» » Tin Đức Quốc tháng 12.2017

Tin Đức Quốc tháng 12.2017

Thứ tư ngày 13.12.2017
Bệnh thân do tâm lý gây ra. Thành phần lãnh đạo thường sử dụng hết khả năng của họ.

Thành phần lãnh đạo (Führungskraft) cũng bị căng thẳng (Stress) trong công việc (Job), như bao nhiêu (wie) công nhân (Arbeitnehmer) khác – thậm chí (sogar) còn nhiều hơn (oft mehr), theo kết quả một cuộc khảo sát (Untersuchung). Vì lẽ (denn) họ thường (oftmals) được mong đợi (erwarten) phải làm nhiều (leisten) hơn (mehr als) người khác và vượt khỏi (hinaus gehen) hạn chế (Grenze) của họ.
Thành phần lãnh đạo thường phải phấn đấu (kämpfen) rõ rệt (deutlich) những yêu cầu công việc cao hơn (höhere Arbeitsanforderung) công nhân bình thường (reguläre Arbeitnehmer). Áp lực (Druck) lịch làm việc (Termin) và năng suất (Leistung) của họ cao hơn (höher).
Đồng thời (zudem) họ phải thường (häufig) giải quyết (erledigen) cùng lúc (gleichzeitig) nhiều trách vụ khác nhau (verschiedene Aufgabe) và thực hiện (durchführen) rất nhanh (sehr schnell) hoặc (oder) phải vượt quá giới hạn năng suất của họ. Đây là kết quả một cuộc khảo sát (Untersuchung) của Viện Liên Bang Phòng Hộ và Y Khoa Lao Động (Bundesanstalt für Arbeitsschutz und Arbeitsmedizin, viết tắt là BAuA).

Và thành phần lãnh đạo thật ra (zwar) có nhiều năng lượng tiềm tàng (Ressource) hơn những người khác để khắc phục (bewältigen) những thử thách (Herausforderung) này. Cho nên họ có thể tự (selbst) lên kế hoạch (einplanen) cho công việc (Arbeit) hoặc yêu cầu (einfordern) sự giúp đỡ (Unterstützung) của các đồng nghiệp (Kollege).
Dù vậy (trotzdem), những công nhân trong vài trò thượng cấp (Chefrolle) thường xuyên (häufiger) mắc bệnh (leiden) đau nhức thân thể do tâm lý gây ra (psychosomatische Beschwerden). Chẳng hạn (zum Beispiel) dễ nóng nảy (Reizbarkeit), mệt mõi (Erschöpfung) hoặc rối loạn giấc ngủ (Schlafstörung). Các triệu chứng (Symptom) này đặc biệt (vor allem) xảy ra (auftreten) ở thành phần lãnh đạo phải làm việc quá sức chịu đựng của họ.

Tin dpa, hình Andrea Warnecke.

 

Thứ ba ngày 12.12.2017
Hơn một triệu có công việc có hạn nhiều hơn trước đây 20 năm.

Có hàng triệu người chỉ làm việc (beschäftigen) có hạn (befristet). Những người trẻ (Jüngere) người ngoại quốc (Ausländer) và những người không có (ohne) bằng nghề (Berufabschluss) đặc biệt (besonders) bị ảnh hưởng nặng, các học giả (Akademiker) cũng vậy. Liệu đây có phải là vấn đề (Problem) không? Về lâu dài (langfristig), số người làm việc có hạn (befristet Beschäftigte) trong nước Đức tăng (steigen) mạnh (stark). Trong (innerhalb) 20 năm qua đã tăng hơn (mehr als) một triệu người thành 2,8 triệu trong năm ngoái.
Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) đã trả lời (antworten) thắc mắc (Anfrage) của đảng Tả khuynh (Linke) trong quốc hội (Bundestag) và thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) có được (vorliegen). Năm 2015 có khoảng 2,7 triệu công nhân (Arbeitnehmer) làm việc có hạn.
Số người làm việc có hạn tăng kể từ (seit) 1996 từ 6,4 lên 8,5. Có sự chênh lệch với năm 2006 là 8,4 phần trăm và kể từ đó (seither) có sai khác giữa (zwischen) 8,2 và 8,9 phần trăm.
Đặc biệt thường là những người tuổi từ 25 đến 34 làm việc có hạn, con số này chiếm 9,6 phần trăm trước đây 20 năm; năm 2006 16,6 phần trăm đến năm qua là 18,1 phần trăm. Những công nhân trẻ sau khi rời ghế nhà trường hoặc từ cao học (Hochschule) bước chân vào thị trường lao động (Arbeitsmarkt) không tính trong thống kê (Statistik).

