» » Tin Đức Quốc tháng 2.2018

Tin Đức Quốc tháng 2.2018

Thứ hai ngày 19.02.2018
Các tổ chức gần gủi đảng phái đã nhận gần 581 triệu Euro trong năm 2017.

Các tổ chức thân cận đảng phái chính trị (parteinahe Stiftung) của các đảng CDU, CSU, SPD, FDP, Xanh (Grüne) và Tả khuynh (Linke) theo một bài báo (Zeitungsbericht) trong năm qua (vargangenes Jahr) nhận khoảng (rund) 581 triệu (Millionen) Euro của nhà nước (Staat). So với (im Vergleich) năm ngoái (Vorjahr) thì nhiều như chưa từng có (so viel wie nie zuvor), tờ “Thế Giới Ngày Chủ Nhật” (Welt am Sonntag) viết (schreiben). Liên Hội Người Đóng Thuế (Bund der Steuerzahler) đã phê phán (kritisieren) sự gia tăng (Anstieg) và ông Reiner Holznagel, chủ tịch (Präsident) tổ chức này nói với tờ báo (Zeitung) đó rằng: Sự tài trợ (Finanzierung) cho các tổ chức đã nuốt chửng (verschlingen) gấp ba lần (drei Mal mehr) tiền thuế (Steuergeld) nhiều hơn sự tài trợ đảng phái từ chính phủ (staatliche Parteifinanzierung).
Đa phần sự tài trợ theo bài báo (Zeitungsbericht) trong năm qua cho tổ chức Friedrich-Ebert thân đảng SPD là 170,7 triệu Euro và tổ chức Konrad-Adenauer thân đảng CDU là 167,1 triệu Euro. Kế đến là tổ chức Rosa-Luxemburg thân đảng Tả khuynh (Linke) với 64,1 triệu, tổ chức Heinrich-Böll thân đảng Xanh (Grüne) với 63,6 triệu và Hans-Seidel thân đảng CSU với 58,4, cuối cùng là tổ chức Friedrich-Naumann thân đảng FDP với 57,6 triệu Euro.
Các tổ chức đầu tư (investieren) sự tài trợ cho các việc như (zum Beispiel) giáo dục chính trị (politische bIldung) hoặc cấp học bổng (Stippendium) cho các sinh viên có tài năng cao (hoch begabte Studierende)

Tin dpa, hình Jens Kalaene.

 

Chủ nhật ngày 18.02.2018
Không nên gánh vác hết công việc cho thân nhân bị trầm cảm.

Cho dù (auch wenn) người bị trầm cảm (Depressive) thiếu (fehlen) năng động (Antrieb), nhưng thân nhân trong gia đình (Familienangehörige) không nên gánh vác (übernehmen) tất cả công việc (alle Aufgaben) của người bệnh. Nhưng bạn bè (Freund) và gia đình nên xử sự (sich verhalten) như thế nào (wie)?
Những người bị trầm cảm thường không năng động (antriebslos). Thân nhân thường chia xẻ (abnehmen) một số việc trong cuộc sống hàng ngày (Alltag), nhưng (dennoch) điều này phản sinh động (kontraproduktiv) cho người bệnh, Phân Hội Phong Thấp Đức (Deutsche Rhema-Liga) giải thích (erläutern) trong tạp chí của họ “Vận Động” (mobil) số phát hành (Ausgabe) 1/2018.
Người bệnh (Betrfoffene) nên tiếp tục (weiterhin) tự (selbst) giải quyết (erledigen) nhiều như có thể (soviel wie möglich). Những việc như mua sắm (Einkaufen) hoặc (oder) lau chùi (Putzen) tạo nên một cấu trúc (Struktur) cho sinh hoạt cả tuần (Wochenaktivitäten) và quan trọng (wichtig) đối với tâm lý (psychisch) của người bệnh (Kranke). Ngược lại (dagegen), nếu ai đó (jemand) chia xẻ gánh vác những công việc hàng ngày (alltägliche Aufgabe) cho người bệnh thì điều này sẽ làm giảm đi (abnehmen) tính năng động của người mắc bệnh (Erkrankte).

Tin dpa, hình Vctoria Bonn-Meuser.

Thứ bảy ngày 17.02.2018
Người mới bắt đầu thường đánh giá quá cao kiến thức của họ.

