩ Tây Tạng của Thầy. Vẫn là con người cẩn trọng, mọi việc, dù lớn nhỏ, đều cân nhắc kỹ lưỡng, khi bắt tay vào việc thì hăng say hết mình, nay nhẫn nại chuyên cần chuẩn bị cho mình vốn tri thức cần thiết trước khi hành thế. Con người ấy mực thước và cầu toàn ngay trong những sinh hoạt liên quan trong cuộc sống thường nhật. Thầy là người hướng dẫn tôi cuốn cho đúng cách một cuốn “bún Quảng”. Không rõ Thầy là người rành về khoa ẩm thực hay không nhưng trong món cuốn mang hương vị quê nhà của Thầy, Thầy muốn phải thưởng thức sao cho trọn vẹn và đúng cách. Trước món ăn ngon miệng này, tánh tôi biếng nhác nên chỉ muốn gắp cho đầy chén, đưa vào miệng là được, vì tôi nghĩ, làm sao cho bún xuống đến bao tử là xong chuyện rồi! Thầy không chịu! Ăn như vậy, Thầy nói, là chưa hiểu “người Quảng chúng tôi”, rồi Thầy chỉ cho tôi cách cuốn một cuốn bún với đầy đủ rau, đậu phụng … và sao cho tròn trịa nữa.

Những năm sinh họat bên nhau ở Từ Quang, rồi Kim Sơn, quả thật tình thân rất đậm đà, thắm thiết. Cho đến khi rời xa ngôi chùa mẹ về Chicago, Thầy mới cho thấy khả năng tổ chức và hoạt động trên nhiều lãnh vực phát huy đạo pháp. Bên cạnh việc xây dựng cơ sở tín ngưỡng ban đầu tại địa phương, Thầy đã góp phần không nhỏ vào việc khuyến khích Gia Đình Phật Tử Trúc Lâm và hết lòng vào việc phát triển đơn vị này.

Quả thật con người ấy không ngừng gắn bó với sự thăng trầm của đạo pháp khởi từ tổ đình Phước Lâm xứ Quảng nơi người thế phát cho đến tu viện Quảng Hương Già Lam ở Sài gòn. Ra nước ngoài, tại trại tỵ nạn Paula Galang, Thầy cũng góp tay xây dựng ngôi chùa Kim Quang, khởi sự việc tái dựng đức tin và niềm tin cho bao người xa xứ. Định cư ở Mỹ, từ hơn 30 năm nay, bên cạnh việc chuyên cần trau dồi, Thầy còn có những cố gắng tìm tòi, ứng dụng phương pháp khoa học trong việc truyền bá chánh pháp như đưa Đại Tạng Phật Giáo vào CD–ROM, mở lớp “Căn Bản Về Sinh Hoạt Ở Xã Hội Tây Phương 101” .

Viết cho tình Lam thêm lên…
Đối với người mang nhiệt tâm với con đường theo đuổi như Thầy thì việc bất đồng không sao tránh khỏi nhưng lòng tận tụy, chân thành của Thầy với tổ chức, đặc biệt với đơn vị Trúc Lâm thì không ai có thể làm ngơ hay quên lãng. Lòng nhiệt thành mạnh mẽ được biểu lộ bằng thái độ cương quyết, dứt khoát mà Thầy thường cho thấy, không chỉ trong các buổi họp với ban Hướng Dẫn Trung Ương, chính là phát xuất từ mối quan tâm hết mực và lòng ưu ái thiết tha với tổ chức mà Thầy hết lòng bảo bọc và nâng đỡ.

Tuy thế, Thầy vẫn cố giữ hòa khí, tìm cách liên lạc với mọi phía, mọi người, từ bữa cơm thân mật để nối kết tình Lam cho đến phương thức phát biểu ôn hòa và chí tình bằng Thỉnh Nguyện Thư đạo đạt lên Giáo hội và những người hữu trách.

Giờ đây nếu chúng ta còn thấy văng vẳng bên tai câu nói quen thuộc của Thầy, câu nói từng làm phật lòng không ít người: ” làm mất thì giờ của Hạnh Tuấn”, thì nay chúng ta nên hiểu câu di ngôn ấy là sự thúc đẩy, là sự khuyến tấn chúng ta lưu tâm hơn vào nỗ lực xây dựng tổ chức hơn là tiếp tục những cuộc tranh luận xuông.

