» » Tin Đức Quốc tháng 06.2017

Tin Đức Quốc tháng 06.2017

Thứ hai ngày 26.06.2017
Một vụ tranh tụng: Gia đình muốn được công nhận tỵ nạn dù đã khai gian.

Khởi đầu là một sự quả quyết sai lầm (falsche Behauptung), kế đến là việc công nhận tỵ nạn chính thức (amtliche Flüchtlingsanerkennung). Một ít lâu sau đó (wenig später) thì: Rút lại (zurückziehen) mệnh lệnh (Kommando), sự lường gạt (Schwindel) đã bị lộ (auffliegen). Nay (jetzt) đến phiên tòa án (Gericht) can thiệp.
Tất cả bắt đầu (anfangen) là một sự lừa đảo (betrug). Một gia đình (Familie) đến từ (aus) Ukraine đã đến (einreisen) Đức vào tháng chín (September) năm 2014 và nộp (stellen) đơn xin tỵ nạn (Asylantrag) – với lý do họ là những người tỵ nạn bị truy nã (verfolgte Flüchtlinge) đến từ Syrien.
Cục Liên Bang về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF) đã xác nhận (bestätigen) và công nhận (anerkennen) gia đình này trong tháng ba (März) 2015. Quyết định (Entscheidung) được cơ quan (Behörde) ghi thành văn bản trong thủ tục cứu xét (schriftliches Verfahren) – và không có một sự thẩm vấn cá nhân (persönliche Anhörung) nào cả.

Trường hợp (Fall) này nay được tòa án hành chánh (Verwaltungsgericht) Münster xét xử (verhandeln). Bởi vụ lừa đảo đã bị lật tẩy. Theo quyết định chấp thuận (positiver Bescheid) của Nürnberg, nơi đặt trụ sở Cục BAMF, thì gia đình này đến tạm trú trong một trại tỵ nạn (Flüchtlingsunterkunft) phía Tây (westlich) thị thành Münsterland. Khác với (gegenüber) những người tỵ nạn cùng sống chung, những người mang quốc tịch (Staatsangehörige) Ukraine này đã khoe khoang (prahlen) rằng dù họ không biết nói (sprechen) một chữ (kein Wort) Ả Rập (Arabisch), thế mà đã đánh lừa (täuschen) được các nhà chức trách Đức một cách quá đơn giản (wie einfach).
Điều này được lan truyền (sich herum sprechen) trong huyện (Kreis) Broken, theo tòa án hành chánh cho biết (mitteilen). Sở Ngoại Kiều (Ausländeramt) đã thông báo (informieren) sau đó (daraufhin) đến Cục BAMF. Vì thế qua quyết định ngày 13 tháng tư (April) năm 2016, thì quyết định ngày 02 tháng ba (März) 2015 đã bị thu hồi (zurücknehmen). Như vậy việc công nhận tỵ nạn bị hủy, nghĩa là đơn xin tỵ nạn bị bác (ablehnen). Nay, gia đình này khởi tố (klagen) chống lại quyết định ngày 13.04.2016 và quy chiếu vào (sich berufen) vào điều khoản phòng hộ sự tin tưởng (Vertrauensschutz).

Theo như phát ngôn viên (Sprecher) pháp đình (Gericht) tại Münster, ông Ulrich Lau, thì gia đình này có quyền (Recht) khởi tố. „Mọi người đều có quyền bảo vệ (sich wehren) kháng chống một việc làm hành chánh gây khó khăn (belastender Verwaltungsakt) cho họ.“
Điều này cũng được ông Fabian Wittreck nhìn nhận (genauso sehen). Nhưng ông là giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) về Luật Công Chính (öffentliches Recht) và Chính Trị (Politik) hạn chế (ein schränken) như sau: „Ở trường hợp này, tòa án hành chánh Münster không cần phải nao núng (unverfroren) vì nguyên đơn (Kläger) tìm cách (versuchen) kháng chống (pochen) quyết định của Cục BAMF. Nhưng khởi điểm (Ausgangspunkt) đã là những lời khai gian (falsche Angaben), vì thế cho nên nguyên đơn không thể quy chiếu vào điều khoản phòng hộ sự tin tưởng được.“