Sự khiêm tốn (Bescheidenheit) thường không phải là chuyện (Sache) của người mới bắt đầu (Anfänger). Điều này ít ra (mindestens) cũng đã được một cuộc khảo sát (Studie) của tạp chí (Zeitschrift) „Tâm Lý Học Ngày Nay“ (Psychologie Heute) cho biết (zeigen). Theo các chuyên gia (Expert), những người mới (Neuling) thường quá vội vàng (viel zu schnell).
Một ít (etwa) kiến thức bề mặt (Oberflächenwissen) đôi khi (manchmal) còn nguy hiểm hơn (gefährlicher) hơn là (als) chẳng biết gì cả (überhaupt keine Ahnung).  Vì lẽ (denn) ai chỉ biết chút ít về một đề tài nào đó, sẽ chóng (schnell) bị rơi vào tình trạng của cái gọi là (sogenante) „bong bóng nước của người mới bắt đầu“ (Anfängerblase). Điều này được một cuộc khảo sát tại Mỹ cho thấy và được tạp chí trên tường thuật (berichten), số phát hành (Ausgabe) 3/2018.
Những người mới vừa (gerade erst) làm quen (kennenlernen) một phương pháp nào đó (bestimmte Methode), thường xử sự quá nhanh, theo các chuyên gia. Ví dụ (zum Beispiel) nó biểu hiện (sich äußern) bằng việc thiết lập (aufstellen) nhiều lý thuyết rừng rú và sai lầm (wilde und fehlerhafte Theorie), để tìm đáp án (lösen) cho vấn đề (Problem).
Hiệu ứng (Effekt) của cái bong bóng nước của người mới bắt đầu tuy nhiên (jedoch) sẽ giảm dần (abnehmen), khi họ có thu thập (sammeln) thêm nhiều kinh nghiệm (weitere Erfahrung) trong lãnh vực (auf dem Gebiet) đó. Tuy nhiên (allerdings), sự tự tin quá độ (übermäßiges Selbstvertrauen) sẽ không tăng nữa (nicht noch weiter steigen) ở vào một thời điểm nhất định (gewisse Zeit) nào đó.

Tin dpa, hình Sina Schuldt.

CUNG CHÚC TÂN XUÂN MẬU TUẤT (2018)

Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật

Chúng con cung kính đảnh lễ và cầu chúc
Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni trên các Châu Lục
Pháp Thể Khinh An – Chúng Sanh Dị Độ – Phật Sự Viên Thành

Chúng tôi kính chúc quý Đạo Hữu xa gần
có nhiều sức khỏe, thân tâm thường lạc, Ý NHƯ VẠN SỰ

 

 

THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
Điều Hành Trưởng Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Đức Quốc – Chùa VIÊN GIÁC Hannover
Thứ sáu ngày mồng một tháng giêng năm Mậu Tuất
16.02.2018
 

Thứ tư ngày 14.02.2018
Quỹ bảo hiểm sức khỏe tìm người giúp việc nhà

Một số người cần người giúp việc nhà (Haushaltshilfe) vì lý do bệnh hoạn hoặc sau phẩu thuật (krankheits- oder operationsbedingt). Họ có thể nhận được (bekommen) sự giúp đỡ (Unterstützung) từ công ty bảo hiểm sức khỏe của họ (eigene Krankenkasse) – không chỉ liên quan đến tài chánh (finanzielle Hinsicht).
Ai vì bệnh hoạn (Krankenheit) hoặc sau khi phẩu thuật (Operation) cần (benötigen) người giúp đỡ việc nhà (Haushalthilfe), tùy hoàn cảnh (unter Umstände) sẽ được công ty bảo hiểm hoàn trả (erstatten) một phần (Teil) chi phí (Kosten). Công việc (Aufgabe) có thể do một dịch vụ chuyên nghiệp (professioneller Dienst) hoặc một người bạn (Freund) hoặc thân nhân gia đình (Angehörige) đảm nhận (übernehmen).
Ai không có người thích hợp (geeignete Person), bắt buộc (unbedingt) phải nói điều này cho công ty bảo hiểm biết ngay (gleich) trong cú điện thoại đầu tiên (erster Anruf). Điều này được trung tâm người tiêu thụ (Verbraucherzentrale) Nordrhein-Westfalen lưu ý (hinweisen). Người ta cũng có thể yêu cầu (bitten) công ty bảo hiểm sức khỏe tìm (suchen) cho người giúp việc nhà và làm sáng tỏ (klären) ngay (gleich) việc đảm nhận (Übernahme) chi phí và tính khả thi (Verfügbarkeit) của vụ việc (Sachstand). Người đóng bảo hiểm (versicherte) chỉ còn (nur noch) thỏa thuận (absprechen) với nơi cung cấp dịch vụ (Dienstleister) về giờ giấc (Zeit)
Nếu ai (jemand) quyết định (entscheiden) có sự giúp đỡ (Hilfe) của bạn bè hoặc họ hàng (Verwandte) thì các công ty bảo hiểm thông thường chỉ phụ cấp phí tổn (Aufwandentschädigung) 9,25 Euro mỗi giờ (pro Stunde), theo sự tra cứu (ermitteln) của các nhà bảo vệ người tiêu thụ (Verbraucherschützer). Tuy nhiên (allerdings), tổn thất thu nhập (Verdienstausfall) hoặc phí di chuyển (Fahrtkosten) của người bạn hay họ hàng giúp đỡ việc nhà phải có chứng minh (Nachweise).

