» » Tin Đức Quốc tháng 06.2018

Tin Đức Quốc tháng 06.2018

Xem (610)

Thứ tư ngày 20.06.2018
Bảo hiểm chăm sóc sẽ tăng trong năm tới.

Ngày càng có nhiều người cần được chăm sóc (Pflegebedürftige) trong nước Đức cần phải chăm sóc (betreuen) tốt (gut), nhưng chuyên viên (Fachkraft) hiện đang thiếu trầm trọng. Điều này sẽ làm tăng (treiben) chi phí (Kosten). Nay (nun) đã rõ ràng (klar) rằng người đóng bảo hiểm (Beitragszahler) phải trả thêm (extra).
Liên quan đến (angesichts) chi phí tăng cụ thể (deutlich steigende Kosten) cho việc chăm sóc (Pflege), kể từ ngày 01 tháng một (Januar) 2019, mức (Satz) đóng bảo hiểm sẽ nâng lên (anheben) 0,3 phần trăm điểm (Prozentpunkte), theo ông Jens Spahn (CDU), bộ trưởng y tế Đức (Bundesgesundheitsminister).
Hiện nay (derzeit) là 2,55 phần trăm tổng thu nhập (Bruttoeinkommen), ở gia đình không con (Kinderlosen) là 2,8 phần trăm. Công nhân (Arbeitnehmer) đóng phí (Beitrag) một nửa (Hälfte) của chủ nhân (Arbeitgeber), nhưng không có (ohne) phụ cấp gia đình không con (Kinderlosenzuschlag). Việc nâng cao (Anhebung) cần có để ổn định (stabilisieren) các bảo hiểm chăm sóc (Pflegekasse) đang bị đe dọa (drohen) tăng sự thâm hụt hàng tỷ (wachsendes Miliardendefizit) bởi sự suy sụp của các bảo hiểm hiện nay (aktueller Kassensturz).

Việc nâng phí (Beitragserhebung) theo chính phủ (Regierung) cho biết (Angaben) mỗi năm (jährlich) sẽ có thêm (zusätzlich) 4,2 tỷ Euro để thiết lập (schaffen) sự an toàn cho kế hoạch (Plannungssicherheit) đến 2022. Các công ty chăm sóc dự tính (erwarten) trong năm nay sẽ phải chi khoảng hai (zwei) tỷ Euro và sự thiếu hụt cao (hoheres Defizit) khoảng ba (drei) tỷ Euro.
Theo những đánh giá mới (neue Schätzung), nếu không tăng phí đóng thì đến năm 2022 sẽ có số âm (Minus) tầm (knapp) năm (fünf) tỷ Euro. Sự trù bị (Reserve) khoảng 6,0 tỷ Euro  sẽ tiêu dần (abschmelzen) nhanh chóng (rasch) đến cuối năm (Jahresende) 2017. Như vậy (damit), đến cuối (Ende) năm 2022 sẽ có mối đe dọa (Drohung) thậm chí (sogar) một lỗ hổng tài chánh (Finanzloch) lên đến 13 tỷ Euro.
Mặt trái của vụ việc (Hintergrund) là bảo hiểm chăm sóc (Pflegeversicherung) vẫn luôn phải chi (ausgeben) nhiều (immer mehr) tiền (Geld) – trong năm qua là 38,6 tỷ Euro. Bởi số lượng (Zahl) người được chăm sóc (Leistungsemüpänger) tiếp tục tăng (weiter zunehmen). Đến cuối năm, theo hiệp hội hàng đầu (Spitzenverband) các bảo hiểm y tế luật định (gesetzliche Krankenkasse) thì có khoản (rund) 3,46 triệu người nhận (Bezieher) và cuối năm 2016 vẫn còn 2,95 triệu người.

Tổ chức bảo vệ bệnh nhân Đức (Deutsche Stiftung Patientenschutz) đã phê phán (kritisieren) rằng, việc nâng cao (Erhöhung) sẽ không đảm bảo tương lai (nicht zukunftssicher) cho các bảo hiểm chăm sóc. Lương cao (höheres Lohn) cho lực lượng chăm sóc (Pflegekraft) không được quan tâm đến. “Không thể nào lấy thêm (nichts mehr holen) từ những người cần được chăm sóc”, theo ông Eugen Brysch, thành viên ban lãnh đạo (Vorstandsmitglied) nói với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa). Cần thiết (nötig) là một phương thức (Konzept) thật sự (endlich) hạn chế (begrenzen) những chi tiêu (Ausgaben) của người cần chăm sóc và nhà nước (Staat) nhận bổn phận (in die Pflicht nhemen) bằng phương tiện thuế (Steuermittel).
Các hiệp hội chủ nhân (Arbeitgeberverband) cho rằng, chính phủ xử sự (handeln) theo nguyên tắc (Prinzip) „túi trái (linke Tasche), túi phải (rechte Tasche)“. Việc giảm gánh nặng (Entlastung) bảo hiểm thất nghiệp (Arbeitslosenversicherung) nay (nun) sẽ được thu trực tiếp trở lại (direkt wieder einkassieren).

