» » » Luận Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh

Luận Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh

Mục Bộ Du Già | 0

SỐ 1611
LUẬN CỨU CÁNH NHẤT THỪA BẢO TÁNH
Hán Dịch: Tam Tạng Lặc-Na-Ma-Ðề Ðời Hậu Ngụy
QUYỂN 1
I. PHẦN LUẬN BỔN

Phẩm thứ 1: GIÁO HÓA
Nay con đều quy mạng,
Tất cả Ðấng Vô thượng,
Vì mở tạng Pháp vương,
Lợi rộng chư quần sinh.
Pháp Thắng diệu Chư Phật,
Chê bai là phi pháp,
Ngu si không Trí tuệ,
Mê cả tà và chánh.
Người Trí tuệ đầy đủ,
Khéo phân biệt tà chánh,
Người soạn luận như vậy,
Không trái với chánh pháp.
Thuận Bồ-đề ba thừa,
Trị phiền não ba cõi,
Tuy là đệ tử tạo,
Chánh lấy, tà thì bỏ.
Khéo thuyết nghĩa, danh, cú,
Công đức đầu, giữa, sau,
Người trí nghe nghĩa nầy,
Không lấy các pháp khác.
Như con biết ý Phật,
Trụ vững sâu nghĩa chánh ,
Người tu hành như thật,
Thì đồng như lời Phật.
Tuy không lời trau chuốt,
Nhưng có nghĩa chân thật,
Pháp kia nên thọ trì,
Như lấy vàng, bỏ đá.
Nghĩa mầu như vàng thật,
Lời khéo như gạch ngói,
Y danh không y nghĩa,
Người đó vô minh mù.
Nương nghiệp chướng tội mình,
Chê bai pháp mầu Phật,
Những hạng người như vậy
Ðều bị Chư Phật quở.
Hoặc lấy tâm người khác,
Hủy chê pháp mầu Phật,
Những hạng người như vậy,
Ðều bị Chư Phật quở.
Vì các thứ cúng dường,
Chê bai pháp mầu Phật,
Những hạng người như vậy
Ðều bị Chư Phật quở.
Ngu si và ngã mạn,
Ưa thành pháp tiểu thừa,
Chê pháp và pháp sư,
Ðều bị Chư Phật quở.
Hiện oai nghi bên ngoài,
Không biết Như lai giáo,
Chê pháp và pháp sư,
Ðều bị Chư Phật quở.
Vì mong cầu tiếng tăm,
Nên khởi các dị thuyết,
Chê pháp và pháp sư,
Ðều bị Chư Phật quở.
Nói trái nghịch với kinh,
Cho là nghĩa chân thật,
Chê pháp và pháp sư,
Ðều bị Chư Phật quở.
Cầu lợi dưỡng nhiếp chúng,
Người cuồng hoặc không biết,
Chê pháp và pháp sư,
Ðều bị Chư Phật quở.
Phật quán sát như vậy,
Chúng sinh tội cực ác,
Tâm Từ Bi tự tại,
Vì nói pháp trừ khổ.
Trí sâu từ bi lớn,
Làm lợi ích như thế,
Con nói không cầu lợi,
Vì chánh pháp trụ lâu.

Phẩm thứ 2: PHẬT BẢO
Thể Phật không mé trước,
Và không mé trung gian,
Cũng lại không mé sau,
Vắng lặng tự giác biết.
Ðã tự chứng biết rồi,
Vì muốn người khác biết,
Nên vì chúng sanh nói,
Ðạo Vô úy thường hằng.
Phật nắm giữ Đạo ấy,
Dao Trí tuệ Từ bi,
Và chày Kim cương diệu,
Chặt đứt các mầm khổ.
Phá các núi kiến chấp,
Che lấp ý điên đảo,
Và tất cả rừng rậm,
Nên nay con kính lễ.

Phẩm thứ 3: PHÁP BẢO
Chẳng có cũng chẳng không,
Cũng lại chẳng có không,
Cũng không phải tức pháp,
Lại cũng không lìa pháp.
Suy lường không thể đắc,
Chẳng phải cảnh Văn tuệ,
Lìa ngoài đường ngôn ngữ,
Nội tâm biết mát mẻ.
Mặt trời Pháp mầu kia,
Thanh tịnh không bụi nhơ,
Trí tuệ sáng rực rỡ,
Chiếu khắp các thế gian.
Xua tan các ám chướng,
Giác quán tham sân si,
Tất cả phiền não thảy
Nên nay con kính lễ.

Phẩm thứ 4: TĂNG BẢO
Bậc Chánh giác Chánh tri,
Thấy tất cả chúng sinh,
Thanh tịnh không có ngã,
Mé vắng lặng chân thật.
Vì biết chúng sinh kia,
Tâm tự tánh thanh tịnh,
Thấy phiền não không thật,
Nên lìa các phiền não.
Người tịnh trí vô chướng,
Thấy chúng sinh như thật,
Tự tánh tánh thanh tịnh,
Cảnh giới Pháp Phật Tăng.
Mắt trí tịnh vô ngại,
Thấy tánh các chúng sinh,
Khắp vô lượng cảnh giới,
Nên nay con kính lễ.

Hỏi: Dựa vào pháp gì mà có Tam bảo nầy?
Ðáp: Kệ rằng:
Chân như có tạp cấu,
Và xa lìa các cấu,
Phật vô lượng công đức,
Và Nghiệp mà Phật làm.
Cảnh giới mầu như vậy,
Sở tri của Chư Phật,
Nương Pháp thân mầu nầy,
Mà sinh ra Tam bảo.

