» » Tin Đức Quốc tháng 03.2018

Tin Đức Quốc tháng 03.2018

Xem (31)


Thứ bảy ngày 31.03.2018
Nhiều vụ trục xuất vì thiếu giấy tờ nên không thể thực hiện được.

Số người tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) và di dân (Migranten) không có (ohne) quyền cư trú (Aufenthaltsrecht) vì thiếu giấy tờ (fehlende Papiere) không thể bị trục xuất (abschieben) đã tăng (steigen) rõ rệt (deutlich) trong năm qua (vergangenes Jahr) theo một bài báo (Zeitungsbericht).
Cuối năm 2017, tổng cộng (insgesamt) có 64.914 người ngoại quốc (Ausländer) được tạm dung (dulden) trong nước Đức vì không có (vorliegen) giấy thông hành (Reisedokument) hoặc (oder) giấy thế thông hành (Passersatzpapier) của quốc gia xuất xứ (Herkunftsland), các tờ báo (Zeitung) nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke tường thuật (berichten) hôm thứ hai (Montag) quy chiếu (unter Berufung) báo cáo tình hình nội bộ (interner Lagebericht) của bộ nội vụ Đức (Bundesinnenministerium). Cuối (Ende) năm 2016, con số này vẫn còn (noch) 38.012 người (Person). Nghĩa là (bedeuten) có sự gia tăng (Anstieg) 71 phần trăm nội trong (innerhalb) một năm (Jahr).
„Xu hướng (tendenziell) số người có bổn phận phải ra đi (Ausreisepflichtigte) được tạm dung (Duldung) vì thiếu giấy thông hành suốt năm (im Verlauf) năm 2017 đã tăng liên tục (kontinuierlich)“, các tờ báo trích (zitieren) từ bản báo cáo (Bericht). Cuối năm 2017 có 5743 người đến từ Ấn Độ (Indien) được tạm dung tại Đức cũng từ lý do (Grund) này, 4943 từ Pakistan, 3915 từ A Phú Hản (Afghanistan) và 3828 từ Nga (Russland). Ngoài ra còn có 3800 người „không thể biết được“ (ungeklärt) quốc tịch (Staatsangehörigkeit) từ phía các cơ quan chính quyền Đức (deutsche Behörde).
Bảng báo cáo cho thấy (zeigen) rằng, việc hợp tác (Zusammenarbeit) giữa (zwischen) cơ quan chính quyền Đức và các sứ quán nước ngoài (ausländische Botschaft) tại Đức trong việc làm (Beschaffung) giấy thế thông hành trong nhiều trường hợp (Fall) không được thực hiện tốt (schlecht funktionieren). Qua đó, đối với Ấn Độ thì „nhỏ giọt (Streckenweise) rất chậm (sehr langsam) thậm chí không giải quyết được (keine Bearbeitung) những đơn xin cấp giấy thế thông hành (Passersatzntrag)“ – mặc dù (trotz) „có sự thường xuyên đến (regelmäßiger Besuch) sứ quán“. Đối với Pakistan thì theo bảng báo cáo: Việc cấp giấy thế thông hành tuy nhiên (allerdings) bị trì trệ (verzögern)“. Còn đối với Libanon: „Việc trả lời (Antwort) các đơn xin cực kỳ hiếm (äußerst rar). Sự liên lạc (Kontakt) với sứ quán không tốt (schlecht).“ Sự hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei) theo báo cáo tình hình đến cuối năm 2017 „trên cả nước không tốt cho đến (bis) rất tệ (sehr schlecht)“.

Tin dpa, hình tư liệu của Daniel Maurer.

 

Thứ năm ngày 29.03.2018
Tôi có quyền nhận một chứng chỉ lao động hay không?

Một công nhân (Arbeitnehmer) thôi việc (kündigen). Hoặc cấp trên (Vorgesetzte) thay đổi (wechseln). Đây có thể là hai lý do (Grund) cho việc cấp một chứng chỉ (Zeugnis). Nhưng liệu đây có phải là lý do ghi trong chứng chỉ lao động (Arbeitszeugnis) hay không?
Vào ngày cuối (letzter Tag) phát chứng chỉ. Ở trường học (Schule) là như vậy, và sau này (später) trong việc làm (Job) cũng không khác. Chủ nhân (Arbeitgeber) có phải cấp (ausstellen) một chứng chỉ lao động hay không – nếu có thì điều gì phải ghi vào trong đó (drinstehen)?
Mỗi công nhân đều có quyền (Anspruch) nhận một chứng chỉ lao động, theo ông Peter Meyer, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht) và thành viên (Mitglied) nhóm làm việc (Arbeitsgemeinschaft) về luật lao động thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltverein). Hai cơ hội (Anlass) là: Một (Einmal) là sự chia tay (Abschied) của người chủ, nên người thợ nhận (bekommen) một cái gọi là (sogenannte) chứng chỉ cuối (Schlusszeugnis) trong thời điểm (zum Zeitpunkt) kết thúc (Beendigung) công việc (Arbeit). Hai (Zweitens) là một chứng chỉ tạm (Zwischenzeugnis). „Người thợ lúc nào (immer) cũng có thể yêu cầu cấp (einfordern) loại chứng chỉ này, khi có một lý do chắc chắn nào đó (triftiger Grund)“, theo ông Meyer. Ví dụ, công ty thay đổi lực lượng lãnh đạo (Führungskraft), việc chuyển đổi vị trí (Versetzung) trong công ty (Unternehmen) – về mặt lý thuyết (theoretisch) cũng có thể dùng cho việc xin (Bewerbung) một công việc mới (neuer Job).

Mấu chốt vẫn phải là ghi điều gì trong chứng chỉ. Theo luật pháp (per Gesetz), người thợ có quyền xin cấp một chứng chỉ chứng nhận năng lực (qualifiziertes Zeugnis) của họ. Cụ thể (konkret) là người chủ phải miêu tả (beschreiben) năng suất (Leistung), công việc (Tätigkeit) và hành vi (Verhalten) của người thợ đúng như thật (tatsächlich). Một sự đánh giá trung bình (durchschnittliche Bewertung) theo luật cho điểm (Note) „đủ“ (befriedigend) – trong ngôn ngữ chứng chỉ (Zeugnissprache) thường được ghi là „hoàn toàn hài lòng“ (zur vollen Zufriedenheit).
Nếu người làm việc (arbeiten) quá tệ (sehr schlecht) thì người chủ muốn tránh (abweichen) từ „trung bình“ (durchschnittlich) thì ghi là „luôn cố gắng“ (stets bemüht) hoặc „giải quyết công việc hài lòng như mong muốn“ (im Großen und ganzen zufriedenstellende Erledigung der Arbeit). Trong trường hợp tranh cãi (Streifall) cũng phải chứng minh (beweisen) sự đánh giá này.
„Năng suất tệ (schlechte Leistung) thường (oft) khó (schwer) diễn bày (darlegen), đặc biệt (vor allem) về một khoảng thời gian lâu dài (langer Zeitraum)“, theo ông Meyer. Đối với năng suất tốt thì cũng như vậy (genauso): Người thợ phải chứng minh (nachweisen) khi họ muốn có một chứng chỉ thật tốt (deutlich besseres Zeugnis).

Tin dpa, hình Jens Büttner.

 

Thứ tư ngày 28.03.2018
Tiền thưởng hồi hương cho người tỵ nạn bị bác đơn không có hiệu ứng.

Có thể (möglich) nhiều người tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) phải trở về (zurück) quê hương (in die Heimat). Liên bang (Bund) và các tiểu bang (Länder) đã nỗ lực (sich bemühen) gia tăng (steigern) số lượng trục xuất (Abschiebung) và tình nguyện ra đi (freiwillige Ausreise). Nhưng đến nay (bisher) vẫn chưa thành công (gelingen).
Tiền thưởng thêm (Extra-Rückkehrprämie) cho người tỵ nạn bị bác đơn đã được chính phủ Đức (Bundesregierung) thực thi (einführen) trong tháng mười hai (Dezember) năm ngoái (Vorjahr) theo một bài tường thuật của cơ quan truyền thông (Medienbericht) đã không mang lại (bringen) thành quả như mong muốn (erwünschter Erfolg).
Từ tháng mười hai (Dezember) đến tháng hai (Februar), số người tự nguyện ra đi so với (im Vergleich) năm ngoái giảm (sinken) mạnh (stark), tờ „Neue Osnabrücker Zeitung“ viết (schreiben). Cho dù (trotz) tiền thưởng (Prämie) đến (bis zu) 3000 Euro, nhưng trong ba tháng qua chỉ có 4552 người quyết định (entscheiden) tự nguyện nhận tiền thưởng rời khỏi nước Đức. Năm trước đó (2015) dù không có tiền thưởng (ohne Prämie) nhưng trong cùng thời điểm (gleicher Zeitraum) đã có đến 8185 người.
Người tỵ nạn bị bác đơn có thể làm đơn (beantragen) xin  „hổ trợ tái hội nhập“ (Reintegrationsunterstützung) đến ngày 28 tháng hai. Gia đình (familie) được cấp ví dụ (zum Beispiel) tiền mướn nhà (Miete), chi phí cho việc tân trang và xây dựng (Bau- und Renovierungsarbeit) hoặc trang bị căn bản (Grundausstattung) cho nhà bếp (Küche) hoặc phòng tắm (Bad) cho đến 3000 Euro; từng cá nhân (Einzelperson) đến 1000 Euro.

