» » Tin Đức Quốc tháng 05.2018

Tin Đức Quốc tháng 05.2018

Xem (86)

Thứ năm ngày 24.05.2018
Làm thêm lúc học không ảnh hưởng xấu đến điểm tốt nghiệp.

Nhiều người trẻ phải làm việc (arbeiten) bên cạnh (neben) sự học hành (Studium). Một khảo sát mới (neue Studie) cho thấy (zeigen), Việc làm (Beschäftigung) không ảnh hưởng (sich auswirken) tiêu cực (negativ) – ít ra liên quan đến điểm học (Noten).
Các sinh viên học cử nhân (Bacherlor-Studierende) làm thêm (Nebenjob) trung bình (im Durchschnitt) hầu như không (kaum) có điểm tốt nghiệp kém (schlechte Abschlussnoten) hơn (als) những bạn đồng học (Kommilitonen) không (ohne) làm việc (Job). Tuy nhiên (allerdings) họ cần (brauchen) thời gian lâu hơn (etwas länger) cho sự học (Studium).
Điều này đã được Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Đức (Deutsches Institut für Wirtschaftsforschung, viết tắt là DIW) cho biết (mitteilen). Người nào mỗi tuần (pro Woche) làm việc (jobben) tám (acht) tiếng (Stunde) suốt trong (während) học trình ba năm (dreijähriges Studium) thì cuối cùng (Ende) có khoảng 0,06 điểm (Punkte) kém hơn và cần hai tháng nhiều hơn (länger) để học. Làm việc thêm hầu như không ảnh hưởng gì đến điểm tốt nghiệp, có thể vì sinh viên làm việc học(studieren) lâu hơn (länger) để cho dù (trotz) bị thêm gánh nặng (Zusatzbelastung) cũng có thể quân bình được việc học và làm thêm, theo DIW ước đoán (vermuten). Khoảng (rund) một nửa (Hälfte) sinh viên cử nhân làm việc vào cuối (am Ende) năm học thứ hai (zweites Studienjahr). So thời gian học thì sinh viên làm thêm kéo dài thêm việc học khoảng (etwa) một phần năm (Fünftel). Viện DIW đã khảo sát gần (knapp) 8000 sinh viên cử nhân suốt học trình (Studienverlauf).

Tin dpa, hình Mascha Brichta.

Thứ tư ngày 23.05.2018
Một trong ba người tham gia „dịch vụ tự nguyện Đức“ bỏ ngang trước kỳ hạn

Từ lúc (seit) thực hiện (Einführung) „dịch vụ tự nguyện Đức“ (Bundesfreiwilligendienst, viết tắt là Bufdi), theo một bài báo (Zeitungsbericht) có một trong ba (jeder dritte) „Bufdi“ đã kết thúc (quittieren) việc phục dịch (Deinst) sớm hơn kỳ hạn (vorzeitig).
Chỉ số bỏ ngang (Abbruchquote) trong các tiểu bang cũ (alte Bundesländer) rõ ràng (deutlich) cao hơn (höher) bên phía Đông (Osten), tờ „Saarbrücker Zeitung“ quy chiếu (unter Berufung) những con số mới nhất (aktuelle Zahlen) của chính phủ (Bundesregierung) đưa ra theo yêu cầu (auffordern) của đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion). Dịch vụ tự nguyện Đức „Bufdi“ được hình thành (schaffen) ngày 01 tháng bảy (Juli) năm 2011 để thay thế (als Ersatz) cho nghĩa vụ quân sự (Wehrpflicht) cũng như dịch vụ dân sự (Zivildienst).
Kể từ đó đến nay (seitdem), theo bài tường thuật (Bericht) có tổng cộng (insgesamt) 307.372 nam giới (Männer) và nữ giới (Frauen) trong nước Đức đã tham gia (teilnehmen). Giữa (zwischen) tháng bảy 2011 và tháng ba (März) 2018 chính xác (genau) có 98.633 nữ và nam giới đã ngưng sớm trước kỳ hạn trên nguyên tắc (in der Regel) thời gian phục dịch là mười hai tháng (zwölf Monate). Chỉ số bỏ ngang như vậy là 32 phần trăm. Trong các tiểu bang cũ 35 phần trăm, rõ ràng nhiều hơn phía Đông với 26 phần trăm. Những lý do (Grund) không được chính phủ nêu ra (nennen) trong phần trả lời (Antwort) của họ.
Điều có thể nghĩ đến (denkbar) là việc nhận (Erhalt) một chỗ học đại học (Studienplatz) hoặc một chỗ học nghề (Lehrstelle), bà Katrin Werner nữ phát ngôn viên (Sprecherin) của tổ chức dấn thân cho quần chúng (bürgerschaftliches Engagement) của đảng Tả khuynh đã nói (sagen) với tờ báo (Blatt). Tuy nhiên (jedoch) khi có gần (fast) một phần ba (Drittel) người phục dịch (Dienstleistende) bỏ (aufgeben) sớm kỳ hạn chỗ làm (Stelle), thì cũng cần hải „xem xét lại (auf den Prüfstand stellen) phẩm chất (Qualität) của dịch vụ, những điều kiện làm việc (Arbeitsbedingung) và chương trình giáo dục (Bildungsprogramm)“, bà Werner yêu cầu (fordern).