Tôi còn nhớ trong một khóa tu học của miền Tịnh Khiết tại tu viện Mộc Lan, Thầy nói với tôi về một đề nghị mang tính chất “áp đảo” của Thầy với giọng Quảng cứng rắn: Lần này, phải cho hàng Huynh trưởng trẻ cơ hội thể hiện tinh thần dân chủ của Tây phương mới được. Thầy muốn nói, one person one vote, một người một phiếu, và thiểu số phải phục tùng đa số là công bằng và hợp lý. Tôi thuộc phái “moderate”( trung dung) nên lúc nào cũng chỉ mỉm cười, lắng nghe rồi tìm cách dung hòa chút đỉnh cho “vui vẻ cả làng”. Con người mà khả năng, nghị lực, tâm huyết dồi dào như thế nhưng tiếc thay nhân duyên chưa đủ để thể hiện trọn tài gánh vác cho sự nghiệp chung !

Nói đến nhân duyên, yếu tố ấy còn chi phối đến một nỗ lực chung của Thầy và tôi nhân dịp lễ khánh thành chùa Phổ Từ năm 2010 về một lời kêu gọi Hợp Nhất gửi đi khắp chốn từ Âu sang Úc. Thầy không thấy kết quả vận động mà ngã lòng, vẫn tiếp tục hành động với nụ cười lạc quan không thiếu trên môi..

* * * * *
Kính bạch giác linh Thầy,
Trước sự nghiệp dang dở để lại bên cạnh hoài bão to lớn mà Thầy mang theo, con không thể nói hết những cảm xúc về sự thiếu vắng của người ở lại và mối lưu tình Thầy đã dành cho Phổ Từ. Nhân ngày lạc thành, Thầy hiến tặng món quà tinh thần quý giá, một bản Tâm kinh Bát nhã khắc gỗ rất mỹ thuật. Dù con không đọc được chữ Hán, nhưng con cảm nhận được mối đạo tình Thầy dành cho như bát nước đầy trong suốt ba mươi năm qua. Từ nay, hằng ngày, cúi đầu đi ngang qua bức kinh khắc, vẫn thấy bên mình niềm an ủy, khích lệ không khác năm nào.

Con kính cầu nguyện Thầy sớm về cõi Phật, hội nhập Ta bà, và chúng ta, với hạnh nguyện xuất gia cứu đời giúp người, bên nhau, lại cùng rong chơi trên vạn nẻo.

Nam mô từ Lâm Tế Chúc Thánh chánh tông, tứ thập nhị thế, húy thượng Thị hạ Trạm, tự Hạnh Tuấn, hiệu Hải Như, chi Giác linh Hoà Thượng chứng minh./
Thích Từ-Lực
Hayward, California

Điếu Văn Bái Biệt Thầy Thích Hạnh Tuấn

Thầy Thích Hạnh Tuấn (cho tôi xin được gọi bằng “Thầy” gần gũi và thân thương như suốt đời tôi xưng tán đức Phật Thích Ca bằng tiếng “Bổn Sư” muôn thuở; thay vì những danh từ chức danh khách sáo, xa vời) trụ trì chùa Trúc Lâm, Chicago, Illinois, Hoa Kỳ đã viên tịch vào ngày 30 tháng 10 năm 2015 tại Chicago. Hưởng thọ 60 tuổi.

Thầy Thích Hạnh Tuấn, Nguyên Thọ
Tại tiền đường chùa Trúc Lâm, Chicago, 2014

Thầy Thích Hạnh Tuấn (cho tôi xin được gọi bằng “Thầy” gần gũi và thân thương như suốt đời tôi xưng tán đức Phật Thích Ca bằng tiếng “Bổn Sư” muôn thuở; thay vì những danh từ chức danh khách sáo, xa vời) trụ trì chùa Trúc Lâm, Chicago, Illinois, Hoa Kỳ đã viên tịch vào ngày 30 tháng 10 năm 2015 tại Chicago. Hưởng thọ 60 tuổi.