Tin dpa, hình Sebastian Willnow.

Thứ ba ngày 27.03.2018

Những nhà kỹ thuật tin học (Informatiker) thường (oft) làm việc (arbeiten) trong môi trường quốc tế (internationales Umfeld). Vì vậy (deswegen), cuộc sống nghề nghiệp hàng ngày (Berufsalltag) sẽ bị ảnh hưởng tích cực (positiv) khi họ thường tiếp xúc (umgehen) với những nền văn hóa (Kultur) khác.
Ai thường tiếp xúc tốt (gut) với những người trên thế giới (aus aller Welt) sẽ có năng lực đa văn hóa cao (hohe interkulturelle Kompetenz). Trong công việc (Job), kỷ năng (Fähigkeit) này không chỉ (nicht nur) quan trọng (wichtig) đối với các tâm thần khoa học gia (Geisteswissenschaftler), mà (sondern) cũng không kém quan trọng chủ yếu (vor allem) đối với các điện tóan gia, theo tạp chí (Zeitschrift) „Unicum“ số phát hành (Ausgabe) 1/2018.
Vì lẽ (denn), các đội ngũ (Team) IT (viết tắt của từ Informationstechnik – kỹ thuật tin học) ngay (selbst) trong các doanh nghiệp nhỏ (kleine Unternehmen) thường (oft) rất quốc tế (sehr international) hoặc họ hợp tác (zusammenarbeiten) với nhiều (viel) nhà cung cấp dịch vụ (Dienstleister) và đối tác (Partner) của nhiều quốc gia (Land) khác. Và công việc chỉ trôi chảy (klappen) với sự khoan dung (Toleranz) và cảm tình (Gefühl) đối với những đặc điểm (Besonderheit) và tính nhạy cảm (Empfindlichkeit) của các quốc gia khác.
Cho nên điều này tùy (je nach) quốc gia và phạm trù văn hóa (Kulturkreis) ví dụ (zum Beispiel) một sự cảm thông (Verständnis) khác của công việc nhóm (Teamarbeit). Nếu không chuẩn bị (vorbereiten) thì những hiểu lầm (Missverständnis) xem như đã được lập trình (vorprogrammieren) – ngay cả công việc với những vấn đề dựa trên lý trí cứng nhắc (streng rationale Dinge) như (wie) ngôn ngữ viết lập trình (Programmiersprache). Cũng như sự mong đợi (Erwartung) ở lực lượng lãnh đạo (Führungskraft) thường hoàn toàn (ganz) khác biệt (unterschiedlich): trong khi (während) cần có sự huấn thị rõ ràng và trực tiếp (klare und direkte Anweisung) trong một quốc gia nào đó, thì ở nơi khác (anderwo) cấp lãnh đạo (Chef) chỉ cần trao đổi (kommunizieren) gián tiếp (indirekt) chẳng hạn (etwa) chỉ dẫn (vorangehen) bằng một ví dụ tốt (gutes Beispiel).

Tin dpa, hình Jan Woitas.

Chủ nhật ngày 25.03.2018
Trắc nghiệm mới về kiến thức cho những người tìm việc không có bằng nghề.

Kinh nghiệm nghề nghiệp (Berufserfahrung) nhưng không có bằng tốt nghiệp đào tạo (Asubildungsabschluss). Khi xin việc (bewerben) thì tình trạng ban sơ (Ausgangsstiuation) này biểu hiện (darstellen) một sự khó khăn (Problem) cho họ. Nay (nun) các dịch vụ lao động (Arbeitsagentur) muốn giúp đỡ (helfen) các đương sự (Betroffene) bằng một thủ tục (Verfahren) mới (neu).
Người tìm việc (Arbeitssuchende) không có bằng tốt nghiệp đào tạo và những người tỵ nạn (Geflüchtete) thật ra (zwar) thường (oft) có kinh nghiệm nghề nghiệp, nhưng (doch) họ không thể chứng minh (nachweisen) được lúc xin việc (Bewerbung). Để hỗ trợ (Abhilfe) vấn đề này sẽ có một trắc nghiệm mới và miễn phí (neuer, kostenloser Test) gọi là „Myskills“ được các dịch vụ lao động và trung tâm tìm việc (Jbcenter) cung cấp (anbieten) trên cả nước (bundesweit) trong tương lai (künftig).
Phương pháp trắc nghiệm được hệ thống vi tính yểm trợ (computergestütztes Testverfahren) có thể thử (ermitteln) người tìm việc có kiến thức (Kompetenz) và khả năng (Fähigkeit) cho một việc làm náo đó, theo Cục Lao Động Đức (Bundesarbeitsagentur). Hiện giờ (aktuell), việc trắc nghiệm tự nguyện (freiwilliger Test) cho 8 nghề (beruf) như (wie) nấu ăn (Koch), thợ cơ-điện xe (Kfz-Mechatroniker) hoặc thợ mộc (Tischler) bằng các thứ tiếng như Đức (Deutsch), Anh (Englisch), Nga (Russisch), Thổ (Türkisch), Farsi và Á rập (Arabisch). Trong năm nay sẽ có thêm (hinzukommen) 22 nghề khác. Người tìm việc phải giải đáp (lösen) khoảng (rund) 120 bài tập chuyên nghề (berufspezifische Aufgabe). Ngoài ra còn có những hình ảnh (Bilder) và phim chiếu (Video) những tình huống (Situation) từ sự thực hành nghề nghiệp (Berufspraxis) mà người tham dự (Teilnehmer) cũng phải trả lời (antworten) các câu hỏi (Frage).
Nói chung (insgesamt), cuộc trắc nghiệm kéo dài (dauern) khoảng bốn (vier) tiếng đồng hồ (Stunde). Sau đó (anschießend) họ được tư vấn (beraten). Kết quả (Ergebnis) được kèm (beilegen) trong hồ sơ xin việc (Bewerbungsunterlagen), để chủ nhân có thể thẩm định (dokumentieren) năng khiếu (Können) của họ.

Tin dpa, hình Jan Woitas.

Thứ bảy ngày 24.03.2018
Bảo hiểm xã hội và người lao động bị lừa khoảng tỷ Euro.

Hơn (mehr als) hai (zwei) triệu công nhân (Beschäftigte) trong năm qua tại Đức đã nhận (erhalten) lương ít hơn (weniger) lương tối thiểu (Mindestlohn), mặc dù (obwohl) họ được hưởng (zustehen). Chủ nhân (Arbeitgeber) hưởng lợi (profitieren), còn người thợ (Arbeitnehmer) và bảo hiểm xã hội (Sozialkasse) bị thiệt. Công nhân và bảo hiểm xã hội bị thất thoát cả tỷ Euro theo một cuộc khảo sát (Studie), vì lẽ các công ty (Firma) không trả lương tối thiểu cho công nhân.
„Việc kiểm tra (Kontroll) giúp cải thiện (verbessern) vụ việc (Begebenheit) là điều lợi lạc cao nhất (höchstes Interesse) cho cộng đồng (öffentlich)“, ông Toralf Pusch thuộc Viện Khoa Học Kinh tế và Xã Hội (Wirtschaft- und Sozialwissenschaft Institut, viết tắt là WSI) của tổ chức (Stiftung) Hans-Böckler gần gủi công đoàn (gewerkschaftsnah) đã yêu cầu (fordern). Theo đó, tiền lương không trả (Lohnausfall) cho công nhân đúng quy định và thu nhập ít (Mindereinnahme) của bảo hiểm xã hội (Sozialversicherung) lên đến khoảng (rund) 7,6 tỷ Euro. Nguồn tin này đã được tờ „Süddeutsche Zeitung“ tường thuật (berichten) trước tiên (zunächst) hôm thứ sáu (Freitag).
Theo những con số (Zahlen) của WSI, trong năm 2016 có khoảng 2,2 triệu công nhân nhận ít lương hơn lương tối thiểu theo luật định (gesetzliches Mindestlohn). Nghĩa là có tám (acht) phần trăm người lao động tại Đức. Nạn nhân (Opfer) thông thường (häufig) là nữ giới (Frauen) và công nhân tại Đông Đức (Ostdeutschland), theo báo cáo của cuộc khảo sát. Thêm vào đó (hinzu) còn có việc đi vòng (Umgehung) trả lương tối thiểu trong các ngành như xây dựng (bau) hoặc (oder) điều dưỡng người già (Altenpflege).

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger.

Thứ sáu ngày 23.03.2018
Người lao động đau lưng ngày càng nhiều.

