» » Tin Đức Quốc tháng 10.2017

Tin Đức Quốc tháng 10.2017

Thứ bảy ngày 28.10.2017
Những vụ tấn công trại tỵ nạn ngày càng giảm đi.

Trong nhiều vụ có liên quan đến hành vi tuyên truyền phạm pháp (Propagandadelikt), làm hư hại vật chất (Sachbeschädigung) và hành động phạm pháp về bạo hành (Gewalt). Dù vậy, con số các vụ tấn công (Angriff) các trại tỵ nạn (Asylunterkunft) theo một bài báo (Medienbericht) trong năm 2017 đã giảm (rückläufig). Đến ngày 23 tháng mười (Oktober) chỉ ghi nhận (registrieren) có 226 hành vi phạm pháp (Straftat), theo tờ „Heilbronner Stimme“ chiếu theo (mit Verweis) con số của Cục Hình Sự Liên Bang (Bundeskriminalamt, viết tắt là BKA).
Cả năm (Gesamtjahr) 2016, theo các điều tra viên (Ermittler) của các cơ quan an ninh (Sicherheitsbehörde) vẫn còn đến 995 vụ hình sự tấn công các trại tỵ nạn. Năm 2015 cả nước (bundesweit) có 1031 vụ.
Trong số các hình sự cho đến nay, trong năm 2017 có 213 vụ phạm pháp (Delikte) có xu hướng khuynh hữu (rechtsmotiviert), còn 13 vụ còn lại chưa rõ có xu hướng chính trị nào, theo tờ báo (Zeitung).

Tin dpa, hình TNN

Thứ sáu ngày 27.10.2017
Mạ lỵ chủ nhân chỉ là vấn đề của cách chọn chữ!

Một âm thanh đối xử thân thiện (freubdlicher Umgangston) giữa (zwischen) công nhân (Arbeitnehmer) và thượng cấp (Vorgesetzte) là điều không thể thiếu cho một không khí làm việc tốt đẹp trong công ty (positives Betriebsklima). Nhưng (jedoch) khi một cộng sự viên (Mitarbeiter) mạ lỵ (beleidigend) xếp (Chef) thì sự cố (Vorfall) này tùy trường hợp (unter Umstand) có thể đồng nghĩa (bedeuten)) với việc sa thải vô điều kiện (fristlose Kündigung).
Mặt khác, nhân viên cũng không được phép mạ lỵ xếp qua Whatsapp. Tuy nhên (allerdings) việc đánh giá theo luật lao động (arbeitsrechtliche Bewertung) thì nội dung (Inhalt) sự mạ lỵ và phạm trù vụ việc (Kontext) đóng một vai trò (Rolle spielen) rất quan trọng (wichtig).
Chẳng hạn một từ chửi bình thường (harmloses Schimpfwort) như „đồ ngu“ (Dusselkopf) sau 20 năm làm việc (Beschäftigung) cũng chỉ là một sự cảnh cáo (Abmahnung) và không đến nổi phải đuổi việc vô điều kiện. Chiếu theo quyết định (Entscheidung) của tòa án lao động (Arbeitsgericht) Köln, hồ sơ thụ lý số Az.: 13 Ca 247/16, được Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltsverein) lưu ý (hinweisen).

Tin dpa, hình Henning Kaiser

Thứ tư ngày 25.10.2017
Sự đói nghèo của 21 phần trăm trẻ em tại Đức là một đề tài luôn được đề cập đến.

Sự đói nghèo (Armut) trong nước Đức thường (oft) được thừa kế (vererben) từ thế hệ (Generation) này sang thế hệ khác. Theo (laut) một cuộc khảo sát (Studie), trẻ em (Kinder) không thể (kaum) thoát ra được (entkommen) số phận (Schicksal) này. Vì thế, các soạn giả (Autor) yêu cầu (fordern) nên có sự suy nghĩ lại (Umdenken) chính sách (Politik).
Có hơn (mehr als) một trong năm trẻ em trong nước Đức sống (leben) lâu hơn (länger) trong tình huống nghèo nàn (armes Verhältnis). Thêm 10 phần trăm trẻ em trong nước Đức ít ra (zumindest) bị đói nghèo bởi một hiện tượng nhất thời (zwischenzeitliches Phänomen).
„Sự đói nghèo của trẻ em (Kinderarmut) trong nước Đức là một tình trạng lâu dài (Dauerzustand). Ai một lần (einmal) nghèo, thì sẽ nghèo dài dài. Tuy nhiên, đối với một số gia đình, họ có thể tự thoát ra (sich befreien) cảnh nghèo đói“, theo ông Jörg Dräger, chủ tịch tổ chức (Stiftungsvorstand), phát biểu (sagen) về kết quả (Ergebnis) cuộc khảo sát đã được công bố (veröffentlichen) và thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết được (vorliegen).

Một trẻ em được kể là có nguy cơ đói nghèo (armutsgefähdert) là trẻ sống trong một gia đình có (verfügen) ít hơn (weniger) 60 phần trăm thu nhập ròng trung bình của gia đình (durchschnittliches Haushaltsnettoeinkommen) hoặc (oder) nhận (erhalten) trợ cấp căn bản để sinh sống (Grundsicherung) của nhà nước (Staat). Có bao nhiêu trẻ sống trong tình huống đói nghèo, điều này được biết đến (bekannt). Nhưng (aber) mới (neu) là: Các nghiên cứu gia (Forscher) đã khảo sát (untersuchen) suốt khoảng thời gian (Zeitraum) từ 2011 đến 2015 và phát hiện hoàn cảnh xã hội (soziales Milieu) không rõ ràng (undurchlässig) như thế nào.
Theo tồ chức Bertelsmann, sự đói nghèo đối với trẻ em là một sự từ bỏ (Verzicht). Việc chăm sóc căn bản (Grundversorgung) trên nguyên tắc vẫn được đảm bảo (gewährleisten), nhưng họ bị tách rời (abkoppeln) khỏi cuộc sống xã hội (gesellschaftliches Leben). Để có thể đo đạt được (messbar), các khoa học gia (Wissenschaftler) hỏi (fragen) có 23 loại sản vật (Güter) và quan điểm (Aspekt) về sự thiếu thốn (fehlen) trong gia đình từ những lý do tài chánh (finanzieller Grund). Trong số đó (darunter) là không được đi xem chiếu bóng (Kinobesuche), mời (einladen) bạn bè (Freunde), máy vi tính (Computer) có nối mạng (Internetzugang) hoặc có một căn hộ đủ lờn (ausreichend große Wohnung).
Trẻ em trong tình trạng nghèo đói triền miên theo cuộc khảo sát thì trung bình (im Schnitt) thiếu 7,3 sản vật đã hỏi. Những trẻ đang trong tình trạng nghèo đói cho biết (angeben) trung bình phải từ bỏ 3,4 vật (Ding). Còn trẻ sống trong hoàn cảnh đảm bảo thì trung bình thiếu 1,3 trong số 23 sản vật nêu ra bởi lý do tài chánh.

„Chính sách xã hội tương lai (zukünftige Sozialpolitik) phải đánh đổ (durchbrechen) sự thừa kế (Vererbung) của nghèo đói. Trẻ em không thể tự mình thoát ra khỏi cảnh nghèo đói – vì thế (deshalb) chúng phải có quyền (Anrecht) được đảm bảo sự sống (Existenzsicherung) và tạo cho chúng điều kiện (ermöglichen) có cơ hội trung thực (faire Chance) và sự trưởng thành tốt đẹp (gutes Aufwachsen), theo ông Dräger. Vì thế cho nên nền chính trị không thể đối xử (behandeln) trẻ em như người lớn còn bé (kleine Erwachsene), mà (sondern) phải làm mới (neumachen) việc trợ cấp theo chính sách gia đình cho đến nay (bisherige familienpolitische Leistung) và giúp đỡ (helfen) chúng không có tính cách quan liêu (unbürokratisch).

Nguy cơ đó nghèo (Armutrisiko) của những người sống một mình nuôi con (Alleinerziehende) theo một bài tường thuật (Bericht) của tờ bào „Saarbrücker Zeitung“ trong những năm qua tăng (erhöhen) thấy rõ (spürbar). Năm 2016 đã có 43,6 phần trăm các nhóm quần chúng (Bevölkerungsgruppe) sống với mức thu nhập thấp (geringe Einkunft). Trong năm 2005 chỉ có 39,3 phần trăm. Tờ báo quy chiếu (sich berufen) theo những dữ liệu mới nhất (aktuelle Daten) của chính phủ Đức (Bundesregierung) được bà Sabine Zimmermann, nữ chuyên gia về xã hội (Sozialexpertin) thuộc đảng khối Tả khuynh trong quốc hội (Linksfraktion) hỏi (abfragen). Qua đó, rõ ràng (deutlich) đã có hơn một trong ba hộ gia đình (Haushalt) của những người sống một mình nuôi trẻ dưới tuổi thành niên (minderjährige Kinder) sống lệ thuộc 8angewiesen) vào trợ cấp căn bản đảm bảo cuộc sống cho người tìm việc (Arbeitssuchende), cái gọi là trợ cấp dạng Hartz-IV. Thành phần này chiếm 36,9 phần trăm. Như vậy con số tuyệt đối (absolute Zahl) là 606.000 – gần (knapp) 42.000 nhiều hơn năm 2005.

Tin dpa, hình tiêu biểu Jörg Carstensen.

Thứ ba ngày 24.10.2017
Cố gắng đè nén, làm sao biết được đó là chứng ép buộc.

Có phải máy cà phê (Kaffeemaschine) đã tắt rồi (ausmachen) và cánh cửa nhà (Tür) thật sự (richtig) đã khóa chưa (abschließen)? Đã làm rồi, nhưng cũng kiểm tra lại (kurz überprüfen) xem có quên (vergessen) hay không. Điều này chắc chắn (sicher) không nguy hại (schädlich), nhưng cũng có thể ngược lại (im Gegenteil). Nhưng kể từ lúc nào (ab wann) thì những hành động (handlung) như vậy trở thành một sự ép buộc hay cưỡng hành (Zwang)
Ai cũng đã không từng kiểm tra lại xem cánh cửa nhà có thật sự được khóa hay chưa và đa phần (meistens) rửa (sich waschen) tay (Hand) mấy lần (ein paar Mal) trong ngày (am Tag). Những hành động như vậy cũng có thể có tính chất cưỡng bức (zwanghaft).
Đó là trường hợp (Fall), khi người ta hoàn toàn (kaum) không thể đè nén (unterdrücken) được nữa. Khi họ tìm cách (versuchen) đè nén nó, thì họ có cảm giác bất an (unruhig), căng thẳng (angespannt) hoặc sợ sệt (Angst), Viện Phẩm Chất và Tiết Kiệm trong Y Tế Vụ (Institut für Qualität und Wirtschaftlichkeit im Gesundheitswesen, viết tắt là IQWIG)
Những ý nghĩ bị cưỡng bức tiêu biểu (typische Zwanggedanke) ngoài sự sợ sệt quên chưa làm điều gì đó hoặc sợ mầm gây bệnh (Keime) còn có đến 20 loại gọi là „cưỡng bức ngăn nắp“ (Ordnungszwang), nghĩa là đồ vật (Ding) phải được sắp xếp (anordnen) có ngăn nắp (Ordnung) hoàn toàn theo một hình thức hay dạng nhất định (ganz bestimmte Art und Weise).
Những bệnh nhân này có thể được học (lernen) một phương pháp trị liệu (Therapie) để lần hồi (langsam) có thể kiểm soát (kontrollieren) được những ý nghĩ cưỡng bách và để cuộc sống của họ không còn (nicht mehr) bị hạn chế (einschränken). Việc giao lưu (Austauschen) trong một nhóm tự giúp (Selbsthilfegruppe) đôi khi (manchmal) cũng có thể giúp đỡ (helfen) cho họ rất nhiều.