Tin dpa, hình Franziska Kraufmann.

Thứ ba ngày 13.02.2018
Không có sự phòng hộ bảo hiểm tai nạn cho công nhân đi đường vòng.

Trên nguyên tắc, công nhân (Arbeitnehmer) hưởng (genießen) sự phòng hộ bảo hiểm tai nạn (Unfallversicherungsschutz) cho con đường trực tiếp từ nhà đến chỗ làm (Arbeitsweg). Nhưng điều này bị hủy (hinfällig), khi người đóng bảo hiểm (Versicherte) sử dụng lối đi vòng (Umweg). Trích phán quyến (Urteil) của tòa án xã hội tiểu bang (Landessozialgericht) Thüringen, Đông đức.
Một tai nạn trên lộ trình (Wegeunfall) chỉ được xem (gelten) là tai nạn lao động (Arbeitsunfall), khi người lao động đi trực tiếp (auf dem direkten Weg) từ nhà (Zuhause) đến chỗ làm (Arbeitsplatz), nhóm luật xã hội (Arbeitsgemeinschaft Sozialrecht) thuộc Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein, viết tắt là DAV) giải thích (erklären) theo quyết định (Entscheidung) của tòa án xã hội tiểu bang Thüringen, hồ sơ thụ lý số Az.: L 1 U 900/17.

Trường hợp (Fall): Một nữ công nhân ngồi (sitzen) trên xe lửa khu vực (Regionalbahn) trên đường từ chỗ làm trở lại (Rückweg) nhà. Phụ nữ (Frau) này quên (verpassen) xuống tàu (asusteigen) ở nhà ga nơi cư ngụ (Heimatbahnhof). Ở trạm sau đó (nächste Haltestelle) cô rời tàu và muốn băng qua (überqueren) đường sắt (Bahngleise), để đến (erreichen) trạm nằm đối diện (gegenüberliegender Bahnsteig) có chuyến tàu ngược chiều đang nằm sẳn (bereitstehender Gegenzug). Cô bị một đầu máy xe lửa (Lok) cán (erfassen) và tử thương (tödlich verletzen). Hiệp hội nghề nghiệp (Berufgenossenschaft) bác (ablehnen) không công nhận (Anerkennung) đây là một tai nạn lao động. Thân nhân còn sống (Hinterbliebene) của cô đã đâm đơn kiện (klagen)

Phán quyết: Đơn kiện bất thành (kein Erfolg). Qua sự phòng hộ (Schutz) của bảo hiểm tai nạn theo luật định (gesetzliche Unfallversicherung), trên nguyên tắc (grundsätzlich) là con đường trực tiếp từ chỗ làm đến nhà. Nếu người đóng bảo hiểm tự rời khỏi (sich bewegen) lộ trình trực tiếp này không theo hướng từ chỗ làm về đến nhà thì sự phòng hộ bị hủy (wegfallen).
Điều này cũng có giá trị ngay khoảnh khắc (sobald) rời khỏi (verlassen) lộ trình trực tiếp và cái gọi (sogenannte) là “lộ trình vòng” (Abweg) đã bắt đầu. Chỉ khi (erst) người đóng bảo hiểm trở về (wieder) lộ trình trực tiếp và chấm dứt khúc đường vòng thì sự phòng hộ của bảo hiểm tái thiết lập (wieder aufleben).
Trường hợp đặc biệt là việc đi vòng (Umweg) cần thiết (erforderlich) bởi lý do lưu thông (verkehrsbedingt).