Chứng đau lưng (Rückenschmerzen) ở người lao động (Berufstätige) là một vấn đề đang lan rộng (verbreites Problem) và trong những năm qua nó đã trở thành đề tài lớn hơn (größer) theo một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của các công ty bảo hiểm sức khỏe (Krankenkasse). Con đường (Weg) vào bệnh viện (Krankenhaus) không phải lúc nào (aber nicht immer) cũng là phương thức đúng (richtiges Mittel) để can thiệp. Số người bị đau lưng ở Đức theo (laut) tạp chí (Magazin) Y Tế (Gesundheit) của công ty bảo hiểm sức khỏe DAK trong 15 năm qua đã tăng (steigen) rõ rệt. Những người mắc bệnh (Betroffene) thường (oft) là những công nhân xây dựng (Beschäftigte auf dem bau) và nông nghiệp (Landwirtschaft).
Năm 2003 có 55 phần trăm người ít nhất (mindstens) bị đau nhức (Beschwerden) lưng một lần (einmal) trong năm, hiện nay (jetzt) rõ ràng (deutlich) nhiều hơn (mehr) với 75 phần trăm, theo cuộc thăm dò ý kiến của công ty bảo hiểm theo luật định (gesetzlich) này.
Công đoàn (Gewerkschaft) Xây Dựng – Canh Tác – Môi Sinh (Bauen-Argar-Umwelt), viết tắt là IG BAU, đã giải thích (erklären) nhân (anlässlich) Ngày Sức Khỏe Lưng (Tag der Rückengesundheit) ngày 15 tháng ba (März) rằng, chính ngay (gerade) trong các ngành nông nghiệp, lâm (Forst) và vườn tược (Gartenbau) người lao động bị đè nặng (aussetzen) bởi nhiều gánh nặng đa dạng (vielfältige Belastung). Thật ra (zwar) cũng có những kỹ thuật lao động (Arbeitstechnik) và cơ động trợ giúp (mechanische Hilfe) làm giảm bớt (Entlastung) gánh nặng cho lưng (Rücken). „Rất tiếc (leider), chúng thường bị (häufig) lãng quên (vernachlässig) trong công việc hàng ngày (Arbeitsalltag)“, bởi vì thói quen sai lầm (falsche Routine) hoặc vì áp lực thời gian (Zeitdruck). Quan trọng (wichtig) theo sự diễn bày (Darstellung) của IG BAU là nên thường xuyên (regelmäßig) nhận biết làm thế nào để giảm gánh nặng cho xương sống (rückenfreundliche Arbeit). Vì thế, IG BAU và bảo hiểm xã hội (Sozialversicherung) nông nghiệp, lâm và vườn tược, viết tắt là SVLFG, đã cung cấp sự phòng hộ (Präventionsangebot) cái gọi là „Sức Khỏe Lưng“ (Rückengesundheit).

Theo sự khảo sát (Studie) của DAK, vẫn có nhiều bệnh nhân (Patient) đau lưng đi trực tiếp (direkt gehen) đến bệnh viện. Từ (seit) năm 2007, con số điều trị trong bệnh viện (stationäre Behandlung) tăng khoảng 80 phần trăm. Gần (fast) một nửa (Hälfte) người mắc bệnh được nhận như một trường hợp cấp cứu (Notfall). Năm 2016 có hơn (mehr als) 220.000 nằm viện vì đau lưng, đã đạt (erreichen) mức cao nhất (Höchststand). Trong những ngày làm việc (werktags), giữa (zwischen) 08.00 đến 11.00 giờ (Uhr), theo thông tin cho biết rằng, con số nhận cấp cứu (Notfallaufnahme) vì đau lưng tăng (sich erhöhen) hơn hai phần ba (Zweidrittel), mặc dù (obwohl) vào thời điểm này các phòng mạch bác sĩ nhận thù lao của công ty bảo hiểm sức khỏe (Praxis der niedergelassenen Ärzte) thông thường (üblicherweise) đã mở cửa (öffen).
Ông Ingo Froböse, giáo sư đại học (Professor) về phòng hộ và phục hồi sức khỏe (Rehabilitation) trong ngành thể thao (Sport) của cao học thể thao Đức (Deutsche Sporthochschule) tại Köln nói rằng: „Đau nhức lưng đa phần giống như sổ mũi (Schnupfen). Bệnh nhân hãy tự chăm sóc (sich kümmern), nhưng không nên để mình rơi vào (verfallen) tình huống (Situation) hoảng loạn (Panik).“ Theo quan điểm (Ansicht) của ông, việc giữ gìn (schonnen) không nhất thiết. Nó chỉ gia cố thêm (verstärken) cho cảm giác đau nhức (Schmerzen). Dù vậy (trotzdem), hiện nay vẫn có một trong mười người (Zehnte) bị đau lưng.

Tin dpa, hình Sina Schuldt.

 

Thứ năm ngày 22.03.2018
Trợ cấp Hartz-IV nhiều hơn người có việc làm.

Ông Spahn, bộ trưởng bộ y tế Đức (Bundesgesundheitsminister), đã gây (auslösen) nhiều sóng gió (viel Wirbel) qua lời phát biểu (Äußerung) của ông rằng, không một ai (niemand) phải đói khát (hungern) tại Đức khi không có bố thí thực phẩm (ohne Lebensmittelspenden). Nay (nun) liên hội người đóng thuế (Steuerzahlerbund) dẫn chứng (verweisen) sự chênh lệch (Abstand) giữa lương bổng (Lohn) và trợ cấp xã hội (Sozialleistung)  gọi là „Lohnabstandgebot“.
Theo những con số (Zahl) của liên hội này, người nhận (Bezieher) trợ cấp Hartz IV, còn gọi là tiền thất nghiệp loại II (Arbeitslosengeld II), thường (oft) có nhiều tiền (mehr Geld) trong tháng (im Monat) hơn một người lao động (Arbeitnehmer). Ai nuôi dưỡng (ernähren) một gia đình bốn người (vierköpfige Familie) ngày nay (heute) phải cần (brauchen) lương tổng (Bruttolohn) ít nhất (mindestens) 2540 Euro để đạt (erreichen) mức (Niveau) trợ cấp Hartz-IV ròng (netto). Đối với một gia đình năm người thì phải cần 3300 Euro brutto. Những con số này quy chiếu theo bảng tính (Berechnung) của liên hội người đóng thuế thực hiện cho tờ «Frankfurter Allgemeine Zeitung».
„Lohnabstandsgebot“ rõ ràng (offentsichtlich) không lúc nào (nicht immer) được duy trì (einhalten). Với 38 giờ làm việc mỗi tuần, một người độc thân lao động (Alleinverdiener) và hai con (zwei Kinder) phải có đồng lương giờ (Studenlohn) ít nhất là 15,40 Euro thì mới bằng mức trợ cấp Hartz-IV; với ba đứa con thì đồng lương giờ phải là 20 Euro. Gia đình bốn người mỗi tháng (monatlich) bị trừ (abziehen) 610 Euro các khoản chi xã hội (Sozialabgabe) và thuế (Steuer); gia đình năm người là 917 Euro. Tuy nhiên (jedoch) lương tối thiểu (Mindestlohn) hiện nay (derzeit) là 8,84 Euro mỗi giờ (Stunde).

Gần đây (zuletzt), ông Jens Spahn (CDU), bộ trưởng bộ y tế Đức, đã gây ra (sorgen) sự bất mãn (Unmut) khi ông phát biểu trong cuộc tranh luận (Debatte) liên quan đến lao động (Arbeit) và bố thí thức ăn (Essentafeln) rằng, với trợ cấp Hartz-IV ai (jeder) cũng có những gì họ cần (brauchen). Hartz-IV hoặc tiền thất nghiệp loại II, viết tắt là Alg II, cấp cho những người thất nghiệp có khả năng lao động (erwerbsfähige Arbeitslose) và những người không đủ (nicht reichen) đảm bảo chính yếu cho cuộc sống (Grundsicherung) từ sự thu nhập (Einkommen) hoặc (oder) tài sản (Vermögen) của họ, cái gọi là (sogenannte) „phụ trợ“ (Aufstocker).
Cơ sở (Grundlage) tính toán của liên hội người đóng thuế chiếu theo sự tổng quan (Übersicht) của bộ xã hội Đức (Bundessozialministerium) về mức độ (Höhe) trợ cấp (Leistung) Hartz-IV. Một hộ (Haushalt) có hai người lớn (Erwachsene) và hai trẻ em có quyền (Anspruch) nhận trung bình (durchschnittlich) 1928 Euro mỗi tháng – cái gọi là nhu cầu quy định (Regelbedarf). Khoản (Betrag) này trước tiên (erste Linie) là trợ cấp tiền (Geldleistung) 1284 Euro cho cuộc sống (Lebensunterhalt) cũng như 644 Euro tiền mướn nhà (Miete) và lò sưởi (Heizung). Những khoản này có thể chênh lệch (schwanken) tùy (je nach) chi phí nuôi sống (Lebenshaltungskosten) của mỗi khu vực (Region) – chẳng hạn (etwa) tiền mướn nhà cao (höhere Miete) trong các khu đông dân cư (Ballungszentrum).
Bởi (angesichts) tình trạng kinh tế tốt (gute konjunkturelle Situation) tại Đức nên số người nhận (Empfänger) Hartz-IV (thất nghiệp và phụ trợ) trong mười (zehn) năm qua từ bảy (sieben) xuống (zurückgehen) còn khoảng sáu (sechs) triệu người. Tuy nhiên (allerdings), kể từ (seit) 2015 có gần (fast) một triệu người tỵ nạn (Flüchtlinge) và gốc nước ngoài (Migranten) đã được nhận vào (aufnehmen) hệ thống (System) Hartz-IV

Tin dpa, hình Peer Grimm.

Thứ tư ngày 21.03.2018
Học sinh có gốc ngoại quốc lẽo đẽo theo sau.