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Thứ bảy ngày 19.05.2018
Lục soát chống buôn người tại Berlin và Brandenburg

Người Việt phải trả (bezahlen) nhiều tiền (Geld) cho việc lập gia đình (Ehe) để có quyền cư trú (Aufenthaltsrecht) tại Đức. Nhân viên điều tra (Ermittler) nay (nun) đã tiến hành (vorgehen) chống những băng đảng tình nghi (mutmaßlicher Bande) và nói rằng (sprechen) „trận chiến chống buôn người“ (Schlag gegen Schleuser).
Cảnh sát (Polizei) tại Berlin và Brandenburg vào sáng sớm (am Morgen) đã hành động bằng một cuộc lục soát lớn (großes Razzia) chống những kẻ tình nghi buôn người (Menschenschleuser).
„Chúng tôi đã bắt giam (verhaften) ba người tình nghi chính (Hauptverdächtige) và lục soát (durchsuchen) nhiều căn hộ (Wohnung)“, phát ngôn viên (Sprecher) cảnh sát Đức (Bundespolizei) giải thích (erklären). Băng đảng Đức-Việt (deutscher-veitnamesischer Bande) bị cáo buộc (vorwerfen) đã lo liệu mọi thủ tục (arrangieren) cho những vụ kết hôn giả (Scheinehe), ngoài những tội phạm khác.
Khoảng (rund) 200 cảnh sát quốc gia và cảnh sát tiểu bang (Landespolizei) Berlin vào sáng ngày thứ ba (Diensttagmorgen) tầm (von etwa) 6 giờ (Uhr) sáng đã hành động (im Einsatz), theo cảnh sát quốc gia thông báo (mitteilen) và trên mạng xã hội (Sozialnetzwerk) Twitter họ nói đến một „trận chiến chống buôn người“. Khoảng 20 căn hộ đã bị lục soát. Theo nguồn tin của cảnh sát có hai (zwei) căn hộ tại Brandenburg thuộc phường (Gemeinde) Ahrensfelde và Panketal. Các đối tượng lục soát còn lại (restliche Durchsuchungsobjekte) ở Đông Berlin (Ost-Berlin) trong các quận (Stadtbezirk) Lichtenberg, Pankow, Trptow-Köpenick và Marzahh Hellerdorf.
Các thành viên băng đảng (Bandenmitglied) bị cáo buộc đã lo liệu mọi thủ tục cho những vụ hôn nhân giả giữa người Đức và Việt. Các cặp (Paar) này được đưa đến (bringen) Đan-Mạch (Dänemark). „Ở đó, họ được thành hôn (trauen) hoàn toàn bình thường (ganz normal)“ theo phát ngôn viên. Sau đó (anschließend), họ quay lại (zurückkehren) Đức rồi đường ai nấy đi (getrennte Wege gehen). Hôn ngẫu người Việt (vietnamesischer Ehepartner) phải thanh toán (kosten) thủ tục (Verfahren) để có quyền cư trú tại Đức một số tiền (Geldbetrag) hàng chục ngàn (Zig-Tausend). Nói chung (insgesamt), cảnh sát quốc gia có tin tức (Erkenntnis) về mười (zehn) vụ kết hôn giả đã làm (erfolgte Scheinehe) cũng như năm (fünf) vụ nhận làm cha giả mạo (Scheinvaterschaft). Băng đảng này có khoảng mười thành viên.
Những kẻ tình nghi đã bị bắt giam (verhaftete Verdächtige) gồm có hai người Việt , một 35 và người kia 57 tuổi, cũng như (sowie) một người Đức 25 tuổi.
Việc lục soát và điều tra vẫn tiếp tục

Tin dpa, hình Paul Zinken.

Thứ tư ngày 16.05.2018
Vẫn có ít sinh viên từ các gia đình không trí thức.

Ngày càng có nhiều (immer mehr) người trẻ (junge Leute) trong nước Đức học cao đại học (studieren). Người nào (jemand) học đại học (Uni besuchen), điều này vẫn còn (noch immer) tùy thuộc (abhängen) nhiều (stark) vào cha mẹ (Elternhaus). Một công trình khảo sát đương thời (aktuelle Studie) cho thấy (zeigen) rằng, khi cha hay mẹ là người trí thức (Akademiker), thì có lẽ (vermutlich) con cái (Kinder) họ cũng vậy – bằng không (ansonsten) không thể.
79 trong số 100 trẻ thuộc gia đình trí thức (Akademiker-Familie) đặt chân vào cao học (Hochschule). Khi cha mẹ không có bằng tốt nghiệp cao học (Hochschule-Abschluss) thì chỉ có 27. Đây là những con số mới nhất (aktuelle Zahl) của Trung Tâm Nghiên Cứu Cao Học và Khoa Học Đức (Deutsches zentrum für Hochschul- und Wissenschaftsforschung, viết tắt là DZHW) của năm 2016.
Từ (seit) năm 2005, số sinh viên (Studierende) có phụ huynh (Eltern) không học đại học hoàn toàn không thay đổi (kaum verändern)- cho dù (auch wenn) tổng số (Gesamtzahl) sinh viên trong cùng khoản thời gian (im gleichen Zeitraum) rõ ràng (deutlich) có tăng (steigen).

