» » Tin Đức Quốc tháng 09.2017

Tin Đức Quốc tháng 09.2017

Chủ nhật ngày 24.09.2017
Thu thuế trong tháng tám tăng rõ rệt.

Việc thu thuế (Steuereinnahme) của nhà nước (Staat) nhờ (dank) nền kinh tế (Konjunktur) và tình trạng làm việc (Beschäftigungslage) tốt (gut) nên đã tăng (steigen) rõ rệt (deutlich) trong tháng tám (August). Sự gia tăng (Aufkommen) nói chung (insgesamt) không (ohne) kể đến thuế địa phương (Gemeindesteuer) tăng (zulegen) khoảng 6,8 phần trăm so với (gegenüber) cùng tháng năm trước (Vorjahrmonat). Tác động mạnh nhất (kräftigste Impulse) có lẽ là sự thu nhập (Einnahme) từ thuế lợi nhuận tiền tệ (Kapitalertragssteuer) và thuế tiền lời từng phần (Zinsabschlagsteuer) cũng như (sowie) thuế lương (Lohnsteuer), theo kết quả báo cáo hàng tháng mới nhất (aktueller Monatsbericht) của bộ tài chánh Đức (Bundesfinanzministerium). Trong khi (während) thuế ròng của liên bang (reiner Bundessteuer) qua việc tiếp tục hoàn trả (weitere Rückzahlung) thuế hạch nhân (Kernbrennstoffsteuer) bị âm (Minus), thì thuế của các tiểu bang (Ländersteuer) ghi nhận (verzeichnen) có gia tăng rõ rệt (deutlicher Zuwachs) nhờ sự thu thêm (Mehr-Einnahme) từ thuế hồi môn (Erschaftsteuer) và thuế tậu bất động sản (Grunderwerbsteuer) trong tháng tám.

Tin dpa, hình Tobias Hase.

Thứ bảy ngày 23.09.2017
Nhiều phụ huynh cần thêm phụ cấp con cái.

Ai không kiếm tiền (verdienen) đủ (nicht genug) để nuôi nấng (Unterhalt) con cái họ (eigene Kinder) thì có thể nhận thêm phụ cấp con cái (Kinderzuschlag). Số trẻ em cần thêm phụ cấp trong năm qua đã tăng (steigen) rõ rệt (deutlich) – lên khoảng 168.000 trẻ. Đây là nội dung câu trả lời (Antwort) của Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit) về thắc mắc liên quan đến vấn đề (entsprechende Anfrage) của bà Sabine Zimmermann, nữ nghị viên (Abgeordnete) đảng Tả khuynh (Linke) trong quốc hội Đức (Bundestag) mà thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) biết (vorliegen).
Việc trợ cấp xã hội (Sozialleistung) này đã được chi trả (auszahlen) vào cuối năm (Ende) 2016 cho số trẻ đó. Trong số này có khoảng 144.000 trẻ dưới (unter) 15 tuổi. Cuối năm 2015 con số trẻ em cần thêm phụ cấp tài chánh chỉ có khoảng 152.000 em, trong số này có 131.000 dưới 15 tuổi.

Phụ cấp thêm cho trẻ em là một việc hỗ trợ tài chánh phụ thêm (zusätzliche finanzielle Unterstützung) cho những phụ huynh đi làm (erwerbstätigte Eltern) mà sự thu nhập (Einkommen9 của họ không đủ (nicht ausreichend) để đảm bảo (sichern) đủ nuôi nấng con cái. Phụ cấp thêm cho trẻ em tối đa (maximal) là 170 Euro. Phụ cấp (Zuschlag) được chi trả chung (gemeinsam) với tiền con (Kindergeld). Và được đưa vào (einführen) chung với trợ cấp Hartz-IV, như thế các gia đình (Familien) không phải vì con cái của mình mà bị trượt (rutschen) vào dạng tiền thất nghiệp loại II (Arbeitslosengeld II).
Cuối năm 2014 còn có đến 176.000 trẻ nhận phụ cấp. Con số cao nhất (Spitzenwert) trong năm 2010 với 214.000 trẻ em.

Tin dpa, hình Patrick Seeger

Thứ sáu ngày 22.09.2017
Tòa án tiểu bang Berlin cho rằng việc hãm giá tiền mướn nhà vi hiến.

Tòa án tiểu bang (Landgericht) Berlin cho rằng việc hãm giá tiền mướn nhà đã quyết định thông qua (beschlossene Mietpreisbremse) của liên minh lớn cầm quyền (große Koalition) trong năm 2015 vi phạm hiến pháp (verfassungswidrig). Mức độ quy chiếu (Bezugsgroß) được sử dụng (nutzen) cho sự so giá mướn bình thường của địa phương (ortsübliche Miete), nhưng nó sai khác (voneinander weichen) rất đáng kể (wesentlich) trong nhiều thành phố (verschiedene Städte). Ngoài ra (außerdem), nó làm thuận lợi (begünstigen) cho chủ nhà trong quá khứ (Vergangenheit) đã (bereits) lấy tiền mướn cao (hohe Miete). Tòa án tiểu bang đã giải quyết (behandeln) đơn kiện (Klage) của một phụ nữ mướn nhà (Mieterin). Tuy nhiên, tòa án cũng lưu ý (hinweisen) rằng sự quyết định (Entscheidung) thích nghi hiến pháp (Verfassunggemäßheit) chỉ là thẩm quyền (Zuständigkeit) của tòa án hiến pháp Đức (Bundesverfassungsgericht).

Tin dpa, hình Wolfgang Kumm.

Thứ năm ngày 21.09.2017
Công đoàn Đức phê phán tiền mướn nhà cao.

Một tuần trước cuộc bầu cử quốc hội Đức (Bundestagswahl), Công Đoàn Lao Động Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB) phê phán (anprangern) rằng, vẫn còn nhiều (immer mehr) công nhân (Arbeitnehmer) bị lấn ép (verdrängen) ra khỏi thành phố (Innenstadt) vì tiền mướn nhà tăng (steigende Miete). „Trong nhiều thành phố, người lao động (Beschäftigte) phải bòn mót (berappen) 40 hoặc thậm chí (gar) đến 50 phần trăm thu nhập (Einkommen) của họ để trả tiền mướn nhà – điều này không thể được. Nơi cư ngụ (Wohnen) không được phép là xa-xỉ-phẩm (Luxus)“, ông Stefan Körzell, thanh viên ban lãnh đạo (Vorstandmitglied) của DGB nói với tờ „Neue Osnabrücker Zeitung“. Ông căn cứ vào kết quả một sự khảo sát mới (neue Studie) của đại học (Universität) Humboldt được tổ chức gần gủi công đoàn (gewerkschaftsnah) Hans-Böckler-Stiftung ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) và đã được giới thiệu (präsentieren) hôm thứ hai (Montag) vừa rồi.

Theo đó, có gần một triệu (Million) hộ gia đình (Haushalt) tầm 1,6 triệu người trong 77 thành phố lớn (Großstadt) được khảo sát (untersuchen) thậm chí phải chi trả (aufwenden) tiền mướn nhà hơn một nửa (Hälfte) số thu nhập hàng tháng của họ. „Khoảng 1,3 triệu hộ gia đình trong thành phố lớn sau khi trừ đi (Abzug) tiền trả mướn nhà (Mietzahlung) chỉ còn một ít thu nhập nằm dưới (unterhalb liegen) mức định chuẩn (Regelsatz) của trợ cấp Hartz-IV“, các tác giả (Autoren) sự khảo sát quả quyết (festhalten). Ông Körzell đã yêu cầu (fordern) tăng mạnh (verschärfen) việc hãm tiền mướn nhà (Mietpreisbremse) làm lợi (zugunsten) cho người mướn nhà (Mieter). „Trong đạo luật (Gesetz) phải có những biện pháp trừng phạt (Sanktionsmöglichkeit) để có thể cảnh cáo (ahnen) sự vi phạm (Verstoß) của chủ nhà (Vermieter).“ Đồng thời Công Đoàn cổ vũ cho quyền (Rechtsanspruch) được biết những thông tin liên quan đến việc mướn nhà (Mietauskunft). „Ai muốn mướn một căn hộ (Wohnung) cũng phải có thể biết (erfahren) tiền mướn trước đó (zuvor) đã được trả (zahlen) bao nhiêu (wie viel) từ chủ nhà.

Tin dpa, hình Silas Stein.

Thứ tư ngày 20.09.2017
Các nhà khoa học chần chừ việc thành lập doanh nghiệp.