Tin dpa, hình Martin Schutt.

Thứ hai ngày 12.02.2018
Ý nghĩa công việc quan trọng, nhưng không phải mỗi ngày.

Chúng ta đa phần (Großteil) dành (verbringen) nhiều thì giờ trong ngày ở chỗ làm (Arbeitsplatz). Vì vậy (deshalb) không quan trọng (unwichtig) là chúng ta làm gì (tun). Khoảng thời gian được dùng cho công việc (Arbeit) chỉ (nur) để đảm bảo cuộc sống (Existenzsicherung). Ai tìm (finden) được ý nghĩa công việc của họ thì sẽ hài lòng hơn (zufriedener) và cũng thường (oft auch) mạnh khỏe hơn (gesunder). Nhưng không có nghĩa là, họ phải cảm nghiệm (erleben) trạng thái này mỗi ngày, bà xã hội học (Soziologin) Friederich Harding giải thích (erklären) trong tạp chí (Magazin) „Brigitte“ số phát hành (Ausgabe) 4/2018.
Nhưng quan trọng vẫn là (immer) có thể nhìn ra (sehen) ý nghĩa sâu sắc (grundlegender Sinn) của việc làm – cho mình (für sich selbst) và cho người (für andere). Sự công nhận (Anerkennung) đặc biệt (besonders) quan trọng, chính xác (genau) như (wie) hiệu quả tự thân (Selbstwirksamkeit) của nó. Đó là một cảm giác (Gefühl) để có thể sử dụng (nutzen) kỹ năng bản thân (eigene Fähigkeit) và hoàn tất (erledigen) tốt (gut) công việc.
Ai cống hiến (beitragen) hạnh phúc (zum Wohl) cho người khác bằng việc làm của họ thì người này sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa trọn vẹn (sinnvoll) của nó. Cũng vậy (genauso), đồng tiền làm ra (verdientes Geld) cũng có thể hoàn thành (erfüllen) công việc trọn vẹn ý nghĩa của nó, theo nữ chuyên gia (Expertin). Ví dụ (zum Beispiel), khi người ta tạo điều kiện (ermöglichen) cho con trẻ (Kinder) học đại học (Studium).
Một việc làm đầy ý nghĩa (sinnvolle Arbeit) có tác dụng tích cực (positive Auswirkung) đến sức khỏe tâm lý (psychische Gesundheit). Điều này cũng có thể nghịch lại (Gegenteil): Ai cho rằng (sich halten) công việc của họ cực kỳ quan trọng (extrem wichtig) và không thể thiếu (unentbehrlich) thì tự mau chóng (schnell) bóc lột (sich ausbeuten) bản thân mình. Vì lẽ (deshalb) điều quan trọng là tìm ý nghĩa không những trong cuộc sống cá nhân (Privatleben) mà ngay cả trong công việc làm.

Tin dpa, hình Tobias Hase.

Chủ nhật ngày 11.02.2018
Công nhân thường tìm việc trong vòng đai 50 cây số.

Chỉ (nur) ít người (wenig) Đức chuyển nhà (umziehen) hoặc di chuyển tới lui vì công việc mới (neuer Job). Trích từ kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của tổ chức Forsa do công ty Xing ủy nhiệm (im Auftrag) thực hiện (durchführen). Lý do (Grund) có thể là sự hài lòng cao (hohe Zufriedenheit) với chỗ làm hiện nay (aktuelle Stelle).
Bốn (vier) trong số mười (zehn) công nhân (Arbeitnehmer) trong nước Đức (39 phần trăm) tìm (suchen) chỗ làm mới chỉ trong vùng cư ngụ (Wohnort) của họ hoặc khu vực trực tiếp (unmittelbares Umfeld). Một trong hai người (jeder Zweite), 50 phần trăm, muốn chỗ làm mới cách xa nơi cư ngụ tối đa (höchsten) 50 cây số. Tìm việc mới ngoài (außerhalb) nước Đức chỉ có 5 phần trăm nhân viên (Angestellte) quan tâm đến.
Một lý do cho sự thoải mái (Bequemlichkeit) có thể là sự hài lòng với công việc hiện nay. Có 85 phần trăm công nhân rất hài lòng (sehr zufrieden) với công việc hiện nay (jetzige Tätigkeit), chỉ có thiểu số nhỏ (kleine Minderheit) khoảng hai (zwei) phần trăm cho rằng thật sự không hài lòng (sehr unzufrieden).
Forsa đã hỏi ý kiến (befragen) khoảng (rund) 1000 nhân viên trong tháng giêng (Januar) 2018

Tin dpa, hình Christian Klose.

