» » Tin Đức Quốc tháng 09.2017

Tin Đức Quốc tháng 09.2017

Thứ bảy ngày 30.09.2017
Phải có bằng lái cho vật bay không người lái

Kể từ ngày chủ nhật (Sonntag) 01 tháng mười Oktober, những vật bay tư nhân không người lái (private Dronen) luôn được ưa chuộng (immer beliebt) trên nền trời nước Đức phải chịu thêm nhiều điều kiện (zusätzliche Anforderung). Đối với các vật bay lớn (größere Fluggeräte) nặng từ hai (zwei) kí-lô trở lên (ab) phải có bằng sử dụng (Führerschein), gọi là “chứng minh kiến thức” (Kenntnisnachweis).
Những kiến thức (Kenntnisse) phải được chứng minh (nachweisen) để điều chỉnh hướng (navigieren) vật bay và căn bản pháp lý (rechtliche Grundlage) cho việc sử dụng (Nutzung) như Bộ Lưu Thông Đức (Bundesverkersministerium) đã quy định (vorsehen) bằng một quy tắc (Verordnung) có hiệu lực (in Kraft treten) từ đầu năm (Frühjahr) nay. Ngoại trừ (ausgenommen) các sân bay dành cho những vật bay kiểu mẫu (Modellflugplatz), vì nơi đó có người trong coi (Aufsichtsperson).
Các phi công theo sở thích (Hobbypilot) cũng có thể nhận (bekommen)giấy chứng minh (Nachweis) sau một cuộc khảo sát trực tuyến (online Prüfung) của các cơ quan được công nhận (anerkennte Stelle) và tuổi ít nhất (Mindestalter) là 16. Ngoài ra, đối với các loại vật bay kiểu mẫu (Flugmodell) cũng phải có giấy chứng nhận (Bescheinigung) qua sự hướng dẫn (Einweisung) của một hội thể thao trên không (Luftsportverein) – tuổi tác trong trường hợp này ít nhất là 14. Cả hai loại giấy chứng minh đó có giá trị (gelten) năm (fünf) năm. Giấy phép phi công còn hiệu lực (gültige Pilotenlizenz) cũng được công nhận (anerkennen).

Kể từ ngày chủ nhật, các vật bay không người lái nặng trên 250 Gramm “phải có bảng nhận dạng” (Kennzeichnungspflicht), chẳng hạn như một tấm biển (Plakette) hoặc giấy dán bằng nhôm (Aluminiumaufkleber) mua trong các cửa hàng bán văn phòng phẩm (Schreibwarenhandel) hoặc trên mạng (Internet). Để có thể tìm ra (ausfindig) chủ nhân (Besitzer) của vật bay, tên (Name) và điạ chỉ (Anschrift) của họ cũng phải ghi rõ (deutlich vermerken) trên vật bay. Bảng nhận dạng phải chống lửa (feuersicher) và gắn cứng (fest) vào vật bay.
Kể từ đầu (Anfang) tháng tư (April) đã có những quy định mới khác (andere neue Vorschrift) về việc tụ họp đông người (Menschenversammlung), công tác (Einsatz) các lực lượng cứu nguy (Rettungskraft) và cảnh sát (Polizei) cũng như (sowie) cấm bay vật lạ không người lái (Drohnen-Flugverbot) ở các khu vực đáp và lên (An- und Anflugbereich) của các phi trường (Flughafen). Vật bay nặng từ 250 Gramm trở lên hoặc khi nó có thể thu âm thanh (Ton) hay hình ảnh (Bilder) bị cấm kỵ (tabu) bay trên những khu vực cư ngụ (Wohngrundstück). Nói chung (generell), các vật bay không người lái chỉ được bay cao (hoch aufsteigen) tối đa (maximal) 100 mét (Meter). Ngoại trừ các sân bay cho vật bay mô hình hoặc người điều khiển (Steuerer) có bằng sử dụng (Frührerschein).

Tin dpa, hình Sven Hoppe

Thứ sáu ngày 29.09.2017
Tìm con mèo chạy hoang trên đường từ chỗ làm về nhà không được bảo hiểm tai nạn.

Một công nhân (Arbeitnehmer) lỡ bị tai nạn (verunglücken) trên đường đi làm (Arbeitsweg) trên nguyên tắc (in der Regel) được bảo hiểm tai nạn theo luật định (gesetzliche Unfallversicherung). Nhưng ai đó giải quyết (erledigen) chuyện riêng (private Angelegenheit) trên đường về nhà thì sự bảo vệ của bảo hiểm (Versicherungsschutz) không có hiệu dụng (verwirken), theo phán quyết (Urteil) của tòa án xã hội (Sozialgericht) Landshut. Một tai nạn lao động (Arbeitsunfall) chỉ xem như là (vorliegen) một tai nạn trên đường (Wegunfall), khi họ đang (sich befinden) trên đoạn đường này từ nhà đến chỗ làm hoặc ngược lại. Nếu người ta ngắt ngang (unterbrechen) đoạn đường này để giải quyết việc riêng (private Dinge) và bị tai nạn, thì không được kể là tai nạn lao động nữa. Chẳng hạn, đang trên đường về nhà mà còn đi tìm (Suche) thú nuôi trong nhà (Haustier) thì không còn được bảo vệ theo bảo hiểm tai nạn luật định nữa. Nó không liên quan đến một tai nạn lao động, vì trên đường từ chỗ làm về nhà (Nachhauseweg) đương sự còn đi kiếm con thú nuôi trong nhà nữa, theo sự giải thích (Erklärung) của Luật Sư Đoàn Đức (Deutsche Anwaltverein, viết tắt là DAV) nhìn theo (mit Blick) quyết định (Entscheidung) của tòa án xã hội Landshut, hồ sơ thụ lý số Az.: S 13 U 243/16.