Đến Mỹ gần như đồng thời với Thấy và được hạnh ngộ gặp gỡ nhau vừa là tinh thần đồng đạo, vừa là tinh thần đồng học khi chúng tôi giúp nhau trên đường học tập trong cả hai thời điểm soạn Tiểu luận Cao học và Luận án Tiến sĩ. Thầy trẻ hơn tôi 10 tuổi, nhưng đã tùy duyên… nhanh chân đi trước, về nẻo vãng sanh, còn chăng trở lại.

Rất xúc động và thương kính Thầy, tôi chỉ còn biết ghi lại cảm xúc chân thành qua đôi dòng bái biệt:

Đốt nén tâm hương:

Sáng nay chím hót trên Rừng Trúc
Bái biệt đưa Thầy Hạnh Tuấn đi
Đã biết trần gian là cõi tạm
Thu vẫn buồn khi lá đổ phân ly

Thầy ơi!…

Nhớ dáng Thầy
Tầm thước, khoan hòa
Oai nghi, tế hạnh
Nhớ giọng Thầy
Trầm ấm, vang xa
Rạch ròi, đĩnh đạc
Nhớ tình Thầy
Có trước, có sau
Khoan dung, độ lượng

Tin Thầy ra đi:

Như tuyết lạnh phủ xuống đời lửa nóng
Như sương tan đầu ngõ nắng chưa lên
Tiếng chuông chùa Trúc Lâm
Gióng lên hồi bái biệt
Khép lại rồi
Vĩnh cửu một tài hoa

Nhớ linh xưa:

Thuở đời xanh
Theo hạnh Đầu Đà
Sáu mươi tuổi đời, bốn mươi tư tuổi đạo
Xuất gia với Hòa thượng Thích Như Vạn
Tại tổ đình xứ Quảng Phước Lâm
Năm bảy hai, mười sáu tuổi thọ Sa Di
Trí Tuệ phải gắn với Từ Bi pháp thư, nội điển
Học đạo cứu đời, tri thức, kinh văn
Thuở sách đèn trường Trần Quý Cáp Hội An
Tâm hành giả gieo duyên cùng trí giả
Tốt nghiệp cấp trung, cao Phật học vẹn toàn

Phụng Đàn thọ giới:

Năm bảy sáu, tuổi đôi mươi, thọ Tỳ Kheo đại giới
Chùa Ấn Quang Quảng Đức Giới Đàn
Hòa Thượng Thích Trí Thủ chủ Đàn
Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Huyễn tướng, phù vân sá chi còn, mất
Đạo ngã, đời nghiêng, lịch sử thăng trầm
Chung vai gánh Như Lai dòng trưởng tử
Quê mẹ, quê người sáng đạo, tu thân

Dõi bước Thầy đi:

Đem Đạo Vàng vào thế giới
Buổi phù trầm sông núi động can qua
Năm tám bốn, vượt biên đến Indonesia
Trại tỵ nạn Ga Lăng dựng chùa Kim Quang
Đời tạm bợ vẫn kinh chiều, mõ sớm
Dẫu lâu đài, thuyền mỏng cũng do tâm
Thầy vào Hoa Kỳ năm tám lăm
Tự thắp đuốc mà đi bởi đời nầy không phép lạ
Đời mới, quê người vạn điều, muôn ngã
Tâm bồ đề không thối chuyển cũng do ta
Trời phương ngoại đạo, đời đôi ngã
Khác tiếng, khác tăm, khác cảnh, khác người
Muốn vươn lên đem Đạo giúp Đời
Phải dốc lòng vừa tu, vừa học
Sông núi xa xăm đã về, đã đến
Đường kinh văn tụ hội Tăng tài
Sau bao năm trên đất nước Hoa Kỳ
Đạo hành giả; đời song hành học giả
Nơi ngôi trường danh tiếng Havard
Thầy đã tốt nghiệp văn bằng Cao Học
Đại học đường lừng lẫy Berkeley
Thầy soạn Luận án Tiến sĩ Phật học
Chuyên đề Tam Tạng Mộc Kinh
Trường văn trận bút:
Trên trường văn trận bút xứ người
Thầy góp mặt như nhà văn, học giả
Báo chí, truyền thông, thuyết trình, kinh sách
Nghiên cứu giúp đời xa lánh thị phi
Nhiều sáng tác phẩm tiếng Anh, tiếng Việt
Với những đề tài triết học, tâm linh
Vươn tới những phương trời cao rộng
Bay về mấy nẻo phương xa

