» » Tin Đức Quốc Tháng 03.2017

Tin Đức Quốc Tháng 03.2017

Thứ ba ngày 07.03.2017
Thanh toán trễ hoá đơn, có thể bị tốn kém nhiều!

Đôi khi (manchmal) người ta quên (vergessen) bẳng (einfach) việc thanh toán (zahlen) một hoá đơn (Rechnung). Hoặc quy chiếu vào hạn thanh toán (Zahlungsziel) là 30 ngày. Nhưng quy tắc (Regelung) này không phải lúc nào (nicht immer) cũng có giá trị (gelten) ở các hoá đơn. Vậy thì xem là chậm trả (Verzug) tính từ ngày nào (eintreten)?
Ai không thanh toán (bezahlen) kịp (nicht rechtzeitig) những hoá đơn, phải tính (rechnen) đến việc trả thêm phụ phí (zusätzliche Kosten). Theo luật pháp (Gesetz), thì việc đòi tiền (Geldforderung) được tự động (automatisch) tính là 30 ngày sau khi nhận hoá đơn (rechungserhalt). Tuy nhiên, quy tắc (Regel) này cũng phải lưu ý (hinweisen) cho người tiêu thụ (Verbraucher) biết trước đó.
Nếu có ngày tháng cụ thể (konkretes Datum) ghi trong hợp đồng (Vertrag), thì người tiêu thụ phải thanh toán cho đến kỳ hạn ấy (bis dahin), theo ông Erk Schaarschmidt thuộc Trung Tâm Người Tiêu Thụ (Verbraucherzentrale) tại Brandenburg giải thích (erklären). Nếu họ không làm như thế, thì xem như trả trễ hạn.
Ngay khi bị tình trạng trả trễ hạn (Verzug), thì người này phải trả tiền lãi (Verzugszinsen). Trên nguyên tắc (in der Regel), người tiêu thụ nhận (bekommen) thư nhắc nhở (Erinnerungsschreiben), thì không cần phải trả ngay (sofort) tiền lời (Zinsen). Ai nhận một hoá đơn về phí cảnh cáo (Mahngebühr), thì phải xem (anschauen) cho chính xác hơn (genauer). „Chỉ được phép tính chi phí (Kosten) cho vật liệu (Material) và cước phí (Porto) trong hoá đơn“, ông Schaarschmidt giải thích (erläutern).
Nếu một doang nghiệp (Unternehmen) uỷ nhiệm (beauftragen) cho một công ty đòi nợ (Inkassounternehmen) để tiến hành (eintreiben) việc đòi nợ (Forderung), thì chắc chắn người thiêu thụ phải chịu (übernehmen) phí tổn hành chánh. „Tuy nhiên (allerdings), không phải là bất cứ một khoản tiền (Betrag) nào cũng đều hợp lý (rechtfertigt)“, theo ông Schaarschmidt. Công ty đòi nợ chỉ được phép đòi (verlangen) những gì một luật sư (Rechtsanwalt) được phép đòi cho công việc cảnh cáo (Mahnarbeit). Những quy định này được ghi (festlegen) trong đạo luật về thù lao của luật sư (Rechtsanwaltsvergütungsgesetz, viết tắt là RVG.

Tin dpa, hình Jens Kalaene.

Chủ nhật ngày 05.03.2017
SPD và đảng Xanh muốn cho thanh thiếu niên từ 16 tuổi được bỏ phiếu bầu cử.