Trường hợp của một công nhân về nhà sau ca làm khuya (Spätschicht). Ông đã đến lối đi bộ lát gạch (gepflasterter Gehweg) trước cửa nhà (Haustür) và chợt nhớ (einfallen) phải kiếm con mèo (Katze). Cùng lúc ấy, ông bước ra khỏi lối đi bộ mà bước (betreten) vào thảm cỏ (Rasenfläche). Chừng một mét bên cạnh lối đi bộ, ông bị trượt té (rutschen) trên nền cỏ ướt (nasse Rasen) làm ông bị thương (Verletzung) bả vai (Schulter). Ông nghĩ rằng đây là một trường hợp tai nạn lao động, vì lẽ ông đang trên đường từ chỗ làm về nhà. Phán quyết: Tòa án Xã Hội quyết định không có sự bảo vệ của bảo hiểm. Việc này bị kết thúc (beenden) lập tức (sofort) ngay khi (sobald) có xảy ra một việc làm có tính cách riêng tư (private motivierte Verrichtung). Chỉ cần một đoạn ngắn ra ngoài (geringer Umweg) đoạn đường thật sự từ chỗ làm đến nhà (eigentlicher Nachhauseweg) cũng không được bảo hiểm bảo vệ bởi những lý do riêng tư (private Gründe). Ngay khi có ý nghĩ (Gedanken) đến con mèo thì chưa có gì, nhưng chỉ cần một bước đầu tiên (erster Schritt) ra khỏi lộ trình thật sự để tìm nó thì đã không được bảo hiểm (versichern) rồi.

Tin dpa, hình Martin Gerten.

Thứ năm ngày 28.09.2017
Bảy chia sẻ để có sự chú tâm và tập trung nhiều hơn trong lúc làm việc

Theo lịch đã lên thì Bạn có trách nhiệm (verpflichten) phải hoàn tất (erledigen) dự án (Projekt) hay một công việc (Arbeit) nào đó nội trong ngày hôm nay. Nhưng trên thật tế (Realität) thì lúc nào cũng có vấn đề làm cản trở (behindern) làm Bạn không thể chú tâm (aufmerksam) và tập trung (konzentriert) vào công việc cho đúng thời hạn (termingemäß) được. Điều này không đơn giản (nicht einfach) như người ta tưởng (denken)! Nhưng cũng có vài cách (Möglichkeit)  để có thể khắc phục (bewältigen) được những trở ngại như điện thoại reo liên tục, thư điện tử (E-Mail) báo liên hồi, rồi các đồng nghiệp (Kollege) ghé qua nói chuyện phiếm (unterhalten)…Vì thế cho nên Bạn không có một giây phút nào yên tịnh (Ruhe) để giải quyết cho xong việc (!) Ai cũng đã từng gặp phải tình huống (Situation) này nơi chổ làm (Arbeitsplatz) hay tại nhà (Zuhause).

Vậy Bạn phải làm sao? Dĩ nhiên (natürlich) có rất nhiều sự hướng dẫn (Hinweise) hay phương pháp (Methode) giúp Bạn quay trở lại sự chú tâm và tập trung.

  1. Cần nghỉ ngơi (ausruhen) đầy đủ (ausreichend)
    Ai ngủ nghỉ không đủ (unausreichend) hay khó ngủ (schlecht schlafen) sẽ mệt mõi (Müdigkeit) trong ngày hôm sau. Ngoài ra, đừng mãi mê làm việc mà cần thường xuyên nghỉ giải lao (regelmäßige Pause). Bạn chỉ có thể tập trung cực kỳ trong 90 phút. Nhưng liên tù tì bốn tiếng đồng hồ, thì cũng cần có sự nghĩ giải lao lâu hơn (längere Pause). Bạn có thể ra ngoài trời HÍT THỞ (atmen) không khí trong lành hoặc ĐI DẠO (spazierengehen) quanh khu nhà (um den Hausblock)
  2. Điện thư (E-Mail)
    Điện thư được ví như những “giọt nước” (Wassertröpfen). Mỗi giọt nước sẽ lôi Bạn ra khỏi sự chú tâm và tập trung. Cho nên khi cần sự chú tâm và tập trung cao để làm việc, Bạn nên KHÓA (schließen) báo tín hiệu (Alarm) của điện thư mới. Và nên thiết lập (richten) một hộp thư (Postfach) giải quyết theo thời gian tính của từng điện thư. Bởi Bạn không thể đọc (lesen) và trả lời (antworten) hết tất cả điện thư cùng một lúc.
  3. Điện thoại (Telephon)
    Nó cũng không khác những điện thư gửi đến và nó liên tục reo. Nó sẽ đánh tan sự chú tâm và tập trung của Bạn. Nếu Bạn không phải là nhân viên trực điện thoại (Zentralanrufannehmer), thì Bạn nên chuyển (weiterleiten) những cú điện thoại đến vào MÁY NHẬN ĐIỆN ĐÀM (Anrufbeantworter). Và Bạn sẽ nghe và trả lời sau.
  4. Danh sách ưu tiên (to-do-list)
    Trong ngày thứ sáu (Freitag) hay ngay vào thứ hai (Montag) đầu tuần, Bạn nên viết (aufschreiben) ra hết những công việc cần phải xử lý và sắp thứ tự ưu tiên (Priorität) cho từng công việc. Những việc cần sự tập trung nhiều thì nên giải quyết cho xong ngay từ đầu. Tuy nhiên cũng có ý kiến (Meinung) cho rằng, những công việc “không ưa” (unlieb) thì đừng làm trước, và chọn một thời điểm thích hợp (angemesser Zeitpunkt) để giải quyết nó. Vì nếu làm ngay từ đầu thì có thể làm cho Bạn “mất hứng thú” (unmotiviert) bởi phải động não chú tâm và tập trung cao độ!
  5. Đồng nghiệp (Kollege)
    Dĩ nhiên (natürlich) cần có những cử chỉ niềm nở (offen) và thân thiện (freundlich) đối với đồng nghiệp. Nhưng lúc nào cũng “vễnh tai” (offenes Ohr) để nghe đồng nghiệp “tâm sự” không đúng lúc thì cũng gây khá nhiều phiền phức cho Bạn. Nhưng khi Bạn đang bù đầu với công việc thì tính cởi mở và thân thiện nào cũng có hạn chế của nó, phải không! Bạn cứ thẳng thắn TRÌNH BÀY và HẸN đồng nghiệp vào một lúc khác, vì công việc đang cần sự chú tâm và tập trung của Bạn. Và khi không có cách khác, cũng như Bạn làm việc trong phòng riêng, thì KHÓA cửa phòng lại. Còn trong phòng làm việc đông người thì đeo HAEDFON vào tai, để khỏi bị phân tâm.
  6. Giờ làm việc
    Nếu Bạn có điều kiện tự quyết định (Selbstbestimmung) giờ giấc làm việc (Arbeitszeit) của mình, thì Bạn nên sử dụng đặc ân này! Sớm hay muộn thì Bạn cũng phải cần yên tĩnh (Ruhe) để có thể chú tâm và tập trung làm việc. Tuy nhiên chuyện này cũng tùy vào hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Có người nói rằng: Ai muốn có thì giờ yên tịnh làm việc, thì nên đến thật SỚM (sehr früh kommen) và về thật TRỄ (sehr spät nach hause gehen) để “ít” tiếp xúc (Kontakt) với đồng nghiệp và khách (Kunde)!
  7. Ăn uống (Essen und Trinken)
    Thoáng nghe có vẻ lạ lùng (komisch), nhưng Bạn cũng đừng xem thường nó (unterschätzen) – chẳng hạn uống nước thường xuyên (regelmäßiges Trinken). Điều này không có nghĩa rằng cứ 90 phút nốc một lít nước (Wasser) – tốt nhất là uống VÀI NGỤM trong khoảng vài phút. Bởi thiếu nước (Wassermangel) thì khả năng (Fähigkeit) chú tâm và tập trung của Bạn sẽ bị giảm đi (veringern).Tin dpa, hình Christin Klose.