Tin dpa, hình Jens Büttner.

Thứ bảy ngày 16.06.2018
Có được phép xem bóng đá tại chỗ làm hay không?

Nhiều trận đấu (Spiele) giải túc cầu thế giới (Fussball-Weltmeisterschaft) lần thứ 21 tại Nga diễn ra (stattfinden) vào buổi chiều (nachmittags). Nhưng có nhiều người vẫn (noch) còn đang làm việc (arbeiten). Như vậy, máy truyền hình (Fernseher) cũng có thể đặt (anstellen) trong văn phòng (im Büro) để xem. Tuy nhiên, có được phép (erlauben) hay không?
Đối với nhiều công nhân viên (Berufstätige) là giờ làm việc (Arbeitszeit). Câu hỏi đặt ra là: Họ có được phép xem (anschauen) trong văn phòng hay không? Hoặc (oder) ít ra (wenigstens) được phép nghe (hören) đài (Radio) chăng?
Cho dù (auch wenn) trái tim cổ động viên (Fan-Herz) bị đau nhói (wehtun), nhưng vẫn không được phép. Chỉ (nur) được phép, khi chủ nhân (Arbeitgeber) cụ thể (ausdrücklich) cho phép (gesatten), theo ông Jürgen Markowski, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) và thành viên (Mitglied) của Tổ Luật Lao Động (Arbeitsgemeinschaft Arbeitsrecht) thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltverein).
“Thật sự, tôi đã ký một hợp đồng lao động (Arbeitsvertrag) và có bổn phận (sich verpflichten) làm việc.” Xem bóng đá sẽ làm chi phối rất nhiều (sehr ablenken), cho dù chỉ là trận chiếu trên một màn hình nhỏ (kleines Fenster).
Cũng như vậy (Gleiches) có giá trị (gelten) cho việc truyền thanh trong đài (Radio-Übertragung). Ngay cả khi công nhân được phép nghe radio trong lúc làm việc (im Job). “Sự miễn cưởng như vậy (solche Duldung) thường (meistens) liên quan (sich beziehen) đến âm nhạc (Musik) để họ có thể thật sự (wirklich) làm việc tốt hơn (besser)”, theo ông Markowski. “Việc chiếu trực tiếp (Live-Übertragung) thì khác (anders), thật sự (eigentlich) điều này làm cho mọi người không ai (neimand) có thể tập trung (sich konzentrieren) vào công việc làm (Arbeit) được.”
Một cách khác (möglicher Ausweg) là trực tiếp (Live-Ticker) bằng chữ (in Textform): Việc lướt mạng cá nhân (privates Surfen) thường cũng được phép ở chỗ làm, nhưng có nghĩa là thỉnh thoảng nhấn (gelegentlicher Klick) “cập nhật” (Aktualisieren), khi điều này không ảnh hưởng (beeinträctigen) đến công suất (Arbeitsleistung).
Và dĩ nhiên (natürlich), việc xem giải túc cầu thế giới (WM-Gucken) cũng có thể được phép, khi có điện thư luân lưu (Rundmail) của xếp (Chef). Có vài chủ nhân (Arbeitgeber) thậm chí (sogar) đặt (aufstellen) máy truyền hình hay máy chiếu màn ảnh (Beamer) cho xem những trận lớn (große Spiele). Nhưng họ có thể đòi hỏi (verlangen) công nhân viên làm bù thêm (nacharbeiten) 90 phút hoặc phải làm thêm giờ. “Đây cũng là trường hợp (Fall) của hội đồng xí nghiệp (Betriebsrat)”, theo ông Markowski. “Trường hợp lý tưởng (Idealfall) là chủ nhân thậm chí có thể tùy thuận (zugehen) và đề nghị (vorschlagen) một quy tắc (Regelung).”

Tin dpa, hình Christin Klose.

Thứ sáu ngày 15.06.2018
Người lao động cần lưu ý những ngày nóng bức.