Ở các đại học Đức, những người trí thức thuộc thế hệ (Generation) hai và ba rõ ràng (klar) nhiều: 53 phần trăm sinh viên năm đầu (Studienanfänger) có ít nhất (mindestens) cha hay me (Elternteil) có bằng tốt nghiệp đại học, so với tổng số quần chúng (Gesamtbevölkerung) thì những người trẻ tuổi từ 18 đến 25 chỉ chiếm 28 phần răm. Ngược lại (umgekehrt) có hơn (mehr als) phân nửa (Hälfte) người trẻ ở nhóm tuổi (Altergruppe) này với 53 phần trăm có ít nhất cha hoặc mẹ có bằng nghề (beruflicher Abschluss), nhưng không có bằng tú tài (ohne Abi) – thành phần này chỉ chiếm 30 phần trăm số sinh viên đại học.
Tình trạng  (Lage) này sinh ra (entstehen), theo các nghiên cứu gia (Forscher), không phải là sự đổi (Wechsel) trường: Từ học đường (Schule) sang học nghề (Ausbildung) hoặc vào cao học – nghĩa là trẻ có cha mẹ trí thức thường học cấp trung học (Gymnasium). Trẻ em thuộc các gia đình không trí thức (Nicht-Akademiker-Haushalt) cùng khoản thời gian đó học trường nghề (berufliche Schule). Chỉ số chuyển tiếp (Übergangsquote) sang đại học rõ ràng thấp hơn (niedriger).
Những lý do (Grund) của sự mất quân bình (Ungleichgewicht) thật đa dạng (vielfältig), theo các nghiên cứu gia. Một trong nhiều lý do là: Cha mẹ tự thân (selbst) không có kinh nghiệm cao học (Hochschul-Erfahrung) thường (oft) đánh giá cao (überschätzen) phí tổn (Kosten) cho việc đào tạo cao (höhere Bildung) – và đồng thời (gleichzeitig) đánh giá thấp (unterschätzen) sự thu hoạch (Ertrag) của nó. Ngược lại, những cha mẹ trí thức có nhiều tiềm năng hơn (mehr Ressourcen) để hỗ trợ (fördern) con trẻ của họ. Một bằng tốt nghiệp cao học đối với thành phần này mang một giá trị xã hội lớn hơn (größerer sozialer Stellenwert).

Tin dpa, hình Bodo Marks.

 

Thứ ba ngày 15.05.2018
Phí tổn chi cho điện thoại cầm tay và cùng loại có thể khai khấu trừ thuế lương.

Sắm một điện thoại cầm tay mới phải tốn tiền. Tin lành (gute Nachricht): Một phần (Teil) chi phí (Kosten) có thể lấy lại (zurückholen) qua việc khai thuế (Steuererklärung). Tuy nhiên (allerdings) chỉ (nur) có giá trị (gelten) khi máy (Gerät) được sử dụng (Einsatz) cho nghề nghiệp (beruflich).
Người hành nghề (Berufstätige) có thể khai thuế (steuerlich geltend machen) cho nghề nghiệp những máy IT và phần mềm đã sử dụng (genutzte IT-Geräte und Software). Nó cũng có giá trị cho dù các máy này chỉ mua sắm (anschaffen) tư nhân (privat), theo giải thích (Erklärung) hiệp hội Bitkom (IT-Verband Bitcom).
Mức độ khấu trừ phí tổn duy trì nghề nghiệp (Werbungskostenabzug) cho máy tính bảng (Tablet), điện thoại di động (Smartphone) hoặc phần mềm tùy thuộc (abhängen) vào mức độ việc sử dụng nó cho nghề nghiệp. Nếu máy chỉ được sử dụng chuyên (so gut wie ausschließlich), có nghĩa là nhiều hơn (zu mehr als) 90 phần trăm, sử dụng cho nghề nghiệp, thì chi phí có thể khai khấu trừ thuế 100 phần trăm (in voller Höhe).
Trường hợp sử dụng ít cho nghề nghiệp, thì chi phí chia theo phần trăm tương đương (entsprechend) giữa việc sử dụng cho nghề nghiệp và riêng. Tốt nhất (sinnvoll) nên nộp (einreichen) một chứng nhận thành văn (schriftliche Bestätigung) của chủ (Arbeitgeber) hoặc ghi chú (aufzeichen) ba tháng sử dụng máy (Gerät) liên tục (lang). Nếu việc chứng minh (Nachweis) không thể (nicht möglich), theo sự tuyên phán pháp lý (Rechtssprechung) chia đều (Aufteilung) 50/50 phần trăm.

Điều quan trọng (Wichtiges) phải lưu ý (beachten) là chi phí mua sắm (Anschaffungskosten) nhiều hơn (mehr als) 410 Euro thì không nên khai một lần, mà (sondern) phân (verteilen) theo thời gian sử dụng thông thường (gewöhnliche Nutzungsdauer) của máy. Điều này ít ra (zumindest) vẫn (noch) còn giá trị cho khoản thời gian (Zeitraum) 2017. Trong năm đó, ai sắm một máy mới có thể khai khấu trừ thuế lập tức (sofort) đến 800 Euro.
Thời gian sử dụng thông thường cho vi tính (PC), máy tính cầm tay (Notebook) hoặc vi tính bảng (Tablet Computer) cũng như phụ tùng (Zubehör) như (wie) máy in (Drucker), màn hình (Monitor) và các phần mềm liên hệ (zugehörige Software) ba năm. Đối với điện thoại cầm tay (Handy) và điện thoại thông minh (Smartphone) thì thời giam sử dụng thông thường là năm (fünf) năm và cho máy gửi văn thư điện tử (Faxgerät) là sáu (sechs) năm.
Khi một phụ tùng bị hư hỏng (kaputt gehen), chi phí phụ (Ersatzkosten) có thể được trừ tương đương vào (abziehen) khoản sử dụng cho nghề nghiệp. Ngoài ra (außerdem), các chi phí cho vật liệu tiêu dùng (Verbrauchsmaterial) như mực in (Toner, Tinte), hoặc giấy in (Druckpapier) được khai khấu trừ thuế (abzugfähig) hoàn toàn (vollständig) mỗi năm (jedes Jahr).

Tin dpa, hình Robert Günther.

Thứ hai ngày 14.05.2018
Học nghệ viên có ba lần thử thách cho kỳ thi cuối.

