» » Tin Đức Quốc tháng 04.2018

Tin Đức Quốc tháng 04.2018

Xem (70)

Thứ hai ngày 30.04.2018
Chủ nhân không phải lúc nào cũng được phép xa thải công nhân vô điều kiện

Những gì xảy ra (passieren) ngoài (abseits) công việc (Arbeit) có liên quan đến (angehen) đến chủ (Arbeitgeber) hay không? Hoàn toàn (ganz) không phải đơn giản (einfach) như vậy: Ai sau giờ làm việc (nach Feierabend) vi phạm (verstoßen) pháp luật (gegen das Gesetz), trên lý thuyết (tehretisch) không phải vì vậy (deswegen) mà mất (verlieren) việc làm (Job). Xa thải vô điều kiện (fristlos kündigen) chỉ có thể dưới những điều kiện khắt khe (strenge Voraussetzung). Chiếu theo phán quyết (Urteil) của tòa án lao động tiểu bang (Landesarbeitsgericht) Düsseldorf, hồ sơ thụ lý số Az.: 1 Sa 319/17.
Nguyên đơn (Kläger) đã bị tuyên án (verurteilen) trong tháng tư (April) 2016 về tội tìm cách (Versuch) vi phạm chất nổ (Sprengstoffvergehen). Cảnh sát (Polizei) đã phát hiện (finden) trong căn hộ (Wohnung) của người này 1,5 kí lô hỗn hợp hóa chất nguy hiểm (gefährliche chemische Mischung) cũng như (sowie) một kí lô chất gây mê (Betäubungsmittel). Chủ nhân của họ, một doanh nghiệp (Unternehmen) trong một khu hóa học (Chemiepark), biết được (erfahren) từ báo chí (Presse) và lúc đầu (erst) xa thải người này vô điều kiện vào đầu (Anfang) tháng chín (September) 2016 và sau đó (später) chính thức (ordentlich).
Nguyên đơn đã kháng chống (gegen) việc xa thải vô điều kiện và thắng (gewinnen) kiện. Trên nguyên tắc (grundsätzlich), một việc xa thải từ những lý do ngoài công việc (außerdienstlicher Grund) thật ra (zwar) vẫn khả thi (möglich), theo tòa (Gericht). Nhưng người chủ phải để ý (berücksichtigen) chính xác đến việc làm (Tätigkeit), loại (Art) và tầm mức (Schwere) của hình tội (Delikt) cũng như vị trí (Stellung) của nhân công (Mitarbeiter) trong công ty (Betrieb).
Nhìn về quan điểm này thì việc xa thải vô hiệu quả (unwirksam): Đối với chủ nhân, nguyên đơn thật ra có liên quan đến hóa chất nguy hiểm (gefährliche Chemikalien), đối với công việc thật sự (eigentlicher Job) là an toàn chất lượng (Qualitätssicherung) thì người này không liên can (Berührung) đến. Đồng thời người này đã làm việc từ năm 1991. Từ những lý do trên, ít ra (zumindest) việc xa thải vô điều kiện vô hiệu quả. Còn về việc xa thải chính thức (ordentliche Kündigung) thì tòa án không tuyên phán trong vụ kiện này.

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger.

 

Chủ nhật ngày 29.04.2018
Thực phẩm ngày càng đắt.

Cuộc chiến giá cả (Preiskampf) trong thương trường thực phẩm Đức (deutsche Lebensmittelhandel) đã dịu đi (nachlassen). Ngược lại (hingegen), người tiêu thụ (Verbraucher) vẫn phải luôn (immer) thò (freifen) sâu hơn (tiefer) vào túi (Tasche) để chi tiêu cho việc mua sắm (Einkauf). Và giai đọan tốt đẹp hơn (bessere Zeit) cho họ trước tiên (erst einmal) vẫn còn xa vời (nicht in Sicht).
Bất kể (egal) là sữa (Milch), phó mát (Käse), trứng (Eier) hoặc trái cây (Obst), nhiều thực phẩm (Lebensmittel) trong mười hai (zwölf) tháng qua đã đắt hơn (teurer) rõ rệt (deutlich). Sự tăng giá (Priesanstieg) theo (nach Angaben) Cục Thống Kê Liên Bang (Statistisches Bundesamt) tăng khoảng ba (drei) phần trăm gần (fast) gấp đôi (doppelt) chỉ số chung (allgemein). Lý do (Grund) là thời điểm các chiến dịch viết đỏ (Rotstift) lớn (groß) đã qua rồi (vorbei).
Ngoài ra những lý do kết thúc các trận chiến giá cả khhông cần phải suy nghĩ lâu (lange nachdenken) vì hầu như người tiêu thụ sẳn sàng (bereit) chi nhiều (mehr ausgeben) vì họ kiếm được nhiều tiền hơn (mehr verdienen).
Cuối cùng (schließlich) sự thăng trưởng mạnh mẽ (kräftiges Wachstum) trong thương trường thực phẩm tại Đức trong năm qua chủ yếu (vor allem) có thể từ hai lý do: Sự sẳn sàng (Bereitschaft) của người tiêu thụ thường mua sắm những sản phẩm có phẩm chất cao (höherwertige Produkten) chẳng hạn (etwa) hàng hiệu (Markenartikel) thay vì (statt) hiệu riêng (Eigenmarke) với giá đã tăng.

Tin dpa, hình Jens Büttner.

Thứ năm ngày 26.04.2018
Người Đức thích nhất trả tiền mặt.

Người dân Đức (Bundesbürger) vẫn trung thành (Treue halten) với tiền giấy (Banknoten) và tiền xu (Münze) khi họ mua sắm nhỏ (kleiner Einkauf). Những khoản tiền lớn (großer Betrag) ngược lại (dagegen) thường (immer öfter) được trả (bezahlen) bẳng thẻ (bargeldlos).
Người tiêu thụ Đức (deutsche Verbraucher) vẫn luôn thích nhất (immer am liebsten) trả tiền mặt (in bar) cho việc mua sắm – ít ra (zumindest) khi đó là khoản tiền nhỏ. Đây là kết quả (Ergebnis) một khảo sát đã được công bố (veröffentliche Studie) của Viện Nghiên Cứu Thương Mãi (Handelsforschungsinstitut) EHI ở Köln.
Theo đó, bạc giấy (Scheine) và tiền xu trước sau (nach wie vor) vẫn là „phương tiện thanh toán ưa thích nhất (beliebteste Zahlungsmittel) của khách hàng Đức (deutsche Kunden)“. Hơn (mehr als) ba phần tư (Dreiviertel) việc mua sắm trả bằng tiền mặt trong năm 2017.
Trong khi (während) việc trả tiền mặt (Bargeld) có xu hướng (tendenziell) mất (verlieren) dần ý nghĩa (Bedeutung), thì cách trả bằng thẻ (Girocard) ngày càng được ưa chuộng hơn (immer beliebter). Theo EHI, năm 2017 có một phần tư (Viertel) doanh thu (Umsatz) trong giới tiểu thương (Einzelhandel). Hệ thống thẻ tín dụng (Kreditkartensystem) như Mastercard và Visa cũng tăng với 6,5 phần trăm. Lui chút ít (leicht rückläufig) ngược lại là việc thanh toán bằng thủ tục ký giấy cho rút tiền (unterschriftbasiertes Sepa-Lastschriftverfahren).
Theo EHI, tiền mặt tại Đức trong năm năm tới vẫn còn được sử dụng để thanh toán những khoản tiền dưới 30 Euro. Họ đã hỏi ý kiến (befragen) các doanh nhân (Händler). Ở khoản tiền lớn không thành vấn đề nữa.