Nhiệt độ cao (hohe Temperatur) có thể làm cho những ngày lao động (Arbeitstag) trở thành địa ngục (Hölle). Ăn nhẹ (leichtes Essen), uống nhiều nước (viel Flücssigkeit) và mặc quần áo thoáng (luftige Kleidung) – và cũng nên bắt đầu (beginnen) công việc trong ngày sớm hơn (früher).
Họ có thể làm nhiều cách để làm cho đầu (Kopf) khỏi bị bốc hỏa (Hitze). Quan trọng nhất (Wichtigste) là uống nhiều (viel trinken) và nhất là (zwar möglichst) hoàn toàn (nichts) không có đường (Zucker). Ví dụ các trà trái cây (Früchtetee) hoặc nước khoáng (Wasser) có chút ít (etwas) chanh (Zitrone) rất lý tưởng (ideal), theo bà Anette Wahl-Wachendorf thuộc Hội Bác Sĩ Xí Nghiệp và Công Xưởng (Verband der Wrks- und Betriebsärzte).
Việc ăn uống cũng cần thích nghi (passen) với nhiệt độ bên ngoài (Außentemperatur). Chẳng hạn, thời tiết hơn 30 độ (Grad) thì ít ai có hứng thú (wenige Lust) ăn thực phẩm có mỡ dầu (fettige Kost) cả. Người ta nên tin tưởng (vertrauen) vào bản năng (Instink) này, theo nữ chuyên gia (Expertin). Bà nói: Sự tiêu hóa (Verdauung) các thức ăn khó tiêu (schweres Essen) thường cần nhiều năng lượng (Energie) và chính năng lượng này sinh ra sức nóng thêm.”
Quần áo thoáng giúp (helfen) cho thân thể (Körper) thải ra (loswerden) sức nóng bị tích trữ (aufgestaute Hitze) – ngay cả (auch und gerade) trong các văn phòng (Büro) có quy tắc y phục cụ thể (feste Kleiderordnung). Nếu thủ lãnh (Chef) không tự (selber) có sáng kiến (auf die Idee kommen), thì công nhân viên (Beruftätigte) cũng có thể bình tĩnh (ruhig) thưa hỏi (nachfragen), liệu họ có được phép miễn mang cà-vạt (Krawatte) hay (oder) áo khóac (Jacke) ở trường hợp ngoại lệ nào đó (ausnahmsweise) chăng.
Khi ai có điều kiện (Möglichkeit), nên đưa giờ làm việc (Arbeitszeit) lên sớm hơn (nach vorn verlegen) – như vậy (so) số giờ làm việc (Zahl der Stunden) giảm (sinken) bớt để họ không phải vẫn (noch) giam mình (verbringen) ở văn phòng trong sức nóng oi ả của buổi chiều (stickige Nachmittagshitze). “Và ở những ngày quá nóng (heiße Tagen), công việc vì thế cũng có thể (vielleicht) hoãn lại (verschieben) và sẽ làm bù sau đó (später nachholen)”, theo bà Wahl-Wachendorf. “Ở đây (hierzulande), chúng ta không có chu kỳ nóng cả tuần và cả tháng (wochen- und monatelange Hitzeperioden).”

Tin dpa, hình Lukas Schulze.

 

Thứ tư ngày 13.06.2018
Tăng lương tối thiểu trong thời gian tới.

Ông Hubertus Heil, bộ trưởng bộ lao động Đức (Bundesarbeitsminister) dự tính tăng rõ rệt (deutliche Erhöhung) lương tối thiểu (Mindestlohn). “Ủy ban lương tối thiểu (Mindestlohnkommission) sẽ đề nghị (vorschlagen) việc tăng lương trong tháng sáu (Juni). Liên quan (angesichts) đến tình hình kinh tế tốt đẹp (gute wirtschaftliche Lage) nên tôi cho rằng sẽ có sự gia tăng mạnh (kräftige Erhöhung)”, chính khách (Politiker) đảng SPD nói (sagen) với tờ “Bild am Sonntag” (Hình Ảnh Ngày Chủ Nhật). Đồng thời (zudem) ông cũng tuyên bố (ankündigen) rằng, sẽ tái kiểm soát chặt chẽ hơn (erneut schärfere Kontrolle) việc duy trì (Einhaltung) lương tối thiểu. “Chúng tôi có thông tin (Hinweise) rằng, các chủ nhân (Arbeitgeber) vẫn còn tiếp tục (immer noch) che đậy (unterlaufen). Vì lẽ đó, chúng ta phải nới rộng (ausweiten) việc kiểm soát.“
Gần đây (jüngst), Tổng Công Đoàn Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB) đã yêu cầu (fordern) sự tăng lương tối thiểu rõ ràng hơn. Các công đoàn (Gewerkschaft) đã mong muốn buổi họp (Sitzung) của ủy ban lương tối thiểu trong tháng sáu sẽ làm mạnh việc tăng lương, theo chủ tịch DGB, ông Reiner Hoffmann. Bảng tính cho đến nay (bisherige Berechnung) của Sở Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) cho rằng sẽ có việc tăng hiện nay (aktuell) từ 8,84 Euro lên thành 9,19 Euro trong năm tới.
Lương tối thiểu theo đạo luật (Gesetz) phải định hướng (oritentieren) theo sự tăng lương luật định cuối cùng (letzte Tariferhöhung), cũng như tình trạng kinh tế chung (allgemeine Wirtschaftslage), ông Hoffmann giải thích (erklären). Hiện nay cực tốt (extrem gut). „Như vậy cũng phải có sự tăng thêm thích đáng (ordentlicher Zuschlag).“
Các chính khách đảng Tả khuynh (Linke), Xanh (Grüne) và từ đảng SPD đánh giá (bezeichnen) nhiều lần (wiederholt) rằng mức lương tối thiểu hiện nay (derzeitige Höhe) quá thấp (viel zu niedrig). Ông Kevin Kühnert, chủ tịch (Vorsitzender) Juso đã yêu cầu tăng ít nhất (mindestens) mười hai (zwölf) Euro mỗi giờ (je Stunde) vẫn còn trong nhiệm kỳ này (Wahlperiode).
Ông Peter Tschentscher (SPD), thị trưởng (Bürgermeister) Hamburg trong tháng ba (März) đã tuyên bố (ankündigen) phải áp dụng (sich einsetzen) lương tối thiểu mười hai Euro mỗi giờ cho các doanh nghiệp công (öffentliches Unternehmen) của thành phố này.