Thứ tư ngày 27.09.2017
Sau chấn thương não từ từ trở lại trường học.

Phụ huynh (Eltern) nên tĩnh táo (wachsam) với những dấu hiệu đặc thù (typische Anzeichen) chấn thương não (Gehirnerschütterung). Nếu đó là con Bạn, thì vẫn được phép sớm (recht bald wieder) đến trường (Schule) – tuy nhiên (allerdings) có hạn chế (Einschränkung).
Nếu một trẻ em (Kind) sau một cú đấm vào (Schlag) hoặc bị đập (Stoß) đầu (Kopf), thí dụ bị té (Sturz), có dấu hiệu chấn thương não, thì cha mẹ phải đưa (bringen) bé đi bác sĩ (Arzt) để khám nghiệm (untersuchen). Điều này được Liên Hội Bác Sĩ Nhi Đồng và Thanh Thiếu Niên Đức (Bundesverband der Kinder- und Jugendärzte, viết tắt là BVKJ) lưu ý (hinweisen).
Phụ huynh cần chú ý (aufmerksam) khi con trẻ (Kind) có triệu chứng nhức đầu (Kopfschmerz) hoặc buồn nôn (Übelkeit) hoặc chóng mặt (schwindlig) hoặc khó ngủ (schlecht schlafen) sau khi bị té đập đầu xuống đất.
Sự nhạy cảm ánh sáng (Lichtempfindlichkeit) hoặc rối loạn sự tập trung (Konzentrationsstörung) cũng là dấu hiệu của sự chấn thương não. Khi đứa trẻ choáng váng (verwirrt), co thắt cơ bắp (krampft) hoặc nói (sprechen) khó hiểu (undeutlich) như không bình thường (ungewöhnlich), thì phụ huynh nên gọi (rufen) xe cứu thương (Krankenwagen), bác sĩ nhi đồng (Kinderarzt) khuyên (raten).

Khí té bị đập đầu (auf den Kopf stürzen), điều có thể xảy ra (passieren) là phần não bộ (Gehirn) ở xương hộp sọ (Schädelknochen) bị va chạm (stößen) và tùy tình huống (unter Umstände) các nối kết (Verbindung) giữa (zwischen) tế bào thần kinh (Nervenzellen) có thể bị tổn thương (schädigen). Để tái thiết lập (wiederherstellen), não bộ cần (brauchen) sự nghĩ ngơi (Ruhe). Vì thế cho nên, điều quan trọng (wichtig) cần phải mau chóng (möglichst schnell) chẩn đoán (feststellen) xem có phải là chấn thương não bộ hay không.
Trẻ nên ở nhà hai đến bốn ngày đễ tịnh dưỡng. Trước tiên (ertsmal), bé không nên đọc sách hay làm những việc cần suy nghĩ (geistige Arbeit). Sau đó, từ từ (nach und nach) đọc lúc đầu (zunächst) từ 5 đến 15 phút, rồi đến 30 phút. Khi bé có thể làm công việc cần suy nghĩ ít nhất (mindestens) 45 phút mà không bị nhức đầu (Kopfschmerz), thì phụ huynh có thể trình bày với bác sĩ xin phép cho bé đi học trở lại. Dĩ nhiên việc đi học trở lại cũng phải được thực hiện từng bước (schrittweise)
Trong trường học (Schule), trước tiên bé cần nghỉ giải lao thường xuyên (regelmäßige Pause). Một chỗ ngồi ít ánh sáng (lichtarm) và không quá ồn ào (zu laut) sẽ giúp cho bé trong thời gian đầu lúc đi họ trở lại. Mọi bộ môn chơi thể thao (Sport) hay vận động mạnh nên ngưng (verzichten) một thời gian ngắn (kurze Weile).

Tin và hình của dpa.

Thứ ba ngày 26.09.2017
Bà Merkel muốn nói chuyện với đảng Xanh và FDP – nhưng cũng với đảng SPD

Sau kết quả cuối tạm thời (vorläufiges Endergebnis), thì liên hiệp Cơ Đốc (Union) đạt kết quả tệ nhất (schwächstes Ergebnis) kể từ (seit) năm 1949 với 33 phần trăm (2013 với 41,5). Đảng SPD rơi xuống (stürzen) mức kỷ lục thấp (Rekordtief) là 20,5 phần trăm (25,7). Đảng AfD, năm 2013 thất bại (scheitern) đã tăng gần gấp ba lần (Dreifach), từ 4,7 thành 12,6 phần trăm. Đảng FDP lui lại (zurückkehren) quốc hội Đức (Bundestag) với 10,7 phần trăm . Đảng Tả Khuynh (Linke) 9,2 phần trăm (8,6) và đảng Xanh (Grüne) 8,9 (8,4).
Với con số 709 nghị viên (Abgeordnete), nhiệm kỳ mới (neue Wahlperiode) của quốc hội Đức có quá nhiều (so groß) chưa hề xảy ra trước đây (wie nie zuvor). Việc phân phối ghế (Sitzverteilung) theo vị điều hành trưởng bầu cử liên bang (Bundeswahlleiter) cho biết (angeben) như sau: CDU/CSU: 246 ghế; SPD: 153; AfD: 94; FDP: 80; Linke: 69 và Grüne: 67.
Có 76,2 phần trăm dân số tham gia bầu cử (Wahlbeteiligung) (2013: 71,5)