Phẩm thứ 5: TẤT CẢ CHÚNG SANH CÓ NHƯ LAI TẠNG
Hỏi: Làm sao biết được tất cả chúng sinh có Như lai tạng ?
Ðáp: Kệ rằng:
Tất cả cõi chúng sinh,
Không lìa trí Chư Phật,
Vì tịnh vô cấu kia,
Thể tánh vốn không hai.
Nương tất cả Chư Phật,
Thân pháp tánh bình đẳng,
Biết tất cả chúng sinh,
Ðều có Như lai tạng.
Lại nữa, nói lược kệ rằng:
Thể và nghiệp nhân quả,
Tương ưng và do hành,
Thời sai khác khắp xứ,
Không đổi không sai khác.
Thứ lớp nghĩa mầu ấy,
Chân pháp tánh bậc nhất,
Ta nói lược như thế,
Nay ông nên khéo biết.
Hỏi: Kệ nầy nói nghĩa gì ?
Ðáp Kệ rằng:
Tự tánh thường không nhiễm,
Như báu không tịnh thủy,
Tín pháp và Bát-nhã,
Tam-muội đại bi thảy.
Tịnh, ngã, lạc thường thảy,
Quả công đức bờ kia,
Chán khổ cầu Niết-bàn,
Các nghiệp mong cầu thảy.
Nước vật báu biển cả,
Vô lượng không thể hết,
Như đèn sáng soi sắc,
Tánh công đức như vậy.
Bậc kiến thật nói ra,
Phàm phu, Thánh, Nhân, Phật,
Chúng sinh Như lai tạng,
Chân như không sai khác.
Có bất tịnh, tạp tịnh,
Cho đến thiện tịnh thảy,
Nói thứ lớp như vậy,
Chúng sinh, Bồ-tát, Phật.
Như hư không trùm khắp,
Nhưng không, chẳng phân biệt,
Tâm tự tánh vô cấu,
Cũng khắp vô phân biệt.
Như hư không đến khắp,
Thể bất nhiễm hạt bụi,
Phật tánh khắp chúng sinh,
Các phiền não không nhiễm.
Như tất cả thế gian,
Nương hư không sinh diệt,
Nương vào cõi vô lậu,
Có các căn sinh diệt.
Lửa chẳng đốt hư không,
Nếu đốt không việc ấy,
Như vậy già, bệnh, chết,
Không thể đốt Phật tánh.
Ðất nương vào nước trụ,
Nước lại nương vào gió,
Gió nương vào hư không,
Hư không chẳng nương đất.
Như vậy ấm, giới, căn,
Trụ trong nghiệp phiền não,
Các nghiệp phiền não thảy,
Nương tư duy bất thiện.
Hành tư duy bất thiện,
Trụ trong tâm thanh tịnh,
Tự tánh tâm thanh tịnh,
Không trụ các pháp đó.
Ấm, nhập, giới như đất,
Nghiệp phiền não như nước,
Không chánh niệm như gió,
Cõi tâm tịnh như không.
Nương tánh khởi niệm tà,
Niệm khởi nghiệp phiền não,
Dựa nhân nghiệp phiền não
Khởi lên ấm, giới, nhập.
Nương dựa vào ngũ ấm,
Các pháp giới, nhập thảy,
Mà các căn sinh diệt,
Như thế giới thành hoại.
Tâm tịnh như hư không,
Không nhân lại không duyên,
Không có nghĩa hòa hợp,
Cũng không sinh trụ diệt.
Tâm tịnh như hư không,
Thường sáng không chuyển biến,
Vì phân biệt luống dối,
Khách trần phiền não nhiễm.
Ðại Bồ-tát,
Biết Phật tánh như thật,
Chẳng sinh cũng chẳng diệt,
Cũng không già, bệnh thảy…
Bồ-tát biết như vậy,
Ðược lìa khỏi sinh tử,
Vì thương xót chúng sinh,
Nói về có sinh diệt.
Thân Phật không đổi khác,
Vì đắc pháp vô tận,
Chỗ chúng sinh quy y,
Vì không có bờ mé.
Thường trụ pháp không hai,
Vì lìa phân biệt vọng,
Hằng không chấp, không làm,
Vì lực tâm thanh tịnh.
Pháp thân và Như lai,
Thánh đế và Niết-bàn,
Công đức không lìa nhau,
Như sáng không lìa nhật.

Phẩm thứ 6: VÔ LƯỢNG PHIỀN NÃO TRÓI BUỘC
Chư Phật trong hoa héo,
Mật ngọt trong bầy ong,
Ruột quả bọc trong vỏ,
Vàng ròng trong phân uế.
Kho báu trong lòng đất,
Mầm non trong hạt quả,
Áo cũ mục bẩn rách,
Trong gói tượng vàng ngọc.
Cô gái nghèo xấu xí,
Mang thai Vua Chuyển Luân,
Trong khuôn bị nướng đen,
Có tượng báu quý giá.
Chúng sinh tham sân si,
Vọng tưởng phiền não thảy,
Trong các cấu trần lao,
Ðều có Như lai tạng.
Hoa ong bao phẩn uế,
Ðất, quả, áo cũ rách,
Cô gái nghèo, khuôn bùn,
Tương tự phiền não cấu.
Phật, mật, thật vàng ròng,
Ngà báu, kim tượng vương,
Tượng báu thượng diệu thảy,
Tương tự Như lai tạng.

– Hỏi: Dụ “Hoa” và “Phật” để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Nói “Hoa héo” là dụ cho phiền não. Nói “Chư Phật” là dụ cho Như lai tạng. Kệ rằng:
Công đức trang nghiêm Phật,
Trụ trong nụ hoa héo,
Thiên nhãn tịnh thì thấy,
Bỏ hoa hiển Chư Phật.
Phật nhãn quán Tự Pháp,
Khắp tất cả chúng sinh,
Xuống đến ngục A-tỳ ,
Ðầy đủ Như lai tạng.
Tự ở cõi thường trụ ,
Dùng phương tiện từ bi,
Khiến tất cả chúng sinh,
Xa lìa các chướng ngại.
Như trong hoa héo úa,
Có Chư Phật Như lai,
Người thiên nhãn thấy biết,
Trừ bỏ hoa lá héo.
Như lai cũng như vậy,
Kiến, tham phiền não cấu,
Trong chúng sinh bất tịnh,
Ðầy đủ Như lai tạng,
Dùng tâm đại từ bi,
Thương xót khắp thế gian.
Vì tất cả chúng sinh,
Trừ hoa lá phiền não.

– Hỏi: Thí dụ “mật ong” để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Nói “bầy ong” là dụ cho các phiền não, nói “mật ngọt” là dụ cho Như lai tạng. Kệ rằng:
Mật vị ngon thượng diệu,
Bị bầy ong vây quanh,
Người cần lập phương tiện,
Ðuổi ong mà lấy mật.
Như lai cũng như vậy,
Dùng mắt Nhất thiết trí,
Thấy các ong phiền não,
Vây quanh mật Phật tánh.
Dùng sức phương tiện lớn,
Xua tan ong phiền não,
Hiển bày Như lai tạng,
Như lấy mật thọ dụng.
Giống như trăm ngàn ức,
Na-do-tha côn trùng,
Che ngăn mật thơm ngon,
Không ai đến gần được.
Người có trí cần mật,
Xua tan bầy ong kia,
Lấy mật ngọt thượng vị,
Tùy ý mà thọ dụng.
Trí vô lậu như mật,
Ở trong thân chúng sinh,
Phiền não như ong độc,
Bị Như lai giết hại.