Tin dpa, hình Tobias Hase.

Thứ hai ngày 23.10.2017
Hầu như một trong hai người lao động dù bị bệnh vẫn đi làm.

Kết quả một cuộc thăm dò ý kiến mới nhất (aktuelle Umfrage) cho biết có nhiều công nhân (Arbeitnehmer) dù có nhiều triệu chứng bệnh hoạn có thể cảm nhận được (spürbare Krankheitssymptom) nhưng vẫn muốn đi làm (Arbeit aufnehmen). Chỉ có một số ít (kleiner Teil) muốn ở nhà (zuhause) dưỡng bệnh (auskurieren) và như vậy sẽ tránh lây bệnh (eventuelle Ansteckung) đến đồng nghiệp (Kollegen).
Gần (knapp) một nửa (Hälfte) người lao động (Berufstätige) trong nước Đức ít ra (wenigstens) đôi khi (ab und zu) vẫn đi làm khi bị bệnh, theo kết quả sự thăm dò ý kiến của công ty GfK được tạp chí (Zeitschrift) „HausArzt“ (Bác Sĩ Gia Đình) ủy nhiệm (beauftragen) thực hiện (durchführen).
46 phần trăm người được hỏi cho biết trong 12 tháng qua không ở nhà dù họ có cảm giác (sich fühlen) bị bệnh (krank). Nữ giới thậm chí (sogar) có đến 50 phần trăm dù bệnh vẫn đi làm; nam giới thì thấp hơn (niedriger) với 43 phần trăm.
Và có khoảng một phần ba (Drittel) người được hỏi ý kiến (Befragte), 32 phần trăm, cho biết trong năm qua họ chưa hề có cảm giác ốm đau. Cuộc thăm dò ý kiến này đã được GfK thực hiện đầu (Anfang) tháng tám (August) năm 2017 và có 600 công nhân viên tại Đức được hỏi ý kiến (befragen).

Tin dpa, hình Oliver Berg.

Chủ nhật ngày 22.10.2017
Chơi thể thao lúc nghĩ bệnh có thể bị đuổi việc.

Ai bị thương chân (Fußverletzung) được phép nghỉ bệnh (krankschreiben) thì không nên tham dự (teilnehmen) chạy vượt chướng ngại (Hindernislauf). Một cảnh sát (Polizist) trong thời gian làm thử (Probe) vẫn xem thường (trotzdem) nên bị sa thải (Kündigung). Người này đã kiện (vor Gericht ziehen).
Người nào được nghỉ bệnh, phải nằm trên giường (im Bett liegen) suốt thời gian (ganze Zeit) bị bệnh. Khi một công nhân (Beschäftigte) không thể làm việc (arbeitsunfähig) vì một thương tích (Verletzung), thì họ tốt nhất (besser) không nên tham gia một chương trình thể dục thể thao (Sportveranstaltung) nào cả.
Ít nhất (zumindest) một nhân viên phục vụ nhà nước (Staatsdiener) như cảnh sát cũng có nguy cơ bị đuổi lập tức (sofortige Entlassung). Chiếu theo quyết định (Entscheidung) của Tòa Án Hành Chánh (Verwaltungsgericht) Cottbus, hồ sơ thụ lý số Az.: 4 L 110/17, được tòa sọan (Verlag) „Bunt“ (Màu Sắc) lưu ý (hinweisen).

Trường hợp (Fall) của một cảnh sát viên đã tham gia cuộc chạy vượt chướng ngại 16 cây số. Ít ra (immerhin) ông đã chiếm hạng 127 trong số 649 tham dự viên (Teilnehmer), ông bất chấp (zum Trotz) các chướng ngại vật (Hindernisse) cũng như hố bùn (Schlammgraben) và bãi cát (Sandkuhlen). Kế đến (anschließend), ông đã liên hoan (feiern) sự thành công chơi thể thao (sportlicher Erfolg)  trên Facebook. Đồng thời (gleichzeitig) ông đang có giấy chứng nhận của bác sĩ (ärztlicher Attest) được nghĩ bệnh vì bị thương tích ở chân.
Liền sau đó (dadraufhin), ông bị tiểu bang (Land) Brandenburg sa thải (entlassen) khỏi công việc (Dienstverhältnis) đang làm thử (auf Probe). Người này đã kiện ra tòa – nhưng không thành công (ohne Erfolg). Hành vi (Verhalten) của ông là một sự lạm dụng trắng trợn nặng nề (außergewöhnlich schwerer Missbrauch) việc nghỉ bệnh (Krankschreibung)  và năng cách (charakterische Eignung) cho cảnh sát vụ (Polizeidienst) rất khả nghi (zweifelhaft), theo quan điểm (Ansicht) của các vị thẩm phán (Richter)

Tin dpa, hình Tobias Hase.

Thứ bảy ngày 21.10.2017
Các nhà nghiên cứu dự kiến có khoảng 120.000 người tỵ nạn đến Đức trong diện đoàn tụ gia đình.

Việc đoàn tụ gia đình (Familiennachzug) của những người tỵ nạn (Flüchtlinge) đến Đức trong những năm 2015 và 2016 theo các nghiên cứu gia (Forscher) cho biết có thể lên đến con số từ 100.000 đến 120.000 phụ nữ (Frauen) và trẻ em (Kinder).
Nhiều người đến Đức xin tỵ nạn (Asylbewerber) trong năm 2015 và 2016 còn trẻ (jung) và độc thân (ledig); chỉ có 46 phần trăm kết hôn (verheiraten); còn 43 phần trăm là trẻ em, theo ông Herbert Brücker, nghiên cứu gia về di dân (Migrationsforscher), tường thuật (berichten) trong một cuộc khảo sát (Studie) của Viện Nghiên Cứu Thị Trường Lao Động và Nghề Nghiệp (Institut für Arbeitsmarkt- und Berufsforschung, viết tắt là IAB) tại Nürnberg.
Những người tỵ nạn đã kết hôn ngược lại (wiederum) đa phần (meist) đến Đức cùng hôn phối (Ehepartner) và con cái. Chỉ có 27 phần trăm người tỵ nạn đã kết hôn để lại (zurücklassen) hôn phối của họ tại quê hương (Herkunftsland) hoặc quốc gia quá cảnh (Transitland).
Số trẻ em để lại khoản 31 phần trăm, theo các nghiên cứu gia. Viện này đã quy chiếu (sich berufen) kết quả cuộc thăm hỏi ý kiến (Befragung) 4.800 người tỵ nạn của Cục Liên Bang về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF) và thực hiện (durchführen) trong nửa năm sau (zweites Halbjahr) 2016.

Tin dpa, hình Carsten Rehder

Thứ sáu ngày 20.10.2017
Các tiểu bang muốn trục xuất nhanh chóng những người nhập cư phạm pháp.

Hàng chục ngàn người xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) theo luật pháp (rechtlich) họ có bổn phận (verpflichten) phải rời khỏi (verlassen) nước Đức. Tiểu bang có thẩm quyền (zuständig) thực hiện (einleiten) việc trục xuất (Abschiebung). Nay họ muốn trục xuất lập tức (sofort) đặc biệt (insbesondere) là những tội phạm (Straftäter). Liệu các tiểu bang có nhận được sự giúp đỡ như mong muốn (erhoffte Hilfe) của liên bang (Bund) hay không?.
Những vị lãnh đạo chính quyền các tiểu bang (Regierungschef) sẳn sàng làm mạnh việc trục xuất nhanh (schnell) và cụ thể (konsequent) đối với những phần tử xin tỵ nạn phạm pháp (kriminelle Asylbewerber).
Từ bao nhiêu năm nay (seit Jahren), liên bang và các tiểu bang (Bundesländer) đã tranh cãi (streiten) về đường hướng (Kurs) trục xuất và những trở ngại khả thi đối với việc trục xuất (mögliche Abschiebe-Hemmnisse). Giữa (Mitte) năm nay, số người có bổn phận phải ra khỏi nước Đức (Ausreispflichtigte) theo cơ quan trung ương ghi nhận người ngoại quốc (Ausländerzentralregister) có tổng cộng (insgesamt) là 226.457 người. Đa phần trong số này, gần (fast) 160.000 được tạm dung (Duldung) trong nước Đức, chẳng hạn vì bệnh hoạn (Krankheit) hoặc đang học tập (Ausbildung).
Số còn lại (Rest) khoảng (etwa) 67.000 chưa có một tác động (Aufschub) cho việc rời khỏi nước Đức. Tuy nhiên (allerdings) số người phải rời khỏi ước Đức dường như (vermutlich) ít hơn (weniger) con số đã nêu ra. Các cơ quan công quyền (Behörde) thú nhận (einräumen) rằng, đã có sự thiếu sót về thống kê (statistische Mängel) của cơ quan trung ương ghi nhận người ngoại quốc.

Tin dpa, hình Ralf Hirschberger.

Thứ năm 19.10.2017
Hiến máu thường xuyên có thể hỗ trợ sức khỏe.

Người hiến máu thường xuyên (regelmäßiger Blutspender) hiếm khi (seltener) bị nhồi máu cơ tim (Herzinfakt), theo các chuyên gia (Expert). Việc hiến máu (Blutspenden) thậm chí (sogar) nói chung (insgesamt) có tác dụng (auswirken) khả quan (positiv) cho phẩm chất sống (Lebensqualität) con người.
„Kết luận (Schluss) rằng, việc hiến máu thường xuyên có hiệu năng tốt (positive Effekte) đặc biệt cho hạnh phúc (Wohlbefinden) nói chung và sức khỏe (Gesundheit) những người cao huyết áp (Bluthochdruck)“, ông Andreas Michalsen Tổ Chức Đức về Y Khoa Truyền Dịch và Huyết Học Miễn Dịch (Deutsche Fesellschaft für Transfusionsmedizin und Immunhämatologie, viết tắt DGTI) hôm thứ hai (Montag) vừa qua.
Rất tiếc (leider), số người hiến máu tại Đức đã giảm (zurückgehen). 2010 vẫn còn (noch) tầm (knapp) năm (fünf) triệu người hiến máu thường xuyên; năm 2016 chỉ còn bốn (vier) triệu người. Không chỉ có lợi lạc (profitieren) cho người nhận (Empfänger), mà còn cho cả người hiến (Spender).
„Những người thường xuyên hiến máu, không những biết áp huyết (Blutdruck) của họ, vì nó được đo (messen) trong khuôn khổ (Rhamen) kiểm tra y tế (ärztliche Untersuchung) mỗi lần hẹn (jeder Termin), mà cũng ít bị các chứng bệnh (erkranken) nhồi máu cơ tim hơn những người không hiến máu!“, bà Birgit Gathof, Nữ Giám Đốc (Leiterin) Khoa (Abteilung) Y Khoa Truyền Dịch của bệnh viện đại học (Uniklinik) Köln phát biểu (sagen). Đây là kết quả của nhiều công trình khảo sát (mehere Studien).

Giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) cùng với (gemeinsam) các nghiên cứu gia (Forscher) khác đã xác minh (belegen) rằng, việc hiến máu làm cho (verursachen) mất máu (Blutverlust) và có tác dụng (bewirken) hạ (Senkung) áp huyết. Đây là một thông tin (Information) quan trọng (wichtig) khi người ta suy nghĩ (bedenken) rằng chỉ cần (schon) giảm (Minderung) áp huyết ít nhất (geringst) cũng có thể phòng chống (schützen) những bệnh tim mạch (Herz-Kreislauf Erkrankung). Việc giảm áp huyết (Blutdruckminderung) thông thường (meist) kéo dài (anhalten) sáu (sechs) tuần lễ (Woche) sau khi hiến máu.
Các chuyên gia sẽ thảo luận (diskutieren) về ảnh hưởng (Einfluss) việc hiến máu của những người cao áp huyết trong hội nghị thường niên (Jahrestagung) lần thứ 50 của Tổ Chức Đức về Truyền Dịch và Huyết Học Miễn Dịch từ 24 đến 27 tháng mười (Oktober) tại Köln.

Tin dpa, hình Jan Woitas.

 

Thứ tư ngày 18.10.2017
Công ty đường sắt Đức tăng gía vé – vé tàu đường xa tăng gần một phần trăm.

Di chuyển (Reise) bằng đường sắt (Bahn) sẽ mắc hơn (teuer). Công ty (Unternehmen) này cho rằng đó là một sự gia tăng vừa phải (moderate Erhöhung) – không chỉ có giá trị cho các tuyến đường (Strecke) từ Berlin đến München trên các đoạn mới xây (Neubaustrecke).
Công ty đường sắt Đức (Deutsche Bundesbahn, viết tắt là DB) tăng (erhöhen) vé tàu (Fahrpreise) vào thời điểm đổi giờ khởi hành (Fahrplanwechsel) vào ngày 10 tháng mười hai (Dezember) trung bình 0,9 phần trăm. Các vé tàu (Fahrschein) trọn giá (volle Preis, hay gọi là Flexpreis) hạng hai (zweite Klasse) trung bình (durchschnittlich) mắc hơn (teurer) 1,9 phần trăm, hạng nhất (erste Klasse) mắc hơn 2,9 phần trăm, theo công ty này thông báo (mitteilen).
Hiệp Hội Khách Tàu (Fahrgastverband) „Pro Bahn“ đánh giá (bezeichnen) việc tăng giá (Preiserhöhung) „dưới mức khả thi“ (unterm Strich vertretbar), cho dù (auch wenn) công ty đường sắt cho rằng tăng 0,9 phần trăm „có phần hơi cao“.
Ngay trước đây một tháng, các công ty đường sắt địa phương của Đức (deutsche Regionalbahn) đã công bố (bekanntmachen) việc lên giá vé. Mức giá (Preisniveau) lưu thông địa phương (Regionaverkehr) theo đó tăng 2,3 phần trăm. Vé đơn (Einzelticket) cho lưu thông gần (Nahverkehr) mắc hơn trung bình 2,4 phần trăm.
Trước đây một năm, công ty đường sắt Đức (DB) đã tăng trung bình 1,3 phần trăm. Giá Flex đạ tăng (anheben) 1,9 phần trăm.

Tin dpa, hình Franziska Kraufmann.

  

Thứ ba ngày 17.10.2017
Khi nào việc làm phụ của sinh viên phải đóng bảo hiểm

Nhiều sinh viên (Student) phải kiếm thêm tiền (etwas dazuverdienen) bên cạnh sự học (Studium) để đủ sống (über die Rundenkommen). Không phải (nicht immer) việc làm phụ (Nebenjob) nào cũng (auch) phải đóng bảo hiểm (versicherungspflichtig). Sự khác biệt (Unterschiede) được Tổng Hội Bảo Hiểm Hưu Trí Đức (Deutsche Rentenversicherung Bund) giải thích (erklären).
Nếu sinh viên làm việc (arbeiten) vô thời hạn (unbefristet) bên cạnh sự học và kiếm thêm không quá (nicht mehr als) 450 Euro mỗi tháng (monatlich), thì trên nguyên tắc (grundsätzlich) họ phải có bổn phận đóng bảo hiễm hưu trí theo luật định (gesetzlich), theo lưu ý (Hinweise) của Tổng Hội Bảo Hiểm Hưu Trí Đức.
Khoản đóng (Beitrag) hiện nay (derzeit) là 3,7 phần trăm số thu nhập (Einkommen). Việc đóng bảo hiểm này sẽ mang đến cho họ những quyền lợi (Anspruch) như trợ cấp cho việc khôi phục sức khỏe (Rehabilitationsleistung), tiền hưu trí khi bị giảm sức lao động (Erwerbsminderungsrente) và phụ cấp (Zulage) tiền hưu trí (Rente) loại Riester.
Điều cũng nên cần biết là, đương sự có thể làm đơn (Antrag stellen) nơi chủ nhân (Arbeitgeber) xin miễn (Befreiung) bổn phận đóng bảo hiểm (Versicherungspflicht). Như vậy (dadurch) sẽ không còn bổn phận đóng phí bảo hiểm (beitragszahlung), nhưng mà cũng mất đi các khoản bảo hiểm nêu trên (Absicherung). Ai kiếm hơn 450 Euro mỗi tháng, dĩ nhiên phải đóng bảo hiểm.
Nếu công việc làm ngay từ đầu (von beginn) tối đa (höchstens) ba (drei) tháng (Monat) hoặc (oder) 70 ngày làm việc (Arbeitstage) trong năm theo lịch (Kalenderjahr), thì sinh viên được miễn đóng bảo hiểm (versicherungsfrei), nghĩa là không phải đóng phí bảo hiểm. Cũng như trong lúc (während) thực tập (Praktikum), sinh viên cũng không phải đóng bảo hiểm. Thời gian làm việc (Arbeitszeit) và số tiền kiếm được (Verdienst) không quan trọng trong cả hai trường hợp (Fall) trên.

Tin dpa, hình Axel Heimken.

 

Thứ hai ngày 16.10.2017
Khai thuế không cần thiết đối với người hưu trí

Việc khai thuế (Steuererklärung) tốn (kosten) thì giờ (Zeit) và tâm trí (Nerven). Điều này đối với người cao tuổi (ältere Menschen) nay không cần thiết (nicht nötig). Bởi vì đối với nhiều người hưu trí (Rentner) thì việc khai thuế hoàn toàn không cần thiết (gar nicht notwendig). Có tính quyết định (entscheidend) là khoản miễn thuế (Freibetrag).
Phần đông người hưu trí trong nước Đức như trước đây (wie vor) không phải đóng (zahlen) thuế (Steuer). Tuy nhiên (allerdings) con số người già (Senioren) phải đóng thuế (steuerpflichtig) ngày càng cao (stetig zunehmen), tổ chức giúp thuế lương (Lohnsteuerhilfe, viết tắt là Lohi) tại Bayern giải thích (erklären).
Lý do (Grund): Năm hưu trí mới (neuer Rentnerjahrgang) luôn có một khoản miễn thuế không nhiều (geringer Freibetrag), nhưng chính khoản đóng thuế ít ỏi đó (geringer Steuerbezug) cũng bị đánh thuế, như trường hợp (Fall) của những người hưu trí trước đó.
Người nào bắt đầu hưu trí (Rentenbeginn) trong năm 2017, nếu tiền hưu tổng cộng (Bruttorente) mỗi năm (jährlich) khoảng 14.208 Euro thì không bị đánh thuế (Steuerbelastung). Đối với người hưu trí năm 2016 thì số tiền hưu mỗi năm khoảng 14.673 Euro. Với điều kiện là không được phép có thu nhập khác (weitere Einkünfte).

Tin dpa, hình Hans-Jürgen Wiedl

 

Chủ nhật ngày 15.10.2017
Bốn trong số năm công nhân than thở về những gánh nặng tâm lý.

Áp lực tâm lý (psychischer Druck) ở chỗ làm (Arbeitsplatz) ngày càng tăng (steigen). Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) cho biết, rất nhiều công nhân (Beschäftigte) than thở (klagen) về nhiều chịu đựng cao (hohe Belastung), đặc biệt (besonders) đối với một nhóm nghề (Berufsgruppe) nào đó.
Nặng nhọc (anstrengend) cơ thể (Körper) là công việc (Arbeit) chỉ (nur) đối với một thiểu số (Minderheit) người lao động. Đồng thời (gleichzeitig), phần lớn (Großteil) người lao động than phiền về áp lực tâm lý cao (hoher psychischer Druck) nơi chỗ làm, trích kết quả thăm dò ý kiến tiêu biểu (repräsentative Umfrage) của tổ chức Forsa được tổ chức kiểm tra (Prüforganisation) Dekra ủy nhiệm thực hiện (beauftragen).
Tầm (knapp) bốn (vier) trong số năm (fünf) công nhân (Arbeitnehmer) – 79 phần trăm, đánh giá gánh nặng tâm lý (psychische Belastung) ở chỗ làm „cao“ (hoch) hoặc „rất cao“ (sehr hoch) đối với hầu hết các nhóm nghề (Berufsgruppe) và tuổi tác (Altersgruppe).
Đặc biệt cao đối với nhân viên công chức (Beamte) với 92 phần trăm. Cũng như đối với công nhân trẻ tuổi đến 34, chỉ số lên đến 78 hoặc (beziehungsweise) 74 phần trăm, đây là một con số không nhỏ (nicht gerade klein).

Ngược lại (dagegen), sự khác biệt lớn nhất (größte Unterschiede) liên quan đến gánh nặng về cơ thể (körperliche Belastung). Có 78 phần trăm công nhân (Arbeiter) đánh giá „cao“ hoặc „rất cao“, ở công nhân viên (Angestellte) và nhân viên công chức thì chỉ có một phần ba (Drittel) – giữa (zwischen) 37 và 35 phần trăm). Nói chung (insgesamt) có 41 phần trăm người lao động trong nước Đức cảm thấy (empfinden) rằng, nghề họ đang làm gây gánh nặng cơ thể cho họ.
Chủ nhân (Arbeitgeber) hiếm khi (selten) hỗ trợ (unterstützen) công nhân viên về vấn đề (Thema)  này. Có 33 phần trăm công nhân được công ty (Unternehmen) giúp đỡ thiết kế có chỗ làm hỗ trợ cho sức khỏe (gesundheitsfördernde Arbeitsplatzgestaltung). Sự phối hợp (Kooperation) với các phòng tập thể dục và sức khỏe (Sport- oder Fitnessstudio) vẫn có (immerhin) 28 phần trăm chỗ làm với thức ăn lành mạnh trong các quán ăn (gesundes Kantinenessen), nhưng chỉ có một phần năm (Fünftel) người được hỏi ý kiến (Befragte) cho biết là họ được hưởng nhu cầu này – 20 phần trăm. Ở nhóm nhân viên công chức thì chỉ số (Quote) cao hơn đối với sự cung cấp (Angebot) như vậy; còn công nhân thì nhu cầu này rõ ràng (deutlich) nằm (liegen) dưới mức trung bình (Durchschnitt).
Tổ chức Forsa đã thực hiện cuộc thăm dò ý kiến này trong tháng bảy (Juli) năm 2017 và đã hỏi ý kiến (befragen) khoảng 1.000 công nhân tuổi giữa 18 và 65

Tin dpa, hình Oliver Berg

 

Thứ bảy ngày 14.10.2017
Tấn công người quản gia, người mướn nhà bị đuổi tức khắc.