Kém học vấn hơn (geringere Bildung) và ít thực hành ngôn ngữ (wenige Sprachpraxis): Gần (knapp) một nửa (Hälfte) các học sinh (Schüler) gốc ngoại quốc (Migrationshintergrund) có năng suất rất kém (sehr schwache Leistung), theo một cuộc khảo sát (Studie) cho thấy (zeigen). Nhưng không phải ở sự động viên (Motivation).
Hầu như (fast) một trong hai thanh thiếu niên (Jugendliche) gốc nước ngoài trong nước Đức theo sự đánh giá đặc biệc (Sonderauswertung) Pisa có „năng suất rất kém“ trong trường học (Schule). 43 phần trăm tầm hai rưỡi (zweieinhalb) nhiều hơn cố học sinh không có gốc nước ngoài (ohne ausländische Wurzel). Kết quả việc so sánh (im Vergleich) sự trung bình (Durchschnitt) của các quốc gia thuộc tổ chức phát triển và cộng tác kinh tế (Organisation für wirtschaftliche Zusammenarbeit und Entwicklung, viết tắt là OECD) cũng tương tự.
Việc đánh giá cho thấy trình độ học vấn thấp (niedriges Schulniveau) ở thanh thiếu niên cũng như lòng tự tin (Selbstwertgefühl) và sự hài lòng bản thân (eigene Zufriedenheit) là những hậu quả cảm nhận được (spürbare Folge).

Cho nên, học sinh gốc nước ngoài thường (häufiger) than phiền (klagen) về tâm trạng sợ sệt liên quan đến việc học (schulbezogene Angst), có cảm giá c (sich fühlen) bị loại (ausschließen) ra khỏi nhóm (Gruppe) và nói chung (insgesamt) ít hài lòng hơn (weniger zufrieden) trong cuộc sống (Leben) học sinh hơn bạn cùng lứa tuổi (Gleichaltrige) có gốc Đức. Nhưng vì sao vậy?
Trước tiên (ertse Linie) khó khăn ngôn ngữ (Sprachproblem) là nguyên nhân (Ursache) gây ra những khác biệt to lớn (enorme Unterschiede). Ngoại kiều (Migranten) thế hệ một (erste Generation) không sanh tại Đức, theo sự khảo sát, họ nói chuyện (sprechen) ở nhà (zu Hause) gần 80 phần trăm ngôn ngữ khác thay vì tiếng Đức. Con số rõ ràng (deutlich) cao hơn (höher) khảo sát của OECD với 60 phần trăm. Ngay (selbst) những ngoại kiều thế hệ hai (zweite generation) sanh (geboren) và lớn lên (aufgewachsen) tại Đức vẫn nhiều hơn một trong hai người.
Sự khác biệt giữa (zwischen) quốc gia xuất xứ ít (gering), theo sự đánh giá ví dụ người nước ngoài đến từ Ý (Italien), Ba Lan (Polen) và Thổ (Türkei). Nhưng không riêng ngôn ngữ là sự cản trở (Barriere), mà (sondern) thường cũng là nơi xuất xứ.
Công đoàn giáo dục và khoa học (Gewerkschaft Erziehung und Wissenschaft, viết tắt là GEW) nhận trách nhiệm (Pflicht) liên quan (angesichts) đến các kết quả (Ergebnisse) các cơ sở giáo dục (Bildungsstätte). „Đây là công việc (Aufgabe) của học đường (Aufgabe) là giảm thiểu (abbauen) những bất đồng xã hội (soziale Ungleichheit) và kỳ thị (Diskriminierung). Thử thách (Herausforderung) này chưa hợp lý đủ (ausreichend gerecht) trong chế độ giáo dục (Bildungswesen) Đức“, bà Marlis Tepe, chủ tịch (Vorsitzende) công đoàn này phát biểu (sagen) hôm thứ hai (Montag). Bà yêu cầu (fordern) học nhiều ngôn ngữ (mehrsprachiges Lernen) „phải được chú trọng ngay từ đầu (von Beginn an)“

Tin dpa, hình minh họa (Symbolbild) của Daniel Kamann.

Thứ ba ngày 20.03.2018
Tân bộ trưởng nội vụ Đức muốn nới rộng việc kiểm soát biên giới.

Ông Horst Seehofer, tân bộ trường nội vụ Đức (neuer Bundesinnenminister) muốn tiếp tục (fortsetzen) tái thực hiện kiểm soát biên giới (wiedereingeführte Grenzkontrolle) vô thời hạn (auf bestimmte Zeit) và còn (noch) nới rộng (ausweiten) vấn đề này.
„Việc kiểm soát nội biên (Binnengrenzkontrolle) phải được thực hiện (ausführen) lâu dài (so lange) cho đến khi nào (solange) EU chưa thể (nicht schaffen) bảo vệ (schützen) hiệu quả (wirksam) ngoại biên (Außengrenze). Cho đến lúc nào, hiện giờ (im Augenblick) tôi cũng chưa thể biết được, liệu vụ việc này có thành công (gelingen) hay không“, vị tân bộ trưởng nội vụ Đức phát biểu (sagen) trên tờ „Thế Giới Ngày Chủ Nhật“ (Welt am Sonntag).
Để việc trục suất (Abschiebung) người xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) được tăng tốc (beschleunigen), ông Seehofer yêu cầu (fordern) có thêm nhiều chỗ (Stelle) cho thẩm phán hành chánh (Verwaltungsrichter). Ông muốn sớm (möglichst bald) ngồi chung (zusammensitzen) với các tiểu bang (Bundesländer) để xác định rõ (identifizieren) những chướng ngại của việc trục suất (Abschiebungshindernis). Sau đó sẽ quyết định (entscheiden) „chúng ta phải sửa đổi (ändern) đạo luật (Gesetz) ở điểm nào, cần (brauchen) thỏa thuận (Vereinbarung) với quốc gia xuất xứ (Herkunftsland) như thế nào và có thể giúp đỡ (helfen) các tiểu bang cùng cơ quan công quyền (Behörde) trong việc thi hành (Durchführung) trục suất ra sao.“ Ông Seehofer lập lại (wiederholen) đề nghị (Vorschlag)  của vị tiền nhiệm (Vorgänger), ông Thomas de Maiziere (CDU), rằng phải giúp đỡ các tiểu bang trực thuộc trong việc trục suất. „Liên bang có thể nhận (übernehmen) nhiều trách nhiệm hơn (mehr Verantwortung) cho vụ việc này.“

Tin dpa, hình tư liệu của Sven Hoppe.

Thứ sáu ngày 16.03.2018
Các chi phí tai nạn xe có thể khai khấu trừ thuế.

tdq-20180316Sự lưu thông nghề nghiệp vội vã (hektischer Berufsverkehr) thường (oft) dẫn đến (führen) tai nạn (Unfall). Có điều nhiều người (viele) không biết (wissen) rằng, nếu chiếc xe (Auto) bị hư hại (beschädigen) trên đường (auf dem Weg) đi làm (zur Arbeit), ty tài chánh (Finanzamt) có thể hỗ trợ (sich beteiligen) chi phí (Kosten) cho một số trường hợp (bestimmter Fall). Mức độ (Höhe) tính thuế (Steuer) tùy thuộc (abhängig) vào độ tuổi (Alter) của chiếc xe (Fahrzeug).
Ai bị tai nạn trên đường đi làm, tùy hoàn cảnh (unter Umstände) có thể khai báo phí tổn thiệt hại (Schadenkosten) khấu trừ thuế (steurlich geltend machen). Ví dụ: Khi tự gây (selbst verursachen) tai nạn và không được bảo hiểm (Versicherung) nào bồi thường thiệt hại (Schaden ersetzen), tổ chức giúp khai thuế lương (Lohnsteuerhilfe, viết tắt Lohi) Bayern tại München giải thích (erklären).
Phí tổn có thể được khai thuế (Steuererklärung) là những chi phí duy trì công ăn việc làm (Werbungskosten). Nếu chiếc xe bị sửa (reparieren), thì hóa đơn (Rechnung) của nơi sửa xe (Werkstatt) và các hóa đơn khác (sonstige Rechnung) liên quan đến (im Zusammenhang) với tai nạn được tính chung (addieren) rồi điền vào (eintragen) đơn mẫu (Formular). Trường hợp chiếc xe bị hư hại hòan toàn (Totalschaden) thì việc xin giảm thuế (Steuererleichterung) chiếu theo (sich richten) các quy tắc (Richtlinien) AfaA – khai dần (Abscheibung) sự hao mòn đặc biệt (außgewöhnliche Abnutzung). Cơ sở tính toán vẫn là độ tuổi của chiếc xe.

Đối với một xe thường (Pkw, Personenwagen), khoảng thời gian khai dần (Abschreibungszeitraum) trên nguyên tắc (in der Regel) là sáu (sechs) đến (bis) tám (acht) năm. Nghĩa là: Nếu chiếc xe đã (bereits) cũ hơn (älter) sáu năm, thì có thể tính tròn (voll). Trong trường hợp này thường (meist) có lợi thuế (Steuervorteil) hơn (mehr). Ngược lại (hingegen) đó là một chiếc xe mới (Neuwagen) và ít hơn (weniger) tám năm, thì có thể sẽ mất (ausfallen) điều lợi này.
Trong trường hợp, chiếc xe đó không phải là xe mới mà là (sondern) một xe đã dùng rồi (gebrauchtes Fahrzeug) thì thời gian sử dụng (Nutzungsdauer) do cá nhân (individuell) ước đóan (geschätzt). Điều này tùy vào số tuổi cũng như (sowie) tình trạng (Zustand) của chiếc xe và trên nguyên tắc là ba (drei) đến năm (fünf) năm. Ở xe năm (Jahreswagen), thường là xe của công ty, có thể đến bảy (sieben) năm.
Quan trọng (wichtig): Việc khấu trừ phí tổn duy trì công việc (Werbungskostensabzug) phải xuất trình (vorliegen) một bản giám định xe (Kfz-Gutachten) về sự thiệt hại và báo cáo tai nạn (Unfallbericht) xác nhận (bestätigen) tai nạn xảy ra trong thời điểm (Zeitpunkt) đang trên đường đi công tác (Betriebsfahrt)

Tin và hình dpa.