Đời tu sĩ:

Trời đất mênh mông Thầy ghé mấy… Nhà:
Nhà tu, Nhà văn, Nhà Phật học, Nhà chùa
Đâu cũng có mùi hương trầm, hồi chuông, tiếng mõ
Thầy tán, tụng, trì kinh hay như “Thầy Huế” buổi đăng đàn
Từ chùa Từ Quang đến Tu viện Kim Sơn
Nhân thế, lâm tuyền nghe kinh tỉnh giác

Trụ Trì chùa Trúc Lâm:

Thầy đã an tịnh giữa dòng đời xuôi ngược
Khi trở về trú xứ Trúc Lâm
Trụ pháp vương gia
Trì Như Lai tạng
Trụ Trì hộ pháp thiền tâm
Phật tử sum vầy
Uy nghi chùa tượng
Tăng già hòa hợp
Tứ chúng đồng tu

Với thế hệ kế thừa:

Ngôn giáo như thủy
Thân giáo như thổ
Lời nói như nước tưới, hành trạng như đất trồng
Thiếu một trong hai mầm khô, cây héo
Thầy đến với đàn em Phật tử
Thân, ngôn giáo dưỡng
Trọn vẹn đôi bề
Thầy gánh bên vai chức vụ
Tổng vụ trưởng Tổng Vụ Thanh Niên
của Hội đồng Điều hành Giáo hội
Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ
Đường đi tới nguyện Tăng tài tiếp nối
Bến bờ kia Thầy thanh thản ra đi

Thương tiếc Thầy:

Ô hô: Tình đời rơi lệ!
Nam mô: Nghĩa đạo mỉm cười!
Lẽ vô thường tự uyên nguyên trời đất
Chẳng chừa ai, chẳng đợi một riêng ai
Trong giây phút đương niệm hiện tiền nầy
Tiễn biệt chân Thầy
Xả báo thân tứ đại
Trong suối nguồn chân như, Thầy vẫn còn tự tại
Như hạt, như mầm, như chủng tử hoàn lai
Bao nỗi lòng tiếc thương kính ngưỡng ai hoài
Dốc tâm chung lời cầu nguyện
Một niệm chí thành
Cao đăng Phật quốc
Tròn đại nguyện thoát ly vòng sinh tử
Hay trần gian tái vãng độ Ta Bà

Bái biệt – Hồi hướng:

Giác linh Hòa thượng tân viên tịch
Chúng hữu tình pháp giới mười phương
Hoa sen tâm bái biệt cúng dường
Không lại hoàn không tánh đồng rỗng lặng
Đèn trí tuệ đã vào đời thắp sáng
Tâm từ bi thù thắng cõi chân như

Nam mô Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật

Sacramento, 3-11-2015
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

HT Thích Hạnh Tuấn, bông mai quý trong vườn xuân đạo hạnh

tthanhtuan-hthuyenquang
HT Thích Hạnh Tuấn và Đức Đệ Tứ Tăng Thống

Kính đảnh lễ và tiễn đưa Giác Linh Thượng Tọa Thích Hạnh Tuấn

Tôi đi Texas về và đang chuẩn bị đi tiếp thì nghe tin Thượng Tọa Thích Hạnh Tuấn, trụ trì chùa Trúc Lâm ở Chicago, viên tịch. Thật quá bất ngờ và đau xót. Vẫn biết Sinh Trụ Dị Diệt là một chu kỳ diễn ra trong từng sát na của vạn vật và đời sống nhưng khi còn là một con người biết vui mừng, biết đau khổ, cuộc chia tay với người mình thân thương nào cũng đều kèm theo nỗi xót xa.