– Hỏi: “Ruột quả bọc trong vỏ”, thí dụ để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Nói “bọc trong vỏ” là dụ các phiền não. Nói “ruột bên trong của quả” là dụ cho Như lai tạng. Kệ rằng:
Hạt gạo trong vỏ trấu,
Không ai thọ dụng được,
Khi có người cần dùng,
Tìm cách lột bỏ vỏ.
Phật thấy các chúng sinh,
Thân có tánh Như lai,
Vỏ phiền não bao bọc,
Không thể làm Phật sự.
Dùng sức phương tiện thiện,
Khiến chúng sinh ba cõi,
Trừ các vỏ phiền não,
Tùy ý làm Phật sự.
Như lúa ngũ cốc thảy,
Không lìa các vỏ bọc,
Ruột bên trong chưa sạch,
Không tùy ý ăn dùng.
Như vậy Như lai tạng,
Không lìa vỏ phiền não,
Khiến tất cả chúng sinh,
Bị phiền não đói khát.
Phật, Pháp vương tự tại,
Ở trong thân chúng sinh,
Hiển thị dùng vị ái,
Trừ khổ đói khát kia.

– Hỏi: Thí dụ “Vàng” trong “Phẩn” để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Thí dụ về “phẩn uế” là nói các tương tự phiền não. Thí dụ “vàng ròng” là nói tương tự Như lai tạng. Kệ rằng:
Như người đi đường xa,
Làm rơi vàng trong phẩn,
Trải qua trăm ngàn năm,
Vẫn như xưa không đổi.
Thiên nhãn tịnh thấy rồi,
Bảo cho mọi người biết,
Trong đó có vàng ròng,
Ông hãy lấy về dùng.
Phật quán tánh chúng sinh,
Chìm trong phân phiền não,
Vì muốn cứu vớt họ,
Mà mưa pháp vi diệu.
Như tại đất bất tịnh,
Làm rơi khối vàng ròng,
Thiên nhãn tịnh thấy rõ,
Chúng sinh không thể biết.
Chư thiên đã thấy rồi,
Nói cho ai nấy biết,
Dạy cách trừ dơ bẩn,
Ðược dùng vàng ròng sạch.
Vàng Phật tánh cũng vậy,
Rơi trong phiền não nhơ,
Như lai quán sát rồi,
Nói pháp tịnh cho nghe.

– Hỏi: Thí dụ kho Báu trong Ðất để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Thí dụ “Ðất” là nói về tương tự phiền não, thí dụ “kho Báu” là nói tương tự Như lai tạng. Kệ rằng:
Thí như nhà người nghèo,
Ðất có kho châu báu,
Người đó không biết được,
Báu cũng không nói được.
Chúng sinh cũng như vậy
Trong ngôi nhà tự tâm,
Có chẳng thể nghĩ bàn,
Kho Pháp bảo vô tận.
Tuy có kho báu nầy,
Nhưng không thể tự biết,
Do không hề hay biết,
Chịu khổ nghèo sinh tử.
Ví như kho châu báu,
Trong nhà người nghèo kia,
Người không nói mình nghèo,
Báu không nói tôi đây.
Kho Pháp báu như vậy,
Trong tâm của chúng sinh,
Chúng sinh như người nghèo,
Phật tánh như kho báu.
Vì muốn giúp chúng sinh,
Có được châu báu ấy,
Chư Phật, Như lai kia
Xuất hiện ở thế gian.

– Hỏi: Thí dụ “Mầm trong Quả” để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Thí dụ “vỏ quả” là nói về tương tự phiền não. Thí dụ “hạt mầm” là nói về tương tự Như lai tạng. Kệ rằng:
Như các cây có trái,
Hạt mầm không hư thối,
Gieo xuống đất, tưới nước,
Sinh trưởng thành cây to.
Tất cả các chúng sinh,
Trong các thứ phiền não,
Ðều có Như lai tánh,
Da Vô minh ràng buộc.
Gieo vào đất gốc lành,
Nẩy mầm Bồ-đề kia,
Thứ lớp dần thêm lớn,
Thành Thọ Vương Như lai.
Nương đất nước lửa gió,
Hư không và nhật nguyệt,
Trong hạt Ða-la thảy,
Sinh ra Ðại thọ vương.
Tất cả các chúng sinh,
Ðều cũng giống như vậy,
Trong vỏ quả phiền não,
Có hạt mầm Chánh giác.
Nương Pháp bạch tịnh thảy,
Vì có các thứ duyên,
Thứ lớp dần thêm lớn,
Thành Phật, Ðại pháp vương.

– Hỏi: Thí dụ Tượng vàng trong áo để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Thí dụ “áo cũ” là nói về tương tự phiền não, “Tượng vàng” là dụ cho tương tự Như lai tạng. Kệ rằng:
Áo cũ gói tượng vàng,
Nằm ở giữa đường đi,
Chư Thiên nói với người,
Trong đó có tượng vàng.
Các thứ phiền não cấu,
Bao bọc Như lai tạng,
Mắt Phật thấy vô chướng,
Dưới đến ngục A-tỳ,
Ðều có thân Như lai,
Vì khiến người kia được,
Rộng bày các phương tiện,
Nói các thứ pháp mầu.
Tượng vàng gói trong áo,
Ðánh rơi giữa đường vắng,
Người có thiên nhãn thấy,
Nói cho mọi người biết,
Chúng sinh, Như lai tạng,
Phiền não cấu, bao bọc,
Tại đường hiểm thế gian,
Mà không tự hay biết.
Phật nhãn quán chúng sinh,
Ðều có Như lai tạng,
Nói cho nghe các pháp,
Khiến chúng sinh giải thoát.

– Hỏi: Thí dụ “Cô gái nghèo và Luân vương” để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Thí dụ Cô gái nghèo là nói về các phiền não tương tự. Trong Ca-la-la bốn đại, có thân Vua chuyển luân là nói. Trong tạng Ca-la-la sinh tử là có Như lai tạng Vua chuyển luân tương tự. Kệ rằng:
Như người nữ cô độc,
Ở tại nhà nghèo cùng,
Mang thai Vua chuyển luân,
Mà không tự hay biết.
Căn nhà nghèo cùng kia,
Ba cõi cũng như vậy,
Cô gái mang thai ấy,
Dụ chúng sinh bất tịnh.
Thai nhi ẩn trong thai,
Tánh chúng sinh cũng vậy,
Trong có tánh vô cấu ,
Gọi là chẳng cô độc.
Cô gái nghèo, áo bẩn bọc,
Rất hôi hám, chịu khổ,
Ở trong nhà cô độc,
Gánh nặng mang thai Vua.
Các phiền não như vậy,
Nhiễm ô chúng sinh tánh,
Chịu vô lượng khổ não,
Không có chỗ nương tựa.
Thật có chỗ nương tựa,
Mà không tâm nương tựa,
Không biết trong tự thân,
Vốn có Như lai tạng.