Thứ tư ngày 14.03.2018
Nhiều người Đức rời khỏi nước. Số dân cư tăng bởi sự nhập cư.

Thống kê mới nhất (jüngste Statistik) cho thấy (zeigen): Số lượng (Zahl) dân cư (Einwohner) trong nước Đức tăng (steigen) trong năm 2016 được xem là hậu quả (Folge) của cơn khủng hoảng tỵ nạn (Flüchtlingskrise) – khoảng 500.000 người. Đồng thời cũng có hàng chục ngàn (Zehntausende) người Đức rời khỏi (verlassen) đất nước (Land) này – rõ ràng nhiều hơn (deutlich mehr) là hồi hương (zurückkehren).
Trong năm 2016 có 500.000 người đến Đức, nhiều hơn là bỏ nước ra đi, theo Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) tường thuật (berichten) tại Wiesbaden. Như vậy cái gọi là (sogenannte) nhập cư ròng (Nettozuwanderung) so với (im Vergleich) năm 2015 giảm (sinken) rất rõ (sehr deutlich). Trong mỗi năm có cộng (Plus) 1,14 triệu.

Năm 2016 có khoảng 1,865 triệu người nhập cư, trong khi (während) đó có 1,365 triệu người ra khỏi nước. Nghĩa là 272.000 nhập cư (Zuzug) ít hơn (weniger) và 368.000 bỏ đi (Fortzug) nhiều hơn (mehr als) năm trước (Vorjahr) 2015. Dữ liệu (Daten) cái gọi là thống kê di dân (Wanderungsstatistik) ghi nhận ai đã khai báo đến và đi (an- und abmelden) tại các cơ quan khai báo cư trú (Meldebehörde).
Khoảng (etwa) một nửa (Hälfte) với 51 phần trăm có quốc tịch (Staatsangehörigkeit) của một quốc gia thành viên (Mitgliedsland) khối EU, 9 phần trăm tiếp theo đến từ các quốc gia Âu Châu. 26 phần trăm từ các quốc gia Á Châu và 5 phần trăm từ Phi Châu (Afrika).
Hầu hết những người nhập cư có thông hành nước ngoài (ausländischer Pass), trong số này có 146.000 người Đức – hoặc là người hồi hương trễ (Spätaussiedler) hoặc từ nước ngoài (Ausland) trở lại quê hương (Heimat). Đồng thời (gleichzeitig) có 281.000 người có quốc tịch Đức (deutsche Staatsangehörige) quay lưng (den Rücken kehren) với nước Đức. Cũng có một triệu người có thông hành ngoại quốc ra đi (abwandern).

Tin uzh/dpa/AFP hình Marijan Murat

Thứ ba ngày 13.03.2018
Kỷ lục khai báo nghi ngờ về sự điều trị sai lầm

Công ty bảo hiểm sức khỏe „Techniker Krankenkasse“, viết tắt là TK, đã ghi nhận (verzeichnen) một kỷ lục (Rekord) khai báo nghi ngờ (Verdachtsmeldung) về sự điều trị sai lầm (Behandlungsfehler).
5.500 người đóng bảo hiểm (Versicherte) trong năm 2017 đã liên hệ với công ty bảo hiểm sức khỏe theo luật định (gesetzliche Krankenkasse) này, vì lẽ tình nghi (vermuten) họ bị điều trị sai lầm, theo nữ phát ngôn viên (Sprecherin) nói với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa). So với (im Vergleich) năm 2016 tăng (Anstieg) 16 phần trăm.
Một số chứng bệnh (Beschwerde) được điều trị (behandeln) bằng phẩu thuật (Chirurg), có 1477 trường hợp nghi ngờ (Verdachtsfall), nha sĩ (Zahnarzt) 920, bác sĩ đa khoa (Allgemeinmediziner) 546 và xương cốt (Orthopäden) 351. Về nội khoa (innere Medizin) có 221 vụ khiếu nại (Beschwerde), phụ khoa (Gynäkologen) 219 và bác sĩ mắt (Augenarzt) 216 trường hợp nghi ngờ. Trong năm qua, theo nguồn tin của công ty TK, họ đã đòi các bác sĩ và bệnh viện (Klinik) hoàn trả (zurückfordern) hơn 15 triệu Euro cho những hậu phí (Folgekosten) của các vụ điều trị lầm (Fehlbehandlung).

Ông Christian Soltau, chuyên gia luật y khoa (Medizinrechtsexpert) giải thích (erklären) rằng: „Người đóng bảo hiểm ngày nay (heute) cẩn trọng (kritischer) và tự tin (selbstbewusster) nhiều hơn (wesentlicher) trước đây (als früher).“ „Những Thượng Đế Bạch Y“ (Götter in Weiß) ngày nay chỉ còn là người phục dịch bình thường (normaler Dienstleister). Vì thế cho nên, điện thọai (Telefon) đường giây nóng khiếu nại (Beschwerde-Hotline) rung (klingeln) thường hơn (häufiger). Tuy nhiên (allerdings) không phải vụ tình nghi nào cũng phải cứu xét (Überprüfung) cả, ông Soltau nhấn mạnh (unterstreichen). Nhưng một trong ba trường hợp chắc chắn là một vụ điều trị sai (Behandlungsfehler). Ngoài ra (daneben) con số đen còn cao (hohe Dunkelziffer) hơn liên quan đến những vụ điều trị sai lầm chưa phát giác (unentdeckt).
Giám định viên (Gutachten) trên nguyên tắc (in der Regel)  miễn phí (kostenfrei) cho người đóng bảo hiểm và cũng có thể được dùng (nutzen) cho những vụ thương thuyết (Verhandlung) đòi bác sĩ, bệnh viện, bảo hiểm trách nhiệm có thẩm quyền (zuständige Haftpflichtversicherung)  bồi thường (Schadenersatz) hoặc (oder) ra trước vành móng ngựa (vor Gericht). Đạo luật Đức (deutsches Gesetz), theo quan điểm (Ansicht) của ông Soltau còn (noch) bảo vệ (schützen) bệnh nhân (Patient) mạnh mẽ đáng kể hơn (wesentlich stärker). Đến nay (bisher), bệnh nhân phải chứng minh (nachweisen) rõ ràng (eindeutig) sự sai lầm (Fehler). Thật ra, điều này rất khó (schwer) cho họ.

Tin dpa, hình minh họa của Patrick Seeger.

 

Thứ hai ngày 12.03.2018
Tiếng ồn của máy thổi lá khô trong nghĩa trang hợp pháp.

Máy thổi lá khô (Laubbläser) đang hoạt động (in Betrieb) thường nghe lớn tiếng (besonders lärmend) trong các nghĩa trang yên tĩnh (stille Friedhöfen). Nhưng mức độ tiếng ồn (Geräuschpegel) sinh ra (entstehen) hợp pháp (zulässig), theo tòa án hành chánh cao thẩm (Oberverwaltungsgericht) Saarlouis đã quyết định (entscheiden).
Máy thổi lá với động cơ đốt (Verbrennungsmotor) thường gây ra (verursachen) tiếng ồn (Lärm). Những tiếng động (Geräusche) này cũng phải được chấp nhận (dulden) ngay trong nghĩa trang. Quyết định (Beschluss) của tòa án hành chánh cao thẩm Saarlouis có hiệu lực (gelten) cho cư dân quanh khu vực (Anwohner) cũng như chủ nhân (Inhaber) các nghĩa địa (Grabstätte) và những người thăm viếng nghĩa trang (Friedhofsbesucher) – hồ sơ thụ lý số Az.: 2 A 173/17.

Một trường hợp đã được loan báo (mitgeteilter Fall) đăng trên tờ thông tin sáng kiến của người tiêu thụ (Verbraucherinitiative) „Aeternitas“ rằng, những người kiện (Kläger) là chủ sở hữu các căn hộ (Wohnungseigentümer) gần nghĩa trang (Friedhofnähe) cũng như chủ sở hữu (Inhaber) quyền sử dụng nghĩa địa (Grabnutzungsrecht) đã nhờ tòa án (Gericht) can thiệp (eingreiffen).
Vụ kiện không thành công (keiner Erfolg): Các vị thẩm phán (Richter) dẫn chứng (verweisen) rằng, không thể chuyển hóa (nicht umsetzbar) mang tính kinh tế (wirtschaftlich) về việc dọn dẹp (beseitigen) lá khô (Laub) của 600 cây (Baum) trong các nghĩa trang đó bằng (mit Hilfe) cào (Rechen) và chổi (Besen).
Quyền sử dụng nghĩa địa thật ra (zwar) có đề cập đến sự yên tĩnh (Ruhe) lúc có tang lễ (Totengedenken). Nhưng trước hết (erst) là những hạn chế đáng kể (erhebliche Einschränkung) đặc biệt (speziell) liên quan (betreffen) đến nghĩa địa (Grab) của từng người có quyền sử dụng (eigene Nutzungsberechtigte) và không liên quan đến mục tiêu của nghĩa trang (Friedhofszweck), cho nên những người kiện cáo không có quyền cấm cản (Unterlassungsanspruch).