Mặc dù (trotz) những sáng kiến thành lập đa dạng (vielfältige Gründungsidee), nhưng chỉ có một số ít khoa học gia (Wissenschaftler) dám (wagen) mạo hiểm việc tự lập (Selbstständigkeit). Điều này đã được một cuộc khảo sát mới nhất (aktuelle Studie) của Viện Nghiên Cứu Giới Trung Lưu (Institut für Mittelstandfroschung, viết tắt là IfM) xác chứng (belegen). Ở các cao học (Hochschule) và viện nghiên cứu (Forschungsinstitut) luôn có những sáng kiến mới (gute Ideen) mỗi ngày (täglich). Nhiều khoa học gia muốn thực hiện những tư tưởng (gedanke) này để tiến đến việc tự lập. Nhưng chỉ có một số ít trong số này thật sự (tatsächlich) dám thành lập công ty. Chỉ có 17 phần trăm khoa học gia trước đây ba năm đã có những sáng kiến thành lập không cụ thể (unkonkret), nhưng ngày nay (heute) họ đã tự lập (selbstständig). Một phần tư (Vietel), 25 phần trăm, đã bỏ cuộc (aufgeben) thực hiện giấc mơ (Traum) thành lập công ty; 60 phần trăm đã dời lại (aufschieben) bước tiến (Schritt) tự lập. Ngược lại (hingegen), ai tự lập thì đa phần (meistens) vẫn tiếp tục (am Ball bleiben): 77 phần trăm khoa học gia trước đây ba năm đã lập công ty được hỏi ý kiến (befragen) thì họ cho biết rằng, họ vẫn còn duy trì cho đến hôm nay.

Tin dpa, hình Wolfram Kastl.

Thứ ba ngày 19.09.2017
Ông Schulz muốn đảng viên SPD biểu quyết về sự liên minh.

Ông Schulz đã ca ngợi (loben) đảng viên (Perteimitglied) SPD dấn thân nhiều (großer Einsatz) cho cuộc tranh cử (Wahlkampf). Theo nguyện vọng (Willen) của ông, các đảng viên SPD sẽ biểu quyết (abstimmen) việc thành lập (bilden) liên hiệp chính phủ (Regierungskoalition) với đảng nào sau cuộc bầu cử quốc hội (Bundestagswahl) sắp đến. Cuộc thăm dò tư tưởng đảng viên (Mitgliederbefragung) sau lần bầu cử (Wahl) năm 2013 đã trở thành “giờ cao điểm” (Sternstunde) thể hiện tinh thần Dân Chủ nội bộ đảng (innerparteiliche Demokratie). “Sau đó chúng tôi không muốn và có thể thoái lui được”, vị ứng cử viên Thủ Tướng (Kanzlerkandidat) nói với tạp chí (Magazin) “Spiegel” (Tấm Gương). Tháng mười hai (Dezember) 2013, có 78 phần trăm trong số khoảng (etwa) 475.000 người Dân Chủ Xã Hội (Sozialdemokraten) đã tham gia (sich beteiligen) cuộc thăm dò ý kiến (Befragung). Trong số này có 76 phần trăm bỏ phiếu (votieren) đồng ý việc tham gia (Beteiligung) liên minh lớn cầm quyền (große Koalition). Qua sự tuyên bố (Ankündigung) này, theo tạp chí trên,  ông Schulz muốn xoa dịu (besänftigen) những nhà phê bình (Kritiker) một ấn bản mới (Neuauflage) của liên minh đương nhiệm (amtierendes Bündnis) giữa liên hiệp Cơ Đốc (Union= CDU/CSU) và đảng SPD.

Tin dpa, hình Kay Nietfeld.


Thứ hai ngày 18.09.2017

Cảnh sát liên bang chận một xe hàng chở lậu 51 người.

Ngay giữa đêm (Mitten in der Nacht) thứ sáu (Freitag) rạng ngày thứ bảy (Samstag), cảnh sát Đức (Bundespolizei) kiểm soát (kontrollieren) trên xa-lộ (Autobhan) trong khu vực ranh giới (Grenzgebiet) với Ba Lan (Polen) một xe tải (Lastwagen, viết tắt là Lkw) đang trên đường nhắm hướng (Richtung) Berlin. Trên sàn chất hàng (Ladefläche), một „hình ảnh thương tâm“ (erschütterndes Bild) đã đập vào mắt các nhân viên công lực.
Trên xa-lộ số 12, đoạn Ostbrandenburg gần (nahe) biên giới (Grenze) Ba Lan, cảnh sát Đức đã chận (stoppen) một xe tải chở lậu (Schleuser) 51 người đang nằm trên sàn chất hàng. Trong số này có 17 trẻ em (Kinder), theo thông báo (Mitteilung) của Tổng Nha Cảnh Sát Đức (Bundespolizeidirektion) Berlin. Theo sự hiểu biết đầu tiên (erste Erkenntnisse) thì những người này liên quan đến nhiều gia đình (Familie) có quốc tịch (Staatsangehörigkeit) Irak, theo lời khai của họ (eigene Auskunft). Họ không có giấy tờ (Dokumemnte) tùy thân cũng như không có thông hành (Pass) mang theo (bei sich). Hình ảnh thương tâm hiện ra với 20 đàn ông, 14 phụ nữ cũng như 10 con trai (Junge) và 7 con gái (Mädchen) đang ngồi (sitzen) và đứng (stehen) trên sàn chất hàng của xe tải.

Nhân viên công lực (Beamte) đã chận tài xế (Fahrer) 46 tuổi trong đêm (in der Nacht) rạng ngày thứ bảy (Samstag) khoảng (gegen) 2 giờ 5 phút trên đoạn đổi tuyến đường (Anschlussstelle) Müllrose hướng Berlin. Người tài xế này đã bị tạm (vorläufig) giam giữ (festnehmen) vì tình nghi (Verdacht) đưa lậu người (einschleusen) ngoại quốc (Ausländer) sang Đức. Người tài xế đến từ (stammen) Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei), chiếc xe tải cũng được đăng bộ (zulassen) tại đó, theo cảnh sát; và người này đã được lấy khẩu cung (vernehmen). Phát ngôn viên (Sprecher) của cảnh sát Đức nói rằng, trước tiên (zunächst) nghi phạm không muốn trình bày (sich äußern) về sự cố (Vorfall) và bị áp tải (vorführen) đến thẩm phán hình sự (Haftrichter).
Theo sự điều tra (Ermittlung) của cảnh sát Đức, họ kiểm tra (prüfen) xem vụ chở lậu người lần này có liên quan đến (Verbindung) hoặc song song (Parallelen) những vụ tương tự (ähnlicher Fall) ở biên giới Đức-Ba Lan hay không, theo lời phát ngôn viên. Lần cuối (zuletzt), cảnh sát Đức đã bắt giữ 40 người Irak được chở lậu qua Đức trong khu vực Bad Muskau. Một vài người trong số này đã khai (erklären) rằng, họ được xe tải chở từ Thổ đến Ba Lan. Kẻ buôn người (Schleuser) đã thả họ xuống xe (absetzen) để họ tự đi bộ sang Đức.

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Chủ nhật ngày 17.09.2017
Việc tái hội nhập nghề nghiệp sau khi bệnh như thế nào.

Những con số mới (neue Zahlen) cho thấy (zeigen), các công nhân (Arbeitnehmer) bị bệnh (erkranken) tâm lý (psychisch) đặc biệt (besonders) có nhiều ngày nghỉ làm (Fehltage). Việc quay lại (Rückkehr) chỗ làm (Arbeitsplatz) đối với đương sự (Betroffene) thường (meist) là một sự thử thách lớn (große Herausfoderung). Cho nên việc tái hội nhập (Wiedereingliederung) có thể giúp (helfen) họ trở lại công việc (Job). Các bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) làm cho (sorgen) thời gian nghỉ việc (Fehlzeit) ngày càng nhiều hơn (immer mehr) và người thợ phải nghỉ nhiều hơn vì bệnh hoạn. Theo báo cáo (Report) của Liên Hội (Bundesverband) công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenversicherung) AOK. Số người bệnh tâm lý (psychische Erkrankte) cũng như số ngày nghỉ việc của từng bệnh nhân (je Patient) đã gia tăng (steigen). Nếu một người (jemand) nghỉ bệnh ít nhất (mindestens) sáu (sechs) tuần (Woche) trong khoảng (innerhalb) 12 tháng (Monat), thì ông được quyền (zustehen) hưởng cái gọi là (sogenante) „quản lý sự hội nhập“ (Eingliederungsmanagement). Quyền lợi này dành cho nhân viên (Angestellte) làm việc theo giờ (Teilzeit) hoặc là huấn nghệ sinh (Azubi, viết tắt của chữ Azubildende), theo sự gỉải thích (Erklärung) của Viện Khoa Học Lao Động Ứng Dụng (Institut für Angewandte Arbeitswissenschaft, viết tắt là IfaA) trong một tài liệu mới liên quan đến đề tài (Thema) này.