Học nghệ viên (Auszubildende, viết tắt là Azubis) không phải thi đậu (bestehen) tốt nghiệp (Abschlussprüfung) ngay thử thách lần đầu (beim ersten Versuch). Họ có thể thi lại (nachholen). Nhưng những người trẻ có thể tìm (sich suchen) được sự giúp đỡ (Hilfe) nào khi họ nhận ra (merken) rằng việc tốt nghiệp thành công (Erfolg) còn xa vời vợi (in die Ferne).
Khi học nghệ viên thi rớt (durchfallen) kỳ thi tốt nghiệp hoặc kỳ thi nghề (Gesellenprüfung), thì việc đào tạo (Ausbildung) vẫn chưa thất bại (scheitern) ngay (sofort). Vì lẽ (denn) học nghệ viên (Lehrling) còn có thể thi lại (wiederholen) hai lần (zweimal) nữa.
Cổng (Portal) “Sức mạnh cho việc học nghề” (Stark für Ausbildung) giải thích (erklären) thêm (außerdem) rằng, tình trạng đào tạo theo nguyện vọng (Wunsch) của học nghệ viên vẫn duy trì (weiter bestehen) đến hạn thi tới (zum nächsten Prüfungstermin) trong sáu (sechs) hoặc (oder) mười hai (zwölf) tháng. Chỉ khi (erst) cả ba lần thử thách không thành, thì việc học nghề xem như kết thúc (enden) không có chứng chỉ tốt nghiệp (Abschlusszeugnis).
Có thể dự kiến trước rằng, khi ai đó (jemand) có (bekommen) vấn đề (Problem) với kỳ thi (Prüfung), thì xí nghiệp (Betrieb) và học nghệ viên có thể thỏa thuận với nhau trước đó (schon vorher vereinbaren) về thời gian gia hạn (Verlängerung) việc học nghề (Lehre). Như thế, việc đào tạo có thể kéo dài (dauern) thêm (länger) sáu hoặc mười tháng và học nghệ viên sau đó mới tham dự kỳ thi tới (nächste) hoặc kế tiếp (übernächste Prüfung). Để làm tăng thêm (erhöhen) cơ hội (Chance), xí nghiệp và học nghệ viên phải làm đơn (beantragen) xin cung cấp sự giúp đỡ (Hilfsangebot) của chương trình “những giúp đỡ đồng hành việc học nghề” (Ausbildungsbegleitende Hilfen, viết tắt là ABH. Đây là một loại (Art) giúp đỡ học thêm (Nachhilfeunterricht) và phí tổn (Kosten) do Ty Lao Động (Agentur für Arbeit) nhận trả (tragen).

Tin dpa, hình Sebastian Gollnow.

Chủ nhật ngày 13.05.2018
Chỉ 1,5 phần trăm người xin tỵ nạn có bổn phận phải rời khỏi nước Đức

Chỉ (nur) một số ít người xin tỵ nạn (Asylbewerber) đến Đức từ (seit) năm 2013 không được phép cư ngụ (Aufenthalt) tại đây (hier) nữa.
Theo sự trả lời (Antwort) của chính phủ Đức (Bundesregierung) về thắc mắc nhỏ (kleine Anfrage) của đảng khối (Fraktion) AfD, thì hạn chót (zum Stichtag) là ngày 31 tháng ba (März) chỉ có (lediglich) 24.212 người „có bổn phận ra khỏi nước Đức“ (ausreisepflichtig) trong số khoản (rund) 1,68 triệu người ngoại quốc (Ausländer) đã đến (einreisen) Đức năm 2013 nộp đơn xin tỵ nạn (Asylantrag stellen) – như vậy chỉ tầm (knapp) 1,5 phần trăm. Phần lớn trong số này đến từ (stammen aus) Albanien (2688), Serbien, Kosovo, Mazedonien, Russland và Bosnien-Herzgowina.
Nguồn tin còn cho biết thêm rằng, vẫn có (immerhin) khoản 9.200 người không còn quyền cư trú (kein Aufenthaltsrecht) và không được tạm dung (keine Duldung) đến hạn chót là ngày 31.03.2018 phải rời khỏi nước Đức nhưng vẫn chưa (noch nicht) được ghi chép (eintragen) trong trung ương sổ bộ ghi danh người ngoại quốc (Ausländerzentralregister).
Trong số người bỏ đi (Gefüchtete) đến Đức năm 2013 và vẫn còn sinh sống trong nước Đức đã có 700.000 người nhận (erhalten) được chế độ bảo hộ (Schutzstatus), vì họ bị truy nả (verfolgen) hoặc tánh mạng và cuộc sống bị đe dọa (Leib und leben bedrohen sein). Khoảng 200.000 người ngoại quốc nhận giấy phép cư trú (Aufenthaltserlaubnis) hoặc tạm dung bởi những lý do nhân đạo hoặc gia đình (humanitäre oder familiäre Gründen).
Bà Ulla Jelpke đảng tả khuynh (Linke) nữ chính khách nội chính (Innenpolitikerin) nói rằng, liên quan (angesichts) đến con số tương đối ít (relativ geringe Zahl) về số người phải rời khỏi nước Đức thì chính sách trục xuất đương thời (aktuelle Abschiebungspolitik) không thể hiểu nổi (nicht nach vollziehbar). „Điều trớ trêu (nicht ohne Ironie) rằng, những con số chỉ mới được công bố (veröffentlichen) khi đảng AfD nêu thắc mắc“, bà phụ thêm (hinzufügen). Đảng AfD đã chiếm vị trí (positionieren) trong cuộc tranh cử quốc hội (Bundestagswahlkampf) là (als) „đảng – chống – tỵ nạn“ (Anti-Asyl-Partei).

Tin dpa, hình Uli Deck.