Tin dpa, hình Frank Rumpenhorst.

 

Chủ nhật ngày 11.03.2018
Khi hôn ngẩu (vợ hay chồng) bị bệnh, tôi có được phép ở nhà không?

Trong trường hợp đau ốm (Krankheitsfall), người lao động (Arbeitnehmer) có thể xin nghĩ làm (freistellen lassen). Nhưng khi một hôn ngẩu (Lebenspartner) sức khỏe không ổn (gesundheitlich angeschlagen) và phải chăm sóc (betreuen) con (Kind) thì sao? Luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) giải thích (aufklären).
Ai có cảm giác không khỏe (sich nicht gut fühlen), có thể khai bệnh (melden). Nếu con cái (Kind) bị đau ốm (krank) thì cũng có quy định (Regelung) riêng. Nhưng điều gì xảy ra khi người bạn đời là vợ (Ehefrau) hay chồng (Ehemann) thật sự (eigentlich) phải chăm sóc con cái và vì vậy (deshalb) không thể đi làm được. Dù vậy (trotzdem), tôi cũng phải đi làm (zur Arbeit gehen) hay sao?
Ông Jürgen Markowski, luật sư chuyên ngành về luật lao động (Abeitsrecht) và thành viên (Mitglied) nhóm làm việc (Arbeitsgemeinschaft) luật lao động thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein) nói rằng: „Khi một hôn ngẩu bị bệnh, thì tôi cũng phải tiếp tục (weiter) đi làm (zur Arbeit kommen) trường hợp này không có một quy định pháp lý nào khác (andere rechtliche Regelung).“ Nhưng trên thật tế, dĩ nhiên (natürlich) không thể được (unmöglich). Ai bị cảm sốt (Grippe) thì không thể chăm sóc trẻ em được. Và không phải ông bà (Großeltern) lúc nào cũng sẳn sàng giúp đỡ (hilfbereit) hoặc thân nhân họ hàng (Verwandte) lúc nào cũng chực sẳn (auf Abruf parat).

Vì thế cho nên, công nhân phải tìm cách nói chuyện với chủ nhân (Arbeitgeber). „Trên nguyên tắc (in der Regel), vẫn có giải pháp (Lösung) cho từng vụ việc.“ theo ông Markowski. Vì thế chẳng hạn người làm việc (Berufstätige) có thể lấy ngày nghĩ hè (Urlaub nehmen) để trừ vào những giờ làm phụ trội (gesammelte Überstunden) hoặc đột xuất (spontan) xin làm việc (arbeiten) vài ngày (ein paar Tage) tại văn phòng tư gia (Homeoffice).
Trường hợp bệnh nặng và lâu dài (längere und schwere Erkarnkung) thì có điều kiện (Möglichkeit) làm đơn xin (beantragen) giúp việc nhà (Haushalthilfe) qua (über) công ty bảo hiểm sức khỏe. Nhưng với điều kiện (Vorassetzung), theo ông Markowski: Trước tiên (erstens) phải có ít nhất (mindestens) một đứa trẻ sống trong gia đình (im Haushalt leben) không tuổi không quá (nicht älter) 12. Thứ nhì (zweitens) không được phép có một ai (jemand) trong gia đình có thể đảm nhận (übernehmen) công việc này. Công nhân trên nguyên tắc phải tận dụng (ausschöpfen) những cơ hội khác, trước khi (bevor) sự giúp đở gia đình được chấp thuận (genehmigen). Việ tận dụng (ausbrauchen) những ngày nghĩ hè trong năm (Jahresurlaubstage) không nhất thiết.

Tin dpa, hình Franziska Gabbert.

Thứ bảy ngày 10.03.2018
Phòng khám bệnh của bác sĩ đầy ắp.

Nước Đức ho hen (hsuten), sổ mũi (schniefen), run rẩy (erfrieren). Hàng chục ngàn người trong những tuần qua đã bị cảm mạo (Erkältung) hoặc cảm sốt (Grippe). Trong các phòng mạch của bác sĩ (Arztpraxis), nhân viên (Personal) làm việc (arbeiten) hết cở (am Anschlag).
Sốt (Fieber), ho (Husten), lạnh run (Schüttelfrost) – đây là những triệu chứng (Symptom) có thể đoán (erahnen) được là sức khỏe không ổn (nichts Gutes). Từ nhiều tuần qua, dịch cảm sốt và cảm mạo hầu như (nahezu) lan tràn khắp (flächenddeckend) nước Đức và các phòng chờ đợi (Wartezimmer) tràn đầy bệnh nhân (Patient). Nhiều phòng mạch bác sĩ gia đình (Hausarztpraxis) và phòng cấp cứu (Notaufnahme) làm việc quá tải (am Limit).

Chừng (etwa) 25 phần trăm thêm (mehr) bệnh nhân hơn trung bình (als durchschnittlich) tìm đến phòng mạch khám bệnh. Bệnh viện đại học (Universitätsklinikum) Dresden nhận mỗi ngày (täglich) gần 20 bệnh nhân cảm sốt (Grippepatient). Đa phần là người già hoặc đã có tiền bệnh khác (andere Vorerkrankung). Những người này dễ bị cảm sốt, nên (weshalb) được giữ lại trong bệnh viện (stationär) để điều trị.
Chứng cảm mạo hay cảm sốt dễ lây lan sang người khác, nên các chuyên gia y khoa khuyên rằng, nếu cần kíp (dringend) thì phải đến bác sĩ, bằng không thì không nên. Tuy nhiên, những người bệnh cấp tính (akute Beschwerden) thì không thể chần chừ (zögern), mà phải đến bác sĩ gia đình khám lập tức. Và cũng cần có kiên nhẫn (Geduld). Vì bệnh nhân nhiều, nên các bác sĩ và nhân viên (Angestellte) phòng mạch khó (schwer) biết trước được là phải chờ bao lâu mới đến phiên, và cũng vì các bệnh cấp tính cần phải khám cũng như điều trị trước.

Tin dpa, hình Christina Sabrowsky.

Thứ sáu ngày 09.03.2018
Lo sợ trước sự lão hóa xã hội càng tăng.

Vẫn có nhiều (immer mehr) dân cư trong nước Đức nhận thấy (sehen) mối nguy cơ lớn (große Risiken) cho xã hội (Gesellschaft) bởi sự lão hóa (Überalterung). Tuy nhiên (allerdings) chỉ (nur) có thiểu số (Minderheit) lo ngại (befürchten) hậu quả (Folge) cho bản thân (für sich selbst) và môi trường quanh họ (eigenes Umfeld).
Sự lão hóa xã hội theo một cuộc thăm dò tư tưởng (Umfrage) có liên quan đến (verbinden) đa số (Mehrheit) người Đức quan tâm lo ngại. Gần (fast) hai phần ba (Zweidrittel) nghĩ (denken) rằng sự chuyển hóa dân số (demografisches Wandel) chủ yếu (vor allem) do sự nghèo đói ở tuổi già (Alterarmut), thời gian sống lao động lâu dài (längere Lebensarbeitszeit) và khoản đóng hưu trí tăng (steigender Rentenbeitrag).
Qua đó, có nhiều người cảm thấy lo sợ (sich fürchten) về sự chuyển hóa dân số trong năm qua rất rõ rệt (deutlich), theo kết quả sự thăm dò tư tưởng đã được công bố (veröffentliche Befragung) của tổ chức Bertelsmann cho thấy (zeigen) hôm thứ năm (Donnerstag). Năm 2014 có 55 phần trăm nhận thấy sự lão hóa của xã hội là một vấn đề (Problem). Ba năm sau (2017) đã lên đến con số 65 phần trăm.

Điều cũng ngạc nhiên (überraschend) rằng, đa số người được hỏi (Befragte) nhận thấy vấn đề này là nguy cơ cho đất nước (Land), nhưng có một thiểu số tầm một phần tư (Viertel) số người được hỏi chỉ lo ngại đến hậu quả cho bản thân và môi trường cận kề họ.
Những người được thăm dò ý kiến đã mong ước (sich wünschen) ví dụ (beispielsweise) rằng „nghề điều dưỡng (Pflegeberuf) cần phải hấp dẫn hơn (attraktiver) và việc mở rộng (Ausbau) hậu chăm sóc tuổi già tư nhân (private Altersvorsorge) cần phải được yểm trợ (unterstützen)“. Các biện pháp (Maßnahme) theo quan điểm (aus Sicht) của người dân (Bürger) quan trọng (wichtig) việc lèo lái (in den Griff bekommen) sự chuyển hóa dân số; đó là điều làm cho những người được thăm dò tư tưởng lo ngại.
Sư chuyển hóa dân số có nghĩa là (bedeuten) ngày càng có nhiều người lớn tuổi hơn là người trẻ tuổi. Trong thập niên tới (nächstes Jahrzehnt), sẽ có sự gia tăng những người trẻ nghĩ hưu. Ngày nay (heute), họ còn đóng phí bảo hiểm hưu trí, nhưng sắp đến (bald) họ đã trở thành những người nhận tiền hưu (Rentenbezieher).