Nếu quốc hội Đức (Bundestag) được bầu (wählen) trong mùa thu (Herbst) tới đây, thì sự quyết định (Entscheidung) vẫn tiếp tục nằm trong tay (in den Händen) thế hệ già (ältere Generation). Đảng SPD và Xanh (Grüne) muốn giảm thiểu (absenken) số tuổi bầu cử (Wahlalter), như vậy thành phần thanh thiếu niên (Jugend) cũng được phép có tiếng nói (mitreden).
Cuộc bầu cử (Wahl) ngày 24 tháng chín (September) sẽ có 61,5 triệu người Đức có quyền bỏ phiếu (wahlberechtigt), trong số này có khoảng ba (drei) triệu cử tri bỏ phiếu lần đầu (Erstwähler). Số tuổi từ 18 đến 30 chỉ chiếm 15,4 phần trăm số cử tri được quyền bầu cử. Nhóm nhiều nhất được phép bầu cử trong mùa thu với 12,7 triệu người trên (über) 70 tuổi, kế tiếp (gefolgt) là tuổi giữa 50 và 60 với 12,3 triệu, theo dữ liệu của chủ tịch bầu cử liên bang (Bundeswahlleiter). Trước đây bốn (vier) năm, số tham gia bỏ phiếu (Wahlbeteiligung) chiếm 71,5 phần trăm. Tích cực nhất (aktivsten) là phiếu của người giữa 60 và 69 tuổi với 79,8 phần trăm; „lười bỏ phiếu“ (Wahlmuffel) lại là (ausgerechnet) ở lứa tuổi giữa 21 và 24 với 60,3 phần trăm.
Ở các cuộc bầu cử quốc hội tiểu bang (Landtagswahl), thanh thiếu niên từ 16 tuổi đã được phép bỏ phiếu trong các tiểu bang Brandenburg, Bremen, Hamburg và Schleswig-Holstein; còn bầu cử địa phương (Kommunalwahl) thì còn thêm nhiều tiểu bang nữa. Tại Áo (Österreich), thanh thiếu niên từ 16 tuổi đã được bầu quốc hội quốc gia (nationale Parlamentswahl) kể từ năm 2007.

Tin dpa, hình tư liệu của Stefan Sauer.

Thứ sáu ngày 03.03.2017
Một bài tường thuật mới về tình trạng phát triển đói nghèo tại Đức.

Ít nhất (mindestens) có 15,7 phần trăm người dân trong nước Đức đang có nguy cơ (Gefahr) rơi vào (abstürzen) sự đói nghèo (Armut). Hàng trăm ngàn người (Hunderttausende) đang cảm nhận (spüren) được hậu quả (Folge) trầm trọng (dramatisch), bởi họ bị cắt (abstellen) điện (Strom). Có hơn (mehr als) 330.000 gia đình (Haushalt) tại Đức trong vòng một năm bị cắt điện. Từ 2011 đến 2015, con số (Zahl) chênh lệch (schwanken) giữa (zwischen) 312.000 và 352.000 gia đình bị cắt điện (Stromsperren).
Đây là câu trả lời (Antwort) của chính quyền Đức (Bundesregierung) về sự thắc mắc (Anfrage) của đảng Tả khuynh (Linke) trong quốc hội Đức (Bundestag) mà thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) có được (vorliegen).
Việc cắt điện được xem là hậu quả của sự đói nghèo trong nước Đức. Người bị ảnh hưởng (Betroffene) thường (oft) là những người nhận (Bezieher) trợ cấp xã hội dạng Hartz-IV. Ngày hôm nay,(heute), thứ năm (Donnerstag), Hiệp Hội Từ Thiện (Paritätische Wohlfahrtsverband) và nhiều tổ chức (Organisation) khác sẽ đệ trình (vorlegen) một báo cáo mới về tình trạng đói nghèo (neuer Armutsbericht) để cho thấy (aufzeigen) về xu hướng (Tendenz) của sự phát triển đói nghèo (Armutsentwicklung) trong nước Đức. Theo sự trả lời của chính phủ về thắc mắc của đảng Tả khuynh thì số người có nguy cơ đói nghèo trong nước Đức theo dữ liệu gốc (Datenquelle) khoảng giữa 15,7 đến 16,7 phần trăm.

