» » Tin Đức Quốc tháng 08.2018

Tin Đức Quốc tháng 08.2018

Xem (342)

Thứ năm ngày 30.08.201
Không cần thiết khai ly lịch cho trung tâm tìm việc.

Người bạn đời (Partner) của một người nhận (Empfänger) Hartz-IV không cần phải tự (selbst) điền (ausfüllen) vào đơn xin trợ cấp xã hội (Sozialhilfe), cho dù (auch wenn) họ có quyền lợi (Anspruch haben). Đây là một trường hợp (Fall) của tòa án xã hội (Sozialgericht) Gießen.
Người bạn đời của người nhận trợ cấp xã hội không cần điền vào những hồ sơ (Dokument) của trung tâm tìm việc (Jobcenter) có liên quan đến (sich richten) người xin nhận trợ cấp trong tương lai (künftiger Leistungsempfänger). Đây là một quyết định tương đương (entsprechende Entscheidung) của tòa án xã hội tại Gießen được Nhóm Luật Xã Hội (Arbeitsgemeinschaft für Sozialrecht) thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein) lưu ý (hinweisen).
Trong vụ xử trên, một người bạn đời của một người có khả năng lao động và có quyền hưởng trợ cấp (erwerbsfähige Leistungsberechtigte) không muốn làm đơn (beantragen) xin trợ cấp. Nhưng ông bị trung tâm tìm việc đòi (auffodern) phải điền vào những mẫu in sẳn (Vordruck) liên quan đến những người xin trợ cấp để đảm bảo (Sicherung) cuộc sống (Lebensunterhalt) của họ.
Vì trung tâm tìm việc đã xem người đàn ông và cô bạn của ông như là một hộ gia đình  có trách nhiệm chung (Verantwortungsgemeinschaft). Nên ông bị họ buộc phải điền nhiều mẫu văn kiện (Formblatt) cho việc cứu xét (Überprüfung) tình trạng thu nhập (Einkommensverhältnis) của ông và ông phải nộp (einreichen) thêm (zusätzlich) chứng nhận thu nhập (Einkommensnachweise) của mình. Người này đã khởi kiện (klagen) chống (gegen) quyết định (Bescheid) của trung tâm làm việc.
Tòa án xã hội đã chấp thuận (stattgeben) đơn kiện (Klage), vì lẽ người đàn ông này không phải là người đứng đơn (Anstragsteller) cho nên không cần phải có bổn phận (nicht verpflichten) hợp tác (Mitwirkung). Ông cũng chẳng cần phải điền vào hồ sơ gì cả vì nó không liên quan đến ông. Khi ông là người muốn xin trợ cấp, thì chính ông phải là người đứng đơn. Hồ sơ thụ lý Az.: S 22 AS 1015/14

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger.

Thứ tư ngày 29.08.2018
Dầu dừa có hại cho sức khoẻ

Dầu dừa ngày càng được ưa thích (zunehmende Beliebtheit) và được sử dùng nhiều trong bếp (Küche). Tuy nhiên, một nữ y khoa (Medizinerin) tại Freiburg miền Nam nước Đức đã cảnh báo (warnen) và gây ra nhiều cuộc tranh luận (Debatte anstößen). Các khoa học gia (Wissenschaftler) và những người bảo vệ thiên nhiên (Naturschützer) đã ủng hộ (sich hinter stehen) bà và nêu ra (bennenen) nhiều nguy hại của dầu (Öl).
Các chuyên gia về dinh dưỡng (Ernährungsexpert) yêu cầu (empfehlen) nên bớt tiêu thụ (zurückhaltender Konsum) dầu dừa (Kokosöl). Người tiêu thụ (Verbraucher) hiện rất ứa thích sử dụng loại chất béo thực vật (Planzenfett) chế từ những cùi (Nährgewebe) trái dừa (Kokosnus), theo nữ phát ngôn viên (Sprecherin) của tổ chức dinh dưỡng Đức (Deutsche Gesellschaft für Ernährung, viết tắt là DGE), bà Antje Gahl.
Cùi dừa chứa (enthalten) nhiều axít béo bão hoà (gesättigte Fettsäure) nên có thể gây nguy hại cho sức khoẻ (Gesundheitsgefahr). Mặt khác (unter anderem), nó làm tăng (steigern) nguy cơ (Risiko) bệnh tuần hoàn tim (Herz-Kreislauferkrankung). Dầu dừa như vậy không phải (zu Unrecht) là một chất tốt cho sức khoẻ, theo bà Gahl nói (sagen) với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa).