– Hỏi: Thí dụ “tượng trong khuôn ” để nói về nghĩa gì?
Ðáp: Thí dụ “khuôn bùn” là nói tương tự các phiền não, thí dụ “Tượng báu” là nói về tương tự Như lai tạng. Kệ rằng:
Như người nấu chảy vàng ,
Ðúc vào trong khuôn đất,
Bên ngoài bùn cháy đen,
Trong có tượng vàng thật.
Thợ kia chờ khuôn nguội,
Bỏ lớp đất bên ngoài,
Mở khuôn khiến hiển hiện,
Lấy tượng báu bên trong.
Phật tánh thường sáng sạch,
Khách bụi cấu làm nhiễm,
Chư Phật khéo quán sát,
Dứt chướng khiến hiển hiện.
Tượng sáng sạch lìa cấu,
Ngay trong đất bẩn kia,
Thợ đúc biết hết nóng,
Sau đó trừ chướng đất.
Như lai cũng như vậy,
Thấy Phật tánh chúng sinh,
Rõ ràng trong phiền não,
Như tượng báu trong khuôn.
Dùng phương tiện khéo,
Khéo dùng chày nói pháp,
Phá vỡ khuôn phiền não,
Hiển bày Như lai tạng.

Phẩm thứ 7: VÌ SAO NÓI
– Hỏi: Trong các Tu-đa-la (kinh) khác đều nói tất cả không, trong luận nầy vì sao nói có Chân như, Phật tánh? Kệ rằng:
Kinh chỗ nào cũng nói,
Trong ngoài tất cả không,
Pháp hữu vi như mây,
Và như mộng huyễn thảy.
Vì sao trong đây nói,
Tất cả các chúng sinh,
Ðều có tánh Chân như ,
Mà không nói “vắng lặng”.
Ðáp: Kệ rằng:
Vì có tâm yếu đuối,
Khinh mạn các chúng sinh,
Chấp trước pháp luống dối,
Chê Chân như thật tánh.
Chấp thân có Thần ngã,
Vì khiến chúng sinh nầy,
Xa lìa năm lỗi lầm,
Nên nói có Phật tánh.

Phẩm thứ 8: THÂN CHUYỂN THANH TỊNH THÀNH BỒ ÐỀ
Tịnh đắc và xa lìa,
Tự tha lợi tương ưng,
Nương vào rất vui sướng,
Nghĩa như kia đã làm.

– Thứ nhất nói Bồ-đề của Phật và phương tiện chứng đắc Bồ-đề. Kệ rằng:
Trước nói pháp thân Phật,
Thể tự tánh thanh tịnh,
Vì các phiền não cấu,
Bị khách trần ô nhiễm,
Thí như trong hư không
Nhật nguyệt lìa cấu tịnh,
Bị mây dầy che kín,
Bủa lưới giăng che khuất.
Công Ðức Phật không dơ,
Thường hằng không thay đổi,
Vô phân biệt các pháp,
Ðắc chân trí vô lậu.

– Kế là nói thể thanh tịnh vô cấu. Kệ rằng:
Như ao nước thanh tịnh,
Không có các bụi đục,
Các thứ cây tạp hoa,
Thường bao bọc xung quanh.
Như trăng rời La Hầu,
Mặt trời không mây che.
Có công đức vô cấu,
Hiển hiện ngay thể kia.
Mật ong chúa ngon ngọt,
Vàng ròng tịnh chắc thật,
Cây quả to kho báu,
Tượng vàng thật vô cấu.
Thân vua Thánh Chuyển luân,
Tượng Như lai báu diệu,
Những pháp như vậy thảy,
Tức là thân Như lai.

– Kế là nói thành tựu tự lợi lợi tha. Kệ rằng:
Vô lậu và đến khắp,
Pháp bất diệt thường hằng,
Mát mẻ không thay đổi,
Sống vắng lặng không lui.
Thân Chư Phật Như lai,
Như hư không vô tướng,
Vì các bậc Thắng trí,
Làm cảnh giới sáu căn.
Nói về sắc mầu nhiệm,
Xuất từ âm thanh mầu,
Khiến ngửi hương giới Phật,
Cùng nếm pháp mầu Phật.
Khiến giác tam-muội Xúc,
Giúp biết pháp sâu mầu,
Tư duy kỹ rừng rậm,
Phật lìa tướng hư không.

– Kế là nói tương ưng Ðệ nhất nghĩa. Kệ rằng:
Như Không chẳng nghĩ bàn
Thường hằng và mát mẻ,
Bất biến và vắng lặng,
Lìa khắp các phân biệt.
Tất cả xứ không đắm,
Lìa thô ngại nhám rít,
Cũng không thể kiến thủ,
Tâm Phật tịnh vô cấu.

– Kế là, nói pháp thân Phật. Kệ rằng:
Chẳng đầu, chẳng giữa sau,
Không hư hoại, không hai,
Xa lìa cả ba cõi,
Vô cấu, vô phân biệt.
Cảnh giới sâu xa nầy,
Nhị thừa chẳng biết được,
Ðủ tuệ Tam-muội thắng,
Người như vậy thấy được.
Vượt hơn cát sông Hằng,
Công đức chẳng nghĩ bàn,
Chỉ Như lai thành tựu,
Không chung với người khác.
Sắc thân Như lai đẹp,
Thể thanh tịnh không nhơ,
Xa lìa các phiền não,
Và tất cả tập khí.
Các thứ pháp thắng diệu,
Lấy ánh sáng làm Thể,
Giúp chúng sinh giải thoát,
Thường không có ngơi nghỉ.
Việc làm chẳng nghĩ bàn,
Như bảo vương Ma-ni,
Hiện ra các thứ hình,
Nhưng Thể đó chẳng thật.
Vì thế gian nói pháp,
Nói về xứ vắng lặng,
Giáo hóa khiến thuần thục,
Thọ ký giúp nhập đạo.
Thân gương ảnh Như lai,
Nhưng không lìa bản thể,
Giống như tất cả sắc,
Chẳng lìa khỏi hư không.

– Kế là nói thân Như lai thường trụ. Kệ rằng:
Thể Thế Tôn thường trụ,
Vì tu vô lượng nhân,
Chúng sinh bất tận,
Tâm Từ bi như ý.
Trí thành tựu tương ưng,
Ðược tự tại đối pháp đắc,
Hàng phục các ma oán,
Thể vắng lặng nên thường.

