» » Tin Đức Quốc tháng 02.2017

Tin Đức Quốc tháng 02.2017

Thứ bảy ngày 18.02.2017
Ông Schulz đứng trước bà Merkel.

Ứng cử viên Thủ Tướng (Kanzlerkandidat) của đảng SPD được xem là người có cảm tình (sympathisch) và đã đưa đảng ông qua mặt (überholen) các đảng khác, theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage). Nhưng người ta có cho rằng ông là một Thủ Tướng tốt hơn hay không?
Chỉ còn 38 phần trăm thích bà Merkel lãnh đạo chính phủ (Regierungschefin), 49 phần trăm chuộng (bevorzugen) ông Schulz – dẫn trước (Vorsprung) 11 điểm (Punkt), theo „thang chính trị“ (Politparometer) của đài truyền hình ZDF công bố (veröffentlichen) hôm thứ sáu (Freitag). Cuối tháng giêng (Januar), bà Merkel chỉ còn bốn (vier) điểm nhiều hơn đối thủ (Herausforderer) của bà (44 đối với 40 phần trăm).
Sự chuyển hướng (Trendwende) của đảng SPD xuất phát từ sự cải thiện rất rõ rệt (sehr deutliche Verbesserung) ở đề tài (Thema) „Công Bằng Xã Hội“ (soziale Gerechtigkeit). Hiện giờ (jetzt) có 48 phần trăm người dân tin tưởng (zutrauen) đảng SPD ở lãnh vực này – so với 29 phần trăm trong tháng mười một (November) năm ngoái (Vorjahr). Ở lãnh vực này, các đảng liên hiệp Ki Tô (Union) chỉ có 16 phần trăm, đảng Tả khuynh (Linke) 11, đảng Xanh (Grüne) 4, FDP và AfD mỗi đảng 1 phần trăm.
Như vậy, hiện nay có đa số rõ ràng (klare Mehrheit) cho việc tiếp tục (Fortsetzung) liên minh lớn cầm quyền (große Koalition) CDU/CSU và SPD. Hơn đa số một ít (knappe Mehrheit) là liên minh cầm quyền của liên hiệp Ki Tô, đảng Xanh và FDP. Liên minh đỏ (SPD) – đỏ (Linke) – xanh (Grüne) chỉ vừa đủ, liên minh đèn giao thông (Ampelbündnis) của SPD – Grüne – FDP cũng vậy.

Tin dpa, hình Kay Nietfeld.

Thứ tư ngày 15.02.2017
Đình công của dịch vụ công trong sáu tiểu bang Đức.

Trận tuyến (Front) dường như (scheinen) căng thẳng hơn (verhärtet), áp lực (Druck) tăng (erhöhen). Vô số (zahlreich) giáo viên (Lehrer), giáo viên mầm non (Erzieher) và cảnh sát (Politist) ở nhiều nơi (vielerorts) đã xuống đường (auf die Strasse gehen) đòi tăng lương (mehr Geld). Được hay không, sớm nhất (frühestens) vào cuối tuần này mới rõ.
Nghĩ học, vườn trẻ (Kita) đóng cửa (schließen) và cảnh sát biểu tình – vụ tranh chấp về lương định chuẩn (Tarifstreit) của các dịch vụ công (öffentlicher Dienst) trong một số tiểu bang (Länder) được các công đoàn (Gewerkschaft) tiếp tục thực hiện (fortsetzen) bằng những cuộc đình công (Warnstreik). Hàng ngàn (Tausende) công nhân (Beschäftigte) trong sáu tiểu bang ngưng công việc (Arbeit niederlegen) – vài ngày trước cuộc đàm phán (Verhandlung) sắp tới.
Tại Berlin có rất nhiều (zahlreich) vườn non (Horte), vườn trẻ (Kindertagsstätte, viết tắt là Kita), trường học (Schule) và các cơ sở giải trí cho thanh thiếu niên (Jugendfreizeiteinrichtung) đã đóng cửa. Trong tiểu bang Bayern, nhân viên (Mitarbeiter) đã không đến trường học, vườn non và vườn trẻ để làm việc (nicht zum Dienst). Các trường học trong tiểu bang Baden-Württemberg, theo công đoàn,dự tính có khoảng 5000 giờ học không có thầy cô. Ở tiểu bang Sachsen-Anhalt cũng có nhiều giờ học bị hủy, theo Công đoàn Giáo Dục và Khoa Học (Gewerkschaft Erziehung und Wissentschaft, viết tắt là GEW, tường thuật (berichten).