Nữ y khoa (Medizinerin) Karin Michels mới đây (kürzlich) đã gây ra một cuộc tranh luận mạnh mẽ (heftige Diskussion) về lợi (Vorteil) và hại (Nachteil) của dầu. Trong một buổi thuyết trình (Vortrag), nữ giám đốc (Direktorin) Viện Phòng Chống và Dịch Tễ Ung Thư (Institut für Prävention und Tumorepidemiologie) của bệnh viện đại học (Uniklinikum) Freiburg đã đánh giá (bezeichnen) dầu dừa là một loại “chất độc hoàn toàn (reines Gift)” và khuyên đừng (abraten) sử dụng nó. Lời phát biểu được công bố (veröffentlichte Äußerung) trên nền Video (Videoplattform) của You Tube và đã gây ra phản ứng lớn (große Resonanz) và nhiều chỉ trích (Kritik), theo phát ngôn viên (Sprecher) của bệnh viện (Klinikum). Mục tiêu (Ziel) của bà Michels là giải thích cặn kẽ (aufklären) các đề tài (Thema) dinh dưỡng (Ernährung) và sức khoẻ (Gesundheit).

Theo bà Gahl, những lời phát biếu (Aussage) của bà Michels đã nhắm đúng mục tiêu (pointieren) và chính xác (korrekt) đối với vấn đề (Sache). Nhiều công trình khảo sát quốc tế (internetionale Studie) đã chứng minh (belegen) nguy cơ hại sức khoẻ (Gesundheitsrisiko) từ dầu dừa. Dù vậy (dennoch), chất béo hấp dẫn (exotisches Fett) này có xu hướng (Trend) quốc tế cũng như (sowie) các bếp nấu thuần chay (vegan) và chay thường (vegetarisch). Và số cung của nó ngày càng cao.
Ai thỉnh thoảng (gelegentlich) dùng dầu dừa để chiên xào (braten) cũng chẳng phải lo lắng (Sorge machen) gì cả, theo nữ khoa học dinh dưỡng (Ernährungswissenschaftlerin) Gahl. Nếu thường (häufig) sử dụng (verwenden) thì nguy hiểm (schädlich). Dầu dừa giúp (helfen) giảm cân (abnehmen) theo một quảng cáo (Werbung) là hoàn toàn sai lầm (schlicht falsch), bà Gahl nói.

Tốt hơn (besser) thay thế dầu dừa bằng các loại dầu thực vật (Planzenöl) như dầu hạt cải (Rapsöl), dầu đậu nành (Sojaöl), dầu ô liu (Olivenöl), dầu hoa hướng dương (Sonnenblumenöl) hoặc dầu hạt lanh (Leinöl)… Những loại này chứa axít béo không bão hòa (ungesättigte Fettsäure) và ít lo ngại (weniger bedenklich) hơn. Axít béo không bão hòa tốt cho tim (Herz) và sự tuần hoàn (Kreislauf) của con người (Menschen).
Các nhà bảo vệ thiên nhiên cho rằng dầu dừa không thể làm nóng (sich erwärmen). Lộ trình vận chuyển giao hàng (Lieferweg) và những phương pháp canh tác có vấn đề (fragwürdige Anbaumethode) dẫn đến tình trạng xấu cho sự cân bằng sinh thái (schlechte Öko-Bilanz), theo bà Ilka Petersen, tư vấn (Referentin) sử dụng đất đai (Landnutzung) và sinh khối bền vững (nachhaltige Biomasse) của tổ chức môi sinh (Umweltorganisation) WWF Đức quốc. Tiêu chuẩn tối thiểu về sinh thái và xã hội (ökologische und soziale Mindeststandard) hầu như chưa hề (kaum) được tuân thủ (einhalten).

Đồng thời (zudem) thị trường (Handel) ngày càng (zunehmend) gây nhiều áp lực cho các nông dân trồng dừa. Dù (trotz) mức thu nhập (Ertrag) của họ so với  sự tăng nhu cầu (steigende Nachfrage) cao, nhưng họ vẫn không thể sống (leben). Phần lớn (Großteil) sự thu hoạch (Gewinne) phải qua tay nhiều trung gian (zahlreiche Zwischenhändler) trong ngành (Branche). Nhiều điều kiện xã hội và kinh tế (soziale und wirtschaftliche Bedingung) đối với nông dân (Bauer) cần phải khẩn trương (dringend) cải thiện (verbessern).