Chỉ trong thời gian thử việc (Probezeit), thì chủ nhân (Arbeitgeber) chưa phải (noch nicht) có bổn phận (Pflicht) cung cấp (anbieten) một sự quản lý hội nhập của công ty (Betriebliches Eingliederungsmanagement, viết tắt là BEM). Ai hưởng BEM, thì không cần (brauchen) lo ngại (befürchten) có sự ghi chú (Eintrag) trong hồ sơ nhân viên (Personalakte) về sự kiện này: Đối với sự hội nhập (Eingliederung), chủ nhân phải thiết lập (anlegen) một hồ sơ riêng biệt (separate Akte) để ghi chép và hồ sơ này chỉ người có thẩm quyền liên quan đến vụ việc mới có thể đọc (zugreifen). Hồ sơ này phải tiêu hủy (vernichten) ba năm sau khi chấm dứt (nach Ende) sự việc. Trong hồ sơ nhân viên, chỉ (lediglich) được phép lưu ý (Hinweise) rằng nhân viên đã được mời (einladen) đến BEM. Việc hội nhập diễn tiến chính xác (genau) như thế nào tùy (jenachdem) trường hợp (Fall) khác nhau. Điều có thể xảy ra là việc tăng dần (stufenweise Erhöhung) giờ làm việc (Arbeitszeit), những biện pháp phục hồi hỗ trợ nghề nghiệp (berufsbegleitende Reha-Maßnahme) hoặc thay đổi kỹ thuật (technische Veränderung) ở chỗ làm (Arbeitsplatz) để ngăn chận (verhindern) thí dụ (zum Beispiel) liên quan đến vấn đề xương sống (Rückenprobleme).

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Thứ bảy ngày 16.09.2017
Làm thế nào biết sớm chứng bệnh tâm thần.

Nếu có người bị ảo giác (Halluzination) thì được khuyên nên đến bác sĩ (Arzt) khám bệnh, điều này hầu hết ai cũng rõ biết (klar). Nếu tốt hơn (besser) nên được trị liệu, khi căn bệnh (Erkrankung) thậm chí chưa (noch gar nicht) khởi phát (ausbrechen). Nhưng người ta nhận biết (erkennen) nó khi nào? Nếu nghe tiếng nói (Stimme) hoặc thấy vật (Dinge) không có ở đó (nicht da) thì đây là dấu hiệu cảnh báo rất rõ ràng (sehr eindeutiges Warnsignal). Thông thường (häufig) mặt sau của nó là một chứng bệnh tâm thần (Psychose). Cách lý tưởng (idealerweise) là nên nhận biết trước khi (bevor) xảy ra những hậu quả (Auswirkung) như vậy. Sự khởi phát (Ausbruch) một chứng bệnh tâm thần vẫn có thể ngăn chận (verhindern) được, theo sự giải thích của Liên Hội Nghề Nghiệp Bác Sĩ Thần Kinh Đức (Berufverband Deutscher Nervenärzte, viết tắt là BVDN). Ít nhất (zumindest) chứng bệnh thường (meist) diễn tiến (verlaufen) yếu hơn (schwächer). Những dấu hiệu sớm (frühe Anzeichen) của chứng bệnh tâm thần là sự bất an nội tâm (innere Unruhe), dễ kích động (Reizbarkeit) và không bình tĩnh (Nervösität). Bệnh nhân có thể tập trung kém (schlecht konzentrieren), rất nhạy cảm (sehr sensibel) và khó khắc phục (schlecht bewältigen) tình trạng căng thẳng (stressige Situation).

Thậm chí lúc nhận biết có tình trạng này thì nên đến trung tâm chẩn sớm (Frühererkennungszentrum) để khám nghiệm (untersuchen), các bác sĩ thần kinh giải thích (erklären). Đôi khi (manchmal), ngay cả các chuyên gia (Expert) trong thời điểm này cũng không thể xác định (feststellen) được những dấu hiệu là triệu chứng sớm (frühe Symptome) của một chứng bệnh thần kinh hay không. Trong trường hợp đó, nên đến trung tâm thường xuyên để khám nghiệm. Nếu căn bệnh đã khởi phát, theo các nhà thần kinh học (Psychiater) quả quyết (betonen), thì nó thường (meist) có thể được điều trị tốt (gut behandelbar). Cho nên, ở nhiều trường hợp thậm chí (gar) không cần thiết (nicht notwendig) phải nằm viện (stationärer Aufenthalt). Thay vì thế (stattdessen), bệnh tâm thần thường (häufig) được điều trị (therapieren) ngoại viện (ambulant). Một bệnh tâm thần có dấu hiệu biểu hiện khi người bệnh (Erkrankte) nhận biết (wahrnehmen) môi trường quanh họ (Umgebung) – chẳng hạn (etwa) tiếng động (Geräusche), màu sắc (Farbe) hoặc mùi (Gerüche) – hoặc ngay bản thân (sich selbst) có thay đổi (verändern). Còn những người (Mensch) bị (erleiden) ám ảnh tâm lý (Trauma) mà trong gia đình (Familie) họ đã có người bị tâm thần hoặc trước đây (früh) và tiêu thụ (knsumieren) ma tuý (Drogen) nhiều (intensiv), theo liên hội BVDN, họ có nguy cơ (Gefährdung) đặc biệt (besonders) mắc chứng tâm thần.

Tin dpa, hình Bicolas Armer.

Thứ sáu ngày 15.09.2017
Không gia hạn hợp đồng vì béo phì có phải là điều hợp lý chăng?

Một tài xế lái xe hàng (Kraftfahrer) mặc dù (trotz) rất béo phì (starke Fettleibigkeit) vẫn được nhận (erhalten) việc (Job). Nhưng việc gia hạn (Verlängerung) công việc có hạn định (befristet) không được tiếp tục bởi vì béo phì (Übergewicht). Điều này có hợp lý (rechtens) không? Chủ nhân được phép kết thúc một công việc có hạn kỳ, khi công nhân (Arbeitnehmer) quá béo phì (stark übergewichtig). Trường hợp này không liên quan đến sự kỳ thị (Diskriminierung) theo tinh thần đạo luật bình quyền chung (Allgemeines Gleichstellungsgesetz, viết tắt AGG). Đây là trường hợp của một tài xế lái xe hàng (Kraftfahrer) có hợp đồng lao động có hạn hai năm. Lúc nhận việc (Einstellung), người này có chỉ số thân thể-trọng lượng (Body-Mass-Index) là 41,67, tương đương (entsprechen) với một cái gọi là (sogenannte) béo phì „Adipositas“ cấp ba (dritten) và xem như là mức độ cao nhất (höchste Grade). Ngoại trừ (außer) áp huyết cao (erhöhter Belastungsblutdruck) lúc khám nghiệm nhận việc (Einstellungsuntersuchung) đã không có dấu hiệu (Auffälligkeit). Một cuộc khám nghiệm khác sau một năm rưỡi cũng có Body-Mass-Index 44.5. Nhưng công việc (Tätigkeit) của ông từ đó đã có hạn chế (Einschränkung). Cấp trên trực tiếp (direkter Vorgesetzte) của ông đề nghị (empehlen) chủ nhân (Arbeitgeber) gia hạn (verlängern) việc làm, vì người đàn ông này chăm chỉ (fleißig) và năng nổ (motiviert).