Thứ bảy ngày 12.05.2018
Mức thu nhập của công nhân thuê rõ ràng dưới mức trung bình

Ngày càng có nhiều (immer mehr) công nhân thuê (Leiharbeiter) phải nhận thêm sự giúp đỡ của nhà nước (staatliche Hilfe), vì họ có quá ít (zu wenig) thu nhập (Einkommen).
Mức thu nhập (Verdienstsniveau) lực lượng lao động thuê (Leiharbeitskraft) rõ ràng (deutlich) dưới (unter) mức trung bình (Durchschnitt). Thu nhập làm toàn thì (Vollzeitstelle)  của họ cuối (Ende) năm 2016 là 1.816 Euro brutto (lương chưa khấu trừ các khoản bảo hiểm xã hội) mỗi tháng, so với (gegenüber) 3.133 Euro lương brutto của những người làm việc toàn thì (Vollzeitbeschäftigte) các ngành nghề (Branche) nói chung.
Bà Sabine Zimmermann, nghị viên quốc hội (Bundestagsabgeordnete) đảng tả khuynh (Linke) đã thông báo (mitteilen) điều này cho thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết, quy chiếu (unter Berufung) các thống kê (Statistik) của Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA) – như vậy có 42 phần trăm ít hơn (weniger).

Thành phần (Anteil) lao động đóng bảo hiểm xã hội (sozialversicherungspflichtigte Beschftigte) nhận (beziehen) thêm trợ cấp Hartz-IV (ergänzende Hartz-IV Leistungen) trong số thợ thuê cao (hoch) hơn mức trung bình (überdurchschnittlich). Trong khi đó (während),  tháng sáu (Juni) 2017 có khoản 2 phần trăm công nhân các ngành nghề nhận tiền thất nghiệp loại II (Arbeitslosengeld II), ở thành phần lao động thuê là 5 phần trăm.
Tính chung, có 41.638 công nhân đóng bảo hiểm xã hội trong số người làm thuê. Đa phần những người nhận thêm trợ cấp Harzt-IV đã từng làm việc toàn thì – chiếm 71 phần trăm.
„Công việc thuê (Leiharbiet) đã và đang là động cơ (Motor) của việc làm có lương thấp (Niedriglohnsbeschäftigung) trong nước Đức“, bà Zimmermann nói (sagen). „Một tấm nhún (Sprungbrett) vào công việc bình thường (normale Arbeit) chỉ cho ít người, phần lớn là công việc thuê, nghĩa là có đồng lương thấp dài dài (dauerhaftes Niedriglohn), điều kiện lao động xấu kém (schlechte Arbeitsbedingung) và được xem là công nhân hạng hai (zweite Klasse)“, theo nữ phát ngôn viên về chính sách thị trường lao động (arbeitsmarktpolitische Sprecherin) của đảng khối (Fraktion) này. Bà Zimmermann yêu cầu (fordern) hủy bỏ (Abschaffung) „công việc lương thấp có hệ thống (systematisch) bằng thể loại (Form) việc làm thuê“

Tin dpa, hình Arno Burgi.

Thứ sáu ngày 11.05.2018
Bà quả phụ Kohl phủ nhận việc giữ hồ sơ chính phủ.

Trong cuộc tranh luận (Diskussion) về di sản chính trị (politischer Nachlass) của cựu thủ tướng (Altkanzler) Helmut Kohl, bà quả phụ (Witwe) theo một bài báo (Zeitungsbericht) đã giải thích (erklären) bất ngờ (überraschend) rằng, bà không có (verfügen) một tài liệu chính quyền nào (keine Regierungsdokumente) trong thời gian chấp chánh (Amtzeit) của chồng cả.
Bà Maike Kohl-Richter đã trình bày (darlegen) trong một bức thư (Schreiben) gửi phủ thủ tướng (Kanzleramt) cuối tháng ba (Ende März) rằng „nghịch lại (entgegen) những dự đoán từ dư luận nêu ra (öffentlich geäußerte Mutmaßung) bà không có sở hữu (im Besitz) những hồ sơ công sở (amtliche Unterlagen) của nước Đức (Bund)“, tờ „Tin Trong Ngày“ (Tagesspiegel) tại Berlin đã tường thuật (berichten) hôm thứ tư (Mittwoch) vừa qua. Tờ báo (Blatt) quy chiếu (sich berufen auf etwas) thông tin (Ausgabe) của phủ thủ tướng liên quan đến (im Zusammenhang) vụ kiện (Klage) của tòa soạn (Redaktion) yêu cầu cung cấp tin tức (Auskunftslage) liên hệ.
Từ ông Kohl, người ta biết rằng, sau vụ thất cử (Wahlniederlage) năm 1998 ông đã cho (lassen) vận chuyển (transportieren) hàng trăm tập hồ sơ (hunderte Aktenordner) từ trung ương chính phủ (Regierungszentrale) về tổ chức Konrad-Adenauer-Stiftung thân cận đảng CDU và vài năm sau (später) đã đòi lại (zurückfordern) viện lẽ (mit Begründung) rằng, ông cần (benötigen) nó để viết hồi ký (Memoiren). Kể từ đó (seitdem), dường như (mutmaßlich) đống hồ sơ đó được cất chứa (lagern) trong tư gia (Privathus) của người đã quá vãng (Verstorbene) và bà quả phụ tại Oggerheim.
Tại cơ quan lưu trữ của nước Đức (Bundesarchiv), nơi cất chứa (lagern) mọi hồ sơ liên quan đến nước Đức, cho đến nay (bisher) người ta cho rằng (davon ausgehen), ít ra (zumindest) có một số liên quan đến những tài liệu như vậy (solche Dokumente).

Tin dpa, hình tư liệu Rolf Vennenbernd.