Bà Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) muốn rằng, sau sự mất mát to lớn (massiver Einbuß) của liên hiệp Cơ Đốc không những chỉ muốn nói chuyện với đảng Grüne và FDP về việc thành lập một chính phủ (Regierung), mà (sondern) cũng với đảng SPD. Điều quan trọng (wichtig) là nước Đức có một chính phủ vững vàng (stabil) và tốt (gut), bà đảng trưởng (Parteivorsitzenderin) CDU nói tại Berlin sau các phiên họp (Sitzung) của hội đồng cao cấp (Spitzengremium).

Việc tuyên bố (Ankündigung) của đảng SPD là muốn vào hàng ngũ đối lập (Opposition) bà cũng biết. “Cho dù thế (trotzdem), cũng nên liên hệ nói chuyện với nhau (Gesprächkontakt).” Ông Martin Schulz, đảng trưởng SPD muốn đặt điều kiện mới (Neuauflage) cho một liên minh cầm quyền lớn (große Koalition). Bà Merkel trước đó (zuvor) đã cảnh báo (warnen) đừng có sự phán đoán (Spekulieren) cho việc tái bầu cử (Neuwahl) vì đó là một sự xem thường (Missachtung) lá phiếu cử tri (Wählervotum). “Khi cử tri đã giao nhiệm vụ (Aufgabe geben) cho chúng ta, thì chúng ta phải thể hiện bằng hành động (umsetzen)

Tin và hình dpa.

Thứ hai ngày 25.09.2017
Một thủ tục cứu xét quá ư phức tạp – Điểm tú-tài chưa quyết định được cho một chỗ học y khoa.

Bác sĩ (Arzt) là nghề mơ ước (Traumjob) của nhiều học sinh tú tài (Abiturient). Nhưng việc phân phát (Vergabe) chỗ học (Studienplatz) ngành y khoa (Medizin) thật phức tạp (komplex) – còn nhiều vấn đề hơn không chỉ có điểm (Note) tú tài (Abitur) là đủ. Không có điểm 1,0 không làm gì được cả (nichts)? Không có một ngành nào (Fach) mà muốn có (ergattern) một chỗ học lại quá khó (so schwer) đến như vậy như ngành y khoa. Tuy nhiên (allerdings) điểm tú tài (Abiturnote) không chỉ là tiêu chuẩn duy nhất (einziges Kriterium), theo Trung Tâm Phát Triển Cao Học (Centrum für Hochschuleentwicklung, viết tắt là CHE) giải thích (erklären). Diễn biến phân phát chỗ học (Vergabeprozess) thông qua tổ chức (Stiftung) nhận vào cao học (Hochschulzulassung) và có ít nhiều (etwas) phức tạp hơn (komplizierter). Theo đó, một phần (Teil) các chỗ (Platz) được phân cho (vergeben) trước hết (vorab) những trường hợp gay go (Härtefall) và đặc biệt (Sonderfall) các kiểu (verschiedene Art) – trong số này ví dụ dành cho các y sĩ quan (Sanitätsoffiziere) quân đội Đức (Bundeswehr) trước.

Rồi mới đến điểm tú tài: 20 phần trăm chỗ dành cho những học sinh giỏi nhất trong năm (Jahrgangsbeste) của các tiểu bang (Bundesländer), 20 phần trăm tiếp theo cho những ứng viên (Bewerber) đã có thời gian chờ đợi quá lâu (längste Wartezeit). Phần còn lại (Rest) các chỗ sẽ được các cao học phân phát theo (nach) những tiêu chuẩn họ tự chọn (selbst gewählte Kriterien). Ở điểm này, số điểm tú tài mới thật sự đóng vai trò quan trọng (wichtige Rolle spielen). Nhưng cũng có nhiều đại học (Universität) quan tâm đến (berücksichtigen) ưu tiên địa điểm (Ortspräferenz) của ứng viên hoặc ứng viên phải làm trắc nghiệm riêng (eigener Test) của đại học đó hoặc bằng sự chọn lựa thông qua một cuộc đàm thoại (Auswahlgespräch). Một tiêu chuẩn phân phát chỗ duy nhất (einziges Vergabekriterium) căn cứ vào điểm tú tài, theo CHE, chỉ có 3 trong số 34 cao học quốc gia (staatliche Hochschule) có ngành y khoa.

Tin dpa, hình Franziska Gappert.

Chủ nhật ngày 24.09.2017
Thu thuế trong tháng tám tăng rõ rệt.

Việc thu thuế (Steuereinnahme) của nhà nước (Staat) nhờ (dank) nền kinh tế (Konjunktur) và tình trạng làm việc (Beschäftigungslage) tốt (gut) nên đã tăng (steigen) rõ rệt (deutlich) trong tháng tám (August). Sự gia tăng (Aufkommen) nói chung (insgesamt) không (ohne) kể đến thuế địa phương (Gemeindesteuer) tăng (zulegen) khoảng 6,8 phần trăm so với (gegenüber) cùng tháng năm trước (Vorjahrmonat). Tác động mạnh nhất (kräftigste Impulse) có lẽ là sự thu nhập (Einnahme) từ thuế lợi nhuận tiền tệ (Kapitalertragssteuer) và thuế tiền lời từng phần (Zinsabschlagsteuer) cũng như (sowie) thuế lương (Lohnsteuer), theo kết quả báo cáo hàng tháng mới nhất (aktueller Monatsbericht) của bộ tài chánh Đức (Bundesfinanzministerium). Trong khi (während) thuế ròng của liên bang (reiner Bundessteuer) qua việc tiếp tục hoàn trả (weitere Rückzahlung) thuế hạch nhân (Kernbrennstoffsteuer) bị âm (Minus), thì thuế của các tiểu bang (Ländersteuer) ghi nhận (verzeichnen) có gia tăng rõ rệt (deutlicher Zuwachs) nhờ sự thu thêm (Mehr-Einnahme) từ thuế hồi môn (Erschaftsteuer) và thuế tậu bất động sản (Grunderwerbsteuer) trong tháng tám.