Nhưng trong câu chuyện giữa nhân viên và chủ nhân (Personalgespräch) thì người tài xế này được thông báo (mitteilen) rằng, công việc có hạn của ông kết thúc (enden) và không được gia hạn (verlängern) tiếp tục. Lý do biện dẫn (Begründung) là vì quá béo phì (schwere Fettleibigkeit) nên phải tính đến việc ông phải nghỉ làm nữa chừng bởi tình trạng sức khoẻ (Gesundheitslage). Việc kiện tụng (Klage) của người này trước toà án lao động tiểu bang (Landesarbeitsgericht) Niedersachsen không thành công (erfolglos); hồ sơ thụ lý số Az.: 10 Sa 216/16. Lời biện dẫn của các thẩm phán (Richter) cho rằng, chủ nhân không vi phạm (Verstoß) đạo luật AGG. Sự béo phì trên nguyên tắc (grundsätzlich) không là một sự cản trở (Behinderung), cụ thể (konkret) là không ảnh hưởng (Auswirkung) đến công việc của ông cho đến nay – cho nên việc lao động của ông sau khi bị bác (Ablehnung) sự gia hạn trên nguyên tắc vẫn có thể (möglich). Vậy hợp đồng lao động sau khi hết hạn tự động (automatisch) chấm dứt, quyền (Anspruch) gia hạn hoặc huỷ hạn (Entfristung) của nguyên đơn (Kläger) không có. Luật Sư Đoàn Đức (Deutscher Anwaltverein, viết tắt là DAV) thông báo (mitteilen) quyết định (Entscheidung).

Tin dpa, hình Linsey Parnaby.

Thứ năm ngày 14.09.2017
Buộc thôi học, nếu không thanh toán nhanh phí học kỳ .

Trễ một ngày thì cũng là trễ (zu spät)! Bởi một sinh viên (Student) chuyển (überweisen) phí học kỳ (Semesterbeitrag) trễ vài tiếng đồng hồ (einige Stunden) sau (nach) hạn đóng tiền hết hiệu lực (Ablauf der Zahlungsfrist) mà bạn này phải rời khỏi (verlassen) đại học (Universität). Việc kiện tụng (Klage) cũng không giúp (helfen) được gì bạn ấy. Đối với việc buộc thôi học (Zwangsexmatrikulation) vì (wegen) đóng tiền trễ (verspätete Zahlung) phí học kỳ thì một sinh viên có thể tái lập vụ việc (rückgängig machen) chỉ (nur) qua (durch) việc trả tiếp (Nachzahlung) có hạn định (fristgerecht). Điều này có giá trị (gelten) cho toàn (ganz) nước Đức, theo nữ phát ngôn viên (Sprecherin) toà án hành chánh (Verwaltungsgericht) tại Mainz.

Chính (allein) người sinh viên có trách nhiệm (verantworten), phải có sẳn (bereit) phương tiện tài chánh cần thiết (erforderliches finanzielles Mittel) kịp thời (rechtzeitig), toà án hành chánh biện dẫn (begründen) việc bác (Abweisung) đơn kiện (Klage) của một sinh viên cao học (Hochschule) Mainz. Hồ sơ thụ lý số Az.: 3 K 1167/16.MZ Bạn ấy sau khi đóng trễ phí học kỳ một tháng sau hạn định cũng được cho phép (einräumen) trả tiếp (Nachzahlung). Việc chuyển tiền (Überweisung) trả tiếp lại cũng trễ (zu spät) 1 ngày. Vì thế cho nên, bạn này đã phải rời cao học. Người sinh viên này đã cho toà biết rằng, chính (selbst) tiền bồi thường thiệt hại (Aufwandsentschädigung) đã chuyển đến bạn ấy trễ và bạn ấy cũng không có một phương tiện tài chánh nào có sẳn (zur Verfügung). Toà án thấy khác (anders). Đặc biệt (insbesondere) là bạn này cũng không giữ đúng hạn định cho việc nộp (erheben) đơn khiếu nại (Widerspruch) chống việc đuổi học, toà án cho biết (mitteilen).

Tin dpa, hình Jens Büttner.

Thứ tư ngày 13.09.2017
Ông de Maizière đồng ý về việc thống nhất thủ tục tỵ nạn cho Âu Châu.

Người tỵ nạn (Flüchtlinge) tại Đức so với (vergleichweise) nơi khác nhận (erhalten) nhiều tiền (viel Geld) hơn, theo ông bộ trưởng nội vụ Đức (Bundesinnenminister) de Maiziere. Cho nên (deshalb), ông yêu cầu (fordern) có sự trợ cấp đồng nhất (gleichheitliche Leistung) trong Âu Châu và thậm chí (sogar) sự đề xuất (Vorstoß) này cũng được ông Schulz, ứng cử viên thủ tướng (Kanzlerkandidat) của đảng SPD đồng tình (auf der Seite). Đảng đối lập (opposition) nói đến (sprechen) một sự đổ vỡ (Bruch) hiến pháp (Grundgesetz). „Trợ cấp (Leistung) cho người tỵ nạn trong nước Đức so với (Vergleich) trong EU khá (ziemlich) cao (hoch). Đây chính là một phần (teil) hiệu ứng lôi kéo (Sogeffekt) người đến nước Đức“, ông phát biểu (sagen) trên tờ „Rheinische Post“.

Sự bảo vệ luật pháp (Rechtsschutz) cũng phải đồng tiêu chuẩn (gleicher Standard). „Trong nước Đức, người xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) có thể kéo dài (hinauszögern) việc trục xuất (Abschiebung) bằng nhiều cách kiện tụng pháp lý khác nhau (diverse rechtliche Klagewege), rõ ràng (deutlich) nhiều hơn (mehr als) bất cứ nơi nào (anderswo)“, vị bộ trưởng (Minister) phê phán (kritisieren). Trong các quốc gia (Land) có chi phí sinh sống cao hơn (höhere Lebenshaltungskosten) có thể trợ cấp tương đương thêm cho việc mua sắm (entsprechender Kaufkraftzuschlag) đối với những người có điều kiện (Berechtigte). Theo cơ quan thống kê (Statistikbehörde) Eurostat của Âu Châu, trong năm qua có 1.204.300 người  xin tỵ nạn (Asylsuchende) nộp đơn (beantragen) lần đầu tiên (erstmals) tìm sự bảo vệ (Schutz) trong các quốc gia thành viên (Mitgliedstaat) của Liên Hiệp Âu Châu (Europäische Union). Con số (Zahl) đã giảm nhẹ (leicht rückläufig) so với (gegenüber) năm 2015; trong năm đó đã có 1.257.000 người xin tỵ nạn được ghi nhận (registrieren). 60 phần trăm người xin tỵ nạn tại Đức. 2016 có 722.300 người đến Đức xin tỵ nạn lần đầu.

Tin dpa, hình Bernd von Jutrczenka.

Thứ ba ngày 12.09.2017
Một bệnh viện mới 
tại Westertede cho các chứng bệnh thân do tâm lý gây ra .

Bà Ursula von der Leyen (CDU), bộ trưởng quốc phòng Đức (Bundesverteidigungsministerin), đã khánh thành (eröffnen) hôm thứ sáu (Freitag) tuần qua (Vorwoche) tại Westerstede ở Ammerland một bệnh viện mới (neue Klinik) cho ngành Y Khoa Tâm Thề (Psychosomatische Medizin) – y học về các bệnh thân thể do tâm lý gây ra – và Tâm Lý Trị Liệu (Psychotherapie). Cơ sở (Einrichtung) của bệnh viện (Klinik) Karl-Jaspers làm việc chung với (zusammen arbeiten) quân đội Đức (Bundeswehr): 10 trong số 40 giường nằm dành cho (reserviert) thành viên (Angehörige) quân đội Đức. Vị quận trưởng (Landrat) quận Ammerland, ông Jörg Bensberg (không theo đảng nào, parteilos) nói rằng, sự hợp tác (Kooperation) với quân đội Đức là một việc làm độc đáo (einzigartig) trên cả nước (deutschlandweit).

Bệnh viện đã hoàn tất (fertig) sau gần một năm xây cất (bauen). Tổng chi phí (Gesamtkosten) là 11,3 triệu Euro, gần (rund) bốn (vier) triệu trong khoản kinh phí này được tiểu bang (Bundesland) Nierdersachsen tài trợ (finanzieren). Trọng tâm (Schwerpunkt) của cơ sở này là điều trị (behandeln) người lớn (Erwachsene) bị bệnh đau nhức do căng thẳng tâm lý (stress) và bệnh thân do tâm lý dẫn đến (psychosomatisch). Những bệnh nhân đầu tiên sẽ được nhận (aufnehmen) bắt đầu (Anfang) tháng mười (Oktober). Bệnh viện Karl-Jaspers có trụ sở chính (Hautpstandort) tại Bad-Wischenahn là một bệnh viện tâm thần (psychiatrisches Krankenhaus), có (vefügen) tổng cộng (insgesamt) 675 giường nằm (Krankenbett); hơn 900 công nhân viên (Mitarbeiter) và là một chủ nhân lớn nhất (größter Arbeitgeber) trong vùng (Region).