Tin dpa, hình Hendrik Schmidt.

Chủ nhật ngày 10.12.2017
Từ ngữ của năm 2017: „Jamaika ra rìa“ trước „hôn nhân cho tất cả“.

Những khái niệm (Begriff) nào gây ấn tượng nhất tại Đức trong năm 2017? Câu hỏi này đã được các nghiên cứu gia về ngôn ngữ (Sprachforscher) nêu ra (stellen). Trên danh sách (Liste) lần này (diesmal) cũng có một từ sáng tạo lạ lùng (merkwürdige Wortschöpfung) của Tổng Thống Mỹ Donald Trump.
Nhóm từ (Wortgruppe) „Jamaika-Aus“ – „Jamaika ra rìa“  ám chỉ đến việc thương thuyết thành lập một liên minh cầm quyền sau kỳ bầu cử quốc hội Đức vào cuối tháng chín năm nay giữa ba đảng Liên Hiệp Cơ Đốc (CDU/CSU) màu đen, FDP màu vàng và Xanh (đảng Grüne) không thành công) đã được lên bảng vàng là chữ (Wort) của năm 2017. Khái niệm này không những ám chỉ việc thành lập chính phủ gặp nhiều khó khăn (schwierige Regierungsbildung), mà (sondern) về âm ngữ (sprachlich) cũng rất thú vị (interessant), theo giải thích (Erklärung) của Tổ Chức Đức Ngữ (Gesellschaft für deutsche Sprache, viết tắt là GfdS) hôm thứ sáu (Freitag) tại Wiesbaden. Đứng thứ nhì (zweiter Platz) là nhóm từ „Ehe für alle“ (hôn nhân cho tất cả) và kế đến là „#MeToo“.

Trong danh sách là những khái niệm theo sự đánh giá (urteilen) của các chuyên gia ngôn ngữ (Sprachexpert) thì các từ được chọn mang tính cách đặc thù (besonders relevant) xã hội (gesellschaftlich) và chính trị (politisch) cho năm 2017. Còn những chữ thường được dùng đến (Häufigkeit) không đáng quan tâm (weniger entscheidend).

Nhóm từ „Ehe für alle“ miêu tả (beschreiben) sự mở lối (Öffnung) hôn nhân cho những cặp đồng phái tính (gleichgeschlechtliche Paare). Ở đây, cũng có thể diễn dịch (intepretieren) sai lầm (falsch) gây ấn tượng rằng nhóm từ „tất cả“ (alle) cũng có thể nói đến ví dụ (beispielsweise) trẻ em (Kinder), ông Peter Schobinski, chủ tịch (Vorsitzender) tồ chức GfdS nói (sagen). Nay, ý nghĩa (Bedeutung) của khái niệm „Ehe“ (hôn nhân) đã được mở rộng (erweitern) theo quy tắc mới (neue Regel).

Còn khẩu hiệu (Schlagwort) trên mạng (Internet) „#MeToo“ nói đến việc tố cáo (anprangern) của những phụ nữ trên thế giới (weltweit) về những hành vi tấn công tình dục (sexuelle Übergriffe). Tác nhân (Auslöser) của những chiến dịch (Kampagne) trong mùa Thu (Herbst) 2017 là sự cáo buộc (Vorwurf) chống nhà sản xuất (Produzent) phim ảnh tại Hollywood, ông Harvey Weinstein. Nạn nhân (Opfer) muốn mọi người quan tâm đến (aufmerksam machen) mức độ (Ausmaß) của vấn đề (Problem), theo tồ chức GfdS.