Tin dpa, hình Jens Büttner.

Thứ ba ngày 12.06.2018
Người đóng thuế cần chứng minh về việc mua thuốc.

Việc giao thuốc (Arzneimittelabgabe) trong nhiều trường hợp (Fall) có thể khai thuế (Steuer absetzen). Tuy nhiên (doch) phải đáp ứng (erfüllen) một số điều kiện (Voraussetzung) để ty tài chánh (Finanzamt) có thể công nhận (erkennen) phí tổn (Kosten) như khó khăn đặc biệt (außergewöhnliche Belastung) khi vượt quá (überschreiten) giới hạn khó khăn cá nhân (individuelle Belastungsgrenze).
Việc này tùy thuộc vào (abhängig) mức thu nhập (Einkommen), tình trạng gia đình (Familienstand) và số con cái (Kinderzahl) của đương sự (Betroffene). Việc trả thêm luật định (gesetzliche Zuzahlung) đến mười (zehn) Euro cho mỗi (pro) loại thuốc theo toa chỉ định (rezeptpflichtiges Medikament) cũng như chi phí cho việc tự uống thuốc (Selbstmedikation) ví dụ (zum Beispiel) các loại thuốc chống dị ứng (Allergiemittel), theo giải thích (Erklärung) của Hội Dược Sĩ Đức (Deutscher Apothekerverband). Ngoài ra (neben) hóa đơn trả tiền (Zahlungsbeleg) trong trường hợp nghi ngờ (im Zweifel) về tính chất cần thiết y tế (medizinische Notwendigkeit) cũng phải chứng minh (nachweisen).
Việc trả tiền thêm luật định cho những loại thuốc theo toa chỉ định là toa màu hồng (rosafarbenes Rezept) là điều kiện giao thuốc (Arzneimittelabgabe). Việc tự uống thuốc có thể chứng minh bằng toa màu xanh dương (grünes Rezept) được bác sĩ (Arzt) cấp (ausstellen) cho những loại thuốc không được bảo hiểm sức khỏe trả tiền.

Tin dpa, hình Uli Deck.

 

Thứ hai ngày 11.06.2018
Tiền D-Mark cũ vẫn có thể đổi được.

Ngân tệ D-Mark đã đi vào lịch sử (Geschichte) từ lâu (schon lange) . Tuy nhiên (allerdings), trong nhiều hộc tủ (Schublade) vẫn còn một số lớn (jede Menge) đồng xu (Münze) và tiền giấy (Scheine). Sở hữu chủ (Besitzer) vẫn có thể đổi (umtauschen) được như từ trước đến nay (nach wie vor) theo hối đoái hiện hành (fester Wechselkurs).
Đồng D-Mark từ lâu không còn lưu hành như luật định (gesetztliches Zahlungsmittel) nữa (nicht mehr). Người nào tìm (finden) được đồng D-Mark loại đồng xu hay tiền giấy vẫn có thể đổi vô thời hạn (zeitlich unbegrenzt) tại các chi nhánh (Filliale) các ngân hàng Đức (Deutsche Bundesbank) thành Euro.
Hối đoái đổi đã quy định (festgelegter Umtauschurs) là 1,95583 DM. Khoảng (rund) 12,8 tỷ (Milliarde) D-Mark vẫn còn ẩn núp (schlummern) chính thức (offiziel) trong các hộc tủ, các tập sưu tầm (Sammelordner) hoặc cất dấu (verstecken) đâu đó, Liên Hội Ngân Hàng Đức (Bundesverband deutscher Banken) giải thích (erklären) quy chiếu những con số (Zahlen) của ngân hàng Đức (Bundesbank).

Tin dpa, hình Bernd Wüstneck.

Chủ nhật ngày 10.06.2018
Phụ huynh không phải trả tiền học lần thứ nhì cho con trẻ.