Tin dpa, hình Marcus Brandt.

Thứ ba ngày 28.08.2018
Công ty đường sắt muốn tăng giá vé.

Khách sử dụng xe đường sắt thường xuyên (regelmäßig) chỉ trích (Kritik) việc tăng giá vé (Preiserhöhung) của tập đoàn liên bang (Bundeskonzern). Theo ông Lutz, chủ tịch ban điều hành (Vorstandchef), cho biết sẽ có việc tăng giá, nhưng cố gắng giảm thiểu gánh nặng cho khách hàng (Kunden).
„Trong năm những năm qua, chúng tôi đã thực hiện tăng giá vé và trong năm nay cũng không tránh khỏi“, ông Richard Lutz, chủ tịch tập đoàn (Konzernchef) nói với các tờ báo (Zeitung) của nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke. „Trung bình (im Durchschnitt) sẽ tăng (steigen) giá lưu thông đường xa (Fernverkehr) rõ rệt (deutlich) dưới (unterhalb) chỉ số lạm phát (Inflationsrate) và hiện nay (derzeit) khoảng (rund) hai phần trăm.“
Mục đích (Ziel) cải thiện (verbessern) giảm gánh nặng (Auslastung) các đoàn tàu (Zug). Việc đúng giờ (Pünktlichkeit) của công ty đường sắt sẽ được cải thiện qua việc số hóa (Digitalisierung) các tuyến đường (Strecke). „Chìa khóa (Schlüssel) để có phẩm chất tốt của công ty (gute Betriebsqualität) và đúng giờ là nhân sự (Kapizität)“, theo vị giám đốc (Manager). Một „kế hoạch thời biểu nhịp nhàng“ (Taktfahrplan) trong thời gian tới (demnächst) sẽ giúp (ermöglichen) cho việc đổi tàu đúng giờ (pünktliche Umstiege).

Tin dpa, hình Bodo Marks.

Thứ hai ngày 27.08.2018
Học sinh từ 13 tuổi trở lên được phép làm việc phụ.

Một cái điện thoại cầm tay mới (neues Handy) hay một bộ đồ xịn (coole Klamotten) vv…, đây là vài ví dụ đơn cử của nhiều lý do (zahlreiche Gründe) vì sao học sinh (Schüler) muốn có thêm (aufbessern) tiền túi (Taschengeld). Tuy nhiên, một công việc phụ (Nebentätigkeit) phải đáp ứng (erfüllen) vài điều kiện (einige Voraussetzung).
Trong năm học tới (kommendes Schuljahr), em nào muốn kiếm thêm ít tiền phải trên (über) 13 tuổi. Trên nguyên tắc (grundsätzlich) cấm (verbieten) trẻ em (Knder) và thanh thiếu niên (Jugendliche) trong nước Đức có bổn phận học cả ngày (Vollzeitschulpflicht) không được lao động (Beschäftigung).
Nhưng cũng có  một ngoại lệ (Ausnahme) cho những công việc nhẹ và thích hợp (leichte und geeignete Tätigkeit) cho trẻ em. Chẳng hạn như việc đi bỏ (austragen) báo (Zeitung) và quảng cáo (Prospekte).
Cơ quan tài chánh (Finanzverwaltung) tiểu bang Nordrhein-Westfalen lưu ý (hinweisen) rằng, phụ huynh (Eltern) phải chấp thuận (zustimmen) công việc. Và nói chung (generell) cấm việc làm (Job) giữa (zwischen) 18:00 đến 8:00 giờ (Uhr) sáng cũng như (sowie) không được phép làm (durchführen) trước (vor) giờ học (Schulunterricht). Từ (ab) 15 tuổi trở lên  trong thời gian (während) nghỉ hè (Ferien) cũng được phép (erlauben) làm việc, tối đa (maximal) bốn (vier) tuần (Woche) trong một năm (pro Jahr) và nhiều nhất (höchstens) 40 tiếng (Stunde) trong một tuần (pro Woche).

Tin dpa, hình Daniel Bockwohdt

Thứ bảy ngày 25.08.2018
Trẻ em đói nghèo rõ ràng nhiều hơn sự tiên liệu.