Tin dpa, hình Axel Heimken.

Thứ hai ngày 13.02.2017
Ông Steimeier được đa số bầu làm Tổng Thống Đức.

Bảy tháng trước ngày bầu cử Quốc Hội Đức (Bundestagswahl), ông Steimeier, nguyên Bộ Trưởng Ngoại Giao Đức (Ex-Bundesaußenminister), đã được bầu (wählen) làm nguyên thủ quốc gia (Staatsoberhaupt). Ông Lammert, Chủ Tịch Quốc Hội Đức (Bundestagspräsident) nhân dịp (Anlass) này cũng đã có đôi lời phát biểu nhắm đến (Richtung) ông Trump, Tổng Thống Mỹ.

Phiên họp liên bang (Bundesversammlung) đã bầu nhà chính khách (Politiker) đảng SPD 61 tuổi tại Berlin trong đợt bỏ phiếu lần đầu (erster Wahlgang) với 931 trên tổng số phiếu có hiệu lực (gültige Stimme) 1239 làm người kế vị (Nachfolger) ông Joachim Gauck.
Ông Gauck vì lý do tuổi tác (Altersgrund) đã từ chối (verzichten) nhiệm kỳ thứ hai (zweite Amtszeit). Ông Steinmeier là ứng cử viên (Kandidat) của các đảng CDU/CSU và SPD, có sự đồng ý (Zustimmung) của gần 75 phần trăm tổng số phiếu bầu. 103 thành viên (Mitglider) phiên họp liên bang bỏ phiếu trắng (sich enthalten). Ông Steinmeier đã chấp nhận kết quả (Ergebnis) cuộc bỏ phiếu trực tiếp (direkt) sau khi công bố (Verkündung) – ông nói „thậm chí rất thích“ (Gerne sogar).

Bảy tháng trước cuộc bầu cử quốc hội Đức vào ngày 24 tháng chín (September), ông Steinmeier đã được liên minh lớn cầm quyền (große Koalition) chọn làm ứng cử viên để đưa vào cuộc đua (Rennen). Không một chính trị gia nào thuộc liên hiệp Ki-Tô (Union) cũng như  đảng SPD xem đây là một tín hiệu (Signal) cho một liên minh cầm quyền mới sau cuộc bầu cử quốc hội Đức. Phần lớn có phiếu thuận từ phía đảng Xanh (Grüne) và FDP. Lần cuối (zuletzt) năm 1999, ông Johannes Rau là người Dân Chủ Xã Hội (Sozialdemokrat) được bầu vào nhiệm sở cao nhất nước (höchstes Staatsamt).

Nhiệm kỳ của vị Tổng Thống mới của nước Đức bắt đầu (beginnen) vào ngày 19 tháng ba (März), cho đến thời điểm này, ông Joachim Gauck 77 tuổi vẫn tiếp tục (noch im Amt). Ông Lammert đã vinh danh (würdigen) ông Gauck như sau: „Sự tương thân đoàn kết (solidarisches Miteinander) của những công dân nam nữ đặc biệt (besonders) chiếm trọn (ganz) trái tim (am Herz) ông.“

Vợ ông Steimeier là một thẩm phán viên tòa án hành chánh (Verwaltungsrichterin), bà Elke Büdenbender, đã cùng ngồi chung với người bạn đời (Lebensgefährtin) của ông Joachim Gauck, bà Daniela Schadt, trên khán đài dành cho người tham dự (Besuchertribüne). Trong số những người bỏ phiếu bầu (Wahlleute) còn có những nhân vật nổi danh (Prominent) như danh hài (Komiker) Hape Kerkeling, nhạc sĩ (Musiker) Roland Kaiser và Peter Maffay, nữ diễn viên (Schauspielerin) Iris Berben và Veronika Ferres cũng như (sowie) huấn luyện viên đội túc cầu quốc gia (Bundesträiner) Joachim Löw.