Người quản gia (Hausmeister) có nhiệm vụ bảo quản ngôi nhà cho mướn (Miethaus). Vì thế cho nên cũng có thể xảy ra (vorkommen) rằng vị này kêu gọi (rufen) từng người mướn nhà (einzelne Mieter) giữ quy tắc (Ordnung) và điều này nên được phản ứng (reagieren) một cách thận trọng (besonnen).
Việc dùng hành vi tấn công (tätliche Angriff) vị quản gia đủ bằng chứng (rechfertigen) cho việc trục xuất vô điều kiện (fristlose Kündigung) ra khỏi hợp đồng mướn nhà (Mietvertrag). Việc mướn nhà (Mietverhältnis) được tiếp tục (fortsetzen) trong những trường hợp như vậy tùy vào chủ nhà (Vermieter) có thể chịu đựng được (zumutbar) hay không.
Trên nguyên tắc (grundsätzlich), việc mướn nhà đặt trên cơ sở (beruhen) tôn trọng lẫn nhau (gegenseitige Rücksichtnahme), theo quan điểm (Ansicht) của tòa án tiểu bang (Landgericht) Berlin. Hồ sơ thụ lý số Az.: 65 S 149/17. Tạp chí (Zeitschrift) „Sở Hữu Đất Đai“ (Grundeigentum) số 16/2017 của Hội Chủ Nhân Nhà và Đất Đai (Eigentümerverband Haus & Grund) Berlin đã tường thuật (berichten).

Một vụ xử (Verhandlung) là trường hợp người quản gia đã chụp hình (fotografieren) một chiếc xe (Auto) đậu án (versperren) lối vào (Zugang) chỗ đổ rác (Müllplatz) của ngôi nhà. Người mướn nhà đã rất bực tức (sich sehr ärgern) về việc chụp hình xe ông. Khi ông muốn đặt vấn để (zur Rede stellen) với vị quản gia thì xảy ra chuyện ấu đả (tätliche Auseinandersetzung). Bà chủ nhà sau đó (danach) đã đuổi (kündigen) người mướn nhà lập tức (fristlos). Người mướn nhà đã tự bào chữa (sich wehren) với lập luận (Argument) rằng vụ tấn công không phải do ông gây sự (nicht von ihm ausgegangen).
Tòa án tiểu bang đã cho rằng người chủ nhà có lý (Recht geben): Người quản gia được tuyển dụng (stellen) cũng vì lợi ích (Interesse) của những người mướn nhà, các vị thẩm phán (Richter) đã giải thích (erklärten) về lời biện dẫn (Begründung) của họ. Vì thế không thể chấp nhận được (hinnehmen) và tòa cũng không thể nghĩ đến việc người mướn nhà có hành vi tấn công vị quản gia được. Ngoài ra (außerdem) người mướn nhà không thể chứng minh được (beweisen) rằng vị quản gia đã tấn công y trước, bởi vì những nhân chứng (Zeuge) do y nêu tên (bennen) đã từ chối (verweigern) không chịu cho lời khai (Aussage) trước tòa

Tin dpa, hình Kai Remmers.

 

Thứ sáu ngày 13.10.2017
Nhiều thanh thiếu niên mệt mõi đi học ngày thứ hai.

Giấc ngủ (Schlafen) vào những ngày cuối tuần (Wochenende) đối với nhiều thanh thiếu niên (Jugendliche) thật quá ngắn (zu kurz): Những buổi liên hoan (Party) dài (lang) và chơi đêm (Spielabend) với bạn bè (Freunde) không biết (kennen) giờ kết thúc (kein Ende).
Tuổi teen (Teenager), thanh thiếu niên (Jugendliche), cuối tuần thích ngủ lâu hơn (gerne länger) và ngủ trễ (später). Kết quả (Ergebnis) là sáng thứ hai (Montagmorgen) bị lôi hoàn toàn (völlig) ra khỏi nhịp độ (Rhythmus) bình thường, khi phải đi học (in die Schule gehen) trở lại (wieder). Việc thiếu ngủ tái diễn (wiederholter Schlafmangel) gây cảm giác (sich fühlen) như rối loạn nhịp độ sinh hóa khi đi máy bay và giờ giấc địa phương thay đổi khác nhau (Jetlag).
Vì lẽ đó, chúng bị căng thẳng thần kinh nặng hơn (stärker Stress) trong giờ học (Unterricht) và tâm trạng sẽ tồi tệ hơn (schlechter gelaunt) những trẻ khác được ngủ đầy đủ (genügender Schlaf), theo kết quả cuộc khảo sát (Studie) của đại học (Universität) Örebro tại Thụy Điển (Schweden). Cũng dễ nhận biết (auffällig) nhóm bị căng thẳng thần kinh nặng là thường sử dụng (benutzen) Smartphone (điện thoại cầm tay) hay máy vi tính (Computer) trên giường.

Có 3000 học sinh tuổi từ 13 đến (bis) 16 đã được khiểm tra (untersuchen) cho cuộc  khảo sát này. Một kết quả khác cho thấy, một số thanh thiếu niên phải cần ba (drei) đến bốn (vier) ngày mới phục hồi được nhịp độ bình thường (normaler Rhythhmus), thì tuần lễ học tập (Schulwoche) gần như sắp hết (fast vorbei) rồi. Phần lớn (Großteil) các học sinh có thể bù (auffühlen) sự thiếu ngủ (Schlafdefizit) ở trong tuần được.
Thói quen (Routinen) sẽ giúp cho thanh thiếu niên có giấc ngủ tốt. Phụ huynh (Eltern) nên quan tâm (achten) để ý đến các teen không được mang điện thoại cầm tay lên giường ngủ (mit ins Bett) và sau 22 giờ tối không được viết (schreiben) nhắn tin (Nachrichten) gì cả.

Tin dpa, hình Tobias Kleinschmidt.

 

Thứ năm ngày 12.10.2017
Chuyện huyễn hoặc và thật tế về việc chích ngừa cúm

Mỗi năm vào mùa Thu (Herbst), bác sĩ cũng như nhiều doanh nghiệp (Unternehmen) thường cung cấp (anbieten) việc chích ngừa cúm (Grippeschutzimpfung). Nhưng thích hợp (geeignet) với ai? Và điều gì sẽ xảy ra (passieren) sau mũi tiêm (Pieks)? Người lớn tuổi (Ältere) và bệnh mãn tính (chronische Kranke) bắt buộc (unbeding) phải chích ngừa cúm. Nhưng đối với những người lớn (Erwachsene) và trẻ em (Kinder) khỏe mạnh (gesund) thì thế nào? Sau đây là một số câu hỏi (Frage) và trả lời (Antwort) quan trọng (wichtig) đại cương (Überblick) liên quan đến (rund um) việc chích ngừa (Impfung) chống cúm (Influenza):

Những ai bắt buộc phải chích ngừa?
Ủy Ban Chích Ngừa Thường Trực (Ständige Impfkommission, viết tắt là STIKO) thuộc Viện Robert-Koch (Robert-Koch-Institut, viết tắt là RKI) khuyên (empfehlen) việc chích ngừa cho những người có nguy cơ đặc biệt (besondere Risiken) – ví dụ (zum Beispiel) ở số tuổi kể từ 60 trở lên. Cũng như phụ nữ đang mang thai (Schwangere), những người có tiền bệnh (Vorerkrankung), cư ngụ dân (Bewohner) của các viện dưỡng lão (Pflegeheim), bác sĩ (Arzt) và điều dưỡng viên (Pflegekraft).

Vì sao những người già khỏe mạnh cũng nên chích ngừa?
Bởi hệ thống miễn nhiễm (Immunsystem) không còn mạnh (nicht mehr stark) nữa, cho nên bị nhiễm cúm (Grippeinfektion) đối với nhiều người già (ältere Menschen) rất nguy hiểm (sehr gefährlich). Đồng thời (gleichzeitig), phản ứng của hệ miễn nhiễm (Immunantwort) đối với chất chích ngừa (Impfstoff) ở những người này (Betroffene) không còn tốt (nicht mehr so gut) nữa. Từ lý do (Grund) đó, nên chất chích ngừa được tăng cường chất tác dụng (Wirkverstärker) cho những người từ 65 tuổi trở lên.

Vì sao việc chích ngừa không thể cho tất cả mọi người?
Bởi cơ thể (Körper) của những trẻ em và người lớn mạnh khỏe trên nguyên tắc (in der Regel) đã có sẳn chất kháng chống nhiễm cúm rồi. Tuy nhiên Viện RKI cũng nhấn mạnh (betonen) rằng: Ngay những người dưới (unter) 60 tuổi cũng nên khuyên họ chích ngừa. Dù vậy, mỗi người tự quyết định (selbst entscheiden) có nên chích ngừa hay không. Bác sĩ nhà (Hausarzt), ông Hans Michael Mühlenfeld tại Bremen khuyên mọi người nên nhìn rõ nguy cơ tự thân (eigenes Risiko): Người nào mỗi ngày sử dụng xe điện (Strassenbahn) hay xe buýt (Bus) hai lần, đây chính là nơi có nhiều vi khuẩn (Viren) ẩn núp (verstecken) nhất, dể bị nhiễm cúm hơn là những người sử dụng xe đạp (Fahrrad). Ngoài ra (außerdem), họ có thể tự hỏi (selbst fragen) rằng, họ có dễ bị bệnh (anfällig) hay không. Nếu người nào thường (öfter) bị nhiễm trùng (Infekte), thì việc chích ngừa rất có ý nghĩa (sinnvoll).

Phụ huynh của các trẻ gửi vườn trẻ và tiểu học có nên cho con em mình chích ngừa hay không?
Ủy ban STIKO đề nghị việc chích ngừa chỉ dành cho trẻ em bệnh mãn tính (chronisch krank) và có thể (eventuell) cho anh chị em (Geschwister) của chúng. Ông Hermann Josef Kahl, phát ngôn viên báo chí (Pressesprecher) của Hiệp Hội Nghề Nghiệp Bác Sĩ Nhi Đồng và Thanh Thiếu Niên (Berufsverband der Kinder- und Jugendärzte) rất tiếc (bedauerlich) đối với đề nghị trên, bởi vì: „Bằng mọi cách (jedenfalls) chúng ta nên chào đón (begrüßen) khi tất cả mọi người đều được chích ngừa.“ Chính ngay (gerade) ở những nơi có nhiều trẻ tụ tập (zusammenkommen) thì ở đó vi khuẩn dễ hoành hành (leichtes Spiel).