Tin dpa, hình Daniel Karmann.

Thứ tư ngày 25.04.2018
Trẻ em gặp khó khăn nói chuyện bởi sử dụng truyền thông quá nhiều.

Hai tuổi (Zweijährige) dùng điện thoại cầm tay (Handy) theo (nach) sự quan sát (Bebachtung) của bác sĩ nhi đồng (Kinderarzt) không phải là trường hợp ngoại lệ (Ausnahmfall). Tại Weimar, Hiệp Hội Nghề Nghiệp (Berufsverband) quan tâm (sich beschäftgigen) đến vấn đề nghiện trực tuyến (Online-Sucht) của trẻ em (Kinder) và thanh thiếu niên (Jugendliche).
Hiệp Hội Nghề Nghiệp Bác Sĩ Nhi Đồng và Thanh Thiếu Niên (Berufverband der Kinder- und Jugendärzte) đòi hỏi (verlangen) một sự nghiên cứu nhiều độc lập (mehr unabhängige Forschung) đối với những nguy hại sức khỏe (Gesundheitsrisiko) bởi (durch) vi tính (Computer) hoặc(oder) điện thoại thông minh (Smartfone) ở trẻ em.
„Nếu theo quan điểm (Vorstellung) của một số doanh nghiệp (manches Unetrnehmen) thì trẻ em hoàn toàn chưa đủ sớm để bắt đầu sử dụng (umgehen) dễ dàng (spielerisch) vi tính bàn (Tablet) và điện thoại cầm tay (Handy)“ theo ông Thomas Fischbach, chủ tịch hiệp hội (Verbandspräsident) nhân dịp khởi màn (Auftakt) Hội Nghị Y Khoa Thanh Thiếu Niên toàn quốc (bundesweiter Jugendmedizin-Kongress). Từ quan điểm (Sicht) của ông, nền chính trị (Politik) hỗ trợ (födern) kỹ thuật số hóa (Digitalisierung) trong vườn trẻ (Kindergärten) và trường học (Schule) một cách „thiếu cân nhắc“ (kritiklos).
Mối tương quan (Zuasammenhang) giữa (zwischen) việc sử dụng truyền thông thái quá (exzessive Mediennitzung) và phát triển (Entwicklung) trẻ em được các bác sĩ nhi đồng trải nghiệm (erleben) hàng ngày (täglich) trong các phòng khám bệnh (Praxis) của họ, ông Fischbach nói (sagen). Một sự khảo sát (Studie) của hiệp hội này đã cho thấy có 30 phần trăm trẻ chưa đến tuổi nhập học (Vorschulkinder) chơi (spielen) điện thoại cầm tay hoặc vi tính lâu hơn (länger) nửa giờ (halbe Stunde), điều này sinh ra (auftreten) khó khăn cho sự nói năng (Sprachproblem). Nhiều hơn gấp đôi so với trẻ ít sử dụng truyền thông, theo ông Uwe Büsching, điều hành trưởng sự khảo sát (Studienleiter), nói.
Sự khảo sát đã quan tâm đến sức khỏe (Gesundheit) gần (fast) 6.000 trẻ em của 80 pòng khám bệnh của bác sĩ nhi đồng (Kinderarztpraxis) trong nước Đức. Thêm vào đó, sự khảo sát (Erhebung) của công ty bảo hiểm sức khỏe (Krankenkasse) DAK cho thấy (sich ergeben) rằng, trong nước Đức có khoảng 100.000 trẻ em và thanh thiếu niên tuổi giữa 12 và 17 nghiện (süchtig) truyền thông xã hội (soziale Medien).
„Chúng tôi cũng không thể nói rằng, liệu cha mẹ (Eltern) đặt con trẻ ngồi trước máy truyền hình (Fernseher) hoặc vi tính bàn, vì lẽ chúng lăng xăng (zappelig) – hoặc liệu trẻ em lăng xăng vì chúng tiêu thụ (verbringen) nhiều giờ trước truyền thông“, theo ông Fischbach, chủ tịch hiệp hội.
Nhiều cha mẹ tin (glauben) rằng trẻ em học (lernen) nói (sprechen) tốt hơn (besser) khi chúng xem truyền hình nhiều, theo ông Hermann Josef Kahl, phát ngôn viên của hiệp hội (Verbandssprecher). Điều này vô lý (Unsinn). „Không có trẻ nào học nói trước máy truyền hình cả.“
Hội nghị tại Weimar hôm chủ nhật (Sonntag) tuần qua (Vorwoche) có hơn 450 bác sĩ tham dự (teilnehmen).

Tin dpa, hình Jens Kalaene.

 

Thứ sáu ngày 20.04.2018
Thất nghiệp hoặc hưu trí gây chứng trầm cảm.

Đàn ông (Männer) có xu hướng (neigen) muốn ý thức (bewusst) đáp ứng (erfüllen) hoàn toàn vai trò (ganz ihre Rolle) trong xã hội (Gesellschaft). Hành vi mong đợi (Erwartungshaltung) ở bản thân (an sich selbst) cũng có thể mau chóng (schnell) trở thành cái Bumerang quay ngược lại họ và dẫn đến (führen) chứng trầm cảm (Depression).
Trầm cảm không chỉ (nur) biểu hiện (sich äußern) ở phái nam khác (anders) phái nữ (Frauen) – nó có thể gây ra từ nhiều vấn đề khác. Ở phụ nữ, tác động (Auslöser) thường (häufig) xảy ra trong cuộc sống riêng tư (Privatleben), ở nam giới là sự căng thẳng vì nghề nghiệp và liên quan đến năng suất (berufsbedingter und leistungsbezogener Stress).
Những yếu tố nguy cơ đặc thù ở nam giới (typisch männliche Riskofaktor) chẵng hạn như mất (Verlust) chỗ làm (Arbeitsstelle), kém thu nhập (geringes Einkommen), bị khủng hoảng (Krisen) trong công việc (Job) hoặc cũng có thể là giai đoạn sắp hưu trí (Eintritt in die rente), theo gỉải thích (Erklärung) của Hiệp Hội Nghề Nghiệp Các Nhà Tâm Thần Học Đức (Berufsverband Deutscher Psychiater, viết tắt là BVDP). Nhiều đàn ông cho rằng, họ biết nhiệm vụ (Aufgabe) của mình, kháng căng thẳng (stressresistent) và có khả năng chịu đựng (belastbar) cũng như nuôi sống (ernähren) gia đình (Familie) họ.
Trong khi đó (während), bệnh hoạn (Erkrankung) ở nữ giới thường biều hiện ở sự chán chường (Niedergeschlagenheit), hoài nghi bản thân (Selbstzweifel) hoặc (oder) rối loại giấc ngủ (Schlafstörung); nhiều đàn ông phản ứng (reagieren) hung hăng (agressiv), mất bình tĩnh (gereizt) và kháng chống xã hội (antisozial). Tuy nhiên (allerdings) không thể đánh đồng (pauschal) sự áp dụng (anwenden) các yếu tố nguy cơ cũng như triệu chứng (Symptom) cho một phái tính (Geschlecht) nào. Vì lẽ, có những triệu chứng cho thấy (aufweisen) phụ nữ cũng có chứng „trầm cảm của nam giới“ (Männerdepression).

Tin dpa, hình Rolf Vennenbernd.

Thứ năm ngày 19.04.2018
Một tỷ Euro thiệt hại bởi làm lậu.