Thậm tệ (schlecht), xấu hổ (Schande), một bảng cáo trạng về sự nghèo đói (Armutszeugnis)…đây là phản ứng (Reaktion) đối với con số mới về tình trạng trẻ em đói nghèo (Kinderarmut). Theo Tổng Hội Bảo Vệ Trẻ Em (Kinderschutzbund), con số còn cao hơn sự tiên liệu (Einschätzung) cho đến nay (bislang).
Khoảng chừng (etwa) 4,4 triệu trẻ em trong nước Đức theo dự đoán (Schätzung) của Tổng Hội Bảo Vệ Trẻ Em Đức (Deutscher Kinderschutzbund, viết tắt là DKSB) lâm vào tình trạng nghèo đói (Armut), khoảng (rund) 1,4 triệu nhiều hơn (mehr als) dự tính.
Đây là một “bảng cáo trạng về tình trạng nghèo đói đối với một đất nước giàu có (reiches Land)”, tổng hội này nhấn mạnh (betonen). Ông đòi hỏi (auffordern) chính phủ Đức (Bundesregierung) hãy hành động (vorgehen) quyết liệt hơn (entschlossener) để chống tình trạng trẻ em đói nghèo. Những kế hoạch (Plan) của họ chẳng hạn (etwa) tăng (erhöhen) phụ cấp trẻ em (Kinderzuschlag) “hoàn toàn chưa đủ” (völlig unzureichend)”.
Lý do (Grund) con số cao hơn dự tính vì lẽ có nhiều gia đình không muốn hưởng (nicht in Anspruch nehmen) trợ cấp tài chánh của nhà nước (staatliche Leistung), cho nên (also) không được ghi vào (erfassen) thống kê (Statistik). “Bởi vì phụ huynh (Eltern) cảm thấy vấn đề hành chánh quá phức tạp (schwierig) hoặc chỉ vì xấu hổ (schämen)”, theo ông Heinz Hilgers chủ tịch (Präsident) DKSB. Chính phủ và nhà chức trách (Behörde) đã cố tình gây ra phức tạp hành chánh.
Ngoài ra, tổng hội căn cứ những con số theo sự trả lời của chính phủ Đức về câu hỏi của đảng Xanh (Grüne) ngày 18 tháng sau (Juni) 2018. Cái gọi là tăng trợ cấp theo Hart IV theo dự đoán chỉ có khoảng 50 phần trăm người được hưởng quyền lợi. Riêng đối với con số này có khoảng 850.000 trẻ dưới 18 tuổi.
Ông Hilgers nói rằng; Nếu tính chung thì con số cũng có thể lên đến 1,4 triệu trẻ em. Tất cả trẻ này không phải nghèo khó (arm), nhưng bị lọt ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia xã hội (Sozialstaat)”. Tổ chức DKSB yêu cầu nhà nước trong tương lai hãy thực thi sự đảm bảo trợ cấp cho trẻ em (Kindergrundsicherung) đơn giản (einfach) và không quan liêu (unbürokratisch).

Tin dpa, hình Marcel Kusch.

Thứ tư ngày 22.08.2018
Những quy tắc có giá trị cho việc làm của sinh viên.

Nhiều sinh viên (Student) làm việc(arbeiten) bên cạnh sự học (Studium). Khi công việc ít giờ (Minijob) còn có thêm một việc làm (Tätigkeit) khác, thì họ phải giữ (einhalten) một số quy tắc (bestimmte Regeln) khắt khe hơn kể từ năm 2019.
Nếu sinh viên muốn làm thêm ngoài công việc ít giờ thì họ không phải tính chung (zusammenrechnen) tất cả tiền lương (Gehälter). Điều kiện (Vorrausetzung) là công việc thứ hai phải có thời gian hạn định (zeitlich befristet). Người nào không làm hơn 70 giờ trong năm thì không có gì (nichts) để lo lắng (sich kümmern) cả.
Tuy nhiên (allerdings), kể từ (ab) 2019 có thay đổi (sich ändern) một số điều kiện (Bedingung): Sinh viên chỉ còn (nur noch) được phép làm việc thêm (zusätzlich) hai (zwei) tháng hoặc (oder) 50 ngày làm việc (Arbeitstag) ngoài công việc ít giờ, để tiền lương không bị cộng chung.
Nếu tổng cộng tiền lương hơn 450 Euro mỗi tháng thì người chủ (Arbeitsgeber) phải khai báo (anmelden) đóng bảo hiểm xã hội (Sozialversicherung), theo tin đăng trong tạp chí (Zeitschrift) „Finanztest“ (Khảo Sát Tài Chánh) số phát hành (Ausgabe) 09/2018

Tin dpa, hình Daniel Bockwoldt.