Tin dpa, hình Britta Pedersen.

Thứ hai ngày 11.09.2017
TyTài Chánh can thiệp vào tổn phí những thiệt hại bởi bảo tố.

Một vài cơn bảo tố (Unwetter) thường để lại (hinterlassen) nhiều hư hại (Schaden) các tòa nhà (Gebäude). Nhưng không phải lúc nào (nicht immer) bảo hiểm (Versicherung) cũng bồi thường. Tuy nhiên (jedoch), người lâm nạn (Betroffene) cũng có thế tùy trường hợp (jenachdem) khai báo thuế (steuerlich geltend machen) những chi phí sửa chữa (Reparaturkosten). Liên Hiệp Giúp Khai Thuế Lương (Vereinigte Lohnsteuerhilfe, viết tắt là VLH) giải thích (erklären) cung cần phải lưu ý (beachten) một số điều.
Những hư hại do bảo tố gây ra ở nhà cửa (Haus) và căn hộ (Wohnung) thì tùy trường hợp (unter Umstände) có thể khai khấu trừ thuế (Steuer absetzbar), với một điều kiện (Voraussetzung) là: Sự thiệt hại chưa được (nicht schon) một bảo hiểm nào bồi thường, theo VLH.
Chủ nhà (Vermieter) có thể khai báo những chi tiêu (Ausgabe) trong tờ khai thuế (Steuererklärung) ở cột chi phí cho việc duy trì công ăn việc làm (Werbungskosten); còn chủ nhà tự sử dụng (Selbsnutzer) và người mướn nhà (Mieter) thì khai báo ở cột „gánh nặng đặc biệt“ (außergewöhnliche Belastung).

Được quan tâm cứu xét (berücksichtigen) là những chi phí cho việc sửa chữa hoặc bảo trì (Instandsetzung) liên quan đến (betreffen) những lãnh vực quan trọng cho cuộc sống (existenziell wichtige Bereiche) liên quan đến bất động sản (Immobile) – chẳng hạn thay (Austausch) những tấm kiếng cửa sổ đã bị hư (kaputte Fensterscheiben) hoặc cửa chính ra vô nhà (Haustür). Sân vườn (Gartenterasse) hoặc nhà đậu xe (Garage) ngược lại không được kể là (ansehen) có tính cách cần thiết cho cuộc sống (nicht als extenziell notwendig) cho nên không thể khai khấu trừ thuế được.
Cũng có thể khai khấu trừ thuế là những chi phí cho việc mua sắm (Anschaffung) bàn ghế tủ giường (Möbeln), đồ gia dụng (Hausrat) hoặc quần áo (Kleidung) bị bảo tố làm hư hại (unwetterbedingte Schaden) và không sử dụng được nữa (nutzlos). Khoản tiền (Beitrag) khai báo nhắm đến cái gọi là (sogenannt) giá trị tính theo thời gian (Zeitwert) của món đồ (Gegenstand). Những đồ vật liên quan đến tài sản (Vermögensgegenstand) như (wie) tranh ảnh quý giá (kostbare Bilder) và đồ cổ (Antiquitäten) hoặc bộ sưu tầm tiền xu có giá trị (wertvolle Münzsammlung) không được Ty Tài Chánh quan tâm đến (berücksichtigen).

Tin dpa, hình Peter Endig.

Chủ nhật ngày 10.09.2017
Nói chuyện riêng lúc làm việc – được hay không được phép như thế nào.

„Anh ơi! Lát nữa em có cần đến siêu thị (Supermarkt) mua gì thêm nữa hay không?“ Những tin nhắn (Nachricht) đại loại (solch) hầu hết (wohl fast) ai cũng đã từng gửi (schicken) đi trong chỗ làm việc (Arbeitsplatz). Nếu không được phép (nicht erlauben), thậm chí (sogar) có thể bị chủ (Arbeitgeber) khuyến cáo (abmahnen). Nếu chủ làm ngơ (Augen zu drücken) thì việc cấm đoán (Verbot) sẽ trở thành (werden) sự cho phép (Erlaubnis).
Không một ai được phép, nhưng hầu như người nào cũng làm: Điện đàm cá nhân (privates Telefonat) và điện thư (E-Mails) ỡ chỗ làm thường (meistens) không được phép (nicht dürfen), tuy nhiên (aber) trong nhiều công ty (Betrieb) vẫn cho là (trotzdem) chuyện bình thường (üblich). Nhưng khi có vấn đề (Ärger) thì thường (oft) trở nên phức tạp (kompliziert). Sau đây là tổng quan (Überblick) những vấn đáp quan trọng (wichtige Fragen und Antworten):

Tôi có được phép nói chuyện (kommunizieren) riêng (privat) ở chỗ làm không?
Thông thường không được. „Liệu tôi được phép nói chuyện riêng (privat kommunizieren) ở chỗ làm việc hay không, luôn (immer) tùy thuộc (abhängen) vào hợp đồng làm việc (Arbeitsvertrag), chỉ thị công việc (Arbeitsanweisung) của chủ nhân (Arbeitsgeber) và những thỏa thuận xí nghiệp tương đương (entsprechende Betriebsvereinbarung)“, ông Norbert Geyer giải thích (erklären), luật sư (Anwalt) về luật (Recht) IT (viết tắt của chữ Informationstechnik, kỹ thuật thông tin) tại văn phòng luật sư (Kanzlei) ở Ausburg. „Nếu trong các văn bản (Schriftstück) trên không có quy định (regeln) điều gì cả (nichts), thì trước hết (erstmal) tất cả (alles) đều bị cấm (untersagen).“

Nếu tôi sử dụng (evrwenden) máy điện thoại thông minh cá nhân (eigene Smartphone) hoặc điện thoại cầm tay công vụ (Diensthandy) thì vấn đề có liên quan gì không?
Trước tiên (zunächst) không có vấn đề; nhưng cả hai cách (beides) thường (meistens) bị cấm (verbieten). Bởi vì (denn) máy (Gerät) riêng để nói chuyện cá nhân (private Kommunikation) cũng làm mất giờ làm việc (Arbeitszeit). Còn nếu ai sử dụng (nutzen) máy hoặc ví dụ sử dụng WLAN và nối kết mạng (Internetanschluss) của công ty (Firma) thì lại vi phạm (Verstoß begehen) tiếp thêm nữa, vì đó là công cụ của công ty (Betriebsmittel), theo ông Geyer; bởi các phương tiện này chỉ được pháp sử dụng cho những mục tiêu của công ty (betriebliche Zwecke).

Điều gì sẻ xảy ra, nếu tôi mặc kệ (trotzdem tun)?
Trên lý thuyết (theretisch), có thể đưa đến những hậu quả nghiêm trọng (ernsthafte Konsequenzen), như bị khuyến cáo (Abmahnng) và khi tái vi phạm (wiederholter Verstoß) cuối cùng (schließlich) sẽ bị đuổi việc (Kündigung). „Trên nguyên tắc (in der Regel) thì trước đó (vorher) phải có sự yêu cầu (Aufforderung) của chủ nhân ngưng làm (unterlassen) hành vi không mong muốn ấy (unerwünsches Verhalten)“, ông Geyer nói. Việc trừng phạt theo luật lao động (arbeitsrechtliche Sanktion) vẫn thích đáng (definitiv zulässig).

Nhưng mọi người trong văn phòng (Büro) tôi đều làm việc này. Như vậy thì điều này được phép (erlauben)?
Có thể (gut möglich). Nếu chủ nhân biết (wissen) việc vi phạm và không phản chống gì cả (nichts dagegen), thì xem như là sự can thiệp (Greifen) cái gọi là (sogenannte) thực tập xí nghiệp (betriebliche Übung). Bởi chủ nhân không phản ứng gì (Nichtstun), thì có thể xem như là (quasi) việc nói chuyện riêng được phép – như vậy những hậu quả theo luật lao động không còn nữa (nicht mehr). Cho đến khi có sự kiện như vậy, thì phải cần trải qua nhiều thời gian. „Đủ (ausreichend), khi thời gian kiên nhẫn (Dildung) trải qua liên tục (fortlaufend) hai đến ba năm“, thoe ông Gyer.