Bởi làm lậu (Schwarzarbeit) nên ty tài chánh (Finanzamt, viết tắt là (Fiskus) trong năm qua bị thiệt hại (schaden) gần (knapp) một tỷ (Milliarde) Euro. Rõ ràng (deutlich) nhiều hơn (mehr als) năm trước (Vorjahr). Vì (weil) lương tối thiểu luật định (gesetzliches Mindestlohn) không được tuân thủ (einhalten) nên đã có khoảng (rund) 2500 vụ điều tra (Ermittlungsverfahren) được thực hiện (einleiten).

Trong cuộc chiến (Kampf) chống hàng và sản phẩm nhái (Marken- und Produktpiraterie), trị giá (Wert) hàng nhái bị tịch thu (geschlagnahmte gefälschte Waren) gần (fast) 200 triệu (Millionen) Euro. Thuế quan (Zoll) đã tịch thu số lượng kỹ lục (Rekordmenge) hơn bảy (sieben) tấn (Tonnen) Kokain ma túy.

Đây là những kết quả chính (zentrale Ergebnisse) chung kết thuế quan (Zollbilanz) năm 2017 đã được trình bày (vorstellen) hôm thứ ba (Dienstag) tại Berlin, thủ phủ (Hauptstadt) Đức quốc. Ông Olaf Scholz (SPD), bộ trưởng tài chánh Đức (Bundesfinanzminister) nói (sagen) rằng, trọng tâm khác (weiterer Schwerpunkt) của thuế quan là cuốc chiến chống rửa tiền (Geldwäsche).

Tin dpa, hình Jens Kalaene.

Thứ tư ngày 18.04.2018
Những người tỵ nạn thất bại bán giấy tờ Đức cho người khác

Không có tương lai (keine Zukunft) tại Đức, nhưng có giấy tờ tỵ nạn hiệu lực (gültige Flüchtlingspapiere): Theo một bài tường thuật (Bericht) của tạp chí “Spiegel” (Tấm Gương), một số người di dân (manche Migranten) từ đó làm kinh doanh (Geschäft) khi họ thất vọng (enttäuscht) phải tự thân lìa bỏ (verlassen) nước Đức.

Vẫn có nhiều (immer mehr) người tỵ nạn /Flüchtlinge) đến từ Syrien và Irak rời khỏi nước Đức và bán (verkaufen) giấy tờ Đức (deutsche Papiere) của họ. Theo nguồn tin (Information) của “Spiegel”, cảnh sát Đức (Bundepolizei) đã cảnh báo (warnen) trong một phân tích mật (vertrauliche Analyse) về việc thương mại nở rộ (florierendes Handel) với danh phận (Identität) trên mạng (im Netz).
“Đặc biệt là những giấy tờ di chuyển của Đức (insbesondere deutsche Reisedokumente) được mời (anbieten) bán (verkaufen) trên truyền thông xã hội (soziale Medien)”, theo bài báo. Chủ yếu (vor allem) là người Syrer, từ (seit) cuối (Ende) năm 2016 dường như đã thất lạc (angeblicher Verlust) giấy tờ Âu Châu (europäische Dokumente) chứng minh tư cách tỵ nạn của họ tại Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei). Người ta nghi (vermuten) rằng, những giấy tờ đó được giao tiếp tục (weitergeben) bằng tiền (Geld).
Tạp chí (Magazin) này đã tường thuật (berichten) quy chiếu (unter Berufung) theo nguồn tin của bộ nội vụ Đức (Bundesinnenministerium), qua đó cảnh sát Đức trong năm qua đã xác định (feststellen) có 554 vụ sử dụng (nutzen) giấy tờ thật (echte Dokumente) nhập nội trái phép (unerlaubte Einreise) vào Đức. Số giấy tờ này có 100 cái xuất xứ (stammen) từ Đức, 99 từ Ý (Italien), 52 từ Pháp (Frankreich). Có một số ít là giấy tờ liên quan đến Thụy Điển (Schweden), Hy Lạp (Griechenland) và Bỉ (Belgien)

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Thứ ba ngày 17.04.2018
Bị xa thải trong lúc thử việc có bị giảm tiển thất nghiệp hay không?

Thời gian thử việc giúp cho công nhân (Arbeitnehmer) làm quen (kennenlernen) công việc mới (neue Tätigkeit). Tuy nhiên, điều có thể xảy ra (passieren) rằng, công việc (Job) không thích hợp (nicht zusagen) với người thợ (Beschäftigte) và họ nghỉ làm (kündigen) trong (während) giai đoạn thử nghiệm (Testphase). Liệu việc tự thoái lui (selbstgewählter Rückzug) như vậy có ảnh hưởng (auswirken) đến các trợ cấp xã hội (Sozialleistung) hay không?

Khi một công nhân nghỉ việc trong thời gian thử việc (Probezeit) vì quá sức (Überforderung) thì không bị cắt giảm (kürzen) ngay (gleich) tiền thất nghiệp loại II (Arbeitslosengeld II). Một „lý do quan trọng“ (wichtiger Grund) cho sự nghỉ việc của họ khi họ tuân thủ (wahrnehmen) những quyền hạn của người thợ (Arbeitnehmerechte).
Quy định (Regelung) này trích từ một quyết định (Entscheidung) của tòa án xã hội (Sozialgericht) Gießen, hồ sơ thụ lý số Az.: S 22 AS 734/16, theo nhóm làm việc (Arbeitsgemeinschaft) về luật xã hội của Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltverein, viết tắt là DAV) thông báo (mitteilen).

Trường hợp (Fall): Mộ người đàn ông (Mann) nhận tiền thất nghiệp II, tương đương tiền trợ cấp Hartz-IV, đã tự tìm (sich selbst suchen) cho mình một công việc làm (Arbeit) và nhận làm (aufnehmen) trong tháng sáu (Juni) 2016 là công nhân (Mitarbeiter) trong khâu sản suất (Produktion) của một xí nghiệp chế tạo nhựa (kunststoffverarbeitender Betrieb). Công việc được hạn định (befristen) trong hai năm. Đến tháng bảy (Juli) 2016, người này tự xin nghỉ việc (selbst kündigen). Ông giải thích (erklären) trung tâm tìm việc (Jobcenter) rằng công việc của ông yêu cầu (fordern) phải có nhiều tập trung (viel Konzentration) và nhanh lẹ (Schnelligkeit). Đây chính là yếu điểm (Schwäche) của ông. Ngoài ra (außerdem), xếp của ông là người hay tức giận (Choleriker). Ông đã hỏi (anfragen), liệu có công việc khác (tätigkeit) cho ông chăng. Khi không có câu trả lời, thì ông đã xin nghỉ làm. Trung tâm tìm việc đã cắt giảm (mindern) tiền thất nghiệp II của ông ba (drei) tháng.

Phán quyết (Urteil): Việc trừng phạt (Sanktion) không hợp lý (unzulässig), theo tòa án (Gericht). Chỉ khi có lý do quan trọng đối với đương sự (Betroffene). Nhưng đây không phải là trường hợp như vậy. Công việc có thể không khả thi ( nicht zugemutete) đối với năng suất về thể hình và tinh thần (körperliches und geistiges Leistungsvermögen) của ông. Lời nói của ông rằng ông bị quá sức là hợp lý (plausibel). Ở trường hợp (Situation) như vậy thì người thợ có quyền (zustehen) nghỉ làm trong thời gian thử việc. Trong thời gian thử việc có luật đặc biệt (Sonderrecht) rằng được kết thúc thử việc không lý do (ohne Grund). Điều này không gây thiệt hại (Schaden) gì cho người đóng thuế (Steuerzahler), vì lẽ không có công việc thì người đàn ông vẫn tiếp tục (weiter) được nhận trợ cấp (Leistungsbezieher) của trung tâm tìm việc. Tòa án còn quan tâm (berücksichtigen) đến vấn đề không phải trung tâm tìm việc đã giới thiệu (vermitteln) chỗ làm (Stelle) cho ông, mà (sondern) chính người này đã tự (selbst) tìm (suchen) lấy

Tin dpa, hình Andrea Warnecke.