Thứ bảy ngày 10.02.2018
Ngày càng ít bệnh viện hơn trong nước Đức.

2411 bệnh viện còn có trong năm 1991 – hiện nay (inzwischen) con số này tụt xuống (rutschen) xuống mức (Marke) 2000. Đảng Tả khuynh (Linke) yêu cầu (fordern) bây giờ (nun) nên có một kế hoạch mới về bệnh viện (neue Krankenhausplanung). Vì số lượng bệnh viện ngày càng giảm (sinken) trong nước Đức, nên đã Tả khuynh yêu cầu quốc hội Đức (Bundestag) thay đổi đường hướng (Kurswechsel) trong lãnh vực bệnh viện (Klinikssektor).
Số bệnh viện đã giảm trong vòng (innerhalb) 20 năm khoảng 318 chỉ còn 1951 trong năm 2016. Số lượng giường bệnh (Krankenhausbett) cũng giảm theo (abnehmen) trong khoảng thời gian (Zeitraum) này với 95.025 còn 498.718 trong năm 2016. Những con số trích từ bảng báo cáo y tế (Gesundheitsberichtserstattung) mới nhất (aktuell) của liên bang (Bund).
Trong khi (während) những bệnh viện công và của hội thánh (öffentliche und kirchliche Klinik) tiếp tục (immer weiter) giảm, thì số lượng các bệnh viện do tư nhân điều hành (privat geführte Krankenhäuser) lại gia tăng (zunehmen) với 707 bệnh viện.
Các nhà bảo sanh (Entbindungsstation) cũng giảm đi (weniger). Trong năm 1996 còn 1114, đến năm 2016 chỉ còn 690.
Tuy nhiên, mỗi người có cái nhìn khác nhau nên sự đánh giá (Bewertung) cũng sai khác. Viện Nghiên Cứu (Forschungsinstitut) RWI xác nhận (feststellen) quan điểm (Vorstellung) của họ về bệnh viện trong báo cáo (Report) năm 2017 rằng, có quá nhiều (zu viele) cơ sở nhỏ (kleine Einrichtung), quá nhiều nhà thương và quá ít (zu wenig) sự chuyên biệt (Spezialisierung). Vì lẽ (weil) nhiều bệnh viện đã thực hiện (durchführen) nhiều ca điều trị phức tạp (komplizierte Behandlung) mặc dù không giàu kinh nghiệm (keine breite Erfahrung) dẫn đến (führen) nhiều nguy cơ không cần thiết (unnötige Risiken) cho bệnh nhân (Patient), nhiều chuyên gia (Expert) và bệnh viện đánh giá (urteilen) như vậy.

Hiện nay (derzeit), sự cải cách (Reform) trong lãnh vực (Bereich) này đang chuyển động (im Gang). Được nền chính trị (Politik) đề xuất (anstoßen) nên ủy ban thường trực liên bang chung (zuständiger Gemeinsamer Bundesausschuss) đã đưa ra điều kiện (Vorgabe) về từng phương pháp trị liệu (einzelne Therapie) cho các bệnh viện. Khi điều này không được tuân thủ (nicht einhalten) thì phân bộ (Abteilung) hoặc cả bệnh viện phải bị đóng cửa (schließen). Thẩm quyền (zuständig) cho kế hoạch bệnh viện trên cơ bản (im Wesentlichen) thuộc các tiểu bang (Länder).
Ngoài ra (außerdem) liên minh lớn (große Koalition) cơ-đốc (Union) và đảng SPD đã thỏa thuận trong hợp đồng liên minh (Koalitionsvertrag) rằng sẽ có nhiều tài chánh (Finanz) cho các bệnh viện. Việc phân phối công việc (Arbeitsteilung) giữa (zwischen) các trung ương (Zentren) đối với những chứng bệnh nặng và phức tạp (schwere und komplexe Erkrankung), việc cung cấp căn bản (Grundversorgung) cho bệnh viện và các phòng mạch có trọng tâm ngoại viện (ambulante Schwerpunktspraxis) cần phải được tăng cường (stärken). Chi phí (Ausgabe) của các quỹ y tế (Kasse) cho việc điều trị trong nhà thương (Krankenhausbehandlung) trong năm 2016 đã tăng (steigen) 2,6 thành 73,7 tỷ (Milliarde) Euro

Tin dpa, hình minh họa của Patrick Seeger.