59 phần trăm người Đức mong đợi (erwarten) rằng, ông Steinmeier sẽ là một vị Tổng Thống tốt của nước Đức. Đây là kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của tổ chức Emnid thực hiện cho tờ „Hình Ảnh Ngày Chủ Nhật“ (Bild am Sonntag). Có 19 phần trăm không tin (glauben) điều này và số „không biết“ (weiß nicht) hay không có ý kiến (Meinung) chiếm 22 phần trăm.

Tin dpa, hình Bernd von Jutrczenka.

Thứ tư ngày 08.02.2017
Các nhà lãnh đạo liên minh lớn cầm quyền muốn trục xuất người tỵ nạn nhiều hơn.

Hệ quả (Konsequenz) từ cuộc tấn công (Anschlag) tại Berlin. Đây là mục đích được nêu ra (erklärtes Ziel) cho những cuộc hội ý (Beratung) của các nhà lãnh đạo liên minh lớn cầm quyền (Koalitionsspitze) về sự an ninh trong nước (innere Sicherheit). Tuy nhiên (aber auch) các tiểu bang cũng được tham gia (einbeziehen) – kết quả (Ergebnis) mơ hồ (ungewiss). Các lãnh tụ (Spitze) liên minh lớn cầm quyền (große Koalition) muốn tăng tốc (beschleunigen) việc trục xuất (Abschiebung) những người xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) ra khỏi nước Đức. „Tất cả chúng ta đều biết (wissen) rằng, chúng ta cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa (mehr tun) về việc trả về (Rückführung)“, bà Angela Merkel (CDU), Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin), phát biểu (sagen) tại München.
Một cuộc gặp gỡ (Treffen) gồm có các ông Sigmar Gabriel, nguyên đảng trưởng SPD, ông Horst Seehofer, chủ tịch (Vorsitzender) đảng CSU để tìm (erarbeiten)  tư thế thống nhất (einheitliche Haltung) của chính phủ Đức (Bundesregierung) cho hội nghị (Konferenz) với các Thủ Hiến (Ministerpräsident) các tiểu bang (Länder) dự định diễn ra (stattfinden) trong ngày thứ năm (Donnerstag). Vấn đề có liên quan đến một „nỗ lực quốc gia“ (nationale Kraftanstrengung), bà Merkel nói. Cuộc hội thoại (Gespräch) cũng có mời (einladen) các ông Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister) Thomas de Maizìere (CDU), ông Bộ Trưởng Tư Pháp Đức (Bundesjustizminister) Heiko Maas (SPD), ông Bộ Trưởng Nội Vụ (Innenminister) tiểu bang Bayern Joachim Herrmann (CSU) và Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng (Kanzleramtsminister) Peter Altmeier (CDU).
Đề tài buổi hội thoại còn có việc cải thiện (Verbesserung) nền an ninh trong nước, chẳng hạn (etwa) thực hiện nhiều biện pháp cứng rắn hơn (härtere Maßnahme) đối với những người ngoại quốc nguy hiểm (ausländische Gefährde)  bị các cơ quan an ninh (Sicherheitsbehörde) đánh giá có liên quan đến các cụộc khủng bố tấn công (Terroranschlag). Cơ sở (Basis) của cuộc tư vấn là kế hoạch mười điểm (Zehn-Punkt-Plan) đã được ông Maizìere và Maas  đệ trình (vorliegen) trong tháng giêng (Januar) sau vụ khủng bố tấn công chợ Giáng Sinh (Weihnachtsmarkt) tại Berlin.
Theo đó, trát tòa (richterliche Anordnung) về việc giam trục xuất (Abschiebehaft) được dễ dàng (erleichtern) thực hiện hơn bằng một lý do bắt giam mới (neuer Haftgrund) là „có nguy cơ khủng bố“ (Terrorgefahr) hoặc (oder) „nguy cơ đáng kể đối với sự an ninh“ (erhebliche Gefahr für die Sicherheit“ của nước Đức. Có thể (möglich), giam trục xuất trong tương lai (künftig) nếu kéo dài (dauern) hơn (länger) ba (drei) tháng (Monat) bởi quốc gia xuất xứ (Herkunftsland) không cấp (erstellen) những giấy tờ cần thiết (nötige Papiere). Cũng như cho phép (erlauben) sử dụng còng chân điện tử (elektronische Fußfessel) đối với thành phần được đánh gía là những kẻ nguy hiểm.
Ông Thomas Oppermann, chủ tịch khối (Fraktionschef) đảng SPD trong quốc hội Đức (Bundestag) mặt khác muốn làm cụ thể hơn (präzisieren) đề nghị gây nhiều bàn cãi (umstrittener Vorschlag) của ông là: Những người tỵ nạn được cứu vớt (aufgegriffene Flüchtlinge) trong Địa Trung Hải (Mittelmeer) phải đưa trở lại (zurückbringen) Bắc Phi (Nordafrika). Tuy nhiên ông cũng nói tại Berlin rằng, „rõ ràng“ (völlig klar) không thể đưa người tỵ nạn về Libyen hiện nay (derzeit). „Bởi nước này vẫn chưa yên ổn (zu instabil)“. Nhưng tại các quốc gia ổn định (stabil) tại Bắc Phi, người ta có thể thiết lập (schaffen) ở đó những trạm tiếp đón (Aufnahmeeinrichtung) do quốc tế điều hành (international geführt), có an ninh (sicher) và nhân phẩm (menschenwürdig), để chấm dứt (beenden) việc buôn người phạm pháp (kriminelle Schlepper).