Thứ hai ngày 16.04.2018

Chủ nghĩa cực hữu trong quân đội Đức.

Cơ quan phòng hộ quân đội (Militärischer Abschirmdienst, viết tắt là MAD) đã điều tra (ermitteln) theo nguồn tin (Auskunft) của chính phủ Đức (Bundesregierung) hiện nay (aktuell) 431 trường hợp tình nghi cực hữu (rechtsextremer Verdachtsfall) trong quân đội Đức (Bundeswehr).
Đây là câu trả lời (Antwort) của bộ quốc phòng (Verteidigungsministerium) về thắc mắc (Anfrage) của đảng khối Tả khuynh trong quốc hội (Linke Bundestargsfraktion) được các nhật báo (Tageszeitung) nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke tường thuật (berichten). Từ (seit) đầu năm (Anfang) năm nay, có thêm (hinzukommen) 23 trường hợp mới (neu). 289 trường hợp của năm 2017, số còn lại từ những năm trước.
Đảng Tả khuynh (Linke) đòi hỏi (auffordern) phải hành động (handeln). “Thay vì (anstatt) nhắm kín mắt (Augen verschießen) đối với những sự việc này (Gegebenheit), thì chính phủ Đức phải thật sự (endlich) có biện pháp (Maßnahme) làm khô cạn (austrocknen) vũng lầy nâu (brauner Sumpf) trong hàng ngũ (Truppe) quân đội,  bà Ulla Jelpke, nữ phát ngôn viên về nội chính (innenpolitische Sprecherin) đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion) đòi hỏi (verlangen), người đã nêu lên (stellen) thắc mắc. Một vài (manch) vị chỉ huy (Kommandant) tỏ ra (zeigen) “rõ ràng (eindeutig) quá mềm yếu (zu viel Milde)”. Bà Jelpke yêu cầu (fordern) rằng, ai vẻ (malen) dấu hiệu Đức quốc xã (Hakenkreuz) phải bị đuổi (rausfliegen) và hắn không còn được  (nicht mehr) nhận (bekommen) một vũ khí (Waffe) nào nữa trong tay (in die Hand)”. Trong quân đội Đức phải hoàn toàn không có sự khoan dung (null Toleranz) đối với thành phần Đức quốc xã (Neonazis) và cái gọi là “dân quốc xã” (Reichbürger).

Tin dpa, hình Marcel Kusch.

Chủ nhật ngày 15.04.2018
Người ngoại quốc trong nước Đức tăng thành 10,6 triệu.

Tầm (etwa) một trong 8 (acht) người sống (lebender Mensch) trong nước Đức có quốc tịch nước ngoài (ausländische Staatsangehörigkeit). Sự gia tăng rõ rệt (deutlicher Zuwachs) trong năm qua không phải là người tỵ nạn (Flüchtlinge) từ các quốc gia khủng hoảng (Krisenländer), mà là người di dân (Zuwandere) đến từ các quốc gia thành viên (Mitgliedsstaat) EU ở phía Đông (Osten). Số lượng người tỵ nạn giảm (sinken) tiếp tục (weiter).
Trong nước Đức có một trong tám cư dân (Einwohner) là người ngoại quốc (Ausländer), theo Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) tường thuật (berichten): Thành phần dân chúng ngoại quốc (ausländische Bevölkerung) trong năm qua tăng (steigen) 5,8 phần trăm.
Nói chung, số cư dân là 82,5 triệu người thì số người ngoại quốc chiếm khoảng (rund) 12,5 phần trăm. Số người nhập cư từ các quốc gia không thuộc EU (Nicht-EU-Staaten) như Syrien, Irak hoặc (oder) Afghanistan so với (im Vergleich) năm 2016 giảm (zurückgehen) thấy rõ (spürbar). Từ các quốc gia gọi là thứ ba (sogennante Drittstaaten) có khoảng 163.000 người đến (nach) Đức – năm trước đó vẫn còn 665.000 người. Tổng cộng (insgesamt) có hơn (mehr als) 5,9 triệu người di dân (Migranten) từ các quốc gia không thuộc EU đã được ghi nhận (erfassen) ở cơ quan ghi nhận người ngoại quốc (Ausländerzentralregister).

Số người tỵ nạn mới cũng tiếp tục giảm. Trong tháng ba (März) có 10.717 người lần đầu tiên (erstmal) được ghi nhận (registrieren) đến Đức tìm sự bảo hộ (schutzsuchend), theo Bộ Nội Vụ Đức (Bundesinnenministerium) thông báo (mitteilen) hôm thứ năm (Donnerstag) tuần qua (Vorwoche) tại Berlin. Như vậy có 2,6 phần trăm ít hơn (weniger als) tháng trước (Vormonat) và 28,4 phần trăm ít hơn trong tháng ba 2017. Phần lớn người xin tỵ nạn (Asylbewerber) đến từ Syrien, Eritrea và Irak.
Sự gia tăng rõ rệt (deutlicher Anstieg) trong năm qua là sự nhập cư (Zuwanderung) từ các quốc gia EU. Số người đến từ các quốc gia EU phía Đông đến Đức tăng 12,5 phần trăm. Trong khi (während) sự nhập cư ròng (Nettowanderung) – nghĩa là sự khác biệt (Differenz) từ việc nhập (Zuzug) và đi (Wegzug) – riêng trong 2016 chỉ (lediglich) 277.000 người, trong năm qua có 439.000, chủ yếu (vor allem) đến từ Polen, Rumänen và Bulgaren.
Từ khi (seit) bắt đầu (Beginn) sự tự do đi lại (Freizügigkeit) cho những người đến từ các quốc gia thuộc EU ở phía Đông thì trong năm 2007 từ con số 919.000 lên thành 2,6 triệu người vào cuối (Ende) năm qua. Người dân ngoại quốc nói chung đã tăng bởi sự nhập cư từ các quốc gia thuộc EU ở phía Đông trong các tiểu bang (Bundesländer) không có (ohne) Berlin. Trong số này, số người có thông hành ngoại quốc là 26 phần trăm, trong các tiểu bang cũ Đông Đức ngược lại (dagegen) chỉ có 7,8 phần trăm.

Tin dpa, hình Violetta Kuhn.

Thứ bảy ngày 14.04.2018
Chỉ có ít người ngoại quốc gia nhập các đảng phái Đức.

Không có thông hành Đức (kein deutscher Pass), nhưng (aber) trong một đảng (Partei) tại đây (hierzulande)? Điều này được phép (erlauben) và hầu như Fast) có thể (möglich) không hạn chế (unbeschränkt). Giữa (zwischen) số (Anteil) người ngoại quốc (Ausländer) đối với tổng số quần chúng (Gesamtbevölkerung) và số phần trăm người ngoại quốc tham gia đảng phái (Perteimitgliedschaft) có một khoảng cách lớn (große Diskrepanz).