Chính quyền đã quy chiếu những con số của Cục Mạng Lưới Liên Bang (Bundesnetzagentur) về việc cắt điện. Đồng thời (zudem), trong năm 2015 có khoảng 44.000 trường hợp (Fall) bị cắt khí đốt (Gas). Hơn 6,2 triệu lần xảy ra việc hăm dọa (androhen) cắt điện. Mức (Höhe) đòi (Aufforderung) trả tiền của công ty cung cấp (Grundversorger) ở thời điểm (Zeitpunkt) hăm dọa (Androhung) trung bình (im Durchschnitt) là 119 Euro.
“Nhiều người xấu hổ (sich schämen) vì không có khả năng trả tiền (Zahlungsunfähigkeit) , cảm thấy bị kỳ thị (stigmatisieren), cho nên đã tự lui về (sich zurückziehen) sống nơi bè bạn (Freunde) và môi trường xã hội (soziales Umfeld) khi bị cắt điện; thiệt hại (schaden) đặc biệt (besonders) phải nói là trẻ em (Kinder)”,theo bà Bulling-Schröter, nữ chính trị gia (Politikerin) đảng Tả khuynh. Việc cung cấp năng lượng (Energieversorgung) là yếu tố căn bản (grundlegendes Element) của sự chăm sóc cuộc sống (Daseinsvorsorge) đã không được luật pháp (Recht) đảm bảo (sichern) cho hàng trăm ngàn người trong nước Đức. Đối với những người cần được bảo vệ (schutzbedürftige Person) như trẻ em, người già (Alte) và người bệnh (Kranke) thì việc cấm (Verbot) cắt năng lượng (Energiesperren) phải được luật pháp can thiệp (eingreifen), theo bà Bulling-Schröter.

Tin dpa, hình Paul Zinken.

Thứ năm ngày 02.03.2017

„Cộng Hòa Giáo Dục Đức“ (Bildungsrepublik Deutschland) sẽ thế nào? Câu hỏi (Frage) này là trọng tâm (Mittelpunkt) của báo cáo (Report) dày 430 trang (Seite) mang tên „Phản Ảnh Cơ Hội 2017“ (Chancenspiegel 2017). Câu trả lời (Antwort): Nói chung (insgesamt) là đi lên (aufwärts), nhưng (aber) trong hệ thống học đường của Đức (deutsches Schulsystem) vẫn còn lỗ hổng bên trên. Đặc biệt ở những „học sinh có nguy cơ“ (Risikoschüler)“.
Thiếu cơ hội bình đẳng (Chancengerechtigkeit) cho những người ngoại quốc trẻ (junge Ausländer), theo một công trình khảo sát giáo dục mới (neue Bildungsstudie), thì chính điều này là một trong nhiều vấn đề chính (Hauptprobleme) trong hệ thống giáo dục Đức.
Đối với thanh thiếu niên (Jugendliche) có thông hành ngoại quốc (ausländischer Pass) hiện nay (inzwischen) là một nguy cơ (Risiko) của sự nghỉ ngang (Abbruch) không có (ohne) ít nhất (zumindest) một bằng tốt nghiệp lớp 10 (Hauptschulabschluss), nhiều hơn gấp đôi (mehr als doppelt) bạn học người Đức (deutsche Mitschüler). Kết quả (Ergebnis) này đã được báo cáo „Phản Ảnh Cơ Hội 2017“ của tổ chức Bertelsmann cho biết hôm thứ tư (Mittwoch) tại Berlin, một công trình phân tích (Analyse) các dữ liệu thống kê học đường (schulstatistische Daten) từ năm 2002 đến 2014.
Trong khi (während) số học sinh (Schüler) không bằng tốt nghiệp (ohne Abschluß) kề từ 2011 từ 6,2 giảm còn 5,8 phần trăm (2014), thì chỉ số (Quote) học sinh ngoại quốc trong cùng khoảng thời gian ấy (im gleichen Zeitraum) đã tăng (ansteigen) từ 12,1 lên thành 12,9 phần trăm – một trong tám trẻ. Nếu so sánh tình hình hiện nay với tình trạng trước đây 15 năm, thì cũng nhận ra được một sự khả quan (Besserung). Tất cà học sinh bỏ ngang việc học (Schulabgänger) không có bằng tốt nghiệp trong năm 2002 là 9,2 phần trăm, ở trẻ ngoại quốc thậm chí (sogar) lên đến 16,7 phần trăm.