Tin dpa, hình tư liệu của Kay Nietfeld.

Thứ ba ngày 07.02.2017
Đảng SPD lầu đầu tiên qua mặt Liên Hiệp Ki-Tô.

Điều này vài tuần trước đây hầu như không một ai nghĩ đến. Kết quả một cuộc thăm dò ý kiến mới nhất (aktuelle Umfrage) cho thấy đảng SPD đứng trước (vor) Liên Hiệp Ki-Tô (Union = CDU+CSU). Câu hỏi lớn (große Frage) đặt ra là: Tình hình sẽ tiếp tục phát triển (sich entwicklen) thế nào (wie) cho đến cuộc bầu cử quốc hội Đức (Bundestagswahl)? Gần (knapp) hai tuần sau khi ông Martin Schulz được đề bạt làm ứng cử viên Thủ Tướng (Kanzlerkandidat), thì các nhà Dân Chủ Xã Hội (Sozialdemokraten) lần đầu tiên (ertsmal) qua mặt (überholen) liên hịệp Ki-Tô theo một cuộc thăm dò ý kiến.
Theo xu hướng tư tưởng mới nhất (Meinungstrend) củ Insa được tờ báo (Zeitung) „Bild“ ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) thì đảng SPD so với (im Vergleich) tuần trước (Vorwoche) tăng 4 điểm (Punkt) thành 31 phần trăm, theo trang bild.de tường thuật (berichten) hôm thứ hai (Montag). Liên hiệp CDU/CSU mất (verlieren) 3 điểm còn 30 phần trăm. Ngay (bereits) trong những ngày qua, đảng SPD đã có thể vui mừng (freuen) về xu hướng tăng lên (Aufwärtstrend) rõ rệt (deutlich) trong các cuộc thăm dò ý kiến.