Chỉ (nur) có ít người ngoại quốc (weinige Ausländer) đã sử dụng (Gebrauch machen) cơ hội (Möglichkeit) gia nhập (eintreten) cộng tác (mitwirken) với một đảng phái cho nền chính trị Đức (politische Politik). Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa), không có một đảng nào trong đảng khối quốc hội (Bundestagsfraktion) cho rằng (angeben) họ có thành phần người ngoại quốc là thành viên (Mitglieder) nhiều hơn (mehr als) hai (zwei) phần trăm. Đối với toàn thể quần chúng thì có khoảng (rund) 11 (elf) phần trăm.

Nhiều người ngoại quốc chỉ làm việc (arbeiten) và cư ngụ (wohnen) có thời hạn (auf Zeit) trong nước Đức, ông Niko Switek, khoa học gia về chính trị (Politikwissenschaftler) thuộc đại học (Universität) Duisburg-Essen giải thích (erklären) khoảng cách này. Dĩ nhiên, chướng ngại ngôn ngữ (sprachliche Hürde) đóng một vai trò (eine Rolle spielen) rất lớn vì lẽ (denn) sự sinh hoạt đảng (Parteialltag) thường phải đối thoại (Kommunikation) nhiều. Lý do sự gia nhập (Eintrittsgrund) đảng chỉ khi có người (jemand) trong gia đình (Familie) đã là (schon) đảng viên. „Điều này không có đối với những người mới đến (neue Ankommling).“

Đảng SPD phỏng đoán (geschätzt) có ít hơn (weniger) hai phần trăm không có thông hành Đức, phát ngôn viên (Sprecher) của đảng này cho biết (mitteilen). Cuối năm qua, đảng Xanh (grüne) có chừng (etwa) 1,3 phần trăm; đảng FDP chừng 0,8 phần trăm. Đảng AfD khoảng 0,7 phần trăm. Đảng CSU gần 0,5 phần trăm. Đảng Tả Khuynh (Linke) và CDU không nêu con số.

Đạo luật về đảng phái của Đức (deutsches Parteigesetz) cho phép người ngoại quốc gia nhập các đảng tại đây. Nhưng họ không được phép có đa số (Mehrheit) đảng viên hoặc (oder) trong ban lãnh đạo (Vorstand). „Đa số người ngoại quốc trong một đảng là điều không thể (kaum) đạt được (erreichen), và đa số trong ban lãnh đạo thì lại càng không thể“, ông Hans Meyer, giáo sư nổi tiếng (emeritierter Professor) về luật hiến pháp, hành chánh và tài chánh (Verfassungs-, Verwaltungs- und Finanzrecht). Người ngoại quốc không được phép tham gia (teilnehmen) các cuộc bầu cử (Wahlen) trong nước Đức; trên bình diện địa phương (Kommunaleben) có ngoại lệ (Ausnahme) cho người dân (Bürger) EU.

Tin dpa, hình Marijan Murat.

Thứ sáu ngày 13.04.2018
Người Đức sử dụng mạng lo ngại sự lạm dụng dữ liệu.

Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) mới đây thì sự tin tưởng (Vertrauen) mạng xã hội (soziales Netzwerk) hiện nay (mitterweile) giảm đi (gering). Chỉ có mười (zehn) phần trăm (Prozent) người sử dụng Facebook được hỏi ý kiến (befragte Facebook-Nutzer) vẫn còn (noch) tin tưởng nhiều (großes Vertrauen) rằng công ty (Unternehmen) này sử dụng (umgehen) những dữ liệu cá nhân (persönliche Daten) hoàn toàn có trách nhiệm (verantworungsvoll).
61 phần trăm người sử dụng mạng (Internetnutzer) trong nước Đức có lo ngại lớn hoặc rất lớn (große oder sehr große Sorge) trước (vor) sự lạm dụng (Missbrauch) dữ liệu cá nhân của họ – theo một công bố (Veröffentlichung) của chương trình “Xu Hướng Đúc Quốc” (Deutschland-Trend) thuộc đài truyền hình (Fernsehsender) ARD phát hình hôm thứ năm (Donnerstag).
Sau vụ xì-căn-đan (Skandal) của Facebook qua việc sử dụng trái phép (unerlaubte Nutzung) dữ liệu của khách hàng (Kundendaten) bởi sự phân tích (Analyse) của công ty (Firma) “Cambrige Analytica” có 59 phần trăm người sử dụng mạng cho rằng (angeben) họ độc lập (unabhängig) với những loạt bài tường thuật mới (aktuelle Berichten) và sẽ dùng mạng xã hội dè dặt hơn (vorsichtiger). 27 phần trăm nói (sagen) rằng họ tiếp tục (weiter) sử dụng Facebook không có gì thay đổi (unverändert). 12 phần trăm sử dụng Facebook ít hơn (weniger) trước đây (als früher). 2 phần trăm cho rằng họ không sử dụng Facebook nữa vì (aufgrund) các bài tường thuật nói trên.

Tin dpa, hình Marcio Jose Sanchez.

Chủ nhật ngày 08.04.2018
Người dân nhận thấy việc đảm bảo hưu trí là công việc quan trọng nhất.

Sự nhập cư (Zuwanderung) đã là đề tài (Thema) tranh luận chính trị (politische Debatte) trong hai năm qua tại Đức. Nhưng công việc quan trọng nhất (wichtigste Aufgabe) của chính phủ mới (neue Regierung) theo người dân Đức (Bundesbürger) nhận thấy (ansehen) hoàn toàn là những đề tài khác.
Sự đảm bảo (Sicherung) tiền hưu trí (rente) theo (zufolge) một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) thì từ quan điểm (aus Sicht) của người dân (Bürger) là công việc quan trọng nhất của chính phủ mới. 95 phần trăm người được hỏi ý kiến (befragte) đã nêu ra (nennen) sự việc rất quan trọng (sehr wichtig) hoặc (oder) quan trọng (wichtig) là liên minh lớn cầm quyền (grtoße Koalition) phải mau chóng (rasch) bắt tay vào vấn đề này (in Angriff nehmen).
Trích kết quả (Erhebung) của tổ chức Emnid thực hiện do nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke ủy nhiệm (im Auftrag). Đứng thứ nhì và ba là hãm (Eindämmung) hình sự cạy cửa trộm cắp (Einbruchkriminalität) với 91 phần trăm và hãm gia tiền mướn nhà hiệu quả hơn (wirkungsvolle Mietpreisbremse) với 85 phần trăm. Sự hạn chế (Begrenzung) tình trạng nhập cư trong những cuộc thương thuyết để thành hình liên minh (Koalitionsverhandlungen) là một đề tài đặc biệt khó khăn (besonders schwieriges Thema), có 29 phần trăm người được hỏi ý kiến xem là rất quan trọng và 37 phần trăm xem là quan trọng – nói chung (zusammen) tổng cộng là 66 phần trăm.

Tin dpa, hình tư liệu của  Silas Stein.

 

Thứ bảy ngày 07.04.2018
Một trong bốn học viên bỏ ngang sự đào tạo.