Tin dpa, hình Julian Stratenschulte.

Thứ tư ngày 01.03.2017
Cần sa cho bệnh nhân bệnh nặng theo toa chỉ định.

Bệnh nhân (Patient) bị bệnh nặng (schwer krank) và đau nhức (unter Schmerzen leiden) trong tương lai (künftig) có thể nhận (erhalten) cần sa dược (Cannabis-Arzneimittel) theo toa chỉ định (Rezept). Một đạo luật tương ưng (entsprechendes Gesetz) sẽ có hiệu lực (in Kraft treten) trong tháng ba (März) đã được công bố (Veröffentlichung) trên tờ Luật Pháp (Gesetzblatt), theo thông báo (Mitteilung) của chính phủ Đức (Bundesregierung).
Chi phí (Kosten) sẽ do các quỹ y tế luật định (gesetzliche Krankenkasse) thanh toán (zahlen). Đồng thời (zudem), sự cải cách (Reform) cũng liên quan đến Luật về Hợp Đồng Bản Quyền (Urhebervertragsrecht).
Kể từ cuối (Ende) tháng ba, truyền hình ăng-ten kỹ thuật số (digitale Antennenfernsehen) DVB-T cũng được thực hiện.

CANNABIS: Trước khi nhận cần sa dược theo toa chỉ định, theo chính phủ thì mọi cách trị liệu (therapeutische Möglichkeit) phải được tận dụng (ausschöpfen). Hoặc (oder) bác sĩ điều trị (behandelnder Arzt) quyết định (entscheiden) từng trường hợp riêng (Einzelfall). Đồng thời, cần sa dược chỉ được chỉ định (verordnen), khi việc sử dụng (einnehmen) có thể cải thiện (verbessern) được triệu chứng (Symptom) hoặc bệnh trạng (Krankheitsverlauf). Tuy nhiên (allerdings), việc tự trồng (Eigenbau) cần sa và sử dụng (Verwendung) nó như thuốc phiện (Rauschgift) vẫn bị cấm (verbieten).

DVB-T2: Theo Trung Tâm Người Tiêu Thụ (Verbraucherzentrale) tại Brandenburg thì có bốn (vier) cách bắt đài (Fernsehempfang): Ăng-ten (Antenne), cáp (Kabel), vệ tinh (Satellit) và mạng Internet. Kể từ ngày 29 tháng ba, các đài phát hình (TV-Sender) trước tiên (zunächst) sẽ thay đổi (umstellen) trong các khu vực đông dân cư (Ballungsraum) việc phát hình (Ausstrahlung) của họ sang tiêu chuẩn mới (neuer Standard) DVB-T2. Cho nên nhiều người tiêu thụ sẽ bị ảnh hưởng (betreffen), khi họ đang dùng kỹ thuật số DVB-T, nghĩa là (also) họ nhận sóng qua ăng-ten phòng (Zimmer) hoặc trên mái nhà (Dach). Tương lai, những loại này cần có (benötigen) một máy thu mới (neues Empfangsgerät) khi máy truyền hình của họ chưa thích nghi (integrieren). Nếu không có (ohne) máy thu mới (Receiver) này, thì họ sẽ không xem được một chương trình truyền hình (Fernsehprogramm) nào cả (nicht mehr).

BẢN QUYỀN (Urheberrecht): Tác giả (Urheber) và nghệ sĩ (Künstler), theo chính phủ thì kể từ ngày 01 tháng ba có quyền (Anspruch) hưởng thù lao tương xứng (angemessene Vergütung). Quyền này, thật ra đã được luật pháp quy định (gesetzlich) từ năm 2002. Chủ yếu (vor allem) là những nghệ sĩ hành nghề độc lập (freiberuflich tätige Künstler) đã thường (nicht oft) không chịu đấu tranh (durchsetzen) cho quyền lợi này.

Tin dpa, hình Matt Masin

871 Tổng số lượt xem 9 lượt xem ngày hôm nay