Theo Insa, đảng Tả khuynh (Linke) tăng 1 điểm thành 10 phần trăm. Đảng Xanh (Grüne) phải chịu mất đi (abgeben) hai điểm còn 7 phần trăm. Các đảng AfD vẫn giữ 12 và FDP với 6 phần trăm.
Ông Sigmar Gabriel, người từ nhiệm đảng trưởng SPD, đã đề bạt (benennen) ông Schulz làm ứng cử viên Thụ Tướng ngày 24 tháng giêng (Januar) vừa qua. Cuối tháng giêng, ông Schulz được các chính khách hàng đầu (Spitze) đảng SPD chính thức (offiziell) đề cử (nominieren) làm đối thủ (Herausforderer) của bà Angela Merkel, Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin). Ông Schulz đã cảnh báo (warnen) nhiều lần (mehrfach) về sự hưng phấn quá mức (zu groß Euphorie). Kết quả tốt của các cuộc thăm dò ý kiến gây tác động (Schwung) cho họ, nhưng có thắng cử hay không là chuyện khác.

Tin dpa, hình Harald Tittel.

Thứ sáu ngày 03.02.2017
Dân số có thể duy trì ổn định đến năm 2060.

Chính phủ Đức (Bundesregierung) nhận thấy (sehen) cơ hội tốt (gute Chance) về dân số hiện nay (aktuelle Bevölkerungszahl) trong nước Đức vẫn duy trì ổn định (stabil halten) đến năm 2060 liên quan (angesichts) đến sự di dân mạnh mẽ (stärkere Migration) và chỉ số sanh sản đã tăng hơn (gestiegene Geburtenraten). Điều này được tờ “Rheinische Post” phát hành hôm thứ tư (Mittwoch) đăng tải (berichten) trích từ bảnđúc kết (Bilanz) về chính sách nhân khẩu (demografische Politik) cuối (Ende) nhiệm kỳ (Legislaturperiode) của nội các (Kabinett) Đức.
“Nhìn từ quan điểm (Sicht) khoa học nhân văn (Bevölkerungswissenschaft) thì sự nhập cư lâu dài (dauerhafte Zuwanderung) cũng có thể (möglich) lên đến 300.000”, tờ báo (Zeitung)  trích (zitieren) từ bản báo cáo (Bericht). Khác (anders) với sự tiên đoán trước đây (frühere Prognose), chính phủ không còn (nicht mehr) cho rằng sẽ có sự giảm thiểu (Sinken) dân số hiện nay (derzeit) là 82 triệu xuống còn 73 hoặc thậm chí (sogar) 67 triệu người nữa.
Bởi các điều kiện thay đổi (veränderte Bedingung) nên số dân cư (Einwohnerzahl) trong nước Đức đến năm 2060 vẫn được duy trì ổn định”, theo báo cáo của nội các Đức.

Tin và hình dpa.

Thứ năm ngày 02.02.2017
Các Công Đoàn mở rộng cuộc đình công trong dịch vụ công cộng.