Nhiều thanh thiến niên học nghề (Azubi, viết tắt của chữ Auszubildende) cảm thấy (sich fühlen) bị lợi dụng (ausnutzen) và cư xử (behandeln) tệ (schlecht), Chỉ số người bỏ ngang (Abbrecherquote) khá cao (so hoch) như chưa hề có từ nhiều năm (seit Jahren) qua. Nhưng (doch) nguyên nhân (Ursache) của nó cũng (auch) vì sự cung cấp khá nhiều (reichhaltiges Angebot) chỗ đào tạo (Ausbildungsplatz).
Hơn (mehr als) bốn Azubi bỏ ngang (abbrechen) sớm (vorzeitig) việc học nghề (Lehre) của họ. Theo bản dự thảo (Entwurf) báo cáo đào tạo nghề (Berufsausbildungsbricht) cho biết chỉ sổ người bỏ ngang việc học nghề lần cuối (zuletzt) lên đến 25,8 phần trăm, con số của năm 2016.
Đây là con số cao nhất (höchste Zahl) kể từ đầu (seit Anfang) thập niên 90. 146.376 hợp đồng đào tạo (Ausbildungsvertrag) đã bị hủy (lösen) sớm. Bản báo cáo được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết được hôm thứ tư (Mittwoch) vừa qua tại Berlin.
Thậm chí có hơn một trong hai Azubi bỏ ngang việc học nghề chuyên viên (Fachkraft) bảo vệ (Schutz) và an ninh (Sicherheit) với 50,7 phần trăm, kế đến (gefplgt) là nhà hàng (Restaurantfachleute) 50,6 phần trăm. Nghề nấu ăn (Koch) 48,6 phần trăm, ngành phục dịch 43,4 phần trăm, khách sạn (Hotel) 40,8 phần trăm. Chỉ số (Quote) trên (über) 45 phần trăm là nghề phục dịch bàn ghế-, bếp và dọn nhà (Möbel-, Küchen und Umzugsservice) 49,8 phần trăm.
Một điều thật rõ ràng (klar) rằng: Sự cung cấp chỗ học nghề khá nhiều. Có ít (wenig) xí nghiệp nhỏ (klein Betrieb) cung cấp một chỗ học nghề, chỉ số các xí nghiệp có Azubi tụt xuống (rutschen) dưới một phần năm. Dù vậy, số chỗ học nghề được cung cấp trong năm qua tăng (steigen) từ 8.500 lên thành 572.200 chỗ (Stelle). Cuối tháng chín (September) 2017 có 523.300 hợp đồng (Vertrag) được ký kết (abschließen) – 3000 nhiều hơn năm trước (Vorjahr).
Nhưng số cung và cầu (Nachfrage) không tương ưng (nicht zusammenpassen) với nhau. Số chỗ học nghề còn trống tăng khoảng 49.000 và số người xin (Bewerber) chỉ có 24.000. Báo cáo của chính phủ (Regierungsbericht) kêu gọi (aufrufen) các Azubis hãy có nhiều năng động (Mobilität) và uyển chuyển (Flaexibilität) hơn (mehr).

Tin dpa, hình Christoph Schmidt.

Thứ sáu ngày 06.04.2018
Một trong bảy trẻ em sống bằng trợ cấp xã hội Hartz-IV.

Còn trẻ (jung) mà vẫn nghèo (arm) – có khoảng một triệu trẻ em (Kinder) và thanh thiếu niên (Jugendliche) cùng chung (teilen) số phận (Schicksal) này. Vì lẽ (denn) chúng phải sống (leben) trong các gia đình (Familien) nhận trợ cấp xã hội Hartz-IV. Con số này thậm chí còn (noch) tăng (zunehmen) – đây là hậu quả (Folge) của làn sóng người tỵ nạn (Flüchtlingsstrom).
Sự nhập cư (Zuwanderung) của người tỵ nạn (Flüchtlinge) cũng như người dân (Bürger) EU làm cho số trẻ em và thanh thiếu niên phải sống nhờ trợ cấp Hartz-IV tăng (steigen) mạnh (stark). Trong năm qua có một trong bảy (sieben) trẻ dưới 18 tuổi sống bằng trợ cấp (finanzielle Unterstützung) của các trung tâm tìm việc (Jobcenter).
Trước đây năm (fünf) năm chỉ (lediglich) có khoảng một trong tám (acht) thanh thiếu nhi (Minderjährige) theo các thống kê mới nhất (jüngste Statistiken) của Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA) nhận trợ cấp xã hội đã được thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) tường thuật (berichten).
Tổng cộng (insgesamt) trong tháng sáu (Juni) vừa qua có 2,052 triệu trẻ em và thanh thiếu niên dưới (unter) 18 tuổi sống trong gia đình nhận trợ cấp xã hội Hartz-IV vì mất việclàm (Jobverlust) hoặc tiền lương quá ít (zu geringes Lohn). Như vậy có 5,2 phần trăm nhiều hơn (mehr als) tháng sáu năm 2016 và thậm chí (sogar) với con số 166.560 hoặc tám phần trăm nhiều hơn trước đây năm năm. Các con số của tháng mười hai (Dezember) chưa có (noch nicht vorliegen).
Theo Cục BA, trong nửa năm ngoái có 583.600 trẻ em và thanh thiếu niên sống trong các gia đình người nước ngoài (ausländische Familie) nhận Hartz IV. So với (im Vergleich) với tháng sáu năm 2016 thì con số này tương đương (entsprechen) một sự gia tăng (Anstieg) khoảng 41,1 phần trăm. Còn so với năm 2012 thì gấp đôi (verdoppeln).
Tuy nhiên, số người trẻ nhận Hartz-IV di dân (Migrant) đến từ các quốc gia thuộc khối EU cũng tăng. Với 30.340 kề từ nửa năm ngoái thì số người trẻ nhận xã hội (junge Grundsicherungsempfänger) ví dụ đến từ Bulgarien tăng gấp năm lần so với giữa năm 2013.
Liệu một trẻ phải sống bằng Hartz-IV hay không, điều này tùy thuộc (abhängen) mạnh mẽ vào từng địa phương (Region). Chẳng hạn (etwa) tiều bang Bayern có 6,8 phần trăm thanh thiếu nhi (Minderjährige) sống bằng Hartz-IV; kế đến là tiểu bang Baden-Württemberg 8,4 phần trăm. Tại Bremen và Berlin thì ngược lại chỉ có một trong ba (drei) trẻ dưới 18 tuổi nhận tài trợ của nhà nước (stattliche Unterstützung). Đặc biệt (besonders) phụ nữ sống một mình nuôi con (alleinerziehend Frauen) gặp nhiều khó khăn (Problem) hơn để đủ sống (über die Runden) với mức thu nhập ít ỏi (geringes Einkommen) của họ.

Tin dpa, hình Julian Stratenschulte.

Thứ năm ngày 05.04.2018
Báo bệnh bằng miệng thường vẫn đủ.

Ai bị bệnh phải báo (sich abmelden) nghĩ làm. Điều này rõ ràng (klar). Người thợ (Mitarbeiter) làm gì cho hợp lý (grundsätzlich egal). Nhưng họ cũng phải biết về nguy cơ việc nhờ cậy báo bệnh (Übermittlungsrisiko).
Có thể điện thoại (Anruf) hoặc (oder) điện thư (E-Mail), bằng (per) Fax hoặc SMS: Khi (wenn) công nhân (Arbeitnehmer) báo bệnh (sich krankmelden) thì luật pháp (Gesetz) không bó buộc (binden) vào bất cứ vào một hình thức nào (bestimmte Form).
Thật ra, công nhân bệnh không nhất thiết (nicht einmal) đích thân (persönlich) thông báo (informieren) xếp (Chef) – có thể nhờ một đồng nghiệp (Kollege) chuyển lại (übernehmen). Điều này được Liên Hiệp Tòa Soạn (Bund-Verlag) lưu ý (hinweisen) trên trang Blog của họ cho các hội đồng xí nghiệp (Betriebsrat). Tuy nhiên (allerdings), công nhân tự gánh chịu (tragen) nguy cơ về việc nhờ cậy báo bệnh nếu có xảy ra. Cho nên họ phải chắc chắn (sicherstellen) rằng thông tin (Information) báo bệnh phải thật sự (tatsächlich) đến (ankommen) tay chủ nhân (Arbeitgeber). Ngoài ra (außerdem) cũng có vài quy định (Vorschrift) khác với (abweichend) luật pháp về việc báo bệnh (Krankmeldung) như thế nào (aussehen). Người lao động cần phải tuân thủ (sich halten) những quy định này.