Vì vậy, ông Wittreck cho rằng đây là một „trường hợp ngộ nghĩnh“ (kurioser Fall). Vì những hồ sơ hành chánh, thậm chí có i vòng thế giới chẳng nữa, thì „nó cũng phải là hoàn toàn (nicht ganz) không có khuyết điểm (ohne Tücken) để mà không thể điều chỉnh lại (wieder begradigen)“. Bởi vì vụ việc này có liên quan đến một nguyên tắc căn bản (Grundsatz) là: „Người dân (Bürger) có thể tin tưởng (sich darauf verlassen) vào một quyết định của nhà chức trách nên nó không thể đơn giản bị ném vào (werfen) đống rác (Müllhaufen) được.“
Nhưng theo ông Wittreck, gia đình đến từ Ukraine cũng không có cơ hội. „Tuy nhiên (allerdings) chúng ta cần phải chờ đợi (abwarten) xem liệu nguyên đơn còn có một con bài tẩy (Ass) nào trong cánh tay áo (Ärmel) hay không. Lỗi lầm hình thức (Formfehler) hoặc không giữ đúng hạn (nicht eingehaltener Frist) cũng có thể bị các nhà chức trách cáo buộc (vorwerfen).“

Tin dpa, hình Friso Gentsch.

Thứ bảy ngày 17.06.2017
Phiên dịch viên được chứng nhận phải có khả năng làm việc với kỹ thuật số.

Chỉ riêng trình độ ngoại ngữ (Sprachkenntnis) vẫn chưa đủ. Ai tự nhận là phiên dịch viên được công nhận (Geprüfte Übersetzer), kể từ (ab) năm 2018 phải chứng minh (vorweisen) họ có nhiều khả năng (Fähigkeit), Ít nhất (zumindest) phải chấp hành (befolgen) nhiều quy tắc mới về sự tu nghiệp (neue Fortbildungsordnung).
Vịệc tu nghiệp cho những phiên dịch viên sẽ đặt ra nhiều quy tắc (Regel) trong năm tới (kommendes Jahr). Chủ yếu (vor allem) là những kỹ thuật số (digitale Technologie), theo thông báo (Mitteilung) của Viện Liên Bang Đào Tạo Nghề (Bundesinstitut für Berufsbildung, viết tắt là BIBB).
Ai tự nhận (sich nennen) là phiên dịch viên được chứng nhận, ngoài ra (unter anderem) còn phải biết làm việc (arbeiten) với những công cụ (Tools) khác như sử dụng (benutzen) cơ sở dữ liệu (Datenbank) và có khả năng (in der Lage sein) tra cứu (recherchieren) bằng sự hỗ trợ của máy vi tính (computergestützt) cũng như có khả năng đánh giá (bewerten) nghiêm túc (kritisch) những nguồn thông tin (Informationsquelle). Mặt khác (außerdem), phiên dịch viên còn phải học (lernen) thiết lập (planen) dự án (Projekt); và còn phải bị khảo sát thực hành (praktische Prüfung) khả năng này nữa.
Quy tắc tu nghiệp mới có hiệu lực (in Kraft treten) kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) năm 2018. Điều kiện (Voraussetzung) của việc tu nghiệp (Weiterbildung) để trở thành phiên dịch viên là đã qua sự huấn nghệ nghành thương mãi hay quản lý (kaufmännische oder verwaltende Berufsausbildung). Ngoài ra, phiên dịch viên cần (brauchen) ít nhất (mindestens) một năm thực tập nghề (Jobpraxis) và dĩ nhiên (natürlich) là phải có kiến thức ngoại ngữ (Fremdsprachekenntnis) tốt (gut).

Tin dpa, hình Andrea Warnecke.

Thứ sáu ngày 15.06.2017
Cấp dưỡng nuôi con sau học trình, quỹ gia đình cần bằng chứng.