 

Thứ năm ngày 10.05.2018
Chỗ làm việc còn trống đạt kỷ lục

Quý thứ nhất (erstes Quartal) năm 2018 trong nước Đức có nhiều chỗ làm việc còn trống (freie Stelle) như chưa hề có (wie nie zuvor). Theo kết quả sơ khởi (Vorfeld) „Ngày Lao Động“ (Tages der Arbeit) của một khảo sát chỗ làm đã được công bố (veröffentliche Stellenerhebung) của Viện Nghiên Cứu Thị Trường Lao Động và Nghề Nghiệp (Institut für Arbeitsmarkt- und Berufsforschung, viết tắt là IAB).
Con số 1.190 triệu đã qua mặt (überschreiten) con số chỗ làm thậm chí (sogar) nhiều hơn cùng quý năm ngoái (Vorjahresquartal). Quý đầu năm 2017 tại Đức có 126.000 chỗ làm còn trống (offene Stelle) ít hơn (weniger). Các con số cho thấy (zeigen) xu hướng (Trend) tiến triển của thị trường lao động hiện nay (derzeit) vẫn còn xa tầm mắt (nicht in Sicht).
Hiện giờ (derweil), theo hiểu biết (Erkenntnis) của các nhà nghiên cứu thị trường lao động (Arbeitsmarktforscher) tại Nürnberg cho thấy việc tìm (finden) công nhân thích hợp (passende Mitarbeiter) ngày càng khó khăn hơn (immer schwieriger). Cho nên trong năm 2017 gần 43 phần trăm các chỗ làm mới có người làm việc vẫn gặp khó khăn trong việc tìm công nhân. Tuy nhiên (allerdings), thời gian tìm công nhân có giảm chút ít. Nếu các công ty cần (brauchen) 58 ngày (năm 2016 thậm chí 59 ngày) để nhận công nhân cho một chỗ làm mới thì năm 2017 chỉ còn 55 ngày.

Tin dpa, hình Caroline Seidel.

Thứ ba ngày 08.05.2018
Người đi dứng khó khăn phải tự bảo trọng trong xe buýt.

Ai đi xe buýt (Bus) lúc nào cũng phải cẩn trọng (achten) cho sự an toàn bản thân (eigene Sicherhiet), ngay (gerade) lúc xe bắt đầu khởi hành (anfahren) thường (oft) nhích bất chợt (ruckartig) và nguy hiểm (gefährlich). Điều này cũng có giá trị (gelten) cho người khuyết tật nặng (Schwerbehinderte), theo một phán quyết mới (neues Urteil).
Lúc bước lên xe (einsteigen) buýt, người đi đứng khó khăn (Gehbehinderte) trước tiên (zunächst) phải cẩn thận cho sự an toàn bản thân họ. Người ta không được phép mong đợi (erwarten) sự quan tâm đặc biệt (besondere Rücksichtnahme) của tài xế xe buýt (Busfharer), khi họ tự yêu cầu (selbst bitten) hoặc rõ ràng (offensichtlich) có tật nguyền (Behinderung).
Trình (vorzeigen) thẻ chứng nhận khuyết tật nặng (Schwerbehindertenausweis) vẫn chưa đủ (noch nicht ausreichend). Trích từ một phán quyết của tòa án cao thẩm tiểu bang (Oberlandesgericht) tại Hamm, hồ sơ thụ lý số Az.: 11 U 57/17. Một nữ nguyên đơn (Klägerin) trong trường hợp (Fall) này là một phụ nữ 60 tuổi đến từ Herne. Vì hông bị hư hại (Hüftschaden) nên bà được chứng nhận là 100 phần trăm bị khuyết tật nặng, nhưng không sử dụng (benutzen) phương tiện giúp đi đứng (Gehhilfe).
Tháng tư (April) 2016, bà bước lên (besteigen) một xe buýt, trình thẻ khuyết tật, tuy nhiên (allerdings) không ngồi nơi chỗ dành cho (vorgesehener Platz) cho người tật nguyền (Behinderung) đàng trước (vorne) xe. Thay vào đó (stattdessen), bà đi xuống phía sau xe. Trong lúc đó (Währenddessen), xe buýt khởi hành (losfahren), người đàn bà ngã xuống (stürzen) và bị gãy (sich brechen) đùi trên (Oberschenkel).
Sau đó (daraufhin), bà đã kiện (verklagen) công ty vận chuyển (Verkehrsunternehmen) và đòi người tài xế xe buýt bồi thường thiệt hại (Schadenersatz), nhưng thua (verlien) kiện (Klage). Trên nguyên tắc (grundsätzlich), hành khách xe (Fahrgast) trong xe buýt có bổn phận (verpflichten), liền (direkt) khi bước lên xe (Einsteigen) phải tìm chỗ ngồi đảm bảo (sicher hinsetzen) hoặc đứng (stellen), tòa (Gericht) quyết định (entscheiden). Người tài xế xe buýt không cần phải để ý đặc biệt (extra im Blick) đến hành khách bước lên xe – ít ra (zumindest) khi chưa nhìn rõ (klar ersichtlich) rằng một hành khách cần (brauchen) lưu tâm đặc biệt hoặc giúp đỡ (Hilfe).
Nhưng ở đây không phải là trường hợp như vậy, theo tòa: Vì người kiện bước lên xe rõ ràng không cho thấy họ có vấn đề (ohne sichtbares Problem) hoặc cần sự giúp đỡ của người lạ (fremde Hilfe) và cũng không có yêu cầu tái xế xe buýt khoan khởi hành (Losfahren). Nhưng bà chỉ xuất trình (vorzeigen) thẻ chứng nhận khuyết tật nặng. Nhưng điều này vẫn chưa đủ chứng minh (kein ausreichender Hinweis), bởi người điếc (Gehölose) cũng có thẻ này.

Tin dpa, hình Frank Rumpenhorst.