Chùa Trúc Lâm ở Chicago chỉ cách Boston một chuyến bay rất ngắn nhưng tôi không thể đến để đảnh lễ giác linh thầy. Công việc do công ty giao đã có kế hoạch từ trước, tôi đang cố gắng nhưng vẫn chưa tìm ra người thay thế. Cũng may, một lễ cầu siêu và tưởng niệm Thượng Tọa sẽ được trang nghiêm tổ chức tại chùa Phật Giáo ở Roslindale, Massachusetts vào Chủ Nhật 8 tháng 11, 2015. Gia đình tôi sẽ đảnh lễ giác linh Thượng Tọa ở Boston. Ở đâu rồi cũng chia tay, tôi tự an ủi mình như thế. Chúng tôi sẽ ngồi nơi thầy đã ngồi, sẽ tụng những bài kinh mà thầy đã từng tụng mỗi Chủ Nhật của nhiều năm trước.

Thượng Tọa sinh năm 1956 tại thôn Giáo Đông, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam và xuất gia từ thuở nhỏ với Hòa Thượng Thích Như Vạn, Trụ trì Tổ Đình Phước Lâm, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ngôi tổ đình uy nghiêm cổ kính đó từng ghi dấu chân của nhiều bậc cao tăng, thạc đức. Năm 1917 tại tổ đình Phước Lâm, hai tăng sĩ trẻ từ Huế vào thọ Tỳ Kheo trong Đại Giới Đàn Minh Hải. Hơn nửa thế kỷ sau, hai vị tăng sĩ trẻ đó đã trở thành Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết và Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Và hôm nay, Tổ Đình Phước Lâm cũng là nơi đào tạo nên Thượng Tọa Thích Hạnh Tuấn, một bậc tăng tài. Từ những ngày gặt lúa trên cánh đồng khô cháy ngoài thị xã Hội An và theo học Trung Học Trần Quý Cáp cho đến khi ngồi trong giảng đường của Harvard Divinity School là một chặng đường dài gian nan, thử thách nhưng cũng chứa đầy ý chí vươn lên không phải ai cũng làm được.

Quảng Nam cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của người đã góp phần lớn nhất để tạo dựng nên Gia Đình Phật Hóa Phổ, tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt Nam, một tổ chức mà Thượng Tọa Hạnh Tuấn mang hoài bão thống hợp. Thượng Tọa ra đi sớm và nguyện ước chưa thành, nhưng đã gieo xuống một hạt giống tốt và tôi tin hạt giống đó sẽ nảy mầm, lớn lên và nở hoa thơm ngát. Những giọt máu dù tuần hoàn khắp nơi trong cơ thể môt ngày đều trở về tim. Trong môt thế giới nhiễu nhương và thù hận, Phật giáo với các giá trị từ bi và trí tuệ sẽ là niềm hy vọng cuối cùng của nhân loại, trong đó có Việt Nam.

Bổn sư của Thượng Tọa cũng là bổn sư của tôi và đương nhiên cùng có Pháp Danh bắt đầu bằng chữ Thị. Thầy là Thị Trạm và tôi là Thị Nghĩa. Ngày chúng tôi gặp nhau trên nước Mỹ, Thượng Tọa báo tin bổn sư của chúng tôi đã viên tịch. Tôi cảm thấy lòng buồn. Có thể Bổn Sư chẳng hề nghĩ đến tôi, một đệ tử trong hàng ngàn đệ tử tại gia của Thầy. Nhưng đó không phải là điều quan trọng, mà quan trọng vì ngài là một trong Tam Bảo mà mỗi người Phật Tử nên tôn kính. Thầy trò chúng tôi đã nối nhau bằng một mối dây đạo tính thiêng liêng. Sợi dây đó đứt đi trong kiếp nầy, tự nhiên tôi cảm thấy đau buồn. Thượng Tọa Hạnh Tuấn tặng tôi tấm hình của bổn sư chúng tôi. Tôi thỉnh bức hình về thờ để nhớ đến ngài, nhớ đến những kỷ niệm không thể nào quên trong thời thơ ấu đầy nước mắt ở quê hương.