Việc học kết thúc (Schulabschluss). Đối với một số thanh thiếu niên sẽ tiếp tục học nghề (Berufausbildung) hoặc (oder) học lên cao học (Studium). Một khi sự quyết định (Entscheidung) đã rõ ràng (klar), thì phụ huynh (Eltern) phải liên hệ (sich wenden) với quỹ gia đình (Familienkasse). Như vậy thì tiền cấp dưỡng nuôi con mới được cấp tiếp tục.
Cấp dưỡng nuôi con được cấp đến hết (Vollendung) 25 tuổi (Lebensjahr). Điều kiện (Voraussetzung): Thanh thiếu niên (Jugendliche) sau khi hoàn tất (absolvieren) trung học phổ thông sẽ tiếp tục học lên cao học, đào tạo nghề, thực tập chuẩn bị học nghề (berufsvorbereitendes Praktikum) hoặc tham gia (sich beteiligen) dịch vụ tự nguyện được công nhận (anerkannter Freiwilligendienst).
Để việc cấp dưỡng nuôi con sau khi kết thúc (Ende) việc học (Schule) có thể được trợ cấp (weiterzahlen) liên tục không gián đoạn (nahtlos), quỹ gia đình cần (benötigen) các bằng chứng liên hệ (entsprechende Nachweise), theo sự giải thích (erklären) quỹ gia đình Nord tại Hamburg. Một bản cóp pi (Kopie) chứng nhận học đại học (Studienbescheinigung) hoặc một hợp đồng đào tạo được ký tên chứng nhận (unterzeichneter Ausbildungsvertrag) trên nguyên tắc (in der Regel) đủ (ausreichend).
Khi sự gián đoạn (Unterbrechung) kéo dài (dauern) hơn (länger als) bốn (vier) tháng (Monate) kể từ lúc chấm dứt học phổ thông, thì một bằng chứng đủ (genügen) chứng minh rằng đứa trẻ (Kind) đang nỗ lực (sich bemühen) tìm chỗ học nghề hay đang xin một chỗ học ở đại học (Studienplatz). Ví dụ (beispielsweise) có thể xuất trình giấy xin học (Bewerbungsschreiben) hoặc thư hồi đáp (Rückmeldung). Khi đứa trẻ muốn bắt đầu (starten) cuộc sống hành nghề (Berufsleben) thì phải tự xin (sich bewerben) một chỗ làm (Arbeitsplatz), chỉ cần (notwendig) báo (melden) cho Ty Lao Động (Arbeitsagentur) về thời gian chuyển tiếp này (Übergangszeit).

Tin dpa, hình Maurizio Gambarini.

Thứ sáu ngày 09.06.2017
Các công ty bảo hiểm sức khoẻ trội thu trong quý thứ nhất.

Theo tờ “Frankfurter Allgemeine Zeitung”, các bảo hiểm sức khoẻ theo luật định (gesetzliche Krankenkasse) có trội thu (Überschuss) trong quý (erstes Quartal) năm nay khoảng 620 triệu Euro. Như vậy, con số kỷ lục (Rekordwert) tăng (steigen) lên thành 16,5 tỷ (Milliarden) Euro.
Số trội thu trong ba tháng đầu năm 2017 khoảng 200 triệu Euro, nhiều hơn cùng quý năm trước (Vorjahresquartal).
Sự phát triển tài chánh (Finanzentwicklung) của từng công ty, theo bài báo (Zeitungsbericht), có sai khác (unterschiedlich). Ví dụ, công ty “Allgemeine Ortskrankenkasse”, viết tắt là AOK, so với năm ngoái (Jahresvergleich) có trội thu từ 72 lên thành 361 triệu Euro. Ngược lại (dagegen), trội thu quý đầu của Ersatzkasse so với năm ngoái là 206 giảm (sinken) còn 155 triệu Euro. Các công ty bảo hiểm sức khoẻ của xí nghiệp (Betriebskrankenkasse) cũng có trội thu, nhưng con số từ 38 xuống còn 30 triệu Euro. Còn bảo hiểm của ngành nghề (Innungskasse) có trội thu bằng một nửa năm ngoái (17 triệu Euro)

Tin dpa, hình Maurizio Gambarini.

Thứ năm ngày 08.06.2017
Một công trình khảo sát mới cho biết có 327 người tử vong tại biên giới nội địa Đức.