Nhóm từ „Từ Ngữ Của Năm“ (Wort des Jahres) lần đầu tiên (ertsmal) được nói đến trong năm 1971 và kể từ (seit) 1977 đến nay thường xuyên (regelmäßig) được thực hiện. Các nghiên cứu gia về ngôn ngữ nói rằng, những từ vựng trong danh sách „không liên quan đến (verbinden) sự đánh giá (keinerlei Wertung) hoặc (oder) là một sự khuyến khích (Empfehlung)
Tin và hình cp/dpa.

Thứ bảy ngày 09.12.2017
Các bộ trưởng nội vụ Đức gia hạn ngưng trục xuất về Syrien đến cuối năm 2018.

Việc ngưng trục xuất (Abschiebestop) về Syrien được gia hạn (verlängern) đến cuối năm 2018. Điều này đã được các Bộ Trưởng Nội Vụ (Innenminister) các tiều bang (Bundesländer) thỏa thuận (sich einigen) trong hội nghị mùa thu (Herbstkonferenz). Đồng thời (zugleich) họ yêu cầu (auffordern) chính phủ Đức (Bundesregierung) hãy thực hiện (vornehmen) việc tái đánh giá (Neubewertung) tình trạng an ninh (Sicherheitslage) tại Syrien.

Ngay khi (sobald) báo cáo (Bericht) này có (vorliegen) thì các bộ trưởng nội vụ sẽ tái (erneut) giải quyết (beschäftigen) câu hỏi (Frage), liệu có phải trục xuất (abschieben) những người gọi là (sogenannt) nguy hiểm (Gefährder) và phạm tội nặng (schwere Straftäter) hay không.
Việc đánh giá kéo dài (dauern) ít ra vài tuần (Woche) hay nhiều tháng (Monat), theo ông Thomas de Maiziere (CDU), bộ trưởng nội vụ Đức (Bundesinnenminister) nói (sagen)
Tin và hình cp/dpa.

Thứ sáu ngày 08.12.2017
Những gánh nặng tâm lý cũng có giá trị như một tai nạn lao động.

Ngay những gánh nặng tâm lý (psychische Belastung) cũng có thể đẫn đến (führen) các tai nạn lao động (Arbeitsunfall) và như thế (somit) có giá trị (gelten) như (als) một tai nạn lao động. Tòa Án Xã Hội Tiểu Bang (Landessozialgericht) Hessen đã quyết định (entscheiden) và hỗ trợ (verhelfen) cho một nữ công nhân công ty đường sắt (Bahnmitarbeiterin) lấy lại pháp lý (Recht) họ.
Những tai nạn lao động không nhất thiết (nicht immer) phải có tính chất vật lý (physische Natur). Chính ngay những gánh nặng tâm lý xảy ra (auftreten) liên quan đến (im Zusammenhang) đến công việc (Arbeit) cũng có giá trị như một tai nạn lao động.
Tuy nhiên (allerdings) tùy từng trường hợp (Einzelfall), tổ làm việc về luật xã hội (Arbeitsgemeinschaft Sozialrecht) của Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Antwaltsverein, viết tắt là DAV) giải thích (erklären). Phải có mối tương quan có thể nhận biết được rõ ràng (klar erkennbarer Zusammenhang) nó có liên quan đến công việc hành nghề (berufliche Tätigkeit) vì thế cho nên phải được sự bảo hiểm tai nạn theo luật định (gesetzliche Unfallversicherung) đảm bảo, theo quyết định của tòa án xã hội tiểu bang Hessen cho biết (zeigen). Hồ sơ thụ lý Az.: L 3 U 70/14.