Việc học nghề (Ausbildung) của trẻ (Kinder) thường (meist) là một gánh nặng tài chánh lớn lao (große finanzielle Belastung) cho các bậc cha mẹ (Eltern). Liệu sở trợ cấp học phí (Bafög-Amt) có chịu (übernehmen) thanh toán mọi chi phí (Kosten) cho sự học nghề lần thứ nhì (zweite Ausbildung)?
Những phụ huynh đã tài trợ (finanzieren) việc học nghề cho con trẻ của họ, không cần phải trả (zahlen) thêm lần nữa (nicht noch mal), khi đứa trẻ chưa tìm được (finden) việc làm (Job). Mối nguy cơ chung (allgemeines Risiko) của vấn đề chưa có việc làm (Nichtbeschäftigung) sau việc học nghề không được phép gây khó khăn (anlasten) thêm cho phụ huynh, tòa án tiểu bang cao thẩm (Oberlandesgericht) Hamm đã quyết định (entscheiden).
Trẻ đủ tuổi thành niên (volljährige Kinder) phải tự lo bản thân (selbst für sich sorgen) sau khi kết thúc (Abschluss) việc học. Nhưng cũng có ngoại lệ (Ausnahme), chẳng hạn (etwa) nghề đã học (erlernter Beruf) vì lý do không biết trước được (nicht vorhersehbare Gründe) như bệnh hoạn (Erkrankung) không thể hành nghề được (ausüben). Phán quyết (Urteil) số Az.: 7 UF 18/18 OLG Hamm.
Trường hợp cụ thể (konkreter Fall) là một thiếu nữ đến từ Dortmund đã học (studieren) cao học (Hochschule) tại Mannheim và tốt nghiệp (ablegen) thạc sĩ khiêu vũ (Tanzdiplom). Nhưng cô không tìm ra được một chỗ (Stelle) làm là nữ vũ viên (Tanzerin). Lý do khác là có 3000 ứng viên (Bewerber) chỉ cho một chỗ làm duy nhất (einzige Stelle). Vì lẽ đó (deshalb), sau đó (später) cô quyết định (entschieden) học tiếp ngành tâm lý học (Psychologie). Cho học trình lần hai (zweites Studium) này tiểu bang (Land) đã chi 6.400 Euro Bafög và đòi cha mẹ cô phải hoàn trả (zurückverlangen) – quá vô lý (zu Unrecht), theo tòa quyết định.

Tin dpa, hình Andrea Warnecke.

Thứ bảy ngày 09.06.2018
Đau Nhức Thường Không Chỉ Là Triệu Chứng Vật Lý.

Đau nhức (Schmerzen) là sự cảnh báo (Warnen) của thân thể (Körper) khi bị thương tích (Verletzung), chấn thương v.v… Nhưng những cơn đau nhức này tự nó cũng có thể trở thành bệnh tật (Krankheit), khi không còn (verlieren) chức năng cảnh báo (Warnfunktion) và mãn tính (chronisch).
Ngoài yếu tố vật lý (körperlich), đau mãn tính (chronischer Schmerzen) thường có tác nhân tâm lý (seelische Komponent). Nên cần được can thiệp bằng những phương pháp thích hợp (entsprechende Therapie), theo bà Claudia Pirch, bác sĩ trưởng (Oberärztin) khoa gây mê (Anästhesie), y khoa phục sức (Intensivmedizin), y khoa giảm đau (Palliativmedizin) và điều trị đau nhức (Schmerztherapie) của bệnh viện (Klinik) Schleswiger Helios.

Theo Tổ Chức Đau Nhức Đức (Deutsche Schmerzgesellschaft) hiện có khoảng 23 triệu người đau mãn tính. „Vì thế cho nên rất tiếc (leider), chứng đau nhức mãn tính phải được đánh giá (bezeichnen) là căn bệnh phổ cập quần chúng (Volkskrankheit)“, bà Pirch nói (sagen). Bệnh nhân (Patient) và bác sĩ (Arzt) đều muốn tìm ra (finden) nguyên nhân (Ursache) của cơn đau nhức (Schmerz). Theo bà, sự việc này như là môn triết học (Philosophie): Tôi đưa (bringen) xe (Auto) đến cơ xưởng (Werkstatt)  và chiếc xe được sửa chữa (reparieren). Nhiều người cũng có ấn tượng như vậy đối với thân thể (Körperverständnis) họ. Có nghĩa là, người ta đến bác sĩ (zum Arzt gehen) và sau đó tất cả tốt đẹp (alles wieder gut). Nhưng không phải chỉ (nur) có cơ thể liên quan đến sự đau nhức mà (sondern) cả tinh thần (Seele), tâm lý (Psyche) và toàn bộ đời sống xã hội (ganzes Sozialleben) và nhiều yếu tố khác cũng đóng vai trò không kém quan trọng.

Vì thế cho nên, bà Pirch áp dụng cái gọi là „điều trị đau nhức đa dạng“ (multimodale Schmerztherapie). Có nghĩa là các tâm lý gia (Psychologe), điều trị viên về vận động (Ergotherapeut) và vật lý (Physiotherapeut) cũng như bác sĩ (Mediziner) nhiều chuyên khoa khác nhau (verschiedene Fachrichtungen) cùng kết hợp nhau làm việc (zusammen arbeiten)  để tìm ra (finden) một giải pháp tốt nhất cho từng bệnh nhân (beste individuelle Lösung) và tùy trường hợp riêng (Einzelfall)

Các triệu chứng đau nhức lúc nào cũng phải được phân định (immer unterscheiden) rõ xem nó liên quan đến sự đau nhức cấp tính (akut) hay mãn tính (chronisch). Một sự đau nhức cấp tính (Akutschmerz) là trường hợp bình thường (normal) vì nó có nhiệm vụ bảo vệ thân thể (Körper schützen). „Sự kiện này tuyệt đối cần thiết cho cuộc sống (absolut lebensnotwendig)!“ Nhưng khi một triệu chứng đau nhức lâu hơn ba (3) tháng, hoặc vết thương sau khi phẫu thuật (Operation) hoặc một sự thương tích nào đó, cho dù vết thương đã lành hoặc có biểu hiện thay đổi bất thường, tái biểu hiện trên thân thể „thì đây là một loại (Art) dấu hiệu cảnh báo“ rằng, tự thân (selbst) sự đau nhức đã có xu hướng dẫn đến bệnh hoạn (zur Krankheit werden).