Tại biên giới (Grenze) Đức-Đức trước đây (einstig), theo những phát hiện (Erkenntnis) mới đây (neulich) cho thấy tổng cộng (insgesamt) có 327 người từ Đông (Osten) và Tây (West) Đức đã thiệt mạng (ums Leben gekommen).
Sau gần 50 năm nghiên cứu (Recherchen), Hiệp Hội Nghiên Cứu (Forschungsverbund) nước Đông Đức trước đây thuộc đại học (Universität) Berlin đã trình bày (vorstellen) những kết quả (Ergebnis) của họ hôm thứ tư (Mittwoch). Như vậy việc làm sáng tỏ (Aufarbeitung) những cái chết (Todesfall) ở biên giới nội địa Đức (innerdeustche Grenze) giữa (ziwschen) năm 1949 và 1989 được khép lại (abschließen), theo các khoa học gia (Wissenschaftler) giải thích (erklären).
Nạn nhân nhỏ tuổi nhất (jüngstes Opfer) của chế độ biên giới (Grenzregime) DDR Đông Đức trước đây chỉ có sáu (sechs) tháng tuổi, người già nhất (Ältetste) 81 tuổi. Bà Monika Grütters (CDU), Thứ Trưởng Văn Hoá  (Kulturstaatsmnisterin) đã nói rằng, các kết quả nghiên cứu mới là một đóng góp quan trọng (wichtiger Beitrag) để phục hồi (wiedergeben) tên tuổi (Namen) và danh dự (Ehre) cho các nạn nhân.

Tin dpa, hình minh hoạ của David-Wolfgang Ebener

Thứ tư ngày 07.06.2017
Bác sĩ thường chỉ định uống kháng sinh.

Thuốc kháng sinh (Antibiotika) có công hiệu (wirken) kỳ diệu (Wunder) – tuy nhiên, đôi khi chúng được sử dụng (einsetzen) hoàn toàn sai lầm (völlig falsch). Và có lúc (mitunter) chúng chẳng có tác dụng gì cả (gar nicht mehr). Dù vậy (dennoch), các bác sĩ (Arzt) vẫn (immer) quá thường  (viel zu oft) chỉ định (verschreiben) dược phẩm (Medikament) này.
Cuộc chiến chống kê toa không cần thiết (unnötiges Verschreiben) và uống (einnehmen) thuốc trụ sinh có nhiều thành công (Erfolg), nhưng vẫn chưa đạt đến đích (Ziel). Các bác sĩ đã chỉ định uống trụ sinh trong năm qua đến 27 phần trăm cho những công nhân nghỉ bệnh chỉ vì bị cảm cúm (erkältungsbedingt krangeschriebene Beschäftigte).
Trong năm 2008 vẫn còn 38 phần trăm việc chỉ định uống thuốc kháng sinh. Đây là những dữ liệu sơ khởi (Vorabdaten) theo báo cáo y tế mới nhất (aktueller Gesundheitsreport) của công ty bảo hiểm sức khoẻ „Techniker Krankenkasse“, viết tắt là TK,, do thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa, đăng tải (veröffentlichen).
Đặc biệt (besonders) có sự giảm mạnh (starker Rückgang) việc chỉ định uống thuốc theo dữ liệu của TK ở các bệnh nhân (Patient) chỉ (nur) được nghỉ bệnh ngắn hạn (kurz krankgeschrieben). Năm 2016 có 19 phần trăm bệnh nhân uống Antibiotika; năm 2008 có đến 30 phần trăm.
Bộ Nghiên Cứu (Forschungsministerium) Đức mỗi năm tài trợ (födern) khoảng 30 triệu Euro cho việc nghiên cứu Anibiotika.

Tin dpa, hình internet

Chủ nhật ngày 04.06.2017
Nhiều nhân viên quyết định đơn tỵ nạn dường như không có trình độ.