Tin dpa, hình Jens Büttner.

Thứ năm ngày 08.03.2018
Khiếu nại về việc tính phí không hợp lý.

Thật tế (eigentlich), không được phép tính thêm phụ phí (Zusatzkosten) khi trả tiền bằng thẻ tín dụng (Krditkarte), quyền rút tiền (Lastschrift) hoặc chuyển ngân (Überweisung) cho khách hàng (Kunden). Nhưng rõ ràng (offenbar), có nhiều lái buôn (Händler) đã xem thường (missachten) quy định mới (neue Voschrift) này. Số lượng lớn (hohe Anzahl) người khiếu nại (Beschwerde) đã lên tiếng về việc làm sai trái này.
Tính phí không hợp lý (unzulässige Entgelte) khi thanh toán ngân tệ (Zahlung) bằng thẻ tín dụng hoặc có vấn đề (Problem) trong việc trả tiền từ tài khoản (Konto) nước ngoài (Ausland): Rất nhiều đơn khiếu nại của người tiêu thụ (Verbraucher) đã chồng chất (sich häufen) tại trung tâm cạnh tranh (Wettbewerbszentral).

Kể từ (seit) tháng năm (Mai) 2017 đã có nhiều người tiêu thụ than phiền (sich beklagen) 200 lần ở cơ sở (Einrichtung) tại Bad Homburger, vì họ không thể sử dụng (nutzen) một ngân hàng ngoại quốc (ausländische Bank) của một số công ty nào đó (bestimmtes Unternehmen) để thanh toán ngân tệ tại Đức, mặc dù (obwohl) việc này trên nguyên tắc có thể (möglich) trong khu vực thanh toán ngân tệ vượt ranh giới (grenzüberschreitender Zahlungsverkehrsraum) Sepa („Single Euro Payments Area“). Đến nay (bislang), trung tâm cạnh tranh đã gửi đi 97 khuyến cáo (Abmahnung),  95 trường hợp (Fall) đã có sự thỏa thuận ngoài pháp đình (außergerichtliche Einigung).
Không phải công ty nào cũng tuân thủ (sich halten) quy định có hiệu lực (geltende Vorschrift) từ giữa (Mitte) tháng giêng (Januar), nghĩa là không được phép đòi (verlangen) thu thêm phụ phí (zusätzliches Entgelt) cho việc thanh toán ngân tệ bằng thẻ tín dụng, quyền rút tiền hoặc chuyển ngân. Các con buôn không được phép (untersagt), trực tuyến (online) cũng như các ngân hàng tiểu bang (Landeskasse) yêu cầu (einfordern) người tiêu thụ phải trả thêm (Aufschlag) cho những khoản thanh toán ngân tệ thông thường nhất (gängigste Zahlungsmöglichkeit). Kể từ tháng giêng, trung tâm cạnh tranh đã nhận hơn (mehr als) 160 đơn khiếu nại.

Theo quan điểm (aus Sicht) của trung tâm cạnh tranh tuy nhiên (allerdings) cũng có những chỗ mơ hồ của pháp luật (rechtliche Grauzonen). Việc thanh toán ngân tệ qua dịch vụ trả tiền trực tuyến (Onlinebezahldienst) PayPal có bị cấm (Verbot) hay không? Một số công ty có quyền đi vòng (umgehen) các quy định một cách không hợp pháp (unzulässigerweise, khi họ cung cấp (anbieten) sản phảm (Produkt) rẻ hơn (billiger) không cần phải mua (kaufen) bằng thẻ tín dụng? Những trường hợp này có lẽ (wahrscheinlich) phải cần làm sáng tỏ (klären) bởi tòa án (Gericht), theo ông Reiner Münker, quản đốc (Geschäftsführer) trung tâm cạnh tranh

Tin dpa, hình Angelika Warmuth.

Thứ tư ngày 07.03.2018
Đoàn tụ gia đình vẫn hạn chế đến cuối tháng bảy.

02.03.2018 – Thượng Viện Đức quyết định tiếp tục ngưng (weitere Aussetzung) việc đoàn tụ gia đình (Familiennachzug). Đây là quy định mới đã được thông qua (beschlossene neuregelung) bởi liên hiệp Cơ Đốc (Union=CDU/CSU) và đảng SPD trong quốc hội (Bundestag).
Ngoài ra (daneben), các tiểu bang (Länder) đã tái (erneut) khởi động (auf den Weg bringen) chủ yếu (vor allem) những ý tưởng (Initiativ) không được quốc hội Đức đề cập đến (aufgreifen) trong quá khứ (Vergangenheit). Cho nên quốc hội giờ đây (nun) cũng phải quyết định (entscheiden) khi nào họ giải quyết các đề mục ấy:

Việc đoàn tụ gia đình đối với những người tỵ nạn (Flüchtlinge) hưởng chế độ bảo vệ hạn chế (eingeschränkter Schutzstatus) vẫn tiếp tục ngưng đến cuối (bis Ende) tháng bảy (Juli). Kể từ (ab) ngày 01 tháng tám (August) sẽ có số lượng hạn chế (begrenzte Zahl) đến (von bis) 1.000 thân nhân gia đình (Familienangehörige) được phép (erlauben) mỗi tháng (pro Monat) được đoàn tụ (Nachzug). Tiểu bang Schleswig-Holstein không đạt (erreichen) đa số (Mehrheit) cho ý định (Vorhaben) tạm ngưng (vorläufiger Stopp) và yêu cầu (Anrufung) có một ủy ban điều tra (Vermittlungsausschuss) của quốc hội và thượng viện. Cái gọi là (sogenannte) những người có quyền được bảo vệ (Schutzberechtigte) không được phép đón (nachholen) thân nhân (Angehörige) đến Đức kể từ tháng ba (März) 2016 đến giữa (Mitte) tháng ba 2018. Đa phần là những người tỵ nạn đến từ Syrien bị ngưng việc đoàn tụ gia đình trong bốn tháng rưởi (viereinhalb weitere Monate) nữa.

Tin dpa, hình Swen Pförtner

 

Thứ ba ngày 05.03.2018
Vì sao đổ mồ hôi là điều tuyệt vời?

Đối với nhiều người mồ hôi (Schwitzen) gây khó chịu (unangenehm). Tuy nhiên (allerdings), chất lỏng của thân thể (Körperflüssigkeit) cũng không có hôi (stinken).
Chỉ cần chạy nhanh (schnell) để bắt kịp (hinterherlaufen) chiếc xe buýt (Bus), thì đã (schon) có chuyện: Những mảng mồ hôi (Schweißflecken) bắt đầu lan tỏa (sich breit machen) – dưới (unter) cánh tay (Arm) hoặc (oder) trên lưng (am Rücken). Thật là khó chịu (wie unangenehm). Cho nên có người muốn kết thúc (abstellen) chuyện đổ mồ hôi (Schwitzerei). Nhưng các bác sĩ (Arzt) nói (sagen) rằng: Không nên (lieber nicht)!

Mồ hôi có công dụng gì?
Mồ hôi làm mát (kühlen) thân thể (Körper). Ai đó chạy nước rút (sprinten) đến trạm xe buýt (Bushaltestelle) thì năng lượng (Energie) được tiết ra (freisetzen) từ đó sinh ra (erzeugen) nhiệt (Wärme). Thân thể con người chỉ có thể chịu đựng (aushalten) nhiệt ở một chừng mực nào đó (gewisses Maß). Vì lẽ đó (deswegen), cơ thể làm một việc (etwas) thật khéo léo (ziemlich Geschicktes) là: Nó kích hoạt (aktivieren) các tuyến mồ hôi (Schweißdrüsen) để sản sinh ra một lớp nước mỏng (dünner Wasserfilm) trên da (auf Haut) rồi bốc hơi (verdünsten) ra không khí (an der Luft) – quá trình này cung cấp (soregen) sự mát mẻ (Kühlung).

Rồi sao nữa?
Trong trường hợp hoài nghi (Zweifelfall), chỉ có cách đi tắm vòi (duschen). Mồ hôi có 99 phần trăm nước (Wasser), theo giải thích (Erklärung) của ông Wolfgang Schillings thuộc Đại Học Y Khoa (Uniklinik) Hamburg-Eppendorf. Và nước như được biết (bekanntlich) không có mùi hôi. „Mùi khó chịu (unangenehmer Geruch) sinh ra (entstehen) khi mồ hôi kết hợp (in Verbindung) với vi trùng (Bakterien).“ Thường xuyên (regelmäßig) rửa sạch (reinigen) da sẽ làm mồ hôi không có mùi. Trừ phi, vi trùng ẩn núp (stecken) trong quần áo (Kleidung).

Chống lại sự làm mát thân thể (Körperkühlung), khi hệ thống này làm việc không đúng (nicht richtig funktionieren). Bác sĩ nói (sprechen) đó là Hyperhidrose (tuyến bị quá tải). „Những người này đổ mồ hôi (schwitzen) nhiều (stark), mặc dù (obwohl) thân thể thật tế (eigentlich) hoàn toàn (gar) không bị nhiều nhiệt (überhitzen).“ Ai bị chứng này, trước tiên (zunächst) hãy thử (versuchen) dùng dầu hay xịt chống mồ hôi (Deo) có chứa (enthalten) nhôm (Aluminium). „Khi không có nguyên nhân (Ursache) khác ví dụ nội-tiết-tố có vấn đề (hormonelles Problem), ở những trường hợp nặng người ta có thể tiêm (spritzen) chất độc thần kinh (Nervengift) làm tê liệt (lahmlegen) từng điểm (punktuell) tuyến mồ hôi.“ Nếu cách này vô hiệu thì dùng phẩu thuật (Chirurg) tách ra (entfernen) từng tuyến (einzelne Drüsen).