Chủ nhân có được phép kiểm soát (kontrollieren) khi tôi nói chuyện riêng không?
Thậm chí (sogar) có thể, khi chủ nhân muốn ngăn chặn (verhindern) việc thực tập xí nghiệp. Như vậy, chủ nhân phải cứu xét (prüfen) xem nhân viên (Mitarbeiter) của họ có tuân thủ (halten) việc cấm điện thoại nói chuyện riêng trong giờ làm việc hay không. Một lý do (Grund) cũng có thể không chỉ (nicht nur) là việc e ngại (Angast) có sự lãng phí giờ làm việc (evrschwendete Arbeitszeit), theo lời giải thích (Erklärung) của ông Geyer. Nếu một nhân viên được phép sử dụng địa chỉ (Adresse) điện thư (E-Mail) của công ty cho cá nhân, thì doanh nghiệp (Unternehmen) này được xem như (gelten) một công ty cung cấp truyền thông bằng điện thoại (Telekommunikationsanbieter) với đa tất cả bồn phận pháp lý (rechtliche Pflicht) liên quan đến sự bảo mật viễn thông (Fernmeldegeheimnis). Tuy nhiên, chủ nhân thường tránh (Vermeiden) điều này.

Chủ nhân được phép kiểm soát (überprüfen) hành vi của tôi như thế nào?
Để bắt quả tang (auf die Spur kommen) một nhân viên, công ty không được phép sử dụng (einsetzen) các chương trình thám thính (Spähprogramm). Cái gọi là Keylogger, nó ghi lén (heimlich) biên bản (protokollieren) mọi cái gõ trên bàn phím (Tastatureingabe) hay lấy hình ảnh trên màn hình (Bildschirmfoto), theo một phán quyết (Urteil) của Tòa Án Lao Động Tối Cao Đức (Bundesarbeitsgericht) trong tháng bảy (Juli) 2017 về việc kiểm tra (Überwachung) „tận xương“ (ins Blaue hinein) bất hợp lệ (unzulässig).

Những dữ liệu diễn tiến (Verlufsdaten) của sự nối kết mạng (Iternetbrowser), ngược lại theo quan điểm (Ansicht) của tòa án lao động tiểu bang (Landesarbeitsgericht) Berlin-Brandenburg vẫn được sử dụng để kiểm soát (Kontrolle) và tùy trường hợp (gegebenenfalls) sa thải (Kündigung) người vi phạm. Tuy nhiên, phán quyết này vẫn chưa được tòa cao thẩm (höchstrichterlich) quyết định (entscheiden). Nếu có một hội đồng xí nghiệp (Betriebsrat), thì họ cũng có quyền biểu quyết (mitbestimmen) về cách (Art und Weise) kiểm soát này, theo bà Marta Bönning, nữ chuyên gia về luật pháp (Rechtsexpertin) của Công Đoàn Lao Động Đức (Deitscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB).

Nữ chuyên gia cổ động (plädieren) ít nhất (zumindest) cho một quy định nội bộ doanh nghiệp (umternehmensinterne Regelung). Những gì cần được lưu ý (beachten) theo quan điểm (Sicht) của sự phòng hộ nhân quyền (Menschenrechtsschutz) thì Tòa Án Tối Cao Âu Châu (Europäisches Gerichtshof) về Nhân Quyền tại Straßburg đã quy định (vorgeben) cho một trường hợp mới nhất (aktueller Fall) như sau: Khi công ty muốn kiểm tra việc nói chuyện của nhân viên, thì họ phải tự tuân thủ (sich halten) các quy định, phán quyết ghi như vậy. Nghĩa là  họ phải thông tin (informieren) trước hết (vorab) về sự việc và mức độ (Ausmaß) sự kiểm soát. Ngoài ra (außerdem), họ cần phải có (bruachen) một lý do chính đáng (legimer Grund) và phải cứu xét những biện pháp kiểm soát nhẹ nhàng (mildere Kontrollmaßnahme) cũng như ít hậu quả sinh ra (weniger einschneidende Konsequenz) chẳng hạn (etwa) việc sa thải. Khiếu nại (Beschwerde) số 61496/08.

Như vậy, chủ nhân được phép đọc (lesen) điện thư riêng của tôi?
Nhiều nhất (höchstens) là những tin nhắn riêng (private Nachricht) trong tài khoản nghề nghiệp (berufliches Account), theo ông Gyere. Bằng không (ansonsten) có những quy định khắt khe (strenge Regel) cho việc kiểm tra và lúc nào (immer) cũng có việc tranh cải (Streit) về chi tiết (Detials). Liệu ai đó sử dụng phương tiện công ty cho việc riêng, thì chủ nhân chỉ (nur) được phép kiểm soát có tính cách phân đoạn (stichprobenartige Kontrolle). Nhưng chủ nhân không được quyền biết nội dung (Inhalte) của điện thư ấy. Điều này chủ yếu (vor allem) bảo vệ (schutzen) công nhân khi họ nói chuyện riêng bằng máy di động cá nhân của họ. „Đây chỉ là một trường hợp tình cờ phát hiện (Zufallsfunde) mà thôi!“ theo ông Geyer. Kiểm tra bằng máy thu hình (Videoüberwachung) không được phép sử dụng.

Tin dpa, hình Klaus-Dietmar Gabbert.

Thứ bảy ngày 09.09.2017
Khả năng tự trị liệu – khắc phục căng thẳng tâm lý có thể tự luyện tập được.

Trong nghề nghiệp (Beruf) thì sự căng thẳng tâm lý (Stress) là chuyện không phải hiếm (nicht Seltenheit). Không phải tất cả công nhân (Arbeiter) nào cũng có thể ứng phó dễ dàng với nó. Ai phát huy (entwickeln) đủ (ausreichend) lực kháng chống (Widerstandkraft), thì xem như đã tự trang bị (sich wappen) cho mình vũ khí chống lại những vụ khủng hoảng trong tương lai (zukünftige Krise). Các phương pháp tâm lý trị liệu (psychologische Therapie) sẽ hỗ trợ tốt để nâng cao năng lượng tự trị liệu (Resilienz).
Một số người cảm thấy (sich fühlen) tuyệt vọng (hilfslos) khi đối diện (gegenüber stehen) với những khó khăn của mình (eigenes Problem). Tuy nhiên (allerdings) họ cũng có khả năng (Fähigkeit) khắc phục (bewältigen) mọi khủng hoảng từ chính năng lực của họ (eigene Kraft) bằng sự luyện tập (trainieren). Điều nay đã được Tổ Chức Đức về Khoa Tâm Thần và Tâm Lý Trị Liệu, Tâm Thể Bệnh và Khoa Thần Kinh Trị Liệu (Deutsche Gesellschaft für Psychiatrie und Psychotherapie, Psychosomatik und Nervenheilkunde, viết tắt là DGPPN) lưu ý (hinweisen).
Trong khuôn khổ (Rahmen) trị liệu (Therapie), người ta được học (lernen) ví dụ (zum Beispiel) nhận biết (erkennen) tốt hơn (besser) phạm trù hành động của bản thân (eigener Handlungsspielraum). Điều này không chỉ giúp (helfen) họ vượt qua cơn khủng hoảng đang xảy ra (aktuelle Krise). Nó có thể giúp họ tự chế tác khả năng (befähigen) cũng có thể kháng chống (abwehren) được những chứng bệnh tâm lý (psychische Erkrankung) trong tương lai (zukünftig). Các chuyên gia (Fachleute) gọi lực kháng chống (Widerstabdkraft) này là „năng lượng tự trị liệu“ (Resilienz)

Tin dpa, hình Oliver Berg.

Thứ sáu ngày 08.09.2017
Chỉ còn 50.000 trường hợp giải quyết đến cuối năm.

Vẫn còn một chồng (Stapel) hồ sơ gần (fast) 130.000 đơn xin tỵ nạn (Asylantrag) tại Cục Di Dân (Bundesamt für Migration). Đến cuối năm (Jahresende) nay dự tính chỉ còn một nửa (Hälfte) – tình trạng „bình thường“ (normale Situation), theo bà Cordt, giám đốc cơ quan (Behördenchefin) này cho biết. Như vậy, thời gian trung bình giải quyết hồ sơ (Durchschnitt-Verfahrensdauer) giảm (sinken) đột ngột (schlagartig).
Đây là con số „bình thường“ của cơ quan này, bởi lẽ (denn) „không thể bao gờ (nie) có con số không (Null) cả!“.
Theo bà Cordt, ngay (bereits) trong tháng năm (Mai), cục di dân và tỵ nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tăt là BAMF) đã đạt (erreichen) trở lại (wieder) mức bình thường (Normalstand). Trước đó, số hồ sơ tồn đọng (anhängiges Verfahren) khoảng 165.000. Như vậy cũng còn thấp hơn số hồ sơ trước khi bắt đầu (Beginn) sự nhập cư lớn (große Zuwanderung) – trong tháng giêng (Januar) 2015 vẫn còn con số 178.000. Trong đầu năm nay, cục BAMF vẫn còn khoảng 434.000 hồ sơ tồn đọng. Cuối tháng bảy (Juli) chỉ còn 129.000.