Theo bà Pirch, sự mong đợi nhiều (große Erwartung) rằng cơn đau nhức mãn tính sau 14 ngày điều trị trong y viện (stationäre Behandlung) Schleswig sẽ lành hẳn (ganz los sein) là điều không thể (unmöglich) – khi có bệnh nhân đến và nói rằng, họ có cơn đau nhức ở thang bậc triệu chứng là 8/10 và muốn xuống còn 0. „Hệ thống trong cơ thể khi có một loại lập trình sai (Fehlprogrammierung) thì người ta không thể hạ xuống số 0 được! Nó không giống máy vi tính (Computer), khi tắt máy (herunterfahren) thì sau đó nó trở lại bình thường (wieder in Ordnung)!

Mục tiêu (Ziel) của việc trị liệu (Therapie) là tạo điều kiện ảnh hưởng (beeinflussen) có tính cách quyết định (entscheidend) và cải thiện lâu dài (nachhaltig positiv) phẩm chất cuộc sống (Lebensqualität). Đôi khi (manchmal) điều này phải diễn ra (geschehen) bằng SỰ THAY ĐỔI QUAN ĐIỂM (Perspektivwechsel) trong đầu (im Kopf); đôi khi bằng sự KÍCH HOẠT (Aktivierung) một phần cơ thể nhất định nào đó (bestimmte Körperbereich), chẳng hạn vận động nhiều (mehr Bewegung) v.v…

Tin dpa, hình Oliver Killig

Thứ sáu ngày 08.06.2018
Chán chường lâu dài trog công việc hảy tìm bạn đồng hướng.

Ai đó không hài lòng (unzufrieden) lâu dài (dauerhaft) với công việc (Job) của họ và những điều kiện làm việc (Arbeitsbedingung) thì nên làm (unternehmen) điều gì đó (etwas) để trấn ngự (dagegen). Giải pháp tốt nhất (beste Lösung) thường (häufig) là bày tỏ (angehen) khó khăn (Problem) chung (zusammen) với các đồng nghiệp (Kollegen).
Quá ít (zu wenig) thì giờ (Zeit) cho quá nhiều (zu viel) công việc (Arbeit), lúc nào cũng rập khuôn (ewige Routine) thay vì (statt) thật sự sáng tạo (echte Krativität), không khí làm việc xấu (schlechtes Betriebsklima)…tất cả (all) những điều này có thể gây ra (auslösen) căng thẳng tâm lý (Stress) và làm cho người lao động (Arbeitnehmer) quên bẳng (vermiesen) công việc. Vấn đề này cũng có những giải pháp cá nhân (individuelle Lösung), bà Sabine Pfeiffer, giáo sư đại học (Professorin) về xã hội học (Soziologie) giải thích (erklären) trong cuộc phỏng vấn (Interview) với tạp chí (Zeitschrift) „Brigitte“, số phát hành (Ausgabe) 12/2018. Như vậy (so), người lao động (Berufstätige) có thể tìm cách (versuchen) chẳng hạn (etwa) nói (sagen) dứt khoát (konsequent) „không“ (Nein) hoặc tách rời (trennen) có ý thức (bewusst) giữa (zwischen) nghề nghiệp (Beruf) và cuộc sống riêng tư (Privatleben). Liên tục (dauerhaft) và tốt hơn (besser) thường (oft) nên giải quyết (lösen) mọi vấn đề chung (gemeinsam) với các đồng nghiệp.
Bởi lẽ (denn), ở đâu có một đồng nghiệp gặp vấn đề (leiden) thì thông thường những người khác cũng bị ảnh hưởng theo. Trong cùng đội ngũ (Team) với họ, những nạn nhân (Opfer) của sự căng thẳng tâm lý và chán chường (Frust) có thể suy nghĩ (überlegen) ví dụ (zum Beispiel) rằng làm thế nào để có thể thật sự (tatsächlich) giải quyết (schaffen) nhiều việc (viel Arbeit) cho khối (Abteilung) của họ và làm thế nào để những cấu trúc (Struktur) được cải thiện (sich verbessern). Sau đó, họ cùng nhau mang những câu trả lời đến xếp (Chef) và hội đồng xí nghiệp (Betriebrat) – như vậy sẽ có nhiều luận cứ tốt hơn (bessere Argumente) hơn là (als) kẻ đơn độc chiến đấu (Einzelkämpfer).
Nỗi lo sợ (Angst) mất việc (Jobverlust) không phải là lập luận đối kháng (Gegenargument), theo bà Pfeiffer. Nó có thể làm cho công ty (Unternehmen) có chút ít (teilweise) ý thức quan tâm, nhưng liên quan đến (angesichts) tình trạng thị trường lao động (Arbeitsmarktsituation) thường không chính đáng (unberechtigt).