Người ta có thể bị cảm (sich erkälten) bởi chất chích ngừa (Impfstoff) hay không?
Thật tế (eigentlich) là không. Trên nguyên tắc, chất chích ngừa có chứa (enthalten) một chất kích gây cúm đã bị làm chết rồi (abgetötet). Riêng đối với trẻ em có một loại „chất chích ngừa sống“ (Lebendimpfstoff) dạng xịt-mủi (Nasenspray). Nhưng loại này được phát hiện rằng, nó chưa có hiệu ứng tốt (effektiver) hơn là loại „chất chích ngừa chết“ (Totimpfstoff), vì vậy trong mùa (Saison) này không được ưu tiên (vorrangig) đề nghị (empfehlen). Hệ thống miễn nhiễm (Immunsystem) trái lại có phản ứng (reagieren) ở „chất chích ngừa chết“ – đây chính là ý nghĩa (Sinn) của vụ việc (Sache). Vì vậy cho nên, chỗ bị chích (Einstichstelle) tạm thời (vorübergehend) hơi bị đau (etwas wehtun), bị đỏ (rot werden) hoặc sưng (anschwellen), theo Viện RKI giải thích. Người ta cũng có thể bị mệt mõi (müde) sau đó (hinterher), sốt (Fieber), nóng lạnh (frösteln) hoặc đổ mồ hôi (schwitzen). Nhưng bình thường (normalerweise) chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn (kurze Zeit).

Nhưng cũng có người kể (berichten) rằng, họ thật sự bị bệnh (richtig krank) sau khi chích ngừa?
Dĩ nhiên (natürlich), điều này cũng có thể xảy ra (vorkommen). Nhưng điều đó không có nghĩa là tự thân sự chích ngừa là nguyên nhân (Ursache). Ông bác sĩ nhà Mühlenfeld cho rằng những người này đã có thể bị lây (sich anstecken) từ những người bệnh (Erkrankte) ngồi trong phòng chở đợi (Wartezimmer) của ông, khi họ đến chích ngừa. Lại nữa, họ thường chích ngừa trong mùa thu (Herbst), khi những người đầu tiên bị cảm cúm.

Người đã chích ngừa có thể bị cảm cúm hay không?
Đúng, cũng có thể. Sự chích ngừa chống cúm (Grippe-Schutz-Impfung), như cái tên (Name) của nó là chống (schützen) vi khuẩn cúm. Một bệnh cảm mạo thông thường (herkömmliche Erkältung) vẫn có thể đến với người đã chích ngừa (Geimpfte). Việc chích ngừa chống siêu vi khuẩn cúm tốt tùy thuộc (abhängen) vào gốc xuất xứ của vi khuẩn (Virusstamm). 100 phần trăm không một ai có thể biết trước (voraussagen) được. Trên nguyên tắc (in der Regel), theo Viện RKI thì việc chích ngừa có thể chống gần một nửa (Hälfte) các bệnh cúm (Influenza-Erkrankung). Cho dù có bị cúm, nhưng người đã chích ngừa ít bị biến chứng hơn (weniger Komplikation) người không chích ngừa.

Ai trong năm qua đã chích ngừa, có còn phải chích ngừa tiếp nữa không?
Không. Siêu vi khuẩn tự biến đổi (sich verändern). Cho nên, cần chích ngừa mỗi năm một loại chất chích ngừa mới nhất. Sự phòng hộ của sự chích ngừa giảm dần theo thời gian.

Khi nào thì nên chích ngừa?
Mùa cúm (Grippesaison) thường bắt đầu trong tháng giêng (Januar). Cơ thể (Körper) cần (brauchen) khoảng (ungefähr) hai tuần lễ cho đến khi nó được chuẩn bị đúng đắn để chống vi khuẩn sau khi chích ngừa. Vì vậy, Viện RKI khuyên (empfehlen) nên chích ngừa trong tháng mười (Oktober) và mười một (November). Nhưng người ta vẫn có thể chích ngừa trễ hơn.

Tin dpa, hình Carolin Seidel

 

Thứ tư ngày 11.10.2017
Nhiều thẻ y tế không còn hiệu lực.

Trong phòng khám bệnh của bác sĩ (Arztpraxis), thẻ bảo hiểm điện tử (elektronische Versichertenkarte) thế hệ đầu (erste Generation) không thể đọc (einlesen) được. Vấn đề (Problem) là thẻ (Karte) đó không thể nhận biết (erkennen) được. Vậy phải làm gì?
Nhiều thẻ y tế (Gesundheitskarte) kể từ đầu tháng mười (Oktober) không thể đọc được trong các phòng khám bệnh của bác sĩ. Điều này gây trở ngại (Schwierigkeit) không ít cho bệnh nhân (Patient). Những người gặp trường hợp như vậy, theo Tung Tâm Người Tiêu Thụ (Verbraucherzentrale) tiểu bang Nordrhein-Westfallen cho rằng, thì họ vẫn còn giữ thẻ y tế của cái gọi là (sogenannte) thế hệ đầu tiên của loại thẻ điện tử này. Các công ty bảo hiểm sức khỏe (Krankenkasse) đã gửi đến (zuschicken) người đóng bảo hiểm (Versicherte) những thẻ đời mới (neu) và tiếp tục có hiệu lực (weiterhin gültig) thế hệ 1 Plus hoặc 2, Hiệp Hội Hàng Đầu (Spitzenverband) GKV giải thích (erklären).
Vấn đề là, có phải loại thẻ đang lưu hành không còn đọc được, điều này cũng chưa thể xác định (sich feststellen) chắc chắn (sicher). Những loại thẻ thế hệ đầu có chữ viết tắt „G1“ bên trên (oben) cánh phải (rechts) mặt trước của thẻ (Vorderseite) – giống như các thẻ tiếp tục có hiệu lực của đời „1 Plus“. Nhìn vào khó phân biệt (unterscheiden), theo nữ phát ngôn viên hiệp hội (Verbandssprecherin) trên nói. Nhưng có thể nhận ra (erkennbar) rõ ràng (klar) những thẻ đời thứ hai có chữ viết tắt „G2“.

Đối với người đóng bảo hiểm sức khỏe (Krankenversicherte) thì sự kiện này như thế nào, khi họ vẫn còn giữ thẻ „G1“ và không biết rằng, có thể đổi (austauschen) được không? Trên nguyên tắc (im Prinzip), trong lần đi khám bệnh (Arztbesuch) tới, họ có thể phát hiện ra (herausfinden) rằng, thẻ họ đang sử dụng có thể đọc được (einlesbar) hay không. Nếu tại phòng khám bệnh mà họ biết rằng, thẻ này đã cũ (veraltern), thì họ có thể mau (rasch) đến công ty bảo hiểm sức khỏe của họ để hỏi (anfragen) xin cấp (ausstellen) thẻ mới và đổi thẻ cũ, thay vì để thẻ cũ nằm lăn lóc (herumliegen) ở nhà (daheim).
Mối lo ngại (Sorge) rằng, bác sĩ không tiếp (abweisen), khi thẻ không đọc được, thì bệnh nhân không phải e ngại! Các dữ liệu (daten) của họ cũng có thể tải xuống bằng tay (händisch) được, theo các nhà phòng hộ người tiêu thụ (Verbraucherschutzer) cho biết. Sau đó, họ phải ký tên (unterschreiben) xác nhận họ đã đóng bảo hiểm cho công ty liên hệ (entsprechend). Một hóa đơn tư (Privatrechnung), trong trường hợp này bác sĩ không được phép trực tiếp (direkt) cấp (ausstellen), theo hiệp hội hàng đầu GKV lưu ý (hinweisen).
Tuy nhiên (allerdings), nội trong vòng (binnen) mười (zehn) ngày, bệnh nhân phải gửi (nachreichen) thẻ bảo hiểm sức khỏe có hiệu lực hoặc chứng minh (nachweisen) bằng cách nào đó (anderweitig) rằng, họ có sự phòng hộ của công ty bảo hiểm sức khỏe. Bằng không (sonst), bác sĩ sẽ thật sự (wirklich) bắt họ trả tiền theo dạng khám bệnh nhân tư (Privatpatient). Trong trường hợp như vậy, họ cũng có thời gian (Zeit) để xuất trình (vorlegen) chứng minh cho đến cuối quý (Quartalende). Sau đó, họ sẽ được hoàn lại (zurückerstatten) số tiền đã thanh toán (gezahltes Geld) cho bác sĩ.

Tin dpa, hình Fraziska Gappert.

 

Thứ ba ngày 10.10.2017
Đa số người Đức muốn có mức giới hạn thâu nhận người tỵ nạn.

Đa số (Mehrheit) người Đức đồng ý (befürworten) mức giới hạn (Obergrenze) việc nhận thêm người tỵ nạn (Flüchtlinge). Kết quả cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGov, được Thông Tấn Xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) ủy nhiệm thực hiện, cho biết (mitteilen), có 56 phần trăm đã ủng hộ (unterstützen) yêu cầu (Forderung) của đảng CSU phải bó buộc (verankern) một con số cụ thể (konkrete Zahl) trong hợp đồng liên minh cầm quyền (Koalitionsvertrag).
Chỉ có 28 phần trăm phát biểu (sich aussprechen) ngược lại (dagegen). Sự tranh cãi kéo dài từ hàng tháng qua (seit Monaten laufender Streit) về mức giới hạn (Obergrenze) sẽ là đề tài chánh (zentrales Thema) của cuộc gặp gỡ hàng đầu (Spitzentreffen) giữa đảng CDU và CSU hôm chủ nhật (Sonntag) vừa qua để chuẩn bị (Vorbereitung) cho các cuộc đàm thoại thăm dò (Sondierungsgespräche) về một liên minh cầm quyền (Koalition) Jamaika với đảng FDP và Grüne (Xanh). Đảng CSU đòi hỏi (fordern) việc tiếp nhận (Aufnahme) nhiều nhất (von höchstens) 200.000 người tỵ nạn mỗi năm (pro jahr). Bà Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) Angela Merkel (CDU) trước tiên cực lực (energisch) bác bỏ (ablehnen) việc xác định chung chung như vậy (solche pauchale Festlegung) và đảng Gürne và FDP cũng như vậy.
Theo sự thăm dò ý kiến (Umfrage) của YouGov có 55 phần trăm cử tri (Wähler) thuộc liên hiệp Cơ Đốc (Union=CDU/CSU) đồng ý có mức giới hạn và 36 phần trăm chống lại (dagegen). Sự chấp thuận nhiều nhất (größte Zustimmung) cho sự hạn chế (Begrenzung) việc nhập cư (Zuzug) là thành phần ủng hộ (Anhänger) đảng AfD với 96 phần trăm và thậm chí ở đảng FDP với 69 phần trăm. Có 54 phần trăm cử tri đảng SPD đồng ý mức giới hạn nhận người tỵ nạn và chính ngay ủng hộ viên đảng tả Khuynh (Linke) cũng có một trong hai người đồng ý. Chỉ trong hàng ngũ đảng Grüne đa số (60 phần trăm) bác bỏ (ablehnen) việc xác định mức giới hạn nhận người tỵ nạn, trong khi đó (während) chỉ có 26 phần trăm đồng ý (dafür).
Cái gọi là „mức giới hạn“ (Obergrenze) người tỵ nạn theo các luật gia (Rechtsexperte) là một sự kiện cực kỳ (äußerst) nan giải (heikel). Nó tùy thuộc (abhängig) vào việc xác định mức giới hạn chính xác (genau) cho ai (für wen), như vậy thì nước Đức (Deutschland) phải sửa đổi (ändern) luật lệ (Gesetz) cũng như hiến pháp (Grundgesetz) hoặc thậm chí (sogar) phải ra khỏi (aussteigen) Hiệp Ước Tỵ Nạn (Flcühtlingskonvention) Genfer.