Chủ nhật ngày 06.05.2018
Một trong hai người thi rớt trắc nghiệm Đức ngữ.

Gần (fast) một nửa (Hälfte) người di dân (Zuwanderer) theo một bài báo (Zeitungsbericht) đã thi đậu (bestehen) trắc nghiệm tiếng Đức (Deutschtest) cuối (am Ende) khóa học hội nhập (Integrationskurs). Tờ „Frankfurter Allgemeine Sonntagszeitung“ tường thuật (berichten) quy chiếu (unter Berufung) những con số (Zahlen) của Cục Liên Bang về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migrationen und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF), trong năm qua có 339.578 người (Mensch) tham dự (besuchen) lần đầu (erstmal) khóa học hội nhập.
Có 289.751 người sau đó (später) đã tham dự trắc nghiệm ngôn ngữ (Sprachtest) vào cuối khóa học (am Kursenden). 48,7 phần trăm trong số này đạt (erreichen) mục tiêu khóa học (Kursziel) „B1“. Bốn (vier) trong mười (zehn) người với 40,8 phần trăm vẫn đạt được trình độ ngôn ngữ thấp (niedrigeres Sprachniveau) „A2“, số còn lại (Rest) còn thấp hơn. Nhiều khóa viên (Kursteilnehmer) xuất thân (stammen) từ nhiều gia đình có ngôn ngữ khác nhau(Sprachfamilien) nên khi lớn tuổi (Erwachsenenalter) họ gặp nhiều khó khăn hơn lớp trẻ.
Cục BAMF giải thích vì sao nhiều khóa viên không tham dự (teilnehmen) kỳ thi trắc nghiệm ngôn ngữ, bởi một số bị bệnh (krank werden) trong lúc học (im Verlauf), một số khác tìm được (finden) việc làm (Arbeit) hoặc đổi chỗ cư ngụ (umziehen). Người ngoại quốc (Ausländer) tham dự các khóa hội nhập nếu họ muốn sinh sống (leben) lâu dài (auf Dauer) tại Đức. Trong số này có người nhập cư từ các quốc gia thuộc EU và tái cư trễ (Spätaussiedler), nhưng (aber) thời gian gần đây (in jüngster Zeit) chủ yếu là người tỵ nạn bị nhà chức trách (Behörde) buộc phải tham dự.
Khóa hội nhập được thực hiện (einführen) trong năm 2005 gồm có khóa Đức ngữ (Deutschkurs) và „khóa định hướng“ (Orientierungskurs) về trật tự pháp lý và xã hội (Rechts- und Gesellschaftsordnung). Khóa Đức ngữ bao gồm (umfassen) 600 giờ học (Unterrichtseinheit) mỗi lần 45 phút (Minuten). Cuối khóa học, khóa viên có trình độ „B1“ thuộc khuôn khổ chung Âu Châu. Họ có thể miêu tả (beschreiben) những kinh nghiệm (Erfahrung) và diễn biến (Ereignis) bằng những câu văn đơn giản (einfache Sätze) và diễn bày (wiedergeben) ý nghĩ (Meinung) của họ cũng như (sowie) viết (schreiben) được một bức thư (Brief). Khi tốt nghiệp thành công (erfolgreicher Abschluss) khóa hội nhập này họ nhận một chứng nhận (Zertifikat). Với chứng nhận này, người nhập cư có thể rút ngắn (verkürzen) thời gian chờ (Wartezeit) việc nhập tịch (Einbürgerung) từ tám (acht) xuống còn bảy (sieben) năm (Jahr).

Tin dpa, hình Sophia Kembowski.

Thứ tư ngày 02.04.2018
Từ chối rõ ràng giúp chống sự căng thẳng tự gây ra.

Cần có một danh sách ghi những gì cần làm (To-Do-Liste) tốt hơn là tự giải quyết (sich abarbeiten) từng công việc (Aufgabe)? Đơn giản (einfach) chỉ vì (weil) không thể nói chữ không (nicht Nein sagen), để đồng nghiệp (Kollege) không bực bội (verärgern)? Các chuyên gia (Expert) cho rằng, sự sợ sệt (Angst) như vậy vô cớ (unbegründet).
„Cái đó để tôi làm (sich kümmern) cho, không sao cả (kein Problem)!“ Một câu (Satz) thường được nhiều người lao động (Berufstätigte) luôn (immer wieder) nói (sagen), cho dù (auch wenn) nó hoàn toàn không đúng (gar nicht stimmen). „Đây là những yếu tố thông thường nhất (häufigste Faktoren) tự gây căng thẳng cho bản thân (selbst gemachter Stress)“, theo ông Martin Geiger, tư vấn (Coach) và cố vấn (Ratgeber) tâm lý nói.
„Chúng ta nói đồng ý (ja), cho dù (obwohl) thật tế (eigentlich) mình nghĩ (meinen) là không (nein).“ Vỉ thế (deshalb) ông khuyên (raten) nên có một giải pháp quyết liệt (Radikallösung) rằng: Trước tiên (erstmal) bác bỏ (ablehnen) và từ chối (absagen), thật sự (wirklich) tất cả (alles), rồi chỉ còn lại (nur noch) đồng ý (zusgagen) những cái mình thật sự có thì giờ (Zeit) và muốn (Wille) làm.