Tin dpa, hình Sebastian Kahnert.

Thứ tư ngày 04.04.2018
Bia rượu hiện nay là vấn nạn lớn nhất tại Đức

Rượu vang (Wein), bia (Bier) và rượu mạnh (Schnaps) có thể là chất thưởng thức (Genussmittel), nhưng nó cũng có tiềm năng nghiện ngập (Suchtpotential). Sự tiêu thụ (Konsum) trong nước Đức trước sau (nach wie vor) rõ ràng (deutlich) quá cao (zu hoch). Làm thế nào để có thể kháng chống (dagegen) nó?

Người Đức ngày càng (immer) uống (trinken) quá nhiều (viel zu viel) rượu (Alkohol). Theo một phân tích (Analyse) của quyển Niên Giám mới (neues Jahrbuch) về nghiện ngập (Sucht) cho thấy mỗi công dân Đức (jeder Bundesbürger) trên 15 tuổi tiêu thụ (konsumieren) trung bình (im Schnitt) mỗi năm (jährlich) 10,7 lít (Liter) hoàn toàn rượu (reiner Alkohol) – tương đương (entsprechen) một xô đầy (gefüllter Eimer). Con số (Zahl) này quy chiếu (sich beziehen) bảng tính mới (neue Berechnung) cho năm 2015. „Rượu lần hồi (mit Abstand) là một vấn đề to tát (massives Problem)“, theo ông Raphael Gaßmann, quản đốc (Geschäftsführer) Trung Tâm Nghiện Ngập Vụ Đức (Deutsche Hauptstelle für Suchtfragen, viết tắt là DHS, đã phát biểu hôm thứ tư (Mittwoch) tuần qua (Vorwoche) trong buổi giới thiệu (Vorstellungs) Niên Giám về nghiện ngập tại Berlin. Vị đặc ủy về nghiện ma túy (Drogenbeauftragte) của chính phủ Đức (Bundesregierung), bà Marlene Mortler (CSU), yêu cầu (fordern) nâng cao giá (höhere Preise) bia và rượu mạnh vì mối liên quan đến (angesichts) những con số mới. Bà nói rằng: Sự lạm dụng rượu (Alkoholmissbrauch) hiện nay là một thách thức lớn (große Herausforderung) cho xã hội (Gesellschaft) Đức. „Khoảng (knapp) tám (acht) triệu người uống rượu quá nhiều và gây tổn hại (gefährden) cho sức khỏe (Gesundheit) của họ – bà nói (sagen) trên tờ „Passauner Neuen Presse“.

Niên Giám về nghiện ngập đúc kết (zusammenstellen) thống kê (Statistik) tình trạng hợp pháp và bất hợp pháp ma túy (legaler und illegaler Drogen) trong nước Đức và bổ sung (ergänzen) bằng những dữ liệu riêng (eigene Daten) cho việc giúp cai nghiện (Suchthilfe). Tính mỗi đầu người (pro Kopf) tại Đức, trong năm 2016 trung bình mỗi người lớn (Erwachsene) đã uống 134 lít rượu – số lượng này có thể đổ đẩy một bồn tắm (Badewanne). So với (im Vergleich) sự tiêu thụ của năm trước đó chỉ (nur) giảm (sinken) chút ít (minimal) – khoảng 1,25 phần trăm.

So với quốc tế (internationaler Vergleich), nước Đức là một quốc gia tiêu thụ rượu cao (Hochkonsumland), theo ông Ulrich John, điều hành trưởng (Leiter) Viện Y Khoa Xã Hội (Institut für Sozialmedizin) thuộc đại học (Universität) Greifswald. Hậu quả (Folge) của nó thật trầm trọng (dramatisch). Theo Niên Giám, tại Đức mỗi năm có 10.000 trẻ sơ sinh (Babys) chào đời (auf die Welt kommen) bị tổn thương vì rượu (alkoholgeschädigt). 2,65 triệu trẻ em (Kinder) lớn lên (aufwachsen) với cha mẹ bệnh hoạn vì rượu (alkoholkranke Eltern). Và tám triệu thân nhân (Angehörige) bị khổ đau (mitleiden) bởi sự nghiện rượu (Alkoholsucht) của một thân nhân trong gia đình (Familienmitglied) – chẳng hạn (zum Beispiel) họ có cảm giác xấu hổ (Schamgefühl) với nười chung quanh, lo sợ tương lai (Zukunftsangst) cho gia đình và trong trường hợp cực trọng (Extremfall) sợ bạo hành (Gewalt) cho đến (bis hin) việc lạm dụng tình dục (sexueller Missbrauch) của thân nhân nghiện rượu.

„Số lượng tiêu thụ (Dosis) là chất độc (Gift)“, ông John bổ túc (errgänzen). Ở nữ giới ví dụ giới hạn (Grenze) của họ là 1/8 lít rượu vang mỗi ngày (pro Tag), ở nam giới một nửa lít (halber Liter) bia. „Bất kể (egal) bạn uống nhiều thế nào thì bạn cũng nên giảm (reduzieren) lượng tiêu thụ của bạn“, một chuyên gia (Expert) khuyên (raten). Vì lẽ theo Niên Giám, khoảng 200 chứng bệnh (Krankheit) gây ra (verursachen) từ việc tiêu thụ rượu. 30 chứng bệnh gan (Leberkrankheit) là lý do chính (Hauptgrund) từ rượu mà có.

Bà Chistina Rummel, chuyên gia của DHS đánh giá việc chi tiêu trực tiếp hay gián tiếp (direkte und indirekte Kosten) tiêu thụ rượu bia cho các bảo hiểm sức khỏe và hưu trí (Kranken- und Rentenversicherung) mỗi năm lên đến 40 tỷ Euro – so với thuế rượu chỉ có (lediglich) 3,1 tỷ Euro.

Cũng như việc tiêu thụ ma túy hợp pháp hay bất hợp pháp trong nước Đức theo Niên Giám cũng tăng quá cao (zu hoch). Việc tiêu dùng (Verbrauch) thuốc lá (Tabak) theo đó thậm chí (sogar) tăng nhẹ (leicht steigen) khoảng một (ein) phần trăm trong năm 2017 – con số tăng liên quan đến thuốc lá tẩu (Pfeifentabak). Vì lẽ hút tẩu ngày nay không chỉ dành cho đàn ông lớn tuổi (ältere Herren).  Việc tiêu thụ đã tăng một phần tư (Viertel) lên thành 3245 tấn (Tonnen) thuốc lá tẩu (28,7 phần trăm). Trong khi đó, người tiêu dùng thuốc điếu (Zigarreten) và xi-gà (Zigarillos) ngược lại (dagegen) giảm (sinken) khoảng bảy (sieben) phần trăm.

Còn sự tiêu thụ ma túy bất hợp pháp thì Cannabis vẫn đứng hàng đầu (Spitzenplatz). Theo những con số gần nhất (jüngste Zahl), trong năm 2015 có khoảng 7 phần trăm trẻ từ 12 đến 17 tuổi (Teenager) và 6 phần trăm từ 18 đến 64 tuổi đã hút phiện (Joints). Nói chung (insgesamt), trong vòng (innerhalb) 25 năm qua ghi nhận có xu hướng tăng (zunehmender Trend), theo Niên Giám.