Cuối cùng bà Merkel đã thỏa thuận với đảng CSU con số 200.000 mức giới hạn, để xúc tiến việc đàm phán với đảng FDP và Grüne thành lập chính phủ Jamaika. Vấn đề còn khó khăn thêm, khi FDP và Grüne phản bác việc đưa ra một con số xác định.

Tin pda, hình Patrick Pleuel

 

Thứ hai ngày 09.10.2017
Bầu lại tốt hơn là liên minh lớn cầm quyền.

Khoảng (rund) 25 phần trăm người Đức thật không hài lòng (so unzufrieden) kết quả (Ergebnis) cuộc bầu cử quốc hội (Bundestagswahl) vừa qua và họ muốn bầu lại (neu wahlen). Trích kết quả cuộc khảo sát (Umfrage) của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGov được sự ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) bởi Thông Tấn Xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa).
Qua đó (danach) cho thấy , nhóm (Gruppe) đồng ý bầu lại (Neuwahl-Befürworter) rõ ràng (deutlich) nhiều hơn (größer) nhóm của những người mong muốn (sich wünschen) có một liên minh cầm quyền lớn (große Koalition) của liên hiệp Cơ Đốc (Union = CDU/CSU) và đảng SPD với 16 phần trăm. Có 38 phần trăm cổ võ (plädieren) một liên minh (Koalition) Jamaica cho liên hiệp CDU/CSU, FDP và Grüne (đảng Xanh).
Điều đáng ngạc nhiên (überraschend) là số người đồng ý bầu lại đặc biệt (besonders) mạnh (stark) từ cử tri (Wähler) của đảng AfD. Mặc dù (obwohl) đảng hữu bảo thủ (rechtskonservative Partei) này trong kỳ bầu cử quốc hội ngày 24 tháng chín (September) vừa qua đạt kết quả 12,6 phần trăm, theo cuộc thăm dò ý kiến của YouGov có đến 62 phần trăm cử tri của họ đồng ý (sich aussprechen) việc bỏ phiếu lại (neuer Urnengang). Tương tự như vậy, đảng Tả khuynh có 38 phần trăm và đảng SPD 32 phần trăm muốn bầu lại (Neuwahl). Ngược lại (dagegen), đảng FDP chỉ (nur) có 17 phần trăm, đảng Xanh 14 phần trăm.
Các cử tri của liên hiệp Cơ Đốc thậm chí với 8 phần trăm muốn bầu lại. 55 phần trăm đồng ý liên minh (Bündnis) Jamaika, 28 phần trăm cho liên minh lớn, tuy nhiên (allerdings) đảng SPD không muốn điều này. Đảng Grüne với 70 phần trăm và đảng FDP với 62 phần trăm, đa số rõ rệt (deutliche Mehrheit) đồng ý liên minh Jamaika.

Tin dpa, hình Michael Kappeler

 

Chủ nhật ngày 08.10.2017
Các đảng phái tranh cãi về vị trí chỗ ngồi trong quốc hội.

Trước phiên họp đầu tiên (erste Sitzung) của quốc hội mới (neuer Bundestag), sắp xếp vị trí chỗ ngồi (Sitzordung) là việc làm trước tiên. Việc sắp xếp chỗ ngồi cho 709 nghị viên (Abgeordnete) trong hội sảnh (Plenarsaal) rất quan trọng: Ai trong tương lai (künftig) sẽ ngồi (sitzen) xéo bên phải (halbrechts) bên cạnh (neben) đảng AfD và đảng (Partei) nào sẽ được ngồi ngay giữa (Mitte) phòng họp  (Plenum)?
Tầm (gut) hai tuần (Woche) trước phiên họp đầu tiên của quốc hội mới ngày 24 tháng mười (Oktober) thì vị trí chỗ ngồi trong quốc hội (Parlament) cho bốn (vier) năm tới đã bị tranh cãi (strittig) tới tấp. Trong cuộc gặp gỡ (Treffen) của cái gọi là (sogenannte) Hội Đồng Nguyên Trưởng Lão (Vor-Ältestensrat) với đại diện (Vertreter) tất cả sáu (sechs) đảng phái trong quốc hội (Fraktion), ban đầu (zunächst) đã không đạt được (erzielen) sự thống nhất chung (abschließende Einigung).

Nhưng điều dường như đã rõ (klar) rằng đảng AfD sẽ ngồi hoàn toàn (ganz) ở cánh phải (rechts). Thật tế, ai cũng biết chỗ ngồi của mình trong hội sảnh (Plenarsaal). Nhưng đảng FDP cho đến nay (bisher) đã bác bỏ (ablehnen) việc ngồi xéo bên phải, mà vẫn muốn tiếp tục ngồi ngay giữa.
Tối thiểu (zumindest) cũng phải có một giải pháp tạm thời (vorläufige Lösung) cho phiên họp này: Theo đó, đảng Hữu Khuynh (rechtsnational) AfD ngồi bên cánh phải phía ngoài (ganz rechts außen), theo bà Petra Sitte, quản đốc đảng khối (Fraktionsgeschäftsführerin) Tả Khuynh (Linke), tcho biết (mitteilen). Theo sơ đồ chỗ ngồi (Sitzplan) tạm thời (vorläufig) thì đảng FDP ngồi bên phải cạnh (neben) liên hiệp Cơ Đốc (Union) – như trong quá khứ (Vergangenheit). Kế đến là đảng Xanh (Grüne), đảng SPD và cánh trái (ganz links) và cuối cùng (schließlich) là đảng Tả Khuynh (Linke) – từ (aus) bục diễn giả (Rednerpult) nhìn xuống.
Đảng FDP biện luận (argumentieren) rằng, trong các quốc hội tiểu bang (Landtag), đảng FDP ngồi giữa đảng Xanh và Union, bà Sitte nói (sagen). Điều này còn phải được bàn thảo (diskutieren) tiếp tục (weiter) – sau phiên họp đầu tiên của quốc hội. Một cuộc gặp gỡ tiếp theo của „Hội Đồng Nguyên Trưởng Lão“ đã được ấn định (anberaumen) vào ngày 13 tháng mười. Việc phân phối (Aufteilung) các phòng (Saal) trên các tầng dành cho đảng phái trong quốc hội (Fraktionsebene) trong tòa nhà quốc hội vẫn còn chưa rõ (offen).

Theo hiến pháp (Grundgesetz), quốc hội mới trễ nhất (spätestens) là 30 ngày sau cuộc bầu cử phải gặp nhau trong phiên họp đầu tiên – nghĩa là vào ngày 24 tháng mười. Phiên họp đầu tiên của quốc hội Đức lần thứ 19 sẽ được những vị Chủ Tịch Cao Niên (Alterspräsident) khai mạc (eröffnen). Đó là ông Herrmann Otto Solms, một chính khách (Politiker) đảng FDP, bởi vì ông Wolfgang Schäuble (CDU) trước đây là bộ trưởng tài chánh Đức (Bundesfinanzminister) sẽ được bình chọn làm tân chủ tịch quốc hội Đức (neuer Bundestagspräsident). Ông Schäuble với 45 năm công vụ (Staatsdienst), thật tế (eigentlich) là nghị viên thâm niên nhất (dienstältester Abgeordnete), lẽ ra ông sẽ là vị chủ tịch cao niên; còn ông Solms mới chỉ là người nghị viên thâm niên thứ nhì (Zweitdienstältester) mà thôi.
Vị Phó Chủ Tịch Quốc Hội Đức (Vize-Präsident) cũng được bình chọn trong ngày 24 tháng mười. Con số những vị Phó Chủ Tịch Quốc Hội Đức trong tương lai (zukünftige Zahl) theo bà Sitte vẫn còn chưa rõ (offen). Điều đang tranh cãi (umstritten) là như trước đây (wie bisher) ít nhất (mindestens) có một vị Phó (Vize) của mỗi đảng phái trong quốc hội (Fraktion). Như vậy cương vị (Posten) này cũng dành (zustehen) cho đảng AfD. Nhưng ứng viên (Kandidat) đảng AfD là ông Albrecht Glaser cho đến nay vẫn bị các đảng SPD, FDP, Grüne ngay cả đảng Tả Khuynh (Linke) từ chối (ablehnen).

Sau việc có chân (Einzug) của đảng AfD và sự trở lại (Rückkehr) của đảng FDP trong quốc hội Đức  không chỉ làm cho hội sảnh chật hẹp hơn (enger). Vì lẽ, trong tương lai sẽ có đến 709 nghị viên – nhiều như chưa hề có (so viel wie noch nie) trong lịch sử (Geschichte) của quốc hội Đức. Mà thêm vấn đề văn phòng (Büro) của các nghị viên và công sự viên (Mitarbeiter) của họ. Cơ quan hành chánh quốc hội Đức (Bundestagsverwaltung) sẽ phân chia (zuteilen) theo một con số có hạn định (Kontigent), nghĩa là các đảng phái trong quốc hội phải chịu chia sẻ lẫn nhau (untereinander aufteilen).
Ngoài ra, một vấn đề khác vẫn còn bỏ ngõ là: Thành phần (Besetzung) các ủy ban (Ausschuss) của quốc hội Đức sẽ như thế nào. Theo truyền thống (traditionell) thì các đảng đối lập lớn nhất (größte Oppositionspartei) nắm giữ vị trí chủ tịch (Vorsitz) ủy ban quan trọng về ngân sách (wichtiger Haishaltausschuss) của quốc hội. Khi một liên minh chính phủ (Regierungsbündnis) kiểu Jamaica [màu cờ của quốc gia này gồm có Đen-Vàng-Xanh = liên hiệp Cơ Đốc (Union) – FDP – Grüne] thành hình, thì cương vị này sẽ thuộc về (zufallen) đảng SPD.
Đảng AfD với 12,6 phần trăm phiếu (stimme) đã trở thành một lực lượng mạnh nhất đứng hàng thứ ba (drittstärkste Kraft) trong quốc hội. Đảng khối (Fraktion) AfD có 93 nghị viên. Bà đảng trưởng trước đây (frühere Parteichefin) Frauke Petry sẽ không tham gia đảng khối này và ngồi một mình như là nghị viên duy nhất không theo đảng khối nào (einizige fraktionslose Abgeordnete) trong quốc hội nhiệm kỳ mới.

Tin dpa, hình Soeren Stache

 

Thứ bảy ngày 07.10.2017
Chi phí chăm sóc trẻ em có thể khai báo khấu trừ thuế.