 

Thứ ba ngày 21.08.2018
Người làm việc trong mùa hè sẽ nhận lại tiền thuế khi khai thuế.

Học sinh (Schüler) và sinh viên (Studenten) có thể kiếm thêm tiền (Geld verdienen) bằng một công việc nào đó trong những kỳ nghỉ hè (Ferienjob). Và họ cũng không nên lo nghĩ (sich den Kopf machen) nhiều về khoản tiền thuế bị trừ (Steuerabzug) trong bảng lương (Lohnabrechnung). Số tiền này thường được hoàn lại (zurückgeben) qua việc khai thuế (Steuererklärung).
Bằng cách này, số tiền thuế đã đóng (gezahlte Steuer) trên nguyên tắc (in der Regel) được hoàn trả (erstatten). Vì lẽ đó (aus dem Grund), học sinh và sinh viên đừng quên (nicht vergessen) khai thuế trong năm tới, nếu họ có đi làm trong những kỳ nghỉ hè năm nay.
Điều này đã được tổ chức Giúp Thuế Lương Công Nhân (Lohnsteuerhilfe für Arbeitnehmer) tại Gelsenkirchen đề nghị (empfehlen). Không phải trả (zahlen) thuế đối với những người trong năm 2018 có thu nhập (verdienen) ít hơn (weniger) tổng số thu nhập được miễn đóng thuế (Gesamt-Freibetrag) là 10.036 Euro.
Trong số này gồm có (beinhalten) khoản căn bản (Grundbetrag) là 9.000 Euro; chi phí cho công việc (Werbungskosten) là 1.000 Euro cũng như khoản chi đặc biệt đổ đồng (Sonderausgabenpauschsbetrag) là 36 Euro. Trên lý thuyết  (theoretisch), còn tính thêm (hinzurechnen) khoản đổ đồng an sinh (Vorsorgepauschal). Tuy nhiên (allerdings) học sinh thông thường (üblicherweise) không phải đóng (einzahlen) những khoản (Beitrag) tiền bảo hiểm xã hội (Sozialversicherung). Và sinh viên cũng thế, họ cũng không phải đóng những khoản tiền bảo hiểm sức khoẻ (Krankenversicherungsbeitrag).
Những công việc ít giờ (Minijobs) hầu như (fast immer) đưọc miễn thuế (steuerfrei). Ít ra (zumindest), điều này cũng có giá trị (gelten), khi mức thu nhập (Einkommen) cho một công việc thường xuyên (regelmäßige Arbeit) không quá (nicht über) 450 Euro mỗi tháng (monatlich) hoặc (oder) chỉ làm (arbeiten) tối đa (maximal) 70 ngày (Arbeitstage) hay (beziehungsweise) ba tháng (drei Monat).
Người nào quên (vergessen) nộp (abgeben) giấy khai thuế, có thể làm lại (nachholen) trong vòng bốn (vier) năm. Đến cuối năm nay (2018), Ty Tài Chánh (Finanzamt) vẫn còn (noch) chấp nhận (akzeptieren) việc khai thuế của năm 2014.

Tin dpa, hình Monika Skolimowska

 

Chân Thành Cáo Lỗi

Vì lý do kỹ thuật, mục “Tin Đức Quốc” do Đạo Hữu THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp đảm trách thực hiện bị gián đoạn một thời gian. Kính mong Quý Độc Giả thân thương hoan hỷ và niệm tình hỷ thứ.

Nhân mùa VU LAN Phật Lịch 2562, chúng con thành tâm kính chúc
– Chư Tôn Đức Tăng Ni trong và ngoài nước pháp thể khinh an, chúng sanh dị độ
– Quý Đạo Hữu cùng thân quyến có nhiều sức khoẻ và an lành trong niềm tin không thối chuyển với Tam Bảo

Nam Mô ĐẠI HIẾU MỤC KIỀN LIÊN Bồ Tát

Ban Biên Tập trang nhà VIÊN GIÁC

Xem (342)