Tin dpa, hình Christin Klose.

 

Thứ năm ngày 07.06.2018
Các tiểu bang chuyển cho hội thánh 538 triệu trợ cấp nhà nước.

Hơn 200 năm từ lúc bị tước quyền sở hữu (Enteignung), hai hội thánh lớn (große Kirchen) tại Đức ngày nay (heute) vẫn có nguồn thu nhập (Einnahmequelle). Hơn (mehr als) một nửa tỷ (halbe Milliarde) Euro riêng (allein) trong năm qua về sự bồi thường (Entschädigung) đã được nhà nước chuyển cho hai hội thánh này – ngoài thuế nhà thờ (Kirchensteuer). Việc trả tiền (Geldzahlung) của các tiểu bang (Bundesländer) cho hai hội thánh Cơ-Đốc (katholische Kirche) và Tin Lành (evangelische Kirche) so với năm trước (Vorjahr) đã tăng (steigen) thêm hoảng 14 triệu Euro và lên đến con số kỷ lục (Rekordwert) 538 triệu Euro.
Cái gọi là (sogenannte) trợ cấp nhà nước (Staatsleistung) được nhà nước (Staat) chuyển (überweisen) Hội Thánh độc lập (unabhängig) với thuế nhà thờ và thanh toán (Zahlung) các dịch vụ hội thánh (kirchliche Dienste), chẳng hạn (etwa) vườn trẻ (Kindergärten) hoặc (oder) viện dưỡng lão (Altenheim).

Quyền lợi (Anspruch) của Hội Thánh Cơ Đốc theo tờ „FAZ“ có gốc rễ (Ursprung) từ thế kỷ (Jahrhundert) 19 như là sự quân bình (Ausgleich) việc tước quyền sở hữu (Enteignung), đặc biệt (insbesondere) năm 1803 vào cuối (Ende) Đế Chế La Mã Thần Thánh Đức Quốc (Heiliges Römisches Deutscher Nation).
Số tiền 538 triệu Euro trong năm nay chia cho hội thánh Tin Lành 314 triệu Euro và hội thánh Cơ Đốc 224 triệu Euro, theo tờ „FAZ“. Hội Thánh Tin Lành Đức (Evangelische Kriche in Deutschland, viết tắt là EKD) và Văn Phòng Hội Đồng Hồng Y Đức (Sekretariat der Deutschen Bischofskonferenz) không có ý kiến (kommentieren) về những con số này theo thắc mắc (Anfrage) của tờ báo (Zeitung).

Tin dpa, hình Marius Becker.

Thứ tư ngày 06.06.2018
Đa xơ cứng tại Đức thường xảy ra nhiều hơn.

Một khảo sát mới (aktuelle Studie) cho thấy (zeigen) chứng bệnh viêm hệ tự miễn đa sơ cứng (Autoimmunerkrankung Multiple Sklerose) tại Đức trở nên thường hơn (häufiger). Rõ ràng (offenbar) và thật sự (tatsächlich) có nhiều người (Mensch) mới (neu) mắc bệnh (erkranken) Multiple Sklerose, viết tắt là MS. Theo khảo sát này, ngày càng (immer mehr) có nhiều người đóng bảo hiểm y tế theo luật định (gesetzliche Versicherte) sống (leben) với căn bệnh MS. Trong vòng (innerhalb) 6 (sechs) năm tăng từ 0,25 lên tầm (knapp) 0,32 phần trăm.
Trong năm 2015 có khoảng 224.000 người đóng bảo hiểm y tế được điều trị (behandeln) chứng bệnh này – gần 51.000 người nhiều hơn (mehr als) năm 2009. „Những công trình khảo sát của nhiều quốc gia phương tây (westliche Länder) đã cho thấy (zeigen) rằng, thọ mạng (Lebenserwartung) của bệnh nhân (Patient) MS đã tăng (zunehmen) và chúng tôi cho rằng (davon ausgehen) tại Đức cũng không khác“, theo ông Jakob Holstieg, đồng khảo sát viên (Mitautor) của Viện Trung Tâm về Quản Lý Y Tế Bảo Hiểm Sức Khỏe (Zentralinstitut für kassenärztliche Versorgung) tuyên bố trước tiền (im Vorfeld) Hội Nghị MS Thế Giới (Welt-MS-Tag) đã tổ chức vào ngày 30 tháng năm (Mai) 2018. Đồng thời, hiện nay (heute) thật sự (tatsächlich) đã có nhiều mới mắc chứng bệnh (erkranken) MS này.
Chứng bệnh viêm hệ tự miễn mãn tính vô phương cứa chữa (nicht heilbare chronisch entzündliche Autoimmunerkrankung) này biểu hiện (sich äußern) ở nhiều bệnh lý thần kinh (neurologische Erkrankungen). Trước đây (früher), người ta cho rằng (davon ausgehen), tầm (etwa) một nửa (Hälfte) bệnh nhân sau năm (fünf) đến mười (zehn) năm có tình trạng sức khỏe xấu lâu dài (dauerhaft schlecht) và không thể (nicht mehr) lao động (arbeiten) được nữa, ông Heinz Wiendl, giám đốc (Direktor) bệnh viện thần kinh (neurologische Klinik) Münster và phó chủ tịch (stellvertretender Vorstandvorsitzende) mạng chức năng (Kompetenznetz) MS phát biểu (sagen). „Nhờ (dank) nhiều phương pháp điều trị mới mẻ hơn (neuere Therapie) nên tình trạng này dần được cải thiện (bessern) rõ ràng (deutlich)“: 80 đến (bis) 90 phần trăm những người được điều trị (Therapierte) hiện đang (sich befinden) trong tình trạng thần kinh (neurologischer Zustand) sau thời gian điều trị (Behandlungszeitraum) đồng nhất (identisch) như (wie) lúc bắt đầu điều trị (Therapie-Beginn). (Nghĩa là không có tiến triển gì, nhưng không tệ hơn: lời bình của người dịch!)

