» » Tin Vắn Đức Quốc tháng 01.2017

Tin Vắn Đức Quốc tháng 01.2017

Thứ hai ngày 30.01.2017
Ông Schulz ứng cử viên Thủ Tướng của đảng SPD.

“Bây giờ là Schulz”: Với khẩu hiệu (Spruch) này, đảng SPD đã nổi trống (trommeln) trên Internet cho sự bắt đầu mới (Neuanfang) trong hàng lãnh đạo đảng (Perteispitze). Nay (jetzt) vị cựu Chủ Tịch Quốc Hội (Parlamentspräsident) Âu Châu chính thức (offiziell) được đề cử (nominieren) làm ứng cử viên Thủ Tướng (Kanzlerkandidat). Điều người ta thắc mắc (fragen) rằng, trọng điểm (Schwerpunkt) nào được ông nêu ra trong bài diễn văn (Rede) đầu tiên của mình?
Đảng SPD đã kéo (ziehen) ông Martin Schulz làm ứng cử viên Thủ Tướng cho cuộc bầu cử Quốc Hội Đức (Bundestagswahl). Ban lãnh đạo đảng (Perteivorstand) đã nhất quyết (einstimmig) xác nhận (bestätigen) nhà chính trị Âu Châu (Europa-Politikerin)  61 tuổi là đối thủ (Herausforderer) của bà Angela Merkel (CDU) và đảng trưởng tương lai (künftiger Parteichef).
Điều này đã được Thông Tấn Xã biết đến (erfahren) từ những người trong cuộc. Vị chủ tịch đảng đương nhiệm (amtierender Vorsitzende) là ông Sigmar Gabrielđã  tuyên bố (ankündigen) lập tức (sofort) ngưng (sich einstellen) mọi công việc (Arbeit) của Trung Ương Đảng Bộ (Parteizentrale).
Vào ngày 19 tháng ba (März) tới đây, ông Schulz sẽ chính thức được bầu (wählen) làm đảng trưởng (Parteichef) trong một đại hội đảng đặc biệt (Sonderparteitag) tại Berlin.

Tin dpa, hình Kay Nietfeld.


Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.

Trước thềm Xuân DI LẶC 2017 (Đinh Dậu)
Chúng Con Kính Chúc
Chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni
Trong Và Ngoài Nước
Pháp Thể Khinh An, Chúng Sanh Dị Độ,
Phật Sự Viên Thành.

Chúng Tôi Kính Chúc
Quý Độc Giả Trang Nhà Viên Giác,
Quý Đồng Hương và Đồng Đạo Xa Gần
Cùng Thân Quyến Có Nhiều Sức Khoẻ,
An Khang, Thịnh Vượng và

„Ý NHƯ VẠN SỰ“

THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp

Thứ năm ngày 26.01.2017
Tổng Thống Đức xác nhận ngày 24 tháng chín là ngày bầu cử Quốc Hội Đức.

Chủ nhật tuần cuối (letzter Sonntag) tháng chín (September) 2017 sẽ là ngày bầu cử Quốc Hội Đức (Bundestagswahl) nhiệm kỳ mới. Điều không may (unglücklich) là thành phố tiểu bang (Stadtstaat) Berlin sẽ tổ chức ngày Chạy “Marathon-Tag” đúng vào ngày 24.09 này.
Tổng Thống Đức (Bundespräsident), ông Joachim Gauck đã xác nhận (bestätigen) ngày 24.09.2017 là ngày bầu cử Quốc Hội Đức. Ông Gauck đã ra chỉ thị (Anordnung) tương đương (entsprechend) với đề nghị (Empfehlung) của chính phủ Đức (Bundesregierung), theo Phủ Tổng Thống (Präsidialamt) thông báo (mitteilen).
Hôm thứ tư (Mittwoch), nội các (Kabinett) đã chấp thuận (billigen) một thời hạn đệ trình tương ứng (entsprechende Terminsvorlage) của ông Thomas de Maizière (CDU), Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister).
Hầu hết (fast alle) các tiểu bang Đức (Bundesländer) cổ động (plädieren) chọn ngày 24.09.2017 là ngày bầu cử (Wahl) Quốc Hội Đức lần thứ 19. Trên nguyên tắc (grundsätzlich) cần phải lưu ý (achten) rằng ngày bầu cử (Wahltermin) không được rơi (fallen) vào thời gian nghỉ hè (Fereinzeit) .
Riêng tiểu bang Berlin tỏ ra lo ngại (Bedenken) đối với ngày 24.09 này, bởi họ đã lên kế hoạch (planen) tổ chức ngày chạy Marathon rồi. Như vậy một số đường xá (Straße) trong nội thành (Innenstadt) dành cho người sử dụng xe (Autofahrer) sẽ bị chặn (sperren).

Tin dpa, hình Wolfgang Kumm.

Thứ tư ngày 23.01.2017
Các nhận vật ưu tú nước Đức lo ngại ông Trump.

Rất hiếm (sehr selten) khi các nhân vật ưu tú (Elite) tại Đức có cùng quan điểm với nhau (sich einigen) như hiện nay (jetzt): 96 phần trăm những người có thẩm quyền quyết định hàng đầu (Top-Entschieder) của Đức từ chính trị (Politik), kinh tế (Wirtschaft) và quản trị (Verwaltung) lo ngại (sorgen) ông Donald Trump, Tổng Thống Mỹ (US-Präsident) vừa nhậm chức hôm thứ sáu (Freitag) tuần trước (Vorwoche).
Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage), một trong hai người (jeder Zweite) nhận thấy sẽ có sự đi xuống của mối quan hệ Đức – Mỹ (deutsches-amerikanisches Verhältnis