Phụ huynh có thể khai báo khấu trừ thuế (steuer absetzen) mọi chí phí (Kosten) cho việc chăm sóc con trẻ (Kinderbetreuung). Nhưng chỉ khi có hóa đơn (Rechnung) và giấy chuyển tiền (Überweisung) xuất trình chứng minh cụ thể.
Việc chăm sóc con trẻ rất tốn kém (Geld kosten). Tuy nhiên (allerdings) mọi chi tiêu (Ausgaben) cho việc này có thể khai báo khấu trừ thuế (steuerlich geltend machen). Có nghĩa là (heißen): Gánh nặng thuế má (Steuerlast) của phụ huynh (Eltern) sẽ được giảm xuống (sinken).
Ty Tài Chánh (Finanzamt) sẽ công nhận (erkennen) hai phần ba (zwei Drittel) các chi phí đã thanh toán (angefallene Kosten) đến (bis zu) tối đa (maximal) 4000 Euro mỗi năm (jährlich) cho mỗi đứa trẻ (pro Kind). Điều này được Phòng Tư Vấn Thuế Liên Bang (Bundessteuerberaterkammer) tại Berlin lưu ý (aufmerksam machen). Các chi tiêu (Aufwendung) được là những chi tiêu đặc biệt (Sonderausgabe) có thể khai báo khấu trừ thuế (abziehbar).
Các chi tiêu được kể đến như việc ăn ở (Unterbringung) của các trẻ (Kinder) ví dụ (zum Beispiel, viết tắt là z.B) trong các vườn trẻ (Kindergarten), ở các vú nuôi ngày (Tagesmutter) hoặc (oder) trong các nơi chăm nom cả ngày (Ganztagspflegestelle). Cũng như (auch) các chi tiêu cho sự giúp đỡ (Hilfe) trong gia đình (haushalt), ví dụ mướn người chăm nom con cái tại nhà (Au-pair), cũng có thể xin giảm thuế (steuermindernd), khi việc giúp đở là sự chăm sóc (betreuen) một đứa con. Ty Tài Chánh chấp nhận (akzeptieren) mọi chi phí cho việc chăm sóc con trẻ nhưng trên nguyên tắc (grundsätzlich) chỉ (nur) khi có hóa đơn và số tiền phải thanh toán đã chuyển (überweisen) đồng thời phải có giấy báo chuyển ngân.

Tin dpa, hình Armin Weigel.

 

Thứ sáu ngày 06.10.2017
Bảo hiểm sức khỏe tư nhân hay luật định cho sinh viên.

Ai bắt đầu học đại học (Studium) cần phải suy nghĩ (sich überlegen) kịp thời (rechtszeitig) nên đóng phí (Beitragszahlung) cho công ty bảo hiểm sức khỏe nào (Krankenkasse). Vì lẽ (denn) trong lúc (während) học, quyền lợi hưởng tiền con (Kindergeldanspruch) sẽ không còn (wegfallen) và người ta cũng không còn được ăn theo (profitieren) bảo hiểm (Versicherung) của phụ huynh (Eltern).
Ai muốn học cao học (studieren) và đóng bảo hiểm tư (privat versichern), có thể chuyển đổi (wechseln) bảo hiểm sức khỏe của sinh viên theo luật định (gesetzliche Krankenversicherung der Studenten, viết tắt là KVdS).
Tuy nhiên (allerdings), các sinh viên (Student) cũng có thể xin miễn (befreien) bảo hiểm sức khỏe theo luật định. Điều này được Liên Hội Người Đóng Bảo Hiểm  (Bund der Versicherten) tại Henstedt-Ulzburg gần Hamburg lưu ý (hinweisen).
Hoàn toàn có ý nghĩa (sinnvoll) cho suốt (auf Dauer) học trình (Studium), khi có quyền lợi phụ cấp (Beihilfeanspruch) qua phụ huynh làm công chức (verbeamtete Eltern). Chi phí còn lại đóng bảo hiểm tư (private Restkostenversicherung) thông thường (meistens) tiện lợi hơn (günstiger) bảo hiểm KVdS. Tuy nhiên, điều quan trọng (wichtig) cần suy nghĩ (bedenken) là: Ai tự đóng bảo hiểm tư (sich privat versichern), thì suốt học trình không thể trở lui lại (zurück kommen) bảo hiểm sức khỏe theo luật định nữa.
Nếu quyền hưởng tiền con của phụ huynh trong lúc học không còn nữa, thì hợp đồng (Vertrag)  bảo hiểm sức khỏe tư phải được chuyển sang (umstellen) việc phòng hộ bảo hiểm một trăm phần trăm (hundertprozentiger Versicherungsschutz). Nhưng phải đóng phí cao tương đương (entsprechend hoher Betrag), thường vượt quá (über) mức (Niveau) của bảo hiểm theo luật định. Vì thế cho nên, các sinh viên nên để tư vấn (sich beraten) miễn phí (unabhängig) về các ưu và khuyết điểm (Vor- und Nachteile)  trước khi (vor) chọn (Wahl) hợp đồng

Tin dpa, hình Peter Kneffel.

 

Thứ năm ngày 05.10.2017
Đông và Tây tiếp cận nhau ở nguy cơ đói nghèo.

Hơn (mehr als) 25 năm thống nhất nước Đức (deutsche Einheit), hai miền Đông (Ost) và Tây (West) trong những năm qua đã tiến gần nhau (sich annähern) về lãnh vực nguy cơ đói nghèo (Armutrisiko), cho dù (obwohl) trong Đông Đức vẫn còn rõ ràng (noch deutlich) có nhiều người hơn. Trong vòng (binnen) mười (zehn) năm giảm (zurück gehen) từ 19,2 xuống còn 18,4 phần trăm.
Còn ở phí Tây Đức (Westdeutschland), không tính (ohne) Berlin, chỉ số (Quote) từ 12,7 tăng (steigen) lên thành 15 phần trăm. Theo sự lưu ý (aufmerksam machen) của bà Sabine Zimmermann, nghị viên (Angeordenete) đảng tả Khuynh (Linke) dựa theo (auf Berufung) các dữ liệu (daten) của các Sở Thống Kê (Statistisches Amt) của liên bang (Bund) và các tiểu bang (Land).
Chỉ số thấp nhất (niedrigste Quote) trong năm qua là tiểu bang Baden-Würtemberg (11,9 phần trăm) và Bayerm (12,1 phần trăm). Con số cao nhất (höchster Wert) được ghi nhận (verzeichen) trong tiều bang Hamburg (22.6 phần trăm), Sachsen-Anhalt (21,4 phần trăm), Mecklenburg-Vorpommern (20,4 phần trăm) và Berlin (19,4 phần trăm).
Được xem là „nguy cơ nghèo đói“ (armutsgefährdet) là người nào có ít hơn (weniger) 60 phần trăm mức trung bình (Durchschnitt). 2016 là 969 Euro thu nhập ròng (Nettoeinkommen) củ một hộ gia đình một người (Einpersonenhaushalt).
Đặc biệt (besonders) cao (hoch) và cũng rõ cao hơn (deutlich höher) phía Tấy là nguy cơ đói nghèo đối với người trẻ Đông Đức. 2016 có 35,9 phần trăm thanh thiếu niên từ 18 đến dưới (unter) 25 tuổi trong các tiểu bang mới (Đông Đức) có nguy cơ nghèo đói. Trong các tiểu bang cũ (Tây Đức) là 23,8 phần trăm. Sự đói nghèo của những người có trình độ thấp (niedrige Qualifikation) ở Đông là 49,1 phần trăm, rõ ràng cao hơn phía tây với 38,9 phần trăm.

Đặc biệt là những người sống một mình (Alleinstehende). Ở các hộ (Haushalt) có một người lớn (Erwachsene) có một hay nhiều con (Kind) thì ở phía Tây là 42,4 phần trăm và 46,9 phần trăm ở phía Đông có nguy cơ đói nghèo.

Trong số các thành phố lớn (Großstadt) có Dortmund với chỉ số 24,2 phần trăm. Nürnberg với 23,3 phần trăm, Duisburg 22,8 phần trăm và Leipzig 22,4 phần trăm.

Theo bà Zimmermann thì, hơn 25 năm sau nước Đức thống nhất vẫn chưa thể hei63u được (nicht nachvollziehbar) rằng mức thu nhập (Einkommen) giữa (zwischen) hai miền Đông và Tây có khoảng cách rõ rệt.“ Vấn đè cần thiết (Notwendigkeit) là việc tăng (erhöhen) lương tối thiểu (Mindestlohn), đẩy lui (zurück drängen) công việc bấp bênh (prekäre Beschäftigung), nâng cao (stärken) tiền hưu trí (Rente) và đảm bảo sinh sống tối thiểu (Mindestsicherung) miễn phí (sanktionsfrei).

Tin dpa, hình Frank Rumpenhorst.

  

Thứ tư ngày 04.10.2017
Khoảng 150.000 người tham dự Lễ Hội Thống Nhất nước Đức ngày 03.10.2017

Lễ Hội Quần Chúng (Bürgerfest) tại Mainz là trung tâm Lễ Hội Thống Nhất (zentraler Einheitsfeier) nước Đức có khoảng (rund) 150.000 người tham dự (teilnehmen). Phủ Thủ Hiến (Staatskanzlei) tiểu bang Rheinland-Pfalz đã thông báo (mitteilen). Lễ hội (Fest) hôm thứ hai (Montag) theo cảnh sát (Polizei) đã diễn ra trót lọt (über die Bühne) không xảy ra vấn đề gì (ohne Problem).
„Cả ngày diễn ra (verlaufen) trôi chảy (störungsfrei)“, theo lời phát ngôn viên cảnh sát (Polizeisprecher). Sau khi trời bắt đầu ngưng mưa (Regen) thì khách (Gast) kéo đến các gian hàng (Stand) và nghe nhạc hòa tấu (Konzert). Phủ Thủ Hiến dự tính (rechnen) có khoảng nửa triệu (halbe Million) người tham dự (Besucher) trong hai ngày lễ. Cao điểm (Höhepunkt) buổi lễ hội (Feier) là lễ cầu nguyện (Gottesdienst) trong thánh đường (Dom) và chương trình chính thức (Festakt) được cử hành trong sảnh đường (Halle) Rheingold với nhiều chính khách cao cấp (Spitzenpolitiker). Một phần (Teil) bên trong thành phố (Innenstadt) vì lý do an ninh (Sicherheitsgrund) đã bị bao chận (absperren).

Tin dpa, hình Boris Rossler.

 

Thứ ba ngày 03.10.2017
Những sinh viên năm đầu nên tham gia các chương trình định hướng học tập.