Canabis thật ra (zwar) là loại may túy bất hợp pháp và được tiêu thụ thường nhất (häufigsten), theo ông Gaßmann. Nhưng nó không gây ra nhiều vấn đề. Những người chết vì ma túy (Drogentote) đã gia tăng – năm 2016 có 1.333 người và người ta ước đoán (vermuten) rằng việc sử dụng (Gebrauch) ma túy nặng (harter Drogen) như Heroin đã gia tăng (zunehmen) trở lại (wieder).

Theo Niên Giám mới thì trong nước Đức vẫn còn (auch weiterhin) 1,2 đến 1,5 triệu người nghiện (abhängig) dược phẩm (Arzneimittel) – đặc biệt (insbesondere) là thuốc an thần (Tranquilizern) và thuốc ngủ (Schlafmitteln). Đặc biệt (besonders) là người già (ältere Menschen) và chủ yếu (vor allem) là nữ giới.

Cờ bạc (Glückspiel) theo Niên Giám vẫn tiếp tục lôi kéo (reizen) nhiều công dân Đức. Khoảng một phần ba (Drittel) trong năm 2017. Trong vòng mười hai tháng (zwölf Monate) đã chơi (spielen) cờ bạc – con số này vẫn giữ nguyên (stabilisieren) so với những kết quả trước đây. Trong nước Đức hiện nay có 326.000 người có vấn đề (problematisch) về hành vi cờ bạc (Glückspielverhalten) và thêm 180.000 người khác đã ghiền (krankhaft)

Tin dpa, hình Daniel Naupold.

Thứ ba ngày 03.04.2018
Ông Spahn muốn có nhiều nhân viên điều dưỡng đến từ nước ngoài.

Theo một công trình khào sát (Studie), hiện nay có khoảng 17.000 chỗ làm nghề điều dưỡng còn trống (offene Pflegestelle). Vị tân bộ trưởng y tế (neuer Gesundheitsminister) muốn trám (schließen) những lỗ hổng (Lücke) bằng lực lượng (Kraft) nhân sự (Personal) từ nước ngoài (aus dem Ausland). Nguyện vọng (Wunsch) của ông là nên mau (schnell) công nhận (anerkennen) những bằng cấp nghề nghiệp của nước ngoài (ausländischer Berufsabschluss).
Nghĩa là, ông Jens Spahn, tân bộ trưởng kinh tế Đức, muốn giải quyết (entgegenwirken) việc thiếu nhân sự (Personalmangel) trong sự điều dưỡng (Pflege) bằng công nhân (Mitarbeiter) đến từ nước ngoài.
Sau kết quả một cuộc khảo sát của Viện Nghiên Cứu Ứng Dụng Điều Dưỡng Đức (Deutsches Institut für angewandte Pflegeforschung) đã công bố giữa tháng ba (Mitte März) cho thấy hiện nay (derzeit) có 17.000 chỗ còn trống trong các nhà điều dưỡng (Pflegeheim) Đức. Lý do (Grund) chính (hauptsächlich) là tình trạng thiếu chuyên viên trên cả nước (bundesweite Fachkräftemangel) cũng như (sowie) phẩm chất suy kém (abnehmende Qualität) của người xin việc (Jobbewerber) cho nghề (Beruf) này.
Theo như tờ „Passauer Neue Presse“ quy chiếu sự trả lời (Antwort) của Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit) về câu hỏi (Anfrage) của đảng khối Tả khuynh trong quốc hội (Linken-Bundestagsfraktion) đã tường thuật (berichten), thì trong năm qua (vergangenes Jahr) cả nước có 10.181 công nhân (Beschäftigte) trong ngành điều dưỡng bệnh viện và sức khỏe (Gesundheits- und Krankenpflege), dịch vụ cứu nguy (Rettungsdienst) và hộ sanh  (Geburtshilfe) là lực lượng công nhân thuê mướn (Leiharbietskraft). Trong năm 2014 có 7374 người. Trong phạm vi (Bereich) điều dưỡng người già (Altenpflege) trong năm 2017 có 7500 công nhân thuê; ba năm trước đó (zuvor) 5850 người.
Theo bài báo, công nhân thuê lãnh lương (verdienen) rõ ràng (deutlich) ít hơn (weniger) công nhân chính quy (reguläre Beschäftigte). Lương chánh (Bruttolohn) cho công việc toàn thì (Vollzeit) trong các phạm vi điều dưỡng, dịch vụ cứu nguy và hộ sanh đến cuối năm 2016 là 3203 Euro mỗi tháng (monatlich) – công thuê chỉ có 2579 Euro. Lương chính của người làm việc toàn thì (Vollzeitbeschäftigte) trong ngành điều dưỡng người già cuối năm 2016 là 2436 Euro – trong khí đó công nhân thuê chỉ có 2131 Euro.

Tin dpa, hình Christophe Gateau.

 

Chủ nhật ngày 01.04.2018
Ngáp kích hoạt hệ thần kinh.

„Tay che miệng“ (Hand vor dem Mund) – Mệt mõi (müde) hay chán nản (gelangweilt)? Những nguyên nhân chính xác (genaue Ursache) vì sao con người (Mensch) ngáp (gähnen) vẫn chưa được nghiên cứu (forschen). Ở tình trạng không thích nghi (unangemessene Situation) sẽ không gây tổn hại (schaden) thân thể (Körper) khi đè nén (unterdrücken) cơn ngáp (Gähnen)
Có những ngày phải há miệng (den Mund aufreißen) liên tục (ständig) không phải để nói gì cả, mà (sondern) chỉ để ngáp. Điều này làm người ta lúng túng (peinlich) trong lúc làm việc. Nhìn thấy có vẻ như ai đó chán chường (langweilen) công việc (Tätigkeit). Dù vậy (trotzdem), cũng nên để cho cơ thể làm (machen) một lần.
Ngáp dường như (vermutlich) là sự đánh thức (Weckruf) cơ thể. „Chưa có nhiều nghiên cứu (Forschung) về vấn đề này“, ông Ingo Fietze, giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) điều hành trưởng (Leiter) trung tâm y tế giấc ngủ (Scjafmedizinisches Zentrum) của đại học Berliner Charite. „Nhưng chúng ta biết được điều gì đang xảy ra (passieren) trong cơ thể.“ Ngáp kích hoạt (aktivieren) hệ thần kinh thực vật (vegetatives Nervensystem) và ổ định mạch tim (Puls) „Từ đó, người ta có thể cho rằng có thể muốn chống lại (bekämpfen) sự mệt mõi (Müdigkeit)“ cho dù (auch wenn) tất cả (Ganze) chỉ (nur) diễn ra trong một phút (Minute).
Trong tình trạng không thích hợp (unangemessen) người ta được phép nén cơn ngáp. Những hậu quả tiêu cực (negatives Konsequenz) cho cơ thể cũng không vì vậy xảy ra điều gì cả. Nhưng (aber): Ai mệt mõi (müde) ở bàn giấy (Schreibtisch) thì có thể sử dụng một ít tươi mát (Frischekick). Việc thường xuyên đứng dậy (regelmäßig aufstehen) và làm cho sự tuần hoàn (Kreislauf) lúc nào cũng tái kích hoạt, cũng có thể giúp đở rất nhiều cho những cơn mõi mệt.

Tin dpa, hình Friso Gentsch.

Xem (70)