Tin dpa, hình Tobias Hase.

Thứ bảy ngày 23.09.2017
Nhiều phụ huynh cần thêm phụ cấp con cái.

Ai không kiếm tiền (verdienen) đủ (nicht genug) để nuôi nấng (Unterhalt) con cái họ (eigene Kinder) thì có thể nhận thêm phụ cấp con cái (Kinderzuschlag). Số trẻ em cần thêm phụ cấp trong năm qua đã tăng (steigen) rõ rệt (deutlich) – lên khoảng 168.000 trẻ. Đây là nội dung câu trả lời (Antwort) của Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit) về thắc mắc liên quan đến vấn đề (entsprechende Anfrage) của bà Sabine Zimmermann, nữ nghị viên (Abgeordnete) đảng Tả khuynh (Linke) trong quốc hội Đức (Bundestag) mà thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết (vorliegen).
Việc trợ cấp xã hội (Sozialleistung) này đã được chi trả (auszahlen) vào cuối năm (Ende) 2016 cho số trẻ đó. Trong số này có khoảng 144.000 trẻ dưới (unter) 15 tuổi. Cuối năm 2015 con số trẻ em cần thêm phụ cấp tài chánh chỉ có khoảng 152.000 em, trong số này có 131.000 dưới 15 tuổi.

Phụ cấp thêm cho trẻ em là một việc hỗ trợ tài chánh phụ thêm (zusätzliche finanzielle Unterstützung) cho những phụ huynh đi làm (erwerbstätigte Eltern) mà sự thu nhập (Einkommen9 của họ không đủ (nicht ausreichend) để đảm bảo (sichern) đủ nuôi nấng con cái. Phụ cấp thêm cho trẻ em tối đa (maximal) là 170 Euro. Phụ cấp (Zuschlag) được chi trả chung (gemeinsam) với tiền con (Kindergeld). Và được đưa vào (einführen) chung với trợ cấp Hartz-IV, như thế các gia đình (Familien) không phải vì con cái của mình mà bị trượt (rutschen) vào dạng tiền thất nghiệp loại II (Arbeitslosengeld II).
Cuối năm 2014 còn có đến 176.000 trẻ nhận phụ cấp. Con số cao nhất (Spitzenwert) trong năm 2010 với 214.000 trẻ em.

Tin dpa, hình Patrick Seeger

Thứ sáu ngày 22.09.2017
Tòa án tiểu bang Berlin cho rằng việc hãm giá tiền mướn nhà vi hiến.

Tòa án tiểu bang (Landgericht) Berlin cho rằng việc hãm giá tiền mướn nhà đã quyết định thông qua (beschlossene Mietpreisbremse) của liên minh lớn cầm quyền (große Koalition) trong năm 2015 vi phạm hiến pháp (verfassungswidrig). Mức độ quy chiếu (Bezugsgroß) được sử dụng (nutzen) cho sự so giá mướn bình thường của địa phương (ortsübliche Miete), nhưng nó sai khác (voneinander weichen) rất đáng kể (wesentlich) trong nhiều thành phố (verschiedene Städte). Ngoài ra (außerdem), nó làm thuận lợi (begünstigen) cho chủ nhà trong quá khứ (Vergangenheit) đã (bereits) lấy tiền mướn cao (hohe Miete). Tòa án tiểu bang đã giải quyết (behandeln) đơn kiện (Klage) của một phụ nữ mướn nhà (Mieterin). Tuy nhiên, tòa án cũng lưu ý (hinweisen) rằng sự quyết định (Entscheidung) thích nghi hiến pháp (Verfassunggemäßheit) chỉ là thẩm quyền (Zuständigkeit) của tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht).

Tin dpa, hình Wolfgang Kumm.

Thứ năm ngày 21.09.2017
Công đoàn Đức phê phán tiền mướn nhà cao.

Một tuần trước cuộc bầu cử quốc hội Đức (Bundestagswahl), Công Đoàn Lao Động Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB) phê phán (anprangern) rằng, vẫn còn nhiều (immer mehr) công nhân (Arbeitnehmer) bị lấn ép (verdrängen) ra khỏi thành phố (Innenstadt) vì tiền mướn nhà tăng (steigende Miete). „Trong nhiều thành phố, người lao động (Beschäftigte) phải bòn mót (berappen) 40 hoặc thậm chí (gar) đến 50 phần trăm thu nhập (Einkommen) của họ để trả tiền mướn nhà – điều này không thể được. Nơi cư ngụ (Wohnen) không được phép là xa-xỉ-phẩm (Luxus)“, ông Stefan Körzell, thanh viên ban lãnh đạo (Vorstandmitglied) của DGB nói với tờ „Neue Osnabrücker Zeitung“. Ông căn cứ vào kết quả một sự khảo sát mới (neue Studie) của đại học (Universität) Humboldt được tổ chức gần gủi công đoàn (gewerkschaftsnah) Hans-Böckler-Stiftung ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) và đã được giới thiệu (präsentieren) hôm thứ hai (Montag) vừa rồi.