Theo một bài báo (Zeitungsbericht), một số lớn (Großteil) nhân viên của Cục Liên Bang Về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF) có trách nhiệm (zuständiges Personal) giải quyết thủ tục tỵ nạn (Asylverfahren) không có trình độ (nicht qualifiziert) cho công việc (Aufgabe) của họ. Quy chiếu một bảng tường trình nội bộ (interner Bericht) của cơ quan (Behörde) này, tờ „Nürnberger Nachrichten“ viết (schreiben) rằng, có 454 nhân viên quyết định đơn xin (Entscheider) đã không thông qua (absolvieren) một biện pháp xét nghiệm kỹ năng thích đáng (keine relevante Qualifizierungsmaßnahme) nào cả.
Như vậy có khoảng 15 phần trăm trong số 3.033 quyết định viên đã bắt đầu (anfangen) làm việc cho BAMF giữa (zwischen) 01.08.2015 đến 01.03.2017 „không có trình độ“ (ohne Qualifizierung), theo sự phân tích mật (vertrauliche Analyse) của BAMF ngày 19 tháng năm (Mai).
Còn tồi tệ hơn (wesentlich schlechter) về chỉ số (Quote) cộng tác viên (Mitarbeiter) của văn phòng thư ký thủ tục tỵ nạn (Asylverfahrenssekretariat). Nhiệm vụ của họ, ngoài việc nhận (annehmen) đơn xin (Antrag), còn cứu xét (prüfen) các văn kiện (Dokument) của người xin tỵ nạn (Asylbewerber) và xử lý (behandeln) thủ tục hành chánh (erkennungsdienstlich) đối với người nộp đơn xin (Antragssteller). Giữa ngày 01 tháng tám (August) 2015 và ngày 01 tháng ba (März) 2016 đã có 3.340 nhân viên bắt đầu công tác (arbeiten) trong lãnh vực (Bereich) này. 2.669 người trong số này, tương đương (entsprechen) chỉ số là 80 phần trăm, không qua một lần khảo sát trình độ. Chủ yếu (hauptsächlich) là những người đã được hướng dẫn (einweisen) qua cái gọi là „thực tập trong công việc“ (Training on the job).

Tin dpa, hình Fredrik von Erichsen

Thứ bảy ngày 03.06.2017
Quốc Hội với đa số phiếu chấp thuận Tượng Đài Thống Nhất.

Kề từ gần thập niên (Jahrzehnte) năm qua, người ta vẫn tranh cãi (dtreiten) về một tượng đài (Denkmal) để tưởng niệm (Erinnerung) việc Thống Nhất Đức Quốc. Tại thủ đô (Hauptstadt) Berlin, tượng đài giờ đây sẽ được thiết lập, đi ngược lại ý muốn (Willen) của chủ nhà (Haushälter) là chính quyền tiểu bang Berlin.
Sau quá nhiều lần dằn co (Hin und Her), tượng đài Tự Do và Thống Nhất (Freiheits- und Einheitsdenkmal) sẽ được xây dựng (bauen) tại Berlin. Trong đêm (Nacht) ngày thứ sáu (Freitag), quốc hội Đức (Bundestag) đã quyết định (entscheiden) với đa số (Mehrheit) phiếu một dự án đã được lên kế hoạch (geplantes Projekt) từ nhiều năm nay sẽ được thực hiện (auf den Weg zu bringen) trước (vor) cuộc bầu cử quốc hội (Bundestagswahl) trong mùa thu (Herbst) tới đây.
Lể khánh thành (Einweihung) dự tính trong mùa thu 2019 – đúng 30 năm (Jahrestag) ngày bức tường sụp đỗ (Mauerfall). Đảng Xanh (Grüne) đã ủng hộ (unterstützen) đơn đề nghị (Antrag) của liên hiệp Cơ Đốc (Union) và đảng SPD. Chỉ có đảng Tả khuynh (Linke) bỏ phiếu chống (dagegen stimmen). Quốc Hội đã huỷ bỏ (aufheben) một quyết định (Beschluss) của Uỷ Ban Ngân Sách (Haushaltsauschuss) trong tháng tư (April) vừa qua về việc ngăn chận (stoppen) một dự án bởi tăng chi phí (Kostensteigerung) từ 10 lên thành 15 triệu Euro.
Quốc Hội đã yêu cầu (fordern), quyết định hôm thứ sáu phải được thực hiện (umsetzen) „triệt để“ (konsequent) những quyết định của quốc hội để thiết lập (Einrichtung) tượng đài đã dự tính từ những năm 2007 và 2008. Chi phí dự tính ban đầu là 10 triệu Euro sẽ được nâng lên.

Tin dpa, hình Milla&Partner

Thứ sáu ngày 02.06.2017
Gần một trong ba sinh viên đã sớm bỏ ngang việc học.