Trường hợp (Fall): Một nữ công nhân (Mitarbeiterin) làm việc tại Điểm Dịch Vụ (Service-Points) tại nhà ga bên ngoài (Fernbahnhof) ở phi trường (Flughafen) Frankfurt đã nhận (entgegennehmen) một túi đeo vai bị để quên (liegengebliebener Rucksack) từ ban giám sát lối lên tàu (Bahnsteigaufsicht). Cô đã lập biên bản (protokollieren) đồ vật bên trong (Inhalt) túi đeo vai có sự hiện diện (im Beisein) của một bạn đồng nghiệp (Kollege). Sau đó (später) nhân viên (Beamte) cảnh sát Đức (Bundespolizei) xác định (feststellen) rằng tiền (Geld), nữ trang (Schmuck) và một máy vi tính cầm tay (Festplatte) bị thiếu (fehlen) trong vật tìm được (Fundsache). Họ đưa người phụ nữ (Frau) này đến bót cảnh sát (Polizeirevier) và ở đó cô phải cởi quần áo (nackt) để khám xét toàn thân (Leibesvisitation). Không (ohne) có kết quả (Ergebnis).
Bởi vì (aufgrund) biện pháp (Maßnahme) này nên người phụ nữ này mắc bệnh (erkranken) tâm lý (psychisch). Nhưng công ty bảo hiểm tai nạn (Unfallversicherung) từ chối (ablehnen) việc công nhận (Anerkennung) đây là một tai nạn lao động. Vì lẽ việc kiểm soát của cảnh sát (polizeiliche Kontrolle) liên quan đến một hành vi cá nhân (private Verrichtung) không liên hệ gì đến sự bảo vệ bảo hiểm tai nạn theo luật định, đó là sự biện giải (Begründung) của họ.

Phán quyết (Urteil): Tòa án xã hội tiểu bang Hessen lại thấy (sehen) khác (anders) và tuyên phán (verurteilen) buộc công ty bảo hiểm tai nạn lao động công nhận đây là một tai nạn lao động. Tác nhân (Auslöser) và nguyên nhân (Ursache) của các biện pháp cảnh sát thật sự đã có liên quan đến công việc nghề nghiệp của nữ công nhân này. Việc khám toàn thân vì thế không có tính cách cá nhân. Phụ nữ này đã thi hành công việc của họ đúng quy tắc (ordnungsgemäß). Các biện pháp không hợp lý (ungerechtfertigt) của cảnh sát đã gây trực tiếp (unmittelbar) cho người phụ nữ này có cảm giác (Gefühl) của sự thương xót (Ausgeliefertsein) , vô vọng (Hilflosigkeit) và bất lực (Ohnmacht), vì thế cho nên người này đã bị bệnh (erkranken).

Tin dpa, hình Marija Murat.

Thứ năm ngày 07.12.2017
Ngày càng ít sinh viên nhận tài trợ học vấn.

Tài trợ học vấn (Bafög) yếu kém (schwächeln) và phòng ở (Wohnraum) cho sinh viên (Student) vừa đủ (knapp):Những điều kiện (Bedingung) cho các học giả tương lai (angehende Akademiker) thường (oft) hoàn toàn khác hơn dự kiến.
Ngày càng ít (immer weniger) sinh viên nhận (bekommen) Bafög và vì thế (deshalb) phải đi làm (jobben) bên cạnh (neben) việc học (Studium) theo (laut) Tổ Chức Dịch Vụ Sinh Viên Đức (Deutsches Studentenwerk). Cho nên, tổ chức (Organisation) này đã gióng tiếng báo động (Alarm schlagen) hôm thứ tư (Mittwoch) tại Berlin và lên tiếng yêu cầu (auffordern) sự cải cách (Reform) việc tài trợ giáo dục (Bildungsförderung).
„Tài trợ học vấn Bafög đã mất (verlieren) ý nghĩa (Bedeutung) của nó đối với thế hệ (ganze Generation) sinh viên“, ông Dieter Timmermann, chủ tịch (Präsident) tổ chức này nói (sagen). Thật ra (zwar), số lượng sinh viên (Studentenzahl) đã đạt mức kỷ lục (Rekord), nhưng chỉ còn 18 phần trăm được tài trợ bằng Bafög. Đây là „mức thấp có tính lịch sử (historischer Tiefstand)“.
Theo Cục Thống kê Đức (Statistisches Bundesamt), số người nhận (Empfänger) Bafög trong năm qua tiếp tục (weiter) giảm (zurück gehen) 5,5 phần trăm còn 823.000 người. Trong số này có 239.000 học sinh (Schüler) và 584.000 sinh viên. Như vậy, tầm một phần năm (Fünftel) của khoảng 2,8 triệu sinh viên trong nước Đức nhận (beziehen) Bafög.
Trong nước Đức có 58 tổ chức dịch vụ sinh viên

Tin dpa, hình Rolf Vennenbernd.