Theo đó, có gần một triệu (Million) hộ gia đình (Haushalt) tầm 1,6 triệu người trong 77 thành phố lớn (Großstadt) được khảo sát (untersuchen) thậm chí phải chi trả (aufwenden) tiền mướn nhà hơn một nửa (Hälfte) số thu nhập hàng tháng của họ. „Khoảng 1,3 triệu hộ gia đình trong thành phố lớn sau khi trừ đi (Abzug) tiền trả mướn nhà (Mietzahlung) chỉ còn một ít thu nhập nằm dưới (unterhalb liegen) mức định chuẩn (Regelsatz) của trợ cấp Hartz-IV“, các tác giả (Autoren) sự khảo sát quả quyết (festhalten). Ông Körzell đã yêu cầu (fordern) tăng mạnh (verschärfen) việc hãm tiền mướn nhà (Mietpreisbremse) làm lợi (zugunsten) cho người mướn nhà (Mieter). „Trong đạo luật (Gesetz) phải có những biện pháp trừng phạt (Sanktionsmöglichkeit) để có thể cảnh cáo (ahnen) sự vi phạm (Verstoß) của chủ nhà (Vermieter).“ Đồng thời Công Đoàn cổ vũ cho quyền (Rechtsanspruch) được biết những thông tin liên quan đến việc mướn nhà (Mietauskunft). „Ai muốn mướn một căn hộ (Wohnung) cũng phải có thể biết (erfahren) tiền mướn trước đó (zuvor) đã được trả (zahlen) bao nhiêu (wie viel) từ chủ nhà.

Tin dpa, hình Silas Stein.

Thứ tư ngày 20.09.2017
Các nhà khoa học chần chừ việc thành lập doanh nghiệp.

Mặc dù (trotz) những sáng kiến thành lập đa dạng (vielfältige Gründungsidee), nhưng chỉ có một số ít khoa học gia (Wissenschaftler) dám (wagen) mạo hiểm việc tự lập (Selbstständigkeit). Điều này đã được một cuộc khảo sát mới nhất (aktuelle Studie) của Viện Nghiên Cứu Giới Trung Lưu (Institut für Mittelstandfroschung, viết tắt là IfM) xác chứng (belegen). Ở các cao học (Hochschule) và viện nghiên cứu (Forschungsinstitut) luôn có những sáng kiến mới (gute Ideen) mỗi ngày (täglich). Nhiều khoa học gia muốn thực hiện những tư tưởng (gedanke) này để tiến đến việc tự lập. Nhưng chỉ có một số ít trong số này thật sự (tatsächlich) dám thành lập công ty. Chỉ có 17 phần trăm khoa học gia trước đây ba năm đã có những sáng kiến thành lập không cụ thể (unkonkret), nhưng ngày nay (heute) họ đã tự lập (selbstständig). Một phần tư (Vietel), 25 phần trăm, đã bỏ cuộc (aufgeben) thực hiện giấc mơ (Traum) thành lập công ty; 60 phần trăm đã dời lại (aufschieben) bước tiến (Schritt) tự lập. Ngược lại (hingegen), ai tự lập thì đa phần (meistens) vẫn tiếp tục (am Ball bleiben): 77 phần trăm khoa học gia trước đây ba năm đã lập công ty được hỏi ý kiến (befragen) thì họ cho biết rằng, họ vẫn còn duy trì cho đến hôm nay.

Tin dpa, hình Wolfram Kastl.

Thứ ba ngày 19.09.2017
Ông Schulz muốn đảng viên SPD biểu quyết về sự liên minh.

Ông Schulz đã ca ngợi (loben) đảng viên (Perteimitglied) SPD dấn thân nhiều (großer Einsatz) cho cuộc tranh cử (Wahlkampf). Theo nguyện vọng (Willen) của ông, các đảng viên SPD sẽ biểu quyết (abstimmen) việc thành lập (bilden) liên hiệp chính phủ (Regierungskoalition) với đảng nào sau cuộc bầu cử quốc hội (Bundestagswahl) sắp đến. Cuộc thăm dò tư tưởng đảng viên (Mitgliederbefragung) sau lần bầu cử (Wahl) năm 2013 đã trở thành “giờ cao điểm” (Sternstunde) thể hiện tinh thần Dân Chủ nội bộ đảng (innerparteiliche Demokratie). “Sau đó chúng tôi không muốn và có thể thoái lui được”, vị ứng cử viên Thủ Tướng (Kanzlerkandidat) nói với tạp chí (Magazin) “Spiegel” (Tấm Gương). Tháng mười hai (Dezember) 2013, có 78 phần trăm trong số khoảng (etwa) 475.000 người Dân Chủ Xã Hội (Sozialdemokraten) đã tham gia (sich beteiligen) cuộc thăm dò ý kiến (Befragung). Trong số này có 76 phần trăm bỏ phiếu (votieren) đồng ý việc tham gia (Beteiligung) liên minh lớn cầm quyền (große Koalition). Qua sự tuyên bố (Ankündigung) này, theo tạp chí trên,  ông Schulz muốn xoa dịu (besänftigen) những nhà phê bình (Kritiker) một ấn bản mới (Neuauflage) của liên minh đương nhiệm (amtierendes Bündnis) giữa liên hiệp Cơ Đốc (Union= CDU/CSU) và đảng SPD.

Tin dpa, hình Kay Nietfeld.


Thứ hai ngày 18.09.2017

Cảnh sát liên bang chận một xe hàng chở lậu 51 người.

Ngay giữa đêm (Mitten in der Nacht) thứ sáu (Freitag) rạng ngày thứ bảy (Samstag), cảnh sát Đức (Bundespolizei) kiểm soát (kontrollieren) trên xa-lộ (Autobhan) trong khu vực ranh giới (Grenzgebiet) với Ba Lan (Polen) một xe tải (Lastwagen, viết tắt là Lkw) đang trên đường nhắm hướng (Richtung) Berlin. Trên sàn chất hàng (Ladefläche), một „hình ảnh thương tâm“ (erschütterndes Bild) đã đập vào mắt các nhân viên công lực.
Trên xa-lộ số 12, đoạn Ostbrandenburg gần (nahe) biên giới (Grenze) Ba Lan, cảnh sát Đức đã chận (stoppen) một xe tải chở lậu (Schleuser) 51 người đang nằm trên sàn chất hàng. Trong số này có 17 trẻ em (Kinder), theo thông báo (Mitteilung) của Tổng Nha Cảnh Sát Đức (Bundespolizeidirektion) Berlin. Theo sự hiểu biết đầu tiên (erste Erkenntnisse) thì những người này liên quan đến nhiều gia đình (Familie) có quốc tịch (Staatsangehörigkeit) Irak, theo lời khai của họ (eigene Auskunft). Họ không có giấy tờ (Dokumemnte) tùy thân cũng như không có thông hành (Pass) mang theo (bei sich). Hình ảnh thương tâm hiện ra với 20 đàn ông, 14 phụ nữ cũng như 10 con trai (Junge) và 7 con gái (Mädchen) đang ngồi (sitzen) và đứng (stehen) trên sàn chất hàng của xe tải.