– Kế là nói tự Thể không thể nghĩ bàn. Kệ rằng:
Ngôn ngữ không nói được,
Thuộc Ðệ nhất nghĩa Ðế,
Lìa các địa giác quán,
Không thí dụ để nói.
Pháp thắng diệu trên hết,
Không chấp có Niết-bàn,
Ba thừa không biết được,
Chỉ là cảnh giới Phật.

Phẩm thứ 9: CÔNG ÐỨC CỦA NHƯ LAI
Tự lợi cũng lợi tha,
Thân Ðệ nhất nghĩa Ðế,
Nương thân Chân Ðế kia,
Có thể Thế đế này.
Quả thuần thục xa lìa,
Trong đây có đầy đủ,
Sáu mươi bốn thứ pháp,
Các công đức sai khác.
– Nói lược Kệ:
Phật Lực chày Kim cương,
Phá chướng người vô trí,
Như lai không sợ hãi,
Trong chúng như Sư Tử.
Pháp bất cộng Như lai,
Thanh tịnh như hư không,
Như trăng đáy nước kia,
Hai thứ kiến chúng sinh.

– Thứ nhất nói mười Lực. Kệ rằng:
Quả báo xứ, phi xứ,
Nghiệp cùng với các căn,
Tánh tín đến xứ đạo,
Các thiền định lìa cấu.
Nhớ lại đời quá khứ,
Thiên Trí nhãn vắng lặng,
Các câu như vậy thảy,
Gọi là mười thứ Lực.

– Kế là nói về chày Kim cương. Kệ rằng:
Nghiệp tánh xứ, phi xứ,
Các Tín Căn chúng sanh,
Các thứ tùy địa tu,
Hơn túc mạng sai khác.
Thiên nhãn, lậu tất cả,
Phật Lực chày Kim cương,
Có thể đập vỡ nát,
Si dày như núi cao.

– Kế là nói về bốn Vô úy. Kệ rằng:
Giác như thật các pháp,
Ngăn các chướng ngại đạo,
Nói đạo đắc vô lậu,
Là bốn thứ không sợ.
Ðối cảnh giới nhận biết,
Rốt ráo rõ tự tha,
Tự biết, dạy người biết,
Ðây chẳng chướng ngại đạo.
Chứng được quả thắng diệu,
Tự đắc, giúp người đắc,
Nói Ðế lợi tự tha,
Là các xứ Vô úy.

– Kế là nói như Sư tử đầu đàn. Kệ rằng:
Như Sư tử đầu đàn,
Tự tại trong các thú,
Thường ở trong núi rừng,
Không sợ hãi các thú.
Phật, Nhân vương cũng vậy,
Ở trong các chúng sanh,
Không sợ và khéo trụ,
Vững chắc hăng hái thảy.

– Kế là nói mười tám pháp
Bất Cộng của Phật. Kệ rằng:
Phật không lỗi, không tranh,
Không lỗi vọng niệm thảy,
Không chẳng định, tâm tán,
Không có các thứ tưởng.
Không tác ý hộ tâm,
Dục, tinh tấn không lui,
Niệm tuệ và giải thoát,
Tri kiến thảy không lùi.
Các nghiệp, trí là gốc,
Biết ba đời vô chướng,
Mười tám công đức Phật,
Và còn lại không nói.
Thân miệng Phật không lỗi,
Nếu người đến phá hoại,
Nội tâm tướng bất động,
Không khởi tâm, xả tâm.
Thế Tôn dục, tinh tấn,
Niệm, trí tịnh giải thoát,
Tri kiến thường không lỗi,
Nói về cảnh nhận biết.
Tất cả các nghiệp thảy,
Trí làm gốc xoay vần,
Ba đời vô chướng ngại,
Trí rộng lớn hành thường.
Gọi là thể Như lai,
Tương ưng trí tuệ lớn,
Biết rõ Ðại Bồ-đề,
Pháp thắng diệu trên hết.
Vì tất cả chúng sinh,
Xoay bánh xe pháp lớn,
Pháp vô úy thắng diệu,
Khiến chúng sinh giải thoát.

– Kế là, nói nghĩa Hư không chẳng tương ưng. Kệ rằng:
Ðịa thủy hỏa phong thảy,
Không có trong hư không,
Trong sắc cũng không có,
Hư không chẳng ngại Pháp.
Chư Phật vô chướng ngại,
Cũng như tướng hư không,
Như lai ở thế gian,
Như địa thủy hỏa phong.
Nhưng Chư Phật Như lai,
Tất cả các công đức,
Cho đến không một pháp,
Có chung với thế gian.

– Kế là, nói ba mươi hai tướng Ðại Nhân. Kệ rằng:
Lòng bàn chân bằng đầy,
Có hình xe nghìn căm,
Gót, lưng bàn chân dầy,
Chân nai chúa Y-ni.
Tay chân đều mềm mại,
Các ngón đều thon dài,
Có màng như ngỗng chúa,
Cánh tay thon trên xuống .
Hai vai trước sau bằng,
Phải trái đều tròn đầy,
Buông tay quá đầu gối,
Tướng âm tàng ngựa chúa.
Thân tướng cao thanh nhã,
Như cây chúa Ni-câu,
Thể tướng bảy chỗ đầy,
Nửa trên như Sư tử,
Thế oai đức vững chắc,
Giống như Na-la-diên,
Thân sắc tươi tịnh diệu,
Da mịn, sắc vàng ròng.
Sạch, mềm mại trơn láng,
Mỗi lỗ sinh mỗi lông,
Lông mềm mại hướng lên,
Ðều nhỏ xoáy bên phải.
Thân sạch tỏa ánh sáng,
Tướng trên Ðảnh nhô cao,
Cổ như cổ chim công,
Má vuông như Sư tử.
Tóc sạch thuần sắc mượt,
Dụ như Nhân-đà-la,
Tướng lông trắng trên trán,
Tỏa sáng chung khuôn mặt.
Miệng có bốn mươi răng,
Răng nanh trắng như tuyết,
Sâu kín, sáng trong ngoài,
Răng trên dưới bằng đều.
Tiếng Ca-lăng-tần-già.
Tiếng âm mầu sâu xa,
Thức ăn đều trôi qua,
Ðắc vị trung và thượng
Lưỡi mỏng rộng và dài,
Hai mắt thuần sắc xanh,
My mắt như trâu chúa,
Công đức như hoa sen,
Như vậy, gọi nhân tôn,
Ba mươi hai tướng đẹp,
Từng thứ không lộn lạo,
Khắp thân không thể chê.