Mục tiêu ưu tiên (vorrangiges Ziel) hiện nay là giải quyết mọi trường hợp (Fall) đã nằm quá lâu (sehr lange) tại BAMF – chiếm khoảng (etwa) hai phần ba (zwei Drittel). Thường là những trường hợp cũ khó khăn (schwieriger Altfall) và theo thống kê (Statistik) thì thời gian giải quyết trung bình (durchschnittliche Verfahrensdauer) đối với các thủ tục mới trung bình hiện nay là 1,8 tháng. Nhìn chung (zusammen betrachten) cả hai thủ tục cũ và mới thì thời gian cứu xét trung bình (im Schnitt) là 10,9 tháng.
Mức cao nhất (Höchststand) khoảng 10.000 nhân viên (Beschäftigte) lúc cao điểm (Höchstpunkt) sự nhập cư tỵ nạn (Flüchtlingszuwanderung), còn hiện nay (aktuell) có chừng 7.800 cộng tác viên (Mitarbeiter) làm việc (arbeiten) cho cục BAMF; trong số này có 3.500 người làm việc có hạn (befristet). Theo bà Cordt, thì BAMF không thể cung cấp chỗ làm lâu dài (Dauerstelle) cho tất cả (für alle) được.
Có bao nhiêu nhân viên được cần (benötigen) cho năm tới, điều này bà Cordt vẫn chưa muốn lên tiếng (sich äußern). „Khi cuộc bầu cử quốc hội sắp tới kết thúc và những cuộc thương thuyết mới liên quan đến ngân sách (neue Haushaltsverhandlung) về tình trạng nhân viên của BAMF được bàn đến (sprechen), thì chúng tôi cần (brauchen) những biện giải khả thi (gute Begründung) để có đủ (ausrreichen) nhân viên (Personal). Và tôi rất tin tưởng (fest überzeugt) rằng chúng tôi sẽ đạt được điều này“, bà Cordt nói. Bây giờ thì chưa có một con số dứt khoát, cuối cùng (letztendlich) thì cũng tùy thuộc (abhängen) vào trách vụ (Aufgabe) nào cục BAMF sẽ nhận (übernehmen) thêm (zusätzlich).

Tin dpa, hình Silas Stein.

Thứ năm ngày 07.09.2017
Ông Lammert chủ tịch quốc hội Đức rút khỏi chính trường.


Vào ngày thứ năm (Donnerstag) 07.09.2017, ông Norbert Lammert, chủ tịch quốc hội Đức (Bundestags-Präsident) sẽ khai mạc (eröffnen) phiên họp (Plenarsitzung) quốc hội Đức (deutsches Parlament) lần cuối (letztes Mal) của ông. Nhân cơ hội này (Gelegenheit nutzen) sẽ khuyến cáo (ermahnen) việc duy trì (Wahrung) luật quốc hội (Parlamentsrecht) và kêu gọi (aufrufen) người dân (Bürger) đi bầu cử (zur Wahl). Sau 37 năm tham gia chính trường (Politik), vị nghị viên (Abgeordnete) lâu năm của đảng CDU rút lui khỏi (sich zurück ziehen) khỏi quốc hội Đức (Bundestag), như vậy ông trả lại (abgeben) nhiệm sở thứ hai cao nhất (zweithöchstes Amt) của quốc gia (Staat).

Trong bài phát biểu từ biệt (Abschiedsrede) nhân danh (als) chủ tịch quốc hội, ông cảnh báo (warnen) các chính khách (Politiker) đảng CDU về những sửa đổi vượt ra ngoài (ausufernde Änderungen) hiến pháp (Grundgesetz) và cổ vũ (werben) sự kiểm soát mạnh mẽ hơn (stärkere Kontrolle) của chính phủ (Regierung) qua một quốc hội tự chủ (selbstbewusstes Parlament) cũng như (sowie) đảm bảo (Sicherung) pháp lý (Rechte) cho nhiều thiểu số trong quốc hội (parlamentarische Minderheit). Tong phiên họp cuối của quốc hội trước hạn bầu cử quốc hội Đức vào cuối (Ende) tháng chín (Septemeber), ông Lammert kêu gọi người dân hãy sử dụng quyền bỏ phiếu (Stimme abgeben) và hãy xem trọng (ernst nehmen) quyền làm vua (Königsrecht) của nền Dân Chủ (Demoratie). Ông nói: „Nền Dân Chủ có tồn tại (stehen) hay bị sụp đổ (fallen) hay không thì nhìn vào sự dấn thân (Engagement) của người dân của nó.“
Nhân vật 68 tuổi không tái ứng cử (kandidieren) nữa cho kỳ bầu cử vào ngày 24 tháng chín tới đây. Ông là nghị viên quốc hội Đức từ năm 1980, kể từ năm 2005 ông Lammert giữ nhiệm sở Chủ Tịch Quốc Hội Đức cho đến nay.
Ông chỉ trích rằng, quốc hội Đức vẫn quá thường xuyên nói nhiều và ít thảo luận (debattieren). Đôi khi (gelegentlich), một sự việc khẩn cấp (Dringliches) thật sự (offensichtlich) bị bỏ qua (vertagen) và cái ít quan trọng (weniger Wichtiges) lại cho rằng (erklären) nó cần kiếp (dringlich). „Chúng ta đã …quen thuộc (anwöhnen) đối xử quá hời hợt (allzu großzügiger Umgang) với hiến pháp của chúng ta và sửa đổi (verändern) nó thường hơn (häufiger) và luôn (immer) bao quát (umfangreich) – cũng thường xuyên (regelmäßig) phức tạp hơn (komplizierter).“

Tin dpa, hình Michael Kappeler.

Thứ tư ngày 06.09.2017
Các nhà kinh tế chỉ trích bà Merkel không đồng ý hưu trí ở tuổi 70.

Các công đoàn (Gewerkschaft) tán thưởng (jubeln), còn những nhà kinh tế (Ökonome) thì bực tức (erbost): Bà Thủ Tướng (Kanzlerin) Merkel muốn giữ tuổi hưu trí (Renteneintrittsalter) vẫn là 67. Nhưng thử hỏi (sich fragen) được bao lâu (für wie lange). Các kinh tế gia hàng đầu (führende Ökonome) chỉ trích (kritisieren) việc phủ nhận (Nein) của bà thủ tướng Đức Angela Merkel (CDU) liên quan đến tuổi hưu trí 70 – ngược lại (dagegen) công đoàn Verdi lại tán dương (loben) điều này. „Bà Merkel đã khẳng khái bác bỏ (klare Absage) tuổi hưu trí 70. Tôi cho rằng (halten) điều này đáng tin cậy (glaubwürdig), theo ông Bsirske chủ tịch công đoàn Verdi nói với tờ „Passauer Neuen Presse“. Như vậy ông đã bóng gió ám chỉ (anspielen) vị ứng cử viên thủ tướng (Kanzlerkandidat) Martin Schulz (SPD) trong cuộc đọ sức trên truyền hình (TV-Duell) với bà Merkel rằng, lời hứa (Versprechen) của bà chỉ là một sự lừa dối (Lüge). Nhưng ông Bsirske còn lưỡng lự (bedenken): „Nhưng không ai có thể biết trước được điều gì xảy ra cho một sự quyết đoán (Festlegung) cho bốn năm tới!“

Trái lại, ông giám đốc (Direktor) Viện Kinh Tế Đức (Institut der deutschen Wirtschaft, viết tắt là IW), Michael Hütler, nói với tờ „Rheinische Post“ tại Düsseldorf thì cho rằng: „Không quan tâm đến (ausklammern) tuổi hưu 70 mà có thể thành công (erfolgreich) mang tính cách chiến lược bầu cử (wahltaktisch), nhưng điều không thề (nicht aber) về lâu dài (langfristig) cho xã hội (Gesellschaft) Đức được.“ Cũng như vị chủ tịch (Präsident) Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Đức (Deutsches Institut für Wirtschaftsforschung, viết tắt là DIW), Marcel Fratzscher, nói với tờ „Südwest Presse“ và „Märkische Oderzeitung“ rằng: „Sự phát triển nhân khẩu (demokratische Entwicklung), tuổi thọ cao (verlängerte Lebenszeit), làm cho tuổi hưu trễ (späteres Renteneintrittsalter) trở nên cần thiết (notwendig). Nếu khác hơn (anders) thì hệ thống (System) không thể tài trợ (finanzieren) được.“ Cho nên tuổi hưu phải là 70. Nhưng cũng phải có những quy định (Regelung) cho người không thể lao động (arbeiten) lâu hơn (nicht so lange).