Nhân viên công lực (Beamte) đã chận tài xế (Fahrer) 46 tuổi trong đêm (in der Nacht) rạng ngày thứ bảy (Samstag) khoảng (gegen) 2 giờ 5 phút trên đoạn đổi tuyến đường (Anschlussstelle) Müllrose hướng Berlin. Người tài xế này đã bị tạm (vorläufig) giam giữ (festnehmen) vì tình nghi (Verdacht) đưa lậu người (einschleusen) ngoại quốc (Ausländer) sang Đức. Người tài xế đến từ (stammen) Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei), chiếc xe tải cũng được đăng bộ (zulassen) tại đó, theo cảnh sát; và người này đã được lấy khẩu cung (vernehmen). Phát ngôn viên (Sprecher) của cảnh sát Đức nói rằng, trước tiên (zunächst) nghi phạm không muốn trình bày (sich äußern) về sự cố (Vorfall) và bị áp tải (vorführen) đến thẩm phán hình sự (Haftrichter).
Theo sự điều tra (Ermittlung) của cảnh sát Đức, họ kiểm tra (prüfen) xem vụ chở lậu người lần này có liên quan đến (Verbindung) hoặc song song (Parallelen) những vụ tương tự (ähnlicher Fall) ở biên giới Đức-Ba Lan hay không, theo lời phát ngôn viên. Lần cuối (zuletzt), cảnh sát Đức đã bắt giữ 40 người Irak được chở lậu qua Đức trong khu vực Bad Muskau. Một vài người trong số này đã khai (erklären) rằng, họ được xe tải chở từ Thổ đến Ba Lan. Kẻ buôn người (Schleuser) đã thả họ xuống xe (absetzen) để họ tự đi bộ sang Đức.

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Chủ nhật ngày 17.09.2017
Việc tái hội nhập nghề nghiệp sau khi bệnh như thế nào.

Những con số mới (neue Zahlen) cho thấy (zeigen), các công nhân (Arbeitnehmer) bị bệnh (erkranken) tâm lý (psychisch) đặc biệt (besonders) có nhiều ngày nghỉ làm (Fehltage). Việc quay lại (Rückkehr) chỗ làm (Arbeitsplatz) đối với đương sự (Betroffene) thường (meist) là một sự thử thách lớn (große Herausfoderung). Cho nên việc tái hội nhập (Wiedereingliederung) có thể giúp (helfen) họ trở lại công việc (Job). Các bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) làm cho (sorgen) thời gian nghỉ việc (Fehlzeit) ngày càng nhiều hơn (immer mehr) và người thợ phải nghỉ nhiều hơn vì bệnh hoạn. Theo báo cáo (Report) của Liên Hội (Bundesverband) công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenversicherung) AOK. Số người bệnh tâm lý (psychische Erkrankte) cũng như số ngày nghỉ việc của từng bệnh nhân (je Patient) đã gia tăng (steigen). Nếu một người (jemand) nghỉ bệnh ít nhất (mindestens) sáu (sechs) tuần (Woche) trong khoảng (innerhalb) 12 tháng (Monat), thì ông được quyền (zustehen) hưởng cái gọi là (sogenante) „quản lý sự hội nhập“ (Eingliederungsmanagement). Quyền lợi này dành cho nhân viên (Angestellte) làm việc theo giờ (Teilzeit) hoặc là huấn nghệ sinh (Azubi, viết tắt của chữ Azubildende), theo sự gỉải thích (Erklärung) của Viện Khoa Học Lao Động Ứng Dụng (Institut für Angewandte Arbeitswissenschaft, viết tắt là IfaA) trong một tài liệu mới liên quan đến đề tài (Thema) này.

Chỉ trong thời gian thử việc (Probezeit), thì chủ nhân (Arbeitgeber) chưa phải (noch nicht) có bổn phận (Pflicht) cung cấp (anbieten) một sự quản lý hội nhập của công ty (Betriebliches Eingliederungsmanagement, viết tắt là BEM). Ai hưởng BEM, thì không cần (brauchen) lo ngại (befürchten) có sự ghi chú (Eintrag) trong hồ sơ nhân viên (Personalakte) về sự kiện này: Đối với sự hội nhập (Eingliederung), chủ nhân phải thiết lập (anlegen) một hồ sơ riêng biệt (separate Akte) để ghi chép và hồ sơ này chỉ người có thẩm quyền liên quan đến vụ việc mới có thể đọc (zugreifen). Hồ sơ này phải tiêu hủy (vernichten) ba năm sau khi chấm dứt (nach Ende) sự việc. Trong hồ sơ nhân viên, chỉ (lediglich) được phép lưu ý (Hinweise) rằng nhân viên đã được mời (einladen) đến BEM. Việc hội nhập diễn tiến chính xác (genau) như thế nào tùy (jenachdem) trường hợp (Fall) khác nhau. Điều có thể xảy ra là việc tăng dần (stufenweise Erhöhung) giờ làm việc (Arbeitszeit), những biện pháp phục hồi hỗ trợ nghề nghiệp (berufsbegleitende Reha-Maßnahme) hoặc thay đổi kỹ thuật (technische Veränderung) ở chỗ làm (Arbeitsplatz) để ngăn chận (verhindern) thí dụ (zum Beispiel) liên quan đến vấn đề xương sống (Rückenprobleme).

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Thứ bảy ngày 16.09.2017
Làm thế nào biết sớm chứng bệnh tâm thần.