Thứ hai ngày 04.12.2017
Chính phủ muốn tặng tiền thưởng cho việc tình nguện hồi hương của người xin tỵ nạn bị bác đơn

Chính phủ Đức (Bundesregierung) muốn gây hấp dẫn hơn (attraktiver) cho những người tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) tự nguyện hồi hương (freiwillige Rückkehr). Đến ngày 28 tháng hai (Februar) theo Bộ Nội Vụ Đức (Bundesinnenministerium) họ có thể làm đơn (beantragen) “tài trợ tái hội nhập” (Reintegrationsunterstützung) thêm (zusätzlich) cho đến (von bis zu) 3.000 Euro.
Các gia đình (Familie) có thể nhận (bekommen) tài trợ vật chất (Sachleistung) ví dụ (zum Beispiel) tiền mướn nhà (Miete), công việc xây dựng và tái thiết (Bau- und Renovierungsarbeit) hoặc trần thiết căn bản (Grundausstattung) cho bếp  (Küche) hoặc phòng tắm (Bad) trị giá đến 3.000 Euro; mỗi cá nhân (Einzelperson) đến 1.000 Euro. Như vậy, trong tháng hai sẽ mở rộng (erweitern) chương trình hồi hương đã khởi động (gestartetes Rückkehrprogramm) “giúp đở thêm cho sự bắt đầu” (Starthilfe plus) cho ba (drei) tháng liên quan đến phụ phí cư ngụ (Wohnkostenzuschuss) cái gọi là “quê hương bạn, tương lai bạn, bây giờ” (Dein Land, Deine Zukunft, Jetzt). Tờ “Hình Ảnh Ngày Chủ Nhật” (Bild am Sonntag) đã tường thuật (berichten) đầu tiên (zuerst) về sự mở rộng chương trình (Programmerweiterung) này.

Cho đến nay (bislang), người tỵ nạn /Flüchtlinge) nhận (erhalten) trước khi (vor) quyết định (entscheiden) kết thúc (Abschluss) thủ tục tỵ nạn (Asylverfahren) cho việc hồi hương và rút đơn (zurücknehmen) đơn xin tỵ nạn (Asylantrag) là 1.200 Euro, trẻ em 600 Euro. Nghĩa là, một gia đình với một trẻ (Kind) có thể nhận 3.000 Euro, và khi tham gia (Inanspruchnahme) chương trình mới thì gấp đôi (Doppelte).
Ông Thomas de Maizière (CDU), Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister) kêu gọi (appellieren) trên tờ “Bild am Sonntag” rằng, những người có bổn phận rời khỏi (Ausreispflichtigte) nước Đức hãy sử dụng (Gebrauch machen) việc cung ứng này (Angebot). Ông nói; “Khi bạn đến cuối (Ende) tháng hai quyết định (sich entscheiden) tự nguyện hồi hương, thì ngoài (neben) sự giúp đở cho sự bắt đầu lần đầu tiên (ertsmal) Bạn còn nhận được sự tài trợ chi phí cư ngụ cho 12 tháng đầu tiên trong quê hương (Herkunftsland) của Bạn.”
Sự hỗ trợ việc hồi hương cho đến nay theo tờ “Bild am Sonntag” giữa (zwischen) tháng hai và mười (Oktober) 2017 chỉ có 8.639 người tham gia. Theo (zufolge) tờ báo thì hiện có 115.000 người đã bị bác đơn xin tỵ nạn sống (leben) trong nước Đức. 80.000 trong số này hiện vẫn được tạm dung (dulden); 35.000 quyết định trục xuất (Ausreiseentscheidung) theo bộ nội vụ đã có hiệu lực pháp lý (rechtsgültig) từ tháng giêng (Januar) đến tháng chín (September). Trong cùng khoản thời gian này (gleicher Zeitraum) đã có 19.520 người bị trục xuất (abschieben).