Ngày hành động đầu tiên (erster Aktionstag) của các Công Đoàn (Gewerkschaften) ảnh hưởng (treffen) chủ yếu (vor allem) đến các trường học (Schule). Nay (nun) họ muốn tăng (erhöhen) áp lực (Druck) và mở rộng (ausweiten) cuộc biểu tình (Protestaktion) của họ.
Phụ huynh (Eltern) và học sinh (Schüler) phải lường trước (rechnen) những hạn chế (Einschränkung) về giờ học ở trường (Schulunterricht). Các Công Đoàn muốn tiếp tục (fortsetzen) cuộc đình công (Warnstreik) và biểu tình của họ trong ngày thứ năm (Donnerstag) và đồng thời nới rộng (ausdehnen) đến các cơ sở khác của tiểu bang (Landeseinrichtung).
Trong những ngày tới, các bệnh viện của đại học (Uniklinik), cảnh sát (Polizei) và hành chánh tư pháp (Jutizverwaltung) cũng được kéo vào tham dự (einbeziehen) hành động.
Các Công đoàn yêu cầu (fordern) tăng lương (Lohn) 6 phần trăm cho các nhân viên làm việc cho tiểu bang (Landesbeschäftigte). Tập Thể Lương Quy Định các Tiểu Bang (Tarifgemeinschaft deutscher Länder, viết tắt là TdL) bác bỏ (ablehnen) đề nghị này và cho rằng quá cao (zu hoch). Vòng thứ hai (zweite Runde) cuộc đàm phán về mức lương quy định (Tarifgespräche) diễn ra hôm thứ ba (Dienstag) đã kết thúc không có kết quả (ergebnislos zu Ende). Vòng thứ ba và trước tiên (vorerst) là vòng thương thuyết cuối (letzte Verhandlungsrunde) sẽ bắt đầu vào ngày 16 tháng hai (Februar) cũng tại (wieder) Potsdam.
Nội dung các cuộc thương thuyết trên liên quan trước hết (zunächst) đến đồng lương (Entgelt) của khoảng một triệu nhân viên (Angestellte) các tiểu bang. Kết quả sẽ được thông báo cho 2,2 triệu công chức (Beamte) các tiểu bang và địa phương (Kommune) cũng như (sowie) những người đã về hưu (Pensionäre).

Tin dpa, hình Oliver Berg.

Thứ tư ngày 01.02.2017
Mặc dù băng (Eis)  và tuyết (Schnee) tình trạng thất nghiệp tại Đức đạt kỷ lục thấp trong tháng giêng 2017.

Sự gia tăng (Anstieg) thoạt nhìn (auf den ersten Blick) rất có  ấn tượng (dramatisch). Nhưng thật tế (tatsächlich), thì sự thất nghiệp trong mùa đông (Winterarbeitslosigkeit) trong tháng giêng (Januar) so với những năm trước có phần (etwas) thấp hơn (niedriger).
Thị trường lao động (Arbeitsmarkt) Đức dù vậy (trotz) vẫn tăng mạnh (kräftiger Anstieg) như chưa hề có trước đây 26 năm trong đầu năm mới (Jahresbeginn) – tháng giêng năm 1991 có ít (wenig) người thất nghiệp (Arbeitslose).
Cục Lao Động Liên Bang (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA) cho biết (mitteilen) hôm qua thứ ba (Dienstag) rằng, hiện có 2.777 triệu người thất nghiệp; 209.000 nhiều hơn (mehr als) tháng mười hai (Dezember); nhưng (aber) 143.000 người ít hơn năm ngoái. Chỉ số thất nghiệp (Arbeitslosenquote) so với (im Vergleich) tháng trước (Vormonat) giảm 0,5 điểm còn 6,3 phần trăm (Prozent).

Con số người tỵ nạn thất nghiệp (arbeitslose Flüchtlinge) hiện nay (derweil) vẫn tăng tiếp tục (weiter steigen) như dự tính (wie erwartet). Có 178.000 người tỵ nạn thất nghiệp trong tháng giêng, 13.000 nhiều hơn tháng trước. Được xem là người „tìm việc“ (Arbeitssuchende) , ngược lại (hingegen) có 441.000 người tỵ nạn được ghi nhận (registrieren) tại các Trung tâm Tìm Việc (Jobcenter). Nhiều người xin tỵ nạn (Asylbeweber) hiện giờ (derzeit) đã hoàn tất (absolvieren) các khoá (Kurs) Hòa Nhập (Integration) và Chuẩn Bị Nghề (Berufsvorbereitung) nhưng vẫn chưa thể (noch nicht) tìm việc được (vermitteln) cho họ. Hiện nay có 605.000 người tỵ nạn nhận (beziehen) trợ cấp Hartz-IV kể cả trẻ em (Kinder) và người già (Ältere) – con số này có thể tăng lên 700.000 người trong năm nay.

Tin dpa, hình Sebastian Kahnert

1222 Tổng số lượt xem 18 lượt xem ngày hôm nay