– Kế là, nói như trăng đáy nước. Kệ rằng:
Trời Thu không mây che,
Trăng trên trời đáy nước,
Tất cả người thế gian,
Ðều thấy trăng sáng mạnh.
Trong vầng Phật thanh tịnh,
Có thế lực công đức,
Phật tử thấy Như lai,
Thân công đức cũng vậy.

Phẩm thứ 10: PHẬT NGHIỆP TỰ NHIÊN KHÔNG DỪNG NGHỈ
Chúng sinh đáng hóa độ,
Dùng phương tiện giáo hóa,
Khởi nghiệp hóa chúng sinh,
Giáo hóa cõi chúng sinh.
Chư Phật, bậc tự tại,
Chúng sinh đáng hóa độ,
Thường chờ thời, chờ xứ,
Tự nhiên làm Phật sự.
Hay biết khắp Ðại thừa,
Tụ công đức tối diệu,
Báu như nước biển cả,
Trí Như lai cũng vậy.
Bồ-đề rộng vô biên,
Như thế giới hư không,
Phóng vô lượng công đức,
Nhật quang trí tuệ lớn.
Chiếu khắp các chúng sinh,
Có Pháp thân Phật diệu,
Chứa công đức vô cấu,
Như thân ta không khác.
Phiền não chướng, trí chướng,
Mây, sương giăng che lấp,
Gió Từ bi Chư Phật,
Thổi khiến cho tan hết.

– Kế là nói thí dụ về nghiệp Ðại thừa. Nói lược Kệ:
Mây trống của Ðế thích,
Nhật Ma-ni Phạm thiên,
Vang đến cõi hư không,
Thân Như lai cũng vậy.
– Thứ nhất nói thí dụ về Gương và bóng của Ðế-thích. Kệ rằng:
Như Tỳ-lưu-ly kia,
Trong mặt đất thanh tịnh,
Thân Ðế Thích Thiên Chủ,
Gương bóng hiện trong đó.
Như vậy tâm chúng sinh,
Trong mặt đất thanh tịnh,
Thân Chư Phật Như lai,
Gương bóng hiện trong đó.
Ðế Thích hiện, không hiện,
Nương địa tịnh, bất tịnh,
Như vậy các thế gian,
Gương bóng hiện, không hiện.
Như lai có khởi, diệt,
Nương tâm đục, không đục,
Như vậy các chúng sinh,
Gương bóng hiện, không hiện.
Thân Ðế thích Thiên chủ,
Gương bóng có sinh diệt,
Không thể nói là có,
Chẳng thể nói là không.
Thân Như lai cũng vậy,
Gương bóng có sinh diệt,
Không thể nói là có,
Chẳng thể nói là không.
Như đất rộng cùng khắp,
Xa lìa uế cao thấp,
Ðại lưu ly sáng sạch,
Công đức bình lìa cấu.
Vì Tỳ-lưu-ly kia,
Là thanh tịnh vô cấu,
Gương bóng Thiên chủ hiện,
Và vật trang nghiêm sinh.
Hoặc nam, hoặc nữ thảy,
Trong đó thấy Thiên chủ,
Và vật trang nghiêm diệu,
Khởi sinh nguyện xứ kia.
Chúng sinh vì sinh kia,
Tu hành các hạnh lành,
Trì giới và bố thí,
Rải hoa xả châu báu.
Về sau công đức tận,
Ðịa diệt, kia cũng diệt,
Ðất tâm lưu ly tịnh,
Gương bóng Chư Phật hiện.
Các Phật tử, Bồ-tát,
Thấy Phật, tâm vui mừng,
Vì cầu đắc Bồ-đề,
Khởi nguyện tu các hạnh.

– Kế là nói Bất sinh bất diệt tức là Như lai. Kệ rằng:
Như Tỳ-lưu-ly diệt,
Gương bóng kia cũng diệt,
Không thể độ chúng sinh,
Như lai không ra đời.
Ðất báu Lưu ly địa tịnh,
Nói về tượng diệu Phật,
Tâm tịnh kia không hoại,
Mầm Tín căn thêm lớn.
Pháp bạch tịnh sinh diệt,
Bóng Phật cũng sinh diệt,
Như lai không sinh diệt,
Giống như vua Ðế thích.
Nghiệp nầy tự nhiên có,
Thấy bình đẳng hiện tiền,
Pháp thân không sinh diệt,
Thường trụ tận các cõi.

– Kế là, nói thí dụ về trống vi diệu trong Chư Thiên. Kệ rằng:
Tiếng trống pháp mầu trời,
Nương tự nghiệp mà có,
Pháp âm của Chư Phật,
Chúng sinh tự nghiệp nghe.
Như tiếng diệu xa lìa,
Công dụng trong thân tâm,
Khiến tất cả chư thiên,
Lìa sợ được vắng lặng.
Tiếng Phật cũng như vậy,
Lìa công dụng thân tâm,
Khiến tất cả chúng sinh,
Ðược chứng đạo vắng lặng.
Khi chúng thiên chiến đấu,
Phá sức mạnh Tu-la,
Nhờ trống phát âm thanh,
Khiến Tu-la lui tan.
Như lai vì chúng sinh,
Diệt các khổ phiền não,
Vì thế gian nói pháp,
Dạy đạo thiền định thắng.

– Kệ kế là nói tất cả người thế gian không biết tội lỗi của mình. Kệ rằng:
Ðiếc không nghe tiếng nhỏ,
Thiên Nhĩ nghe không khắp,
Đây cảnh giới bậc trí,
Do nghe tâm không nhiễm.

– Kế là nói thí dụ về mây và mưa. Kệ rằng:
Biết có khởi tâm Bi,
Ðầy khắp ở thế gian,
Trì định, tạng vô cấu,
Phật mưa tưới nhân tịnh.
Thế gian nương nghiệp thiện,
Nương vào sanh mây mưa
Nương bi thảy thêm lớn,
Mây mưa pháp mầu Phật.

– Kế là nói nương vào Khí thế gian, vị nước mưa biến hoại. Kệ rằng:
Ví như trong hư không,
Mưa nước tám công đức,
Ðến trụ xứ mặn thảy,
Sinh các vị khác nhau.
Mây Từ bi Như lai,
Mưa nước tám Thánh đạo,
Ðến chỗ tâm chúng sinh,
Sinh các vị giải thoát.
– Kế là nói tâm sai khác. Kệ rằng:
Tin vào Ðại thừa mầu,
Và Trung thừa chê pháp,
Người ngăn nhiều chim, quỷ,
Ba nhóm nầy tương tự.
Chúng sinh nhóm chánh định,
Nhóm tập khí Bất định,
Nhóm thân kiến tà định,
Tà kiến trôi sinh tử.
Mùa thu không mây mưa,
Người không chim chịu khổ,
Mùa Hạ nhiều nước mưa,
Ðốt quỷ khiến chịu khổ
Phật hiện đời, không hiện,
Mây Bi tuôn mưa pháp,
Tin pháp khí năng đắc,
Chê pháp có không nghe.