Tin dpa, hình Patrick Pleuel.

Thứ ba ngày 05.06.2018
Rất nguy hiểm khi làm liên tục nhiều ca qua đêm.

Bệnh viện (Krankenhaus), cứu hỏa (Feuerwehr) và cảnh sát (Polizei). Trong một vài nghề (einige Berufen) công nhân (Mitarbeiter) thường xuyên (regelmäßig) Phải làm việc (arbeiten) qua đêm (nachts). Số lượng (Anzahl) những ca qua đêm (Nachtschicht) vì vậy cần được hạn chế (begrenzen), nếu không (sonst) hậu quả sức khỏe (gesundheitliche Folge) bị đe dọa (drohen).
Làm qua đêm (Nachtarbeit) và làm theo (Schichtarbeit) lâu dài (auf Dauer) là sự thách thức (Herausforderung) đối với sức khỏe (Gesundheit). Những hậu quả tiêu cực có thể (mögliche negative Folgen) xảy ra ví dụ (zum Beispiel) rối loạn giấc ngủ (Schlafstörung) và bệnh đường ruột (Magen-Darm-Beschwerde), Viện Khoa Học Lao Động Ứng Dụng (Institut für Angewandte Arbeitswissenschaft, viết tắt là IfaA) cảnh báo (warnen).
Cho nên (deshalb), lịch làm việc (Dienstplan) trong những trường hợp như vậy (solcher Fall) ít nhất (wenigstens) được thiết lập (gestalten) để tình trạng sức khỏe không bị gia cố thêm (verschärfen). Nhiều hơn (mehr als) ba (drei) ca qua đêm liên tục không nên xảy ra. Những cuối tuần dài hơn ba ngày nghỉ (drei freie Tagen) đôi khi (ab und zu) nên có. Ca sớm (Frühschicht) cũng không nên bắt đầu (beginnen) quá sớm – ví dụ là 6.30 giờ tốt hơn 5.00 giờ.

Tin dpa, hình Peter Steffen.

Thứ sáu ngày 01.06.2018
34.00 người nhận Hartz-IV bị cắt trợ cấp.

Khoảng (rund) 34.000 người nhận (Empfänger) Hartz-IV theo một bài báo (Medienbericht) trong năm qua đã bị cắt hoàn toàn (komplett streichen) trợ cấp (Leistung), vì họ vi phạm (verstoßen) những điều kiện (Auflage) của trung tâm tìm việc (Jobcenter).
Trích sự trả lời (Antwort) của chính phủ Đức (Bundesregierung) liên quan đến (bezüglich) thắc mắc (Anfrage) của đảng khối Xanh (Grüne-Fraktion) trong quốc hội Đức (Bundestag), tờ “Rheinischen Post” tường thuật (berichten). Cơ sở (Grundlage) là những con số (Zahlen) từ Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA). Theo đó (demnach), tổng cộng (insgesamt) có 204.000 người có khả năng lao động hưởng trợ cấp (erwerbsfähige Leistungsberechtigte) bị hai (zwei) hay nhiều lần (mehr) trừng phạt (sanktionieren), còn thêm 217.000 người nhận (Bezieher) Hartz-IV đe dọa bị cắt.
Đảng Xanh từ chối (ablehnen) hệ thống (System) cắt giảm trợ cấp (Leistungskürzung) trong hình thức hiện hành (bestehende Form) và bây giờ (nun) yêu cầu (fordern) ông Hubertus Heil (SPD) phải có sự cải tổ (Reform). “Ông bộ trưởng (Minister) Heil đã tuyên bố (ankündigen) sẽ có một sự kiểm tra nghiêm túc (kritische Überprüfung) việc thực hiện trừng phạt (Sanktionspraxis) Hatz-IV”, ông Sven Lehmann, chính khách xã hội (Sozialpolitiker) đảng Xanh nói (sagen) với tờ báo (Zeitung)

Tin và hình dpa

Xem (610)