Nếu có người bị ảo giác (Halluzination) thì được khuyên nên đến bác sĩ (Arzt) khám bệnh, điều này hầu hết ai cũng rõ biết (klar). Nếu tốt hơn (besser) nên được trị liệu, khi căn bệnh (Erkrankung) thậm chí chưa (noch gar nicht) khởi phát (ausbrechen). Nhưng người ta nhận biết (erkennen) nó khi nào? Nếu nghe tiếng nói (Stimme) hoặc thấy vật (Dinge) không có ở đó (nicht da) thì đây là dấu hiệu cảnh báo rất rõ ràng (sehr eindeutiges Warnsignal). Thông thường (häufig) mặt sau của nó là một chứng bệnh tâm thần (Psychose). Cách lý tưởng (idealerweise) là nên nhận biết trước khi (bevor) xảy ra những hậu quả (Auswirkung) như vậy. Sự khởi phát (Ausbruch) một chứng bệnh tâm thần vẫn có thể ngăn chận (verhindern) được, theo sự giải thích của Liên Hội Nghề Nghiệp Bác Sĩ Thần Kinh Đức (Berufverband Deutscher Nervenärzte, viết tắt là BVDN). Ít nhất (zumindest) chứng bệnh thường (meist) diễn tiến (verlaufen) yếu hơn (schwächer). Những dấu hiệu sớm (frühe Anzeichen) của chứng bệnh tâm thần là sự bất an nội tâm (innere Unruhe), dễ kích động (Reizbarkeit) và không bình tĩnh (Nervösität). Bệnh nhân có thể tập trung kém (schlecht konzentrieren), rất nhạy cảm (sehr sensibel) và khó khắc phục (schlecht bewältigen) tình trạng căng thẳng (stressige Situation).

Thậm chí lúc nhận biết có tình trạng này thì nên đến trung tâm chẩn sớm (Frühererkennungszentrum) để khám nghiệm (untersuchen), các bác sĩ thần kinh giải thích (erklären). Đôi khi (manchmal), ngay cả các chuyên gia (Expert) trong thời điểm này cũng không thể xác định (feststellen) được những dấu hiệu là triệu chứng sớm (frühe Symptome) của một chứng bệnh thần kinh hay không. Trong trường hợp đó, nên đến trung tâm thường xuyên để khám nghiệm. Nếu căn bệnh đã khởi phát, theo các nhà thần kinh học (Psychiater) quả quyết (betonen), thì nó thường (meist) có thể được điều trị tốt (gut behandelbar). Cho nên, ở nhiều trường hợp thậm chí (gar) không cần thiết (nicht notwendig) phải nằm viện (stationärer Aufenthalt). Thay vì thế (stattdessen), bệnh tâm thần thường (häufig) được điều trị (therapieren) ngoại viện (ambulant). Một bệnh tâm thần có dấu hiệu biểu hiện khi người bệnh (Erkrankte) nhận biết (wahrnehmen) môi trường quanh họ (Umgebung) – chẳng hạn (etwa) tiếng động (Geräusche), màu sắc (Farbe) hoặc mùi (Gerüche) – hoặc ngay bản thân (sich selbst) có thay đổi (verändern). Còn những người (Mensch) bị (erleiden) ám ảnh tâm lý (Trauma) mà trong gia đình (Familie) họ đã có người bị tâm thần hoặc trước đây (früh) và tiêu thụ (knsumieren) ma tuý (Drogen) nhiều (intensiv), theo liên hội BVDN, họ có nguy cơ (Gefährdung) đặc biệt (besonders) mắc chứng tâm thần.

Tin dpa, hình Bicolas Armer.

Thứ sáu ngày 15.09.2017
Không gia hạn hợp đồng vì béo phì có phải là điều hợp lý chăng?

Một tài xế lái xe hàng (Kraftfahrer) mặc dù (trotz) rất béo phì (starke Fettleibigkeit) vẫn được nhận (erhalten) việc (Job). Nhưng việc gia hạn (Verlängerung) công việc có hạn định (befristet) không được tiếp tục bởi vì béo phì (Übergewicht). Điều này có hợp lý (rechtens) không? Chủ nhân được phép kết thúc một công việc có hạn kỳ, khi công nhân (Arbeitnehmer) quá béo phì (stark übergewichtig). Trường hợp này không liên quan đến sự kỳ thị (Diskriminierung) theo tinh thần đạo luật bình quyền chung (Allgemeines Gleichstellungsgesetz, viết tắt AGG). Đây là trường hợp của một tài xế lái xe hàng (Kraftfahrer) có hợp đồng lao động có hạn hai năm. Lúc nhận việc (Einstellung), người này có chỉ số thân thể-trọng lượng (Body-Mass-Index) là 41,67, tương đương (entsprechen) với một cái gọi là (sogenannte) béo phì „Adipositas“ cấp ba (dritten) và xem như là mức độ cao nhất (höchste Grade). Ngoại trừ (außer) áp huyết cao (erhöhter Belastungsblutdruck) lúc khám nghiệm nhận việc (Einstellungsuntersuchung) đã không có dấu hiệu (Auffälligkeit). Một cuộc khám nghiệm khác sau một năm rưỡi cũng có Body-Mass-Index 44.5. Nhưng công việc (Tätigkeit) của ông từ đó đã có hạn chế (Einschränkung). Cấp trên trực tiếp (direkter Vorgesetzte) của ông đề nghị (empehlen) chủ nhân (Arbeitgeber) gia hạn (verlängern) việc làm, vì người đàn ông này chăm chỉ (fleißig) và năng nổ (motiviert).

Nhưng trong câu chuyện giữa nhân viên và chủ nhân (Personalgespräch) thì người tài xế này được thông báo (mitteilen) rằng, công việc có hạn của ông kết thúc (enden) và không được gia hạn (verlängern) tiếp tục. Lý do biện dẫn (Begründung) là vì quá béo phì (schwere Fettleibigkeit) nên phải tính đến việc ông phải nghỉ làm nữa chừng bởi tình trạng sức khoẻ (Gesundheitslage). Việc kiện tụng (Klage) của người này trước toà án lao động tiểu bang (Landesarbeitsgericht) Niedersachsen không thành công (erfolglos); hồ sơ thụ lý số Az.: 10 Sa 216/16. Lời biện dẫn của các thẩm phán (Richter) cho rằng, chủ nhân không vi phạm (Verstoß) đạo luật AGG. Sự béo phì trên nguyên tắc (grundsätzlich) không là một sự cản trở (Behinderung), cụ thể (konkret) là không ảnh hưởng (Auswirkung) đến công việc của ông cho đến nay %E

3374 Tổng số lượt xem 2 lượt xem ngày hôm nay