Sinh viên bỏ ngang học trình (Studienabbruch) trong nước Đức là một hiện tượng ồ ạt (Massenphänomene), chỉ số (Quote) thậm chí (sogar) tăng (steigen). Tuy nhiên một công trình khảo sát khoa học (wissentschaftliche Untersuchung) cho thấy rằng, phần lớn các sinh viên bỏ ngang học trình đại học (Uni-Studium) mau (schnell) tìm được cách khác (Alternative). Họ phải có định hướng mới (neue Orientierung). Theo một công trình khảo sát tiêu biểu (repräsentative Studie) trên toàn quốc (bundesweit) đã được công bố (veröffentlichen) cho thấy, chỉ số bỏ ngang việc học (Abbruchquote) ở các sinh viên học Cử Nhân (Bachelor – Studenten) so với (im Vergleich) kết quả những cuộc khảo sát trước đây tăng từ 28 lên thành 29 phần trăm.
Trong khi (während) chỉ số ở các đại học (Universität) giảm (sinken) từ 33 cuống còn 32 phần trăm, thì ở các trường Đại Học Chuyên Khoa (Fachhochschule) tăng rõ rệt (deutlich) từ 23 lên thành 27 phần trăm. Đặc biệt (besonders) hiện tượng ồ ạt sinh viên bỏ ngang việc học của các phân khoa toán-khoa học thiên nhiên (mathematisch – naturwissenschaftliche Studiengänge) với chỉ số 39 phần trăm ở các đại học và 42 phần trăm ở các đại học chuyên khoa. Gần một nửa (Hälfte) số sinh viên bỏ ngang việc học (Abbrecher) đã rời (verlassen) đại học ngay trong hai học kỳ đầu (erste beide Semester), tiếp tục với 29 phần trăm ở học kỳ ba và bốn.
Phần lớn thành phần này đã mau tìm được chỗ học nghề (Berufsausbildung), theo báo cáo (Report). Nửa năm sau khi từ giả (Abschied) đại học, có khoảng 43 phần trăm đã tìm được chỗ học nghề, 31 phần trăm đi làm (erwerbstätig).

Tin dpa, hình Waltraud Grubitzsch

Thứ năm ngày 01.06.2017

Kế toán gian lận: 230 dịch vụ chăm sóc bị tình nghi.

Sự thiệt hại (Schaden) đã mang lại một gánh nặng (Last) khổng lồ cho các quỹ xã hội (Sozialkasse): 230 dịch vụ chăm sóc (Pflegedienst) – đa phần đặt dưới sự điều động của những người Đức nói tiếng Nga. Họ đã bị tình nghi gian lận có hệ thống (systematischer Betrug) trong việc kế toán (Abrechnung). Gần 300 người bị tình nghi (Verdächtige) đang bị điều tra (vermitteln).
„Các nghi phạm (Beschuldigte) là những người Đức nói tiếng Nga“ theo phát ngôn viên (Sprecher) Công Tố Viện (Staatsanwaltschaft) tại Düsseldorf. Vụ việc có liên quan đến một hình thức gian lận có tổ chức (organisierte Form). Nhiều người trong số này cũng có liên hệ đến các hoạt động hình sự (kriminelle Machenschaft) khác, như rửa tiền (Geldwäsche), thanh toán tiền bảo hộ (Schutzgeldzahlung) và cờ bạc (Glücksspiel).

Tháng chín (September) năm ngoái, cảnh sát (Polizist) đã mở chiến dịch lục soát (Razzia) trên toàn quốc (bundesweit). 108 đối tượng (Objekte) đã bị lục soát (durchsuchen), khoảng (rund) 500 cảnh sát, công tố viên và nhân viên quan thuế (Zöllner) và thanh tra viên thuế vụ (Steuerfahnder) đã hành động (im Einsatz). Bằng các công ty giả mạo (Scheinfirma), họ đã có hàng triệu Euro từ các dịch vụ chăm sóc. Các điều tra viên (Ermittler) đã tịch thu hàng trăm thùng cạt-tông dọn nhà đầy ắp hồ sơ (Akten) và khoảng 70 Terabyte dữ liệu kỹ thuật số (digitale Daten). Ngoài ra họ còn phát hiện được (entdecken) hai khẩu Kalaschnikows hư hỏng (unbraucbar) và hai vũ khí bán tự động (halbautomatische Waffe) cùng đạn dược (Munition).

Tin dpa, hình Oliver Berg

1478 Tổng số lượt xem 4 lượt xem ngày hôm nay