– Kế là nói về Bất hộ chúng sinh. Kệ rằng:
Trời mưa như trục xe,
Mưa xuống khắp mặt đất,
Mưa đá, sét nổ đá,
Kim cương nổ nhá lửa.
Không hộ trùng nhỏ nhít,
Các cây quả núi rừng,
Cỏ lúa, lương thực thảy,
Người đi nên không mưa.
Như lai cũng như vậy,
Ðối chúng sinh thô tế,
Tương ưng các phương tiện,
Mây mưa Bát-nhã Bi.
Các tập khí phiền não,
Chúng sinh Ngã, tà kiến,
Chủng loại như vậy thảy,
Nhất thiết trí không hộ.

– Kế là, nói dập tắt lửa khổ. Kệ rằng:
Biết bệnh, lìa nhân bệnh,
Chọn tu thuốc vô bệnh,
Khổ Nhân Diệt Ðạo kia,
Biết lìa xúc tu thảy.
Sinh tử đời vô thỉ,
Trôi lăn trong năm đường,
Trong năm đường thọ vui,
Như phẩn thối mục rã.
Xúc nóng lạnh bức thảy,
Các khổ rốt ráo có,
Vì khiến trừ diệt khổ,
Trên mưa to pháp mầu lớn.
Biết chư Thiên lui khổ,
Trong loài người cầu khổ,
Người có trí không cầu,
Trời, người tự tại vui.
Người tuệ tin lời Phật,
Ðã tin thì biết khổ,
Lại cũng biết nhân khổ,
Quán diệt và biết đạo.

– Kệ kế là nói thí dụ về Phạm Thiên. Kệ rằng:
Phạm thiên Quá khứ nguyện,
Nương nghiệp tịnh chư Thiên,
Phạm Thiên tự nhiên hiện,
Thân Hóa Phật cũng vậy.
Trong Phạm Cung bất động,
Thường hiện ở cõi Dục,
Chư Thiên thấy sắc mầu,
Mất cảnh giới năm dục.
Pháp thân Phật bất động,
Mà thường hiện thế gian,
Chúng sinh thấy vui mừng,
Không thích vui các cõi.

– Kế là nói Hữu hiện và bất hiện. Kệ rằng:
Từ Trời lui nhập thai,
Hiện đời có cha mẹ,
Tại gia hiện trẻ thơ,
Học tập các kỹ nghệ.
Vui đùa và dạo chơi,
Xuất gia hành khổ hạnh,
Hiện đến học ngoại đạo,
Hàng phục các Thiên ma.
Thành Phật xoay pháp luân,
Dạy đạo, nhập Niết-bàn,
Các chúng sinh phước mỏng,
Không thể thấy Như lai.

– Kế là, nói thí dụ về mặt trời. Kệ rằng:
Như mặt trời mới mọc,
Chiếu khắp các hoa sen,
Có hoa đồng thời nở,
Cũng có khép cùng lúc.
Phật nhật cũng như vậy,
Chiếu tất cả chúng sinh,
Có trí như hoa nở,
Có tội như hoa khép.
Mặt trời chiếu hoa nước,
Mặt trời vô phân biệt,
Mặt trời Phật cũng vậy,
Soi chiếu vô phân biệt.

– Kế tiếp Kệ rằng:
Mặt trời hiện thế gian,
Ngàn tia lần lượt chiếu,
Trước chiếu trên núi cao,
Sau đó vừa và thấp.
Mặt trời Phật cũng vậy,
Lần lượt chiếu thế gian,
Trước chiếu các Bồ-tát,
Sau đó các chúng sinh.

– Kế là, nói vầng ánh sáng không đồng. Kệ rằng:
Hai pháp thân Sắc, Trí,
Thân đại bi như không,
Chiếu khắp các thế gian,
Phật không đồng mặt trời.
Mặt trời không chiếu khắp,
Các cõi nước hư không,
Không phá tối vô minh,
Không bày, sao biết cảnh!
Phóng các thứ màu sắc,
Mây ánh sáng giăng lưới,
Hiển Thể đại từ bi,
Cảnh giới Chân như diệu.
Phật vào thành, xóm làng,
Người không mắt được mắt,
Thấy Phật được lợi lớn,
Cũng diệt các pháp ác.
Vô minh trùm các cõi,
Tà kiến, chướng đen tối,
Mặt trời Phật chiếu sáng,
Thấy Tuệ chưa thấy Xứ.

– Kế là, nói thí dụ về châu Ma-ni. Kệ rằng:
Cùng lúc ở một chỗ,
Ðầy đủ ý mong cầu,
Báu Ma-ni vô tâm,
Nhưng mãn nguyện chúng sinh.
Ðại pháp vương tự tại,
Ðồng trụ trong tâm Bi ,
Chúng sinh nghe các thứ,
Tâm Phật vô phân biệt.

– Kế là, nói thí dụ về tiếng vang. Kệ rằng:
Vị như các tiếng vang,
Nương cái khác được khởi,
Tự nhiên vô phân biệt,
Không trụ trong trụ ngoài.
Tiếng Như lai cũng vậy,
Tâm y tha mà khởi,
Tự nhiên vô phân biệt,
Không trụ trong trụ ngoài.

– Kế là, nói thí dụ về Hư không. Kệ rằng:
Không vật chẳng thể thấy,
Không quán, chẳng nương dựa,
Vượt cảnh giới Nhãn thức,
Vô sắc, chẳng thể thấy.
Trong Không thấy cao thấp,
Mà Không, chẳng như vậy,
Trong Phật thấy tất cả,
Nghĩa đó cũng như vậy.

– Kế là, nói thí dụ về địa. Kệ rằng:
Tất cả các thảo mộc,
Nương dựa mặt đất mọc,
Ðất không tâm phân biệt,
Mà thêm lớn thành tựu.
Gốc lành tâm chúng sanh,
Nương vào đất Phật sinh,
Tâm Phật vô phân biệt,
Mà thêm rộng thành tựu,
Tiếng Phật giống tiếng vang,
Lấy không danh tự nói,
Thân Phật như hư không,
Khắp không thể thường thấy.
Như các pháp nương đất,
Tất cả các thuốc hay,
Vì khắp các chúng sinh,
Không giới hạn người nào.
Các pháp nương đất Phật,
Pháp dược bạch tịnh diệu,
Khắp vì các chúng sinh,
Không giới hạn người nào.