Tin dpa, hình Mascha Brichta.

 

Thứ hai ngày 05.03.2018
Không được tiền bệnh khi xuất trình trễ chứng nhận bệnh lý.

28.02.2018 – Khi một công nhân (Arbeitnehmer) bệnh (krank), họ nhận (erhalten) một giấy chứng nhận bệnh lý (Attest) của bác sĩ (Arzt). Một bổn (Ausführung) gửi đến chủ nhân (Arbeitgeber), và bổn khác gửi đến công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenkasse). Những giấy chứng nhận (Bescheinigung) không được gửi (verschicken) quá trễ (zu spät).
Ai bị bệnh, trên nguyên tắc (in der Regel) được hưởng (Anspruch) tiền bệnh (Krankengeld). Tuy nhiên (allerdings), chỉ khi (nur wenn) công nhân xuất trình (vorlegen) chứng nhận bệnh lý. Nếu họ nộp (abgeben) quá trễ giấy chứng nhận đến công ty bảo hiểm sức khoẻ, thì quyền hưởng tiền bệnh bị ngưng (ruhen), theo toà án xã hội (Sozialgericht) Detmold – hồ sơ thụ lý số Az.: S 3 KR 824/16.
Người đóng bảo hiểm (Versicherte) không thể tự tin rằng bác sĩ (Arzt) báo (melden) việc không thể lao động (Arbeitsunfähigkeit) của họ đến công ty bảo hiểm. Phán quyết (Urteil) vẫn chưa có hiệu lực pháp lý (rechtskräftig).

Trường hợp (Fall): Nữ nguyên cáo (Klägerin) đã bắt đầu làm việc (beschäftigen) từ ngày 01 tháng sáu (Juni). Đến ngày 10 tháng sáu, cô bị bệnh (erkranken) và nghĩ làm (Kündigung der Arbeitsverhältnis) vào ngày 30 tháng sáu. Chứng nhận bệnh lý đến (eingehen) công ty bào hiểm sức khoẻ ngày 01 tháng bảy (Juli). Vì xuất trình chậm trễ (verspätete Vorlage) nên việc trả (Zahlung) tiền bệnh bị bác (ablehnen). Chủ nhân cũng không trả tiền lương tiếp tục (Lohnfortzahlung) cho cô trong khoảng thời gian đó.
Phán quyết: Tòa án xã hội bác (abweisen) đơn kiện (Klage) của phụ nữ này. Bổn phận khai báo theo luật định (gesetzliche Meldepflicht) bắt buộc người đóng bảo hiểm phải thi hành. Nó đảm bảo (gewährleisten) rằng công ty bảo hiểm sức khoẻ phải được thông báo (informieren) kịp thời (frühzeitig) về việc tiếp tục (Fortbestehen) tình trạng không thể lao động được của một công nhân đóng bảo hiểm sức khoẻ. Nếu họ lãng quên (versäumen) việc khai báo (Meldung) thì bị mất (verlieren) quyền lợi.

Nữ nguyên đơn phản đối (einwenden) rằng, họ không biết (wissen) đến quyền hưởng tiền lương tiếp tục (Entgeldfortzahlung). Lý luận (Begründung) này không thuyết phục (überzeugen) được pháp đình. Giấy chứng nhận không thể lao động được (Arbeitsunfähigkeitsbescheinigung) có ghi lưu ý rõ ràng (eindeutige Hinweise): “Giấy dành xuất trình cho công ty bảo hiểm sức khoẻ” (Ausfertigung zur Vorlage bei der Krankenkasse). Ngoài ra (insoweit), nữ nguyên cáo cũng phải tỏ tường (klar) rằng họ phải chuyển (übersenden) giấy (Papier) này đến công ty bảo hiểm sức khoẻ.

Tin dpa, hình Patrick Pleuel.

Thứ năm ngày 02.03.2018
Quầy từ thiện tại thành phố Essen phát thẻ ăn mới – chỉ dành cho người Đức

28.02.2018 – Chỉ trích rầm rộ (massive Kritik), bàn thảo cả nước (bundesweite Debatte) và phiên họp khần cấp (Krisensitzung). Dù vậy, „Quầy Từ Thiện tại Essen)“ (Essener Tafel) trước tiên (vorerst) vẫn (bleiben) ngưng nhận (Aufnahmestopp) người ngoại quốc (Ausländer). Một hội nghị bàn tròn (Runder Tisch) sẽ hội ý (beraten) tìm giải pháp (Lösung).
Quầy Ăn Từ Thiện tại Essen theo lịch (planmäßig) vẫn bắt đầu vào sáng thứ tư (Mittwochmorgen) hàng tuần (wöchentlich) phát (asugeben) thẻ sử dụng mới (neue Berechtigung) cho những gói thực phẩm (Lebensmittelpakete). Nhiều người muốn nhận (Bewerber) không có (ohne) thông hành Đức (deutscher Pass) đã bị đuổi đi (wegschicken), theo một phóng viên (Reporter) thông tấn xã Đức dpa tường thuật (berichten)
Rất nhiều người đã than phiền loại thẻ mới (neue Karte) này. Ai không nhận được (bekommen) thẻ này đã được yêu cầu (gebeten) sáu tuần sau (sechs Wochen) trở lại (wiederkommen). Sự việc diễn ra (ablaufen) ôn hòa (friedlich), không có sự phản đối to tiếng nào (keine lautstarken Proteste). Việc ngưng nhận tạm thời (vorrübergehend) người ngoại quốc nơi quầy từ thiện tại Essen đã gây ra (sorgen) những cuộc tranh luận dữ dội (heftig) trên toàn quốc kể từ ngày 10 tháng giêng (Januar) năm nay.

Quầy Từ Thiện phát (vergeben) thẻ khách hàng mới (neue Kundenkarte) mỗi thứ tư (mittwochs) trong tuần (in der Woche), trên nguyên tắc (in der Regel) có giá trị (Gültigkeit) một năm (ein Jahr). Ông Jörg Sartor, chủ tịch hiệp hội (Vereinsvorsitzender) cho rằng bình thường (üblich) có khoảng (rund) 50 thẻ sử dụng có thể được phát ra. „Số chờ đợi (Wartenummer) chỉ phát giữa (zwischen 08:45 và 09:00 giờ. Đương sự bắt buộc phải  (zwingend erforderlich) đích thân đến (persönliches Erscheinen)“, theo trang mạng (Internetseite) của quầy này.
Sau khi bị chi trích rầm rộ về việc ngưng nhận người ngoại quốc, quầy từ thiện tiến đến (anstreben) việc quy định mới (neuregelung) việc phát (Verteilung) thực phẩm (lebensmittel). Thành phố Essen và ban chủ tịch hội (Vereinsvorstand) đã quyết định hôm thứ ba (Dienstag) thiết lập (Gründung) một hội nghị bàn tròn để hội ý nhau tìm giải pháp hợp lý. Mục tiêu của quầy từ thiện này nhắm đến (fokussieren) những phụ huynh sống một mình nuôi con (Alleinerziehende), những người già (Senioren) và gia đình (familie) có nhiều trẻ dưới tuồi thành niên (minderjährige Kinder).

Tin dpa, hình Roland Weihrauch

Thứ tư ngày 01.03.2018
Trong năm ngoái có hơn 2.200 vụ tấn công người tỵ nạn tại Đức.

Theo một bài tường thuật củ truyền thông (Medienbericht), trong năm 2017 có 2.219 vụ tấn công (Angriff) người tỵ nạn (Flüchtlinge) và nơi cư trú (Unterkunft) của họ.
Trích câu trả lời (Antwort) của bộ nội vụ Đức (Bundesinnenministerium) về một thắc mắc của quốc hội (Parlamentsanfrage), được các tờ báo (Zeitung) nhóm truyền thông (Mediengruppe) tường thuật. Thweo đó, số lượng (Zahl) số với (im Vergleich) năm trước (Vorjahr) giảm (sinken) khoảng (rund) một phần ba (Drittel) – năm 2016 ghi nhận (erfassen) có 3.500 vụ tấn công. Tội trạng (Delikt) được kể đến (zählen) là đã thương trầm trọng (gefährliche Körperverletzung), phá hoại vật chất (Sachbeschädigung), mạ lỵ (Beleidigung), khích động quần chúng (Vlksverhetuung), ăn trộm (Hausfriedenbruch), gây hỏa hoạn (schwere Brandstiftung) và sử dụng chất nổ (Sprengstoffexplosion).
Bài báo còn cho biết, trong năm qua có 1.906 vụ tấn công người tỵ nạn cũng như 313 vụ đánh phá (Anschläge und Überfälle) nơi cư trú của người tỵ nạn (Flüchtlingsunterkünfte). Có hơn (meghr als) 300 người bị thương tích (verletzen). Chính phủ Đức (Bundesregierung) đã lên án nặng nề (auf Schärfste verurteilen) những vụ tấn công (Attacke) như vậy trên một văn kiện (Papier).

Tin và hình dpa

Xem (31)