Khi học sinh chuyển (wechseln) từ trường học (Schule) đến cao học (Hochschule), họ sẽ khám phá ra (entdecken) nhiều điều mới lạ (Neues), nhưng cũng có một số ít (einige) sợ sệt (Angst). Các tuần lễ định hướng (Orientierungswoche) và nhiều chiến dịch (Aktion) dành cho sinh viên năm đầu (Erstsemester) nhằm giúp đỡ (helfen) các sinh viên mới (neuer Student) làm quen với cuộc sống mới (sich einleben).
Bắt đầu (Beginn) khóa học mùa đông (Wintersemester), các sinh viên năm thứ nhất sẽ khám phá môi trường mới (neue Umgebung). Chủ yếu (vor allem) là việc giúp đở chuẩn bị tốt (gute Vorbereitung) và nhiều cởi mở (viel Offenheit), theo bà Vanessa Keller của phòng tư vấn sinh viên (Studienberatungsbüro) thuộc đại học (Universität) Köln.
Các tuần lễ định hướng, ăn sáng của sinh viên năm thứ nhất (Erstsemester-Frühstück) hoặc khóa trước (Vorkurse) và nhiều chương trình (Angebot) khác có rất nhiều (viel) hầu giúp cho họ ấm áp (warm) với môi trường mới trước khi giờ giảng bắt đầu (Vorlesungsbeginn). Nữ chuyên gia (Expertin) trên khuyên (raten) các sinh viên năm thứ nhất nên biết (wahrnehmen) hết (möglichst) những cơ hội (Möglichkeit) này. Nếu có sự chuẩn bị tốt, thì sinh viên sẽ giảm (reduzieren) được sự căng thẳng (Stress) do môi trường mới sinh ra (entstehen).
Ngoài ra (außerdem), điều quan trọng là nên tích cực (aktiv) tiếp cận (zugehen) đến những sinh viên khác (Studierende). Qua những liên hệ (Kontakt) đó, họ có thể thiết lập (bilden) tình bạn hữu (Freundschaft) hoặc các nhóm học tập (Lerngruppe). Đồng thời (geichzeitig), điều cũng không kém quan trọng là sinh viên cũng nên dành ít thì giờ (etwas Zeit nehmen) cho bản thân (für sich selbst). Sự cân bằng đúng (richtige Balance) phải do mỗi người tự tìm ra (finden), theo bà Keller. Việc bắt đầu học tập tốt (guter Studienstart) làm nhẹ nhàng (erleichtern) rõ rệt (definitiv) con sự học.

 

Tin dpa, hình Michael Reichel

 

Thứ hai ngày 02.10.2017
Sự thống nhất trong lòng giữa Đông và Tây vẫn chưa đạt được

Đông, Tây? Đối với người trẻ Đức không phải là đề tài (Thema). Họ không biết (kennen) đến sự sụp đổ bức tường (Mauerfall) và việc thống nhất (Wiedereinigung) trước đây gần (knapp) 27 năm từ cảm nghiệm của bản thân (aus eigenem Erleben). Nhưng đối với một số người lớn tuổi (Alter) thì đây là một dấu ấn khó quên (unvergessbarer Eindruck) trong cuộc đời (Leben) của họ. Tình trạng (Lage) này hiện nay (derzeit) ra sao (wie)?
Việc sống  chung (Zusammenleben) của người Đức tại Đông (Ost) và Tây (West) theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến mới nhất (aktuelle Umfrage) thì kể từ (seit) năm 2011 chỉ có ít bước (Mini-Schritten) tiến gần nhau. Trong việc thăm dò ý kiến (Befragung) của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) Forsa thì chỉ có một trong hai người (jeder Zweite) cho biết rằng, người Đức sau 27 năm thống nhất (Einheit) đã sống chung nhau như một dân tộc (Volk).

Trong tháng chín (September) 2011, theo sự thăm dò ý kiến có 47 phần trăm; con số mới nhất là 46 phần trăm. Có bốn (vier) phần trăm đã trả lời (antworten) rằng “không biết” (weiß nicht).
Giữa (zwischen) ngày 13 và 21 tháng chín có 1037 người được thăm hỏi ý kiến (befragen). Tổ Chức Vạch Trần (Stiftung für Aufarbeitung) sự độc tài (Diktator) của SED, đảng cộng sản Đông Đức trước đây, đã uỷ nhiệm (beauftragen) thực hiện cuộc thăm dò ý kiến này.
Bà quản đốc (Geschäftsführerin) Anna Kaminsky của tổ chức trên nói (sagen) rằng: “Sự thống nhất trong lòng (innere Einheit) không thể một sớm một chiều mà có được (nicht von heute auf morgen), nhưng nó sẽ đến (kommen).” Kể từ năm 2003 đã có xu hướng (Trend) rằng con người ngày càng (zunehmend) nghĩ (denken) đến một nước Đức của chung (gesamtdeutsch). Bà nói tiếp: Chúng tôi là một tổ chức cho cả nước (Bundesstiftung) và sẽ tiếp tục (weiterhin) hỗ trợ (fördern) sự phát triển (Entwicklung) này.”
Trong các tiểu bang Đông Đức (ostdeutsche Bundesländer) thì những người ngở vực (Skeptiker) có 55 phần trăm cao hơn (höher) những người sống trong các tiểu bang phía Tây (45 phần trăm), theo sự khảo sát. Trước đây (damals), còn có đến 67 phần trăm người sống ở Đông Đức được hỏi ý kiến (ostdeutsche Befragte).

Những quan điểm (Ansicht) khác biệt rõ ràng (deutliche Unterschiede) biểu hiện giữa người trẻ (Jung) và lớn tuổi (Alt). Trong khi (während) tổng cộng (insgesamt) có 65 phần trăm người trẻ từ 14 đến 21 tuổi đồng thuận (bejahen) rằng người Đức nên sống chung nhau thành một dân tộc, chỉ có 40 phần trăm đối với những người trên 60 tuổi.
Theo cuộc khảo sát có 57 phần trăm người dân Đức (Bundesbürger) đồng ý việc tiếp tục vạch trần sự độc tài của đảng SED. Nhưng có 37 phần trăm cho rằng việc này không cần thiết nữa (nicht mehr für notwendig). Số còn lại (Rest) không có ý kiến (keine Angaben). Đáng kể là những người được hỏi ý kiến có bằng tú tài (Abitur) và học đại học (Studium) với 68 phần trăm đồng ý (sich ausprechen) việc vạch trần quá khứ (Vergangenheit); ở những người có bằng trung học cấp II (Hauptschulabschluss) chỉ có 40 phần trăm.
Nhóm (Gruppe) tuổi từ 14 đến 21 tuổi đa phần không muốn đào sâu (sich auseinandersetzen) về quá khứ của chế độ Đông Đức cũ (DDR); trong khi nhóm tuổi (Altergruppe) từ 45 đến 59 tuổi thì cổ võ (plädieren) mạnh nhất (am stärksten) cho việc tiếp tục đào sâu sự kiện này với 59 phần trăm.
Đặc biệt ở nhóm trẻ hơn ít có xu hướng phân biệt giữa Đông và Tây, bà Kaminsky phấn khởi (erfreundlich) đánh giá (bezeichnen) việc này cũng như việc vạch trần sự độc tài của đảng SED. Liên quan đến (angesichts) những nguy cơ mới nhất (aktuelle Gefährdung) đối với nền dân chủ (Demokratie) toàn cầu (weltweit) thì đây là một dấu hiệu tích cực (positives Signal).

Tin và hình tư liệu của dpa

 

Chủ nhật ngày 01.10.2017
Sau một trận đột quỵ thường là tình trạng trầm cảm.

Những hạn chế sự vận động (motorische Einschränkung) hoặc rối loạn sự nói năng (Sprachstörung) thường có liên quan đến (verbinden) một triệu chứng đột quỵ (Schlaganfall). Và cá tính (Persönlichkeit) cũng có thể thay đồi (sich verändern) theo. Một số (manch) bệnh nhân (Patient) thậm chí (sogar) bị trầm cảm (Depression). Điều này gây thêm (zusätzlich) khó khăn (erschweren) cho tiến trình phục hồi (Rehabilitation) của họ.
Khoảng (rund) một phần ba (Drittel) bệnh nhân bị đột quỵ thường phát triển (entwickeln) triệu chứng (Symptom) trầm cảm ba (drei) đến sáu (sechs) tháng sau đó. Vì lẽ (weil), đương sự (Betroffene) cảm thấy (sich fühlen) gặp nhiều gian nan trong việc phục hồi (anstrenge Rehabilitation), cái gọi là (sogenannte) “hậu trầm cảm sau đột quỵ” (Post Stroke Depression, viết tắt là PSD) phải được nhận ra (erkennen) sớm như có thể (möglichst früh) để điều trị (behandeln) kịp thời (rechtzeitig).
Những dấu hiệu (Zeichen) của một PSD là: Thiếu năng động (Antriebslosigkeit), cảm giác tội lỗi (Schuldgefühl), rối loạn giấc ngủ (Schlafstörung) và tâm trạng chán chường chung chung (allgemein gedrückte Stimmung) kéo dài liên tục (anhalten) ít nhất (mindestens) hai tuần lễ (Woche). Điều này được Tổ Chức Đức Giúp Người Đột Quỵ  (Stiftung Deutsche Schlaganfall-Hilfe) lưu ý (hinweisen). Khi thân nhân (Angehörige) hoặc bạn bè (Freunde) để ý thấy (bemerken) ai đó có những triệu chứng như vậy, thì nên khuyến khích (anmutigen) người bệnh tìm đến (aufsuchen) bác sĩ (Arzt) để khám nghiệm (untersuchen). Vì lẽ (weil), bệnh nhân trầm cảm ít khi có can đảm để nói ra (sprechen) cảm giác (Gefühl) của họ.

Các triệu chứng như vậy dường như (wahrscheinlich) xuất hiện (auftreten) một đàng (einerseits) từ những thương tích (Verletzung) trong não bộ (Gehirn). Ngoài ra (hinzu) từ những hạn chế (Einschränkung) mà bệnh nhân phải chịu đựng (hinnehmen). Tương tự (ähnlich) như vậy, chứng trầm cảm cũng có thể xảy ra (vorkommen) sau khi sanh (Geburt), theo các bác sĩ phỏng đoán (vermuten) thì nội-tiết-tố (Hormone) cũng có thể đóng vai trò quan trọng (wichtige Rolle) cho trạng huống này.
Thể loại trầm cảm đặc biệt (spezielle Form) này trên nguyên tắc (in der Regel) cũng có thể điều trị tốt bằng thuốc (Medikament) và tâm lý trị liệu (Psychotherapie): “Đối với những người liên hệ (Beteiligte), điều quan trọng (wichtig) cũng phải cần biết (wissen) là tình trạng này thật tế kéo dài (dauern) rất lâu (sehr lang), nhưng đôi khi cũng chỉ là giai đoạn tạm thời (vorübergehende Phase)”, ông giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) Mario Siebler tại Essen, Đặc Ủy Viên Khu Vực (Regionalbeauftragtet) của tổ chức trên, nhấn mạnh (betonen).
Có khoảng 270.000 người sống tại Đức bị (erleiden) đột quỵ mỗi năm (pro Jahr). Đối với triệu chứng PSD, thì bệnh nhân có xu hướng (neigen) đã có thời kỳ bị trầm cảm (depressive Episode) trước đó (schon) rồi. Những bệnh nhân sống một mình (alleinstehend) và phụ nữ (Frauen) (ebenfalls) đa phần mắc chứng.

Tin dpa, hình Peter Steffen


 

 

3158 Tổng số lượt xem 2 lượt xem ngày hôm nay