Tốt nhất (am besten), dĩ nhên (natürlich) nên lễ phép hơn (höflicher) thay vì cộc lốc (simple) một chữ không (Nein). Ông Geiger đề nghị (vorschlagen) ví dụ (zum Beispiel) như sau (folgendes): „Rất tiếc (leider) hiện giờ (im Moment) tôi phải nói không, nhưng khi có gì thay đổi (sich ändern) thì tôi sẽ báo cho biết (Bescheid sagen).“ Câu này, thậm chí (sogar) thường làm tăng (steigern) sự cảm thông (Sympathien) với người đối thoại (Gegenüber). Chúng tôi coi trọng (schätzen) những người (Leute) khi họ từ chối lúc đầu“, theo (so) các chuyên gia. Vì lẽ (denn) người kia luôn chắc chắn (immer sicher) biết họ thế nào, khác hẳn (anders) những đồng nghiệp nói „để xem…“ (Mal gucken…), câu nói này tự nó không có nghĩa gì (alles offenhalten) và cũng không mang đến (liefern) gì cả và một lúc nào đó (irgendwann) trở thành vô trách nhiệm (unzuverlässig).

Thật tế, chủ yếu sự phản xạ từ chối (reflexhaftes Nein) làm giảm bớt (sinken) mức độ căng thẳng cá nhân (persönlicher Stress-Level). „Đồng ý quá nhanh (vorschnelle Zusagen) thường là một hộc tủ mở (offene Schubladen) kết nối (binden) tất cả năng lượng (alle Energie)“, ông Geiger giải thích (erklären). Và ai mở (öffnen) quá nhiều (zu viel) hộc tủ của một cái tủ (Schrank) thì lúc nào đó sẽ mất đi (verlieren) cái nhìn tổng quát (Überblick) và cái tủ sẽ mất đi thăng bằng (instabil).
Nguyên tắc bác bỏ (Ablehnungs-Prinzip) dĩ nhiên cũng có những hạn chế (Grenze) của nó khi đối xử (Umgang) với thượng cấp (Chef), ví dụ: Thượng cấp cũng không muốn nghe (anhören) mãi (allzu oft) chữ Không (Nein). Tuy nhiên (aber) cũng có cách khác (Alternative), theo ông Geiger, „Tôi có thể giao trái banh (Ball) trở lại (zurückspielen)“, ông nói. „Chẳng hạn, tôi có thể hỏi (fragen) rằng, những công việc nào của tôi hiện giờ (jetzt) là ưu tiên (Priorität)?“ Như vậy là một hộc tủ được mở cho thượng cấp chứ không phải cho nhân viên (Mitarbeiter). Và như vậy hộc tủ này thậm chí cũng có thể được đóng (shcließen) trở lại.

Tin dpa, hình Christin Klose.

Thứ ba ngày 01.05.2018
Ngày càng có nhiều người tỵ nạn học nghề

Từ những lý do nhân đạo (humanitärer Grund), chủ yếu (vor allem) giảm thiểu (verringern) tình trạng thiếu hụt chuyên viên (Fachkräftemangel), ngày càng (immer mehr) nhiều tiểu thương (Mittelständler) đào tạo (ausbilden) người tỵ nạn (Flüchtlinge). Kinh nghiệm (Erfahrung) cho thấy (zeigen) tốt đẹp (gut), nhưng (aber) vẫn còn (bleiben) sự ngăn ngại (Hemmnis).
Họ được đào tạo cho các ngành tiểu thương (Einzelhandel) và bảo hiểm (Versicherung), cơ khí công nghệ (Industriemechaniker) hoặc khách sạn (Hotelbetrieb), và thường (oft) được chủ nhân (Arbeitgeber) tán thưởng (loben) nhiệt liệt (über alle Maßen) như: Người tỵ nạn là những học viên học nghề (Auszubildende, viết tắt là Azubi) năng nổ (motiviert), chịu khó học hành (lernfähig), chăm chỉ (fleißig) và tự trị (loyal) đối với (gegenüber) công ty (Unternehmen), các doanh thương tường thuật (berichten) như vậy.
Hơn (mehr als) 28.000 người trẻ (junge Menschen) đến từ tám (acht) quốc gia chính thức tỵ nạn (Hauptasyl-Herkunftsländer) hiện nay (derzeit) đang học nghề (in Ausbildung) tại Đức, theo Cục Lao Động Đức (Bundearbeitsagentur) – gần (fast) sáu lần nhiều hơn (sechsmal so viele) năm 2014, xu hướng (Tendenz) tiếp tục (weiter) tăng (steigend).
Từ (seit) năm 2015, Terdros Gebru đến từ Eritria làm việc (arbeiten) ở công ty dây điện (Kabelfirma) Lapp tại Stuttgart. Sau (nach) tám tháng (achtmonatig) tham gia thử trình độ (Einstiegsqualifikation), cậu thanh niên 27 tuổi đã bắt đần (beginnen) học nghề thợ điều khiển máy và dàn (Maschinen- und Anlagenführer), hiện giờ (mittlerweile) đã tốt nghiệp (abschließen). Anh là tiêu biểu (Vorbild) cho 15 người tỵ nạn khác trong số 65 Azubis tại công ty Lapp. „Học ngôn ngữ (Sprache) là điều quan trọng nhất (Wichtigste)“, Tefros Gebru chia xẻ (schildern) kinh nghiệm.
Thiếu tiếng Đức (mangelnde Deutschkenntnisse) cho đến nay (bis heute) là cản trở lớn nhất (größte Hürde) cho việc nhận (Einstellung) người tỵ nạn, theo kết quả cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) trong tháng hai (Februar) của công ty tư vấn doanh nghiệp (Unternehmensberatung EY có 83 phần trăm các công ty được hõi ý kiến cho biết. Đồng thời (gleichzeitig) đa số (Mehrheit) tin (glauben) rằng người tỵ nạn có thể làm giảm đi (lindern) tình trạng thiếu chuyên viên và đã có (bereits) một trong số bốn tiểu thương cho biết nhận người tỵ nạn làm việc.

Tin dpa, hình Sebastian Gollnow.

Xem (86)