Phẩm thứ 11: GIẢO LƯỢNG TÍN CÔNG ÐỨC
Phật tánh, Bồ-đề Phật,
Pháp Phật và nghiệp Phật,
Những người xuất thế Tịnh,
Ðiều không thể nghĩ bàn.
Cảnh giới Chư Phật này,
Nếu có người tin được,
Ðược vô lượng công đức,
Hơn tất cả thế gian,
Nếu có người xả được,
Các châu báu ma-ni,
Thí khắp mười phương cõi,
Vô lượng cõi nước Phật.
Vì cầu Bồ-đề Phật,
Cúng dường các Pháp Vương,
Người đó thí như vậy,
Vô lượng Hằng sa kiếp.
Nếu lại có người nghe,
Một câu cảnh giới mầu,
Nghe rồi có thể tin,
Phước vô lượng hơn Thí.
Nếu có người trí tuệ,
Vâng giữ giới Vô thượng,
Nghiệp thân miệng ý tịnh,
Tự nhiên thường hộ trì.
Vì cầu Bồ-đề Phật,
Vô lượng kiếp như vậy,
Phước mà người đó được,
Là không thể nghĩ bàn.
Nếu lại có người nghe,
Một câu cảnh giới mầu,
Nghe rồi có thể nói,
Phước vô lượng hơn giới.
Nếu người nhập Thiền định,
Ðốt phiền não ba cõi,
Hơn trời hành giải thoát,
Không phương tiện Bồ-đề.
Nếu lại có người nghe,
Một câu cảnh giới mầu,
Nghe rồi có thể tin,
Phước vô lượng hơn Thiền.
Người không Tuệ hay xả,
Chỉ được báo giàu sang,
Người tu trì giới cấm,
Ðược sinh trong trời, người.
Tu hành dứt các chướng,
Bi tuệ không thể trừ,
Tuệ trừ phiền não chướng,
Cũng khéo trừ trí chướng.
Nghe pháp thành nhân tuệ,
Nên nghe pháp cao siêu,
Huống chi nghe pháp rồi,
Mà sinh được tâm tín.
Pháp mà ta nói đây,
Là tự tâm thanh tịnh,
Nương vào Như lai giáo,
Tương ưng Tu-đa-la.
Nếu có người trí tuệ,
Nghe hiểu và tin nhận,
Pháp mà Ta nói đây,
Cũng vì độ người đó.
Nương đèn chớp Ma-ni,
Các ánh sáng trời trăng,
Tất cả người có mắt,
Ðều thấy được cảnh giới.
Nương ánh sáng pháp Phật,
Người Tuệ nhãn thấy được,
Cho pháp hữu là lợi,
Nên ta nói pháp nầy.
Nếu tất cả đã nói,
Có nghĩa, có pháp cú,
Khiến cho người tu hành,
Ðều xa lìa ba cõi,
Và bày pháp vắng lặng,
Ðạo Vô thượng trên hết,
Phật nói chánh Kinh nầy,
Ngoài ra, nói điên đảo.
Tuy nói nghĩa pháp cú,
Dứt phiền não ba cõi,
Vô minh che mắt Tuệ,
Cấu tham thảy… trói buộc.
Lại ở trong pháp Phật,
Lấy phần ít mà nói,
Sách đời khéo nói năng,
Ba thứ kia hãy thọ.
Huống chi các Như lai,
Xa lìa cấu phiền não,
Người Trí tuệ vô lậu,
Tu-đa-la đã nói.
Vì xa lìa nơi Chư Phật,
Trong tất cả thế gian,
Lại không trí tuệ cao,
Người biết pháp như thật,
Như lai nói liễu nghĩa,
Pháp chẳng thể nghĩ bàn,
Người suy tư chê pháp,
Không biết ý của Phật.
Chê Thánh và hoại pháp,
Các tư duy tà ấy,
Người ngu si phiền não,
Vọng thấy điều chấp trước,
Vậy không nên chấp trước,
Các pháp cấu, tà kiến,
Ðem áo sạch nhuộm màu,
Cấu bẩn không thể nhiễm.

– Hỏi: Vì sao có sự hủy chê pháp nầy?
Ðáp: Kệ rằng:
Ngu không tin pháp bạch,
Tà kiến và kiêu mạn,
Chướng chê Quá khứ pháp,
Chấp trước bất liễu nghĩa.
Ðắm cúng dường, cung kính,
Chỉ có thấy pháp tà,
Xa lìa thiện tri thức,
Gần gũi người chê pháp.
Ưa theo pháp Tiểu thừa,
Chúng sinh như vậy thảy,
Không tin pháp Ðại thừa,
Nên chê bai pháp Phật.
Người trí không nên sợ,
Kẻ thù, rắn, lửa, độc,
Nhân-đà-la, sấm sét,
Dao, gậy các thú dữ.
Cọp sói sư tử thảy,
Nó chỉ hay hại mạng,
Không khiến người bị đọa,
Ngục A-tỳ đáng sợ!
Nên sợ chê pháp sâu,
Và chê pháp tri thức,
Chắc chắn khiến đọa vào,
Ngục A-tỳ đáng sợ!
Tuy gần tri thức ác,
Làm thân Phật chảy máu,
Và giết hại cha mẹ,
Dứt mạng sống các Thánh.
Phá hoại Tăng hòa hợp,
Và dứt các gốc lành,
Do hệ niệm chánh pháp,
Giải thoát được xứ kia.
Nếu lại có người khác,
Phỉ chê pháp sâu xa,
Người đó vô lượng kiếp,
Không thể được giải thoát.
Hoặc người khiến chúng sinh,
Biết tín pháp như vậy,
Kia là cha mẹ ta,
Cũng là thiện tri thức.
Người đó là bậc Trí,
Sau khi Như lai diệt,
Bỏ tà kiến, điên đảo,
Khiến nhập vào chánh đạo.
Tánh Tam bảo thanh tịnh,
Nghiệp công đức Bồ-đề,
Ta nói lược bảy thứ,
Tương ưng với kinh Phật,
Nương các công đức nầy,
Nguyện đến khi qua đời,
Thấy Phật Vô Lượng Thọ,
Thân vô biên công đức.
Ta và người tin khác,
Ðã thấy Ðức Phật rồi,
Nguyện được mắt hết nhơ,
Thành Bồ-đề Vô thượng.
Luận nói: Phẩm giáo hóa thứ nhất, như trong Kệ trước đã nói, phải biết môn bàn rộng của Luận nầy có mười một phẩm, đích xác thì bảy phẩm, sơ lược thì chỉ có một phẩm.

 

83 Tổng số lượt xem 2 lượt xem ngày hôm nay