Tin dpa, hình Maurizio Gambarini.

Thứ ba ngày 05.09.2017
Nước Đức có nguy cơ thiếu hụt chuyên viên trầm trọng.

Các nghiên cứu gia (Forscher) đã có những dự đoán u ám (düstere Prognosen): Vẫn còn (noch) chưa có sự bù lấp rộng rãi (flächendeckend) sự thiếu hụt chuyên viên (Fachkraft), thế mà sự thiếu thốn (Engpass) vẫn càng lớn hơn (größer). Trong vài (mach) tiều bang Đức (Bundesland), chủ yếu (besonders) là lực lượng công nhân (Abneitmnehmer) sẽ được thay thế (ersetzen) bằng máy móc (Maschinen). Những lỗ hổng (Lücke) chuyên viên ở các nghề (Beruf) như y tế (Gesundheit), chăm sóc (Pflege) và kỹ thuật (Technik) trong nước Đức đe doạ (drohen) ngày càng lớn hơn . Trong vài ngành nghề (Branche) và khu vực (Region) ngày nay công nhân hoàn toàn (kaum) không thể trám (besetzen) vào những chỗ làm còn đang trống (offene Stelle). Một báo cáo (Bericht) của bộ lao động (Arbeitsministerium) của nội các chính phủ Đức (Bundeskabinet) cho biết. Riêng (allein) đến năm 2030, con số thiếu hụt công nhân có tay nghề (Facharbeiter), kỹ thuật viên (Techniker),nghiên cứu gia và chuyên viên y khoa (medizinische Fachkraft) lên đến gần (bis zu) 3,0 triệu người và đến năm 20140 thậm chí (gar) đến 3,3 triệu, theo kết quả một sự khảo sát ước tính (Prognos-Studie) đã được công bố (veröffentlichen) cùng lúc (zeitgleich). Theo sự tiên đoán (Vorhersage) của các nghiên cứu gia dự đoán là sẽ có nhiều công việc về an ninh và bảo vệ (Sicherungs- und Überwachungtätigkeit) không còn nữa (wegfallen). Kể cả các tài xế xe vận tải (Lastwagenfahrer) và đóng gói (Packer) cũng được đề cập đến rằng, công việc (Arbeit) của họ trong tương lai künftig) sẽ do các rô-bốt (Roboter) và máy tự động (Automaten) giải quyết (erledigen). Điều tương tự như vậy (Gleiches) cũng có giá trị (geltzen) cho các nhân viên kế toán, xử lý tín dụng (Kreditsachbearbeiter) và trung gian bất động sản (Immobilienmakler), bởi các hệ thống điện tử (elektronische System) sẽ thay thế lâu dài (langfristig) những nghề như vậy (solch). Ngược lại (dagegen), ngay từ 2020 nhưng mạnh hơn (stärker) là đến năm 2030 sẽ có sự thiếu hụt (Mangel) các nhà quản đốc (Manager), nghiên cứu gia, kỹ sư (Ingenieur), bác sĩ (Arzt), diều dưỡng (Pfleger) và trợ tá y khoa (medizinische Asistenten), trong một số ít phạm trù (geringer Umfang) cũng thiếu các nhà sáng tạo (Krativen) và ký giả (Journalisten).

Tin dpa, hình Stephanie Pilik.

Thứ bảy ngày 02.09.2017
Ông Gabriel cho rằng cuộc chạy đua vào Phủ Thủ Tướng vẫn còn “hòan toàn bỏ ngỏ”

Vào ngày chủ nhật (Sonntag) tới đây, bà Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) Angela Merkel (CDU) và ứng cử viên Thủ Tướng (Kanzlerkandidat) Martin Schulz (SPD) sẽ gặp nhau (treffen) trong cuộc đối thoại tay đôi độc nhất trên truyền hình (einziges Fernsehrduell) cho cuộc tranh cử (Wahlkampf) này. Ngày 24 tháng chín (September) là ngày bầu cử quốc hội Đức (Bundestagswahl). Theo kết quả các cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage), hiện đảng SPD nằm giữa 22 và 24 phần trăm, Liên Hiệp Cơ Đốc (Union=CDU+CSU) giữa 37 và 40 phần trăm.

Ba tuần lễ (Woche) trước cuộc bầu cử quốc hội Đức, ông bộ trưởng ngoại giao Đức (Außenminister) Sigmar Gabriel cho rằng (halten) cuộc chạy đua (Rennen) vào Phủ Thủ Tướng (Kanzleramt) dù (trotz) có khoảng cách lớn còn thiếu (großer Rückstand) của đảng SPD theo các cuộc thăm dò ý kiến nhưng vẫn “hoàn toàn bỏ ngỏ” (völlig offen).

“Gần 50 phần trăm người dân (Bürger) vẫn chưa có quyết định (Entscheidung) gì cả. Tầm (fast) 20 triệu người muốn chứng kiến (ansehen) cuộc đối thoại tay đôi trên truyền hình vào chủ nhật tới đây”, ông Gabriel nói (sagen). “Và tôi biết (wissen) rằng, ông Martin Schulz sẽ nắm bắt (nutzen) cơ hội (Chance) đó trước hàng triệu khán thính giả (Millionenpublikum).”

Ông Gabriel tỏ ra (sich geben) tin tưởng (zuversichtlich). “Cuộc tranh cử bây giờ mới thật sự bắt đầu (erst richtig beginnen) và dĩ nhiên (natürlich) nước Đức sẽ có cơ hội chọn một chính phủ đa số (Regierungsmehrheit) không phải (jenseits) là liên hiệp CDU/CSU trong cuộc bầu cử quốc hội 2017 sắp tới”, ông nói. “Vì vậy cuộc tranh cử rất quan trọng và tôi đồng thuận (zustimmen) bà Köcher, nghiên cứu gia (Forscherin) của tổ chức Allensbach đã nói rằng: Chưa có gì quyết định cả! (nichts ist entschieden).”

Tin dpa, hình Silas Stein.

Thứ sáu ngày 01.09.2017
Hơn 1000 đơn tố cáo hình sự bà Merkel về tội phản quốc.

Những đơn tố cáo (Anzeige) về tội phản quốc (Hochverrat) trong các thể chế Dân Chủ phương tây (westliche Demokratie) thông thường (normalerweise) là một ngoại lệcó tính cách tư pháp (juristische Ausnahme). Kề từ lúc bắt đầu (Beginn) cơn khủng hoảng tỵ nạn (Flüchtlingskrise) trước đây hai năm thì sự việc trên đã thay đổi (sich ändern) trong nước Đức. Kể từ khi làn sóng tỵ nạn (Flüchtlingsstrom) tràn (fließen) vào nước Đức năm 2015,  đã có hơn (mehr als) 1000 đơn tố cáo hình sự (Strafanzeige) bà Thủ Tướng (Kanzlerin) Angela Merkel (CDU) vì tội phản quốc tại Công Tố Viện Liên Bang (Bundesdanwaltschaft) tại Karlsruhe. „Những đơn tố cáo hình sự bà Thủ Tướng Đức được xem như không có cơ sở (haltlos)“, theo nữ phát ngôn viên (Sprecherin) của cơ quan (Behörde) này, bà Frauke Köhler nói với tờ „Mannheimer Morgen“. Phần lớn các tố cáo hình sự, theo bài báo (Bericht), có xuất xứ từ giới (Kreis) ủng hộ viên (Anhänger) đảng AfD. Công Tố Viện Liên Bang có trách nhiệm (zuständig) về các hình sự liên quan đến việc phòng hộ đất nước (Staatsschutzstrafsache) có nguy hại đến nền an ninh trong và ngoài (innere und äußere Sicherheit) nước Đức. Dù vậy cơ quan n

2363 Tổng số lượt xem 108 lượt xem ngày hôm nay