Tin dpa, hình Uwe Zucchi.

Thứ bảy ngày 02.12.2017
Nộp giấy khai thuế đến cuối năm.

Nhiều người đóng thuế (Steuerzahler) phải nộp (abgeben) giấy khai thuế (Steuererklärung) đến cuối năm (Ende des Jahres). Để thời hạn (Frist) không bị lãng quên (vergessen), họ cần xem lại (prüfen) trách nhiệm nộp (Abgabepflicht).
Không phải người đóng thuế nào cũng phải nộp giấy khai thuế lợi tức (Einkommenssteuererklärung). Những nhân viên (Angestellte) không có (ohne) thu nhập khác (sonstige Einkunft) hoặc vợ chồng cùng lao động (Arbeitnehmer-Paar) có thuế bậc IV/IV trên nguyên tắc (in der Regel) được miễn (befreit) khai báo. Nhưng họ cũng có thể tự nguyện (freiwillig) nộp (einreichen) Ty Tài Chánh (Finanzamt) giấy khai thuế, Liên Hội Người Đóng Thuế (Bund der Steuerzahler) tại Berlin giải thích (erklären). Điều này vẫn có lợi, khi họ dự tính (rechnen) có thể được hoàn trả ít nhiều (mehr oder weniger) khoản tiền thuế đã đóng (Steuererstattung).
Luật pháp (Gesetz) cho phép (einräumen) người đóng thuế trong trường hợp (Fall) này phải nộp giấy khai báo thuế trong vòng bốn (vier) năm. Sau đó việc tự nguyện nộp giấy khai thuế lợi tức cho Ty Tài Chánh không còn được chấp nhận (akzeptieren). Việc khai thuế cho năm 2013 vì thế trên nguyên tắc (grundsätzlich) đến ngày 31 tháng 12 năm 2017
phải nộp cho ty Tài Chánh. Điều quan trọng (Wichtiges) cần để ý (beachten) là: Ngày 31.12.2017 rơi (fallen) vào ngày chủ nhật (Sonntag), cho nên thời hạn (Termin) được chuyển sang (sich verschieben) ngày thứ ba 02.01.2018 cho việc nộp giấy khai thuế của năm 2013.
Giấy khai thuế phải cho chính đương sự ký tên, bằng không sẽ không có hiệu lực và không được Ty tài Chánh chấp nhận.

Tin dpa, hình Silvia Marks

 

Thứ sáu ngày 01.12.2017
Số người thất nghiệp xuống mức kỷ lục, tháng mười một tuyệt vời kể từ 1991

Cho dù mùa đông (Winter) đag đứng trước cửa (Tür) nhưng số người thất nghiệp (Arbeitslose) trong tháng mười một (November) hoàn toàn (kaum) không bị ảnh hưởng. Nhờ (dank) hợp đồng đầy ắp (volle Aufträge) của nhiều doanh nghiệp (Unternehmen), nên con số người thất nghiệp (Erwerbslosenzahl) giảm (sinken) tiếp tục (weiter). Và tình trạng thất nghiệp của người tỵ nạn (Flüchtlings-Arbeitslosigkeit) cũng có dấu hiệu sáng sủa đầu tiên (erster Lichtblick).
Cho nên sự thất nghiệp tại Đức vẫn tiếp tục ở mức thấy kỷ lục (Rekordtief). Con số 2.368 triệu người thất nghiệp lần cuối (zuletzt) là mức thấp nhất trong tháng mười một (niedrigster Novemberstand) kể từ năm 1991, theo Cục Lao Động (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA) tại Nürnberg thông báo (mitteilen).
Như vậy có 20.000 người tìm việc (Jobsucher) ít hơn tháng mười (Oktober), thậm chí (sogar) 164.000 người ít hơn năm ngoái (Vorjahr). Chỉ số thất nghiệp (Arbeitslosenquote) giảm khoảng 0,1 điểm còn 5,3 phần trăm.„

Tin dpa, hình Julian Stratenschulte.

875 Tổng số lượt xem 2 lượt xem ngày hôm nay