Thứ sáu ngày 09.02.2018
Chủ tịch bác sĩ đoàn kêu gọi có thêm nhiều chỗ học cho ngành y.

Bác sĩ đoàn (Ärzteschaft) thúc bách (dringen) khai triển (Ausweitung) việc cung cấp chỗ học (Studienangebot) cho các y sĩ (Mediziner). Vị chủ tịch bác sĩ  đoàn(Ärztekammmerpräsident), ông Frank Ulrich Montgomery phát biểu (sagen) trên tờ „Heilbronner Stimme“ rằng, ít nhất (mindestens) cần có (vonnöten) thêm mười (zehn) phần trăm chỗ học (Studienplatz).
„Ngày càng có nhiều (immer mehr) ứng viên (Bewerber) phải nỗ lực (sich bemühen) mạnh mẽ để có một chỗ học trong lúc ngày càng ít đi (immer weniger) cho môn y khoa nhân đạo (Humanmedizin)“, theo ông Montgomery. Có 45.000 ứng viên cho 9.000 chỗ học, mặc dù (obwohl) nam nữ bác sĩ trong bệnh viện (Klinik) và phòng mạch (Praxis) đang thiếu trầm trọng. Riêng (allein) trong các tiểu bang cũ (alte Bundesländer), năm 1990 vẫn còn 12.000 chỗ học. Nay (heute) chỉ còn 10.000 chỗ trên toàn quốc (gesamtes Bundesgebiet).
Ngoài ra, các sinh viên y khoa (Medizinstudierende) phải được hướng dẫn mạnh mẽ hơn (stärker) cho môn y đa khoa (Allgemeinmedizin) chẳng hạn (beziehungsweise) công việc của bác sĩ gia đình (hausärztliche Tätigkeit), vị chủ tịch bác sĩ đoàn liên bang (Bundesärztekammer) yêu cầu tiếp (weiter fordern). Như vậy, tất cả các phân khoa y (medizinische Fakultät) trong nước Đức cần phải thiết lập (einrichten) nhiều phân khoa cho môn y đa khoa.
Nạn thiếu bác sĩ (Ärztemangel) ngày càng gia tăng (sich verschärfen) nếu không được can thiệp (gegen steuern), ông Montgomery cảnh báo (warnen). Xã hội (Gesellschaft) ngày càng già nua (altern), thì tuổi trung bình (Durschnittalter) của bác sĩ cũng như vậy (auch). Gần (fast) một trong bốn (vier) bác sĩ có phòng mạch (niedergelassener Arzt) dự kiến (planen) sẽ đóng cửa (schließen) phòng mạch của họ trong năm (fünf) năm tới.

Tin dpa, hình Waltraud Gubitzsch

Thứ năm ngày 08.02.2018
Một trong mười một công nhân chăm sóc thân nhân gia đình.

Một trong mười một công nhân (Arbeitnehmer) trong nước Đức chăm lo (betreuen) thêm (zusätzlich) một thân nhân gia đình có nhu cầu chăm sóc (pflegebedürftigte Angehörige). Trích từ (ausgehen) một sự khảo sát vẫn chưa chính thức công bố (noch unveröffentliche Untersuchung) của công đoàn lao động Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB) được tờ báo „Saarbrücker Zeitung“ tường thuật (berichten).
Như vậy (demnach) có 71 phần trăm người lao động trong trường hợp này (betroffene Beschäftigte) gặp nhiều khó khăn về thời gian (zeitliches Prolem) để hoàn thiện (unter einen Hut bringen) cả hai nhiệm vụ (Aufgabe). Ở những người lao động từ (ab) 60 tuổi trở lên thậm chí (sogar) có một trong năm người đã (bereits) trông nom (sich kümmern) thân nhân có nhu cầu chăm sóc. Mỗi tuần (pro Woche) họ mất (aufwenden) trung bình (im Schnitt) 13,3 giờ (Stunde) cho việc chăm sóc (Pflege) này. Có một trong năm người thậm chí còn mất 20 giờ mỗi tuần hoặc nhiều hơn (mehr).
Theo DGB, chỉ có năm (fünf) phần trăm những người liên hệ (Betroffene) trong các doanh nghiệp (Unternehmen) của họ có thêm giờ nghỉ (zusätzliche Auszeit) cho việc trông nom thân nhân. 61 phần trăm nhận thấy rằng một nhu cầu như vậy (solches Agebot) đối với họ rất cần thiết (notwendig). Bà Annelie Buntenbach, thành viên ban lãnh đạo (Vorstandsmitglied) của DGB yêu cầu (auffordern) nền chính trị (Politik) và các chủ nhân (Arbeitgener) hãy can thiệp (zum Handeln). Điều cần thiết (Notwendiges) là có một khuôn khổ luật định tốt hơn (besserer gesetzlicher Rahmen) cho giờ làm việc tự quyết định (selbstbestimmte Arbeitszeit) và chủ nhân nên cung cấp sự du di thời gian (zeitliche Flexibilität) và hỗ trợ tài chánh (finanzielle Unterstützung).