Chín năm trước, tôi được Thượng Tọa gọi đến dự khánh thành Chùa Trúc Lâm. Trong dịp này tôi may mắn được đảnh lễ rất nhiều bậc tôn đức, trong đó có Đại Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ mà tôi thường được dâng trà khi còn rất nhỏ ở chùa Viên Giác, Hội An. Dù rất bận, Thượng Tọa cũng dành một sáng sớm để đưa tôi đi dạo một vòng quanh chùa và trao đổi với nhau vài chuyện về Giáo Hội, về quê hương và về Gia Đình Phật Tử. Thầy tặng tôi bức hình thầy được chụp chung với đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang trong những ngày khó khăn và can đảm ở Quảng Ngãi. Ước mơ của Thượng Tọa về tương lai Phật Giáo và GĐPT cũng là mơ ước của tôi. Có khác chăng, ngài an nhiên tự tại trong đại nguyện cứu đời còn tôi vẫn bước thấp bước cao trên con đường đầy gai góc đã qua, đang đi và có thể còn dài.

Hôm khánh thành Chùa Trúc Lâm, Thượng Tọa tổ chức một đêm Thơ thiền với nội dung rất hay và hình thức sáng tạo. Trong không gian đầy thi vị và đạo vị, chư tôn đức tăng ni và cư sĩ Phật Tử ngồi chung quanh những chiếc bàn nhỏ, mỗi bàn có thắp một ngọn nến. Các thầy đọc thơ của Đại lão Hòa Thượng Thích Mãn Giác và của Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ. Tôi còn nhớ đêm đó Hòa Thượng Thích Như Điển ngâm bài “Nhớ Chùa” của Thi Sĩ Huyền Không thật cảm động vì Đại lão Hòa Thượng vừa viên tịch vài hôm trước. Chín năm qua rồi nhưng tôi vẫn còn nghe đâu đây lời giảng của Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu về thơ Tuệ Sỹ và âm thanh trầm bổng của Thượng Tọa Thích Tâm Hòa qua những bài thơ “Khung Trời Cũ”, “Hận Thu Cao” của Hòa Thượng Tuệ Sỹ. Thượng Tọa Hạnh Tuấn thích thơ và cũng thích ngâm thơ. Những bài thơ thầy thường ngâm là những bài tôi viết về Chùa Viên Giác và quê hương xứ Quảng của chúng tôi.

Thượng Tọa thuộc thế hệ tăng sĩ tài năng đức độ trẻ được đào tạo tại Việt Nam trước 1975 và Hoa Kỳ sau 1985. Trong thời gian theo học tại Đại Học Harvard, thầy thường đến giảng pháp tại các chùa Phật Giáo vùng New England, nhiều nhất là Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Roslindale, thuộc tiểu bang Massachusetts. Thượng Tọa cũng thường đến tham dự các sinh hoạt của các đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng và Cộng Đồng Việt Nam tại Massachusetts trong các dịp lễ.

Một ngày, những đám mây đen sẽ tan và giông bão sẽ qua đi. Có thể rất gần hay còn xa, nhưng tôi tin ngày đó sẽ đến. Chư tôn đức tăng ni, các cư sĩ, các huynh trưởng GĐPT sẽ ngồi xuống, lắng lòng ôn lại một chặng đường đầy khó khăn của Phật Giáo Việt Nam. Con đường mà hơn hai ngàn năm trước ngài Phú Lâu Na đã từng đi qua, sẽ mãi mãi còn in dấu chân của chư tôn đức, trong đó có Thượng Tọa Thích Hạnh Tuấn. Thượng Tọa đã cống hiến rất nhiều cho đạo pháp và cho tương lai của các thế hệ GĐPT Việt Nam. Thầy là một trong những bông mai quý hiếm đã nở ra trong mùa xuân đạo hạnh. Không nhiều người biết và thầy cũng ít kể ai nghe nhưng những người biết đều thừa nhận sự đóng góp của Thượng Tọa đối với Phật Giáo Việt Nam trong những năm đầu thập niên 1990 thật to lớn và ảnh hưởng lâu dài trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.

Con kính đảnh lễ và tiễn đưa giác linh thầy.

Thị Nghĩa Trần Trung Đạo

Xem (490)