Tin dpa, hình Oliver Killig.

 

Thứ ba ngày 06.02.2018
Cộng tác viên không được phép lén lút thu âm cuộc đàm thoại của nhân viên.

Những cuộc đàm thoại của nhân viên (Personalgespräch) không được phép thu âm (aufzeichnen) khi không (ohne) có sự hiểu biết (Wissen) và chấp thuận (Zustimmung) của tất cả (alle) người hiện diện (Anwesende). Việc thu âm (Aufnahme) vi phạm quyền cá nhân (Persönlichkeitsrecht) của người đàm thoại (Gesprächsteilnehmer). Nếu một công nhân (Arbeitnehmer) vi phạm (missachten) sự cấm đoán (Verbot) này sẽ có nguy cơ (drohen) bị xa thải vô điều kiện (fristlose Kündigung).
Thu âm lén lút (heimliche Tonaufnahme) cuộc đàm thoại của nhân viên bị cấm (verbieten) và ngay cả (zwar) đối với tất cả những người tham dự (Beteiligte). Nếu một công nhân không tuân thủ (daran halten) điều này, thậm chí (sogar) có thể bị đuổi việc vô điều kiện.
Trích từ bản án (Urteil) của tòa án lao động tiểu bang (Landesarbeitsgericht) Hessen, hồ sơ thụ lý mang số Az.:6 Sa 137/17, được văn phòng bảo vệ luật pháp (Rechtschutzsbüro) của Tổng Công Đoàn Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt DGB) lưu ý (hinweisen). Nguyên cáo (Kläger) trong trường hợp này là một cộng tác viên bị đuổi việc (kündigen). Trong điện thư (E-Mail), người này đã mạ lỵ (beleidigen) một đồng nghiệp (Kollege) ngoài ra còn gọi (bezeichnen) đồng nghiệp là „con bọ phân thúi“ (fauler Mistkäfer). Vì vậy người này đã bị cảnh cáo (abmahnen) và được mời (einladen) nói chuyện riêng. Ngoài (neben) vị quản đốc (Geschäftsführer) còn có sự hiện diện (anwesend) của đại diện hội đồng xí nghiệp (Betriebsrat). Cộng tác viên này đã thu âm lén cuộc nói chuyện vào điện thoại cầm tay (Handy) của ông. Khi (als) người chủ (Arbeitgeber) biết được (erfahren) chuyện này vài tháng sau đó (einige Monate später) thì xa thải cộng tác viên này tức khắc.
Tòa án (Gericht) quyết định (entscheiden) người chủ có lý (Recht) và cho rằng, việc thu âm lén của nguyên đơn đã vi phạm quyền cá nhân của những người tham dự cuộc nói chuyện. Người công nhân này biện luận (argumentieren) rằng, ông thật sự không hề biết (wissen) về việc cấm thu âm lén. Tính cách lén lút (Heimlichkeit) dù vậy (aber) cũng không thể biện minh (rechtfertigen) được cho hành động đã làm và vì thế việc xa thải vô điều kiện hợp lý (zulässig) – và cũng vì (auch weil) mối liên hệ (Verhältnis) với người chủ qua điện thư mạ lỵ cũng đã (schon) là lý do (Grund) xa thải

Tin dpa, hình Arne Dedert.

4175 Tổng số lượt xem 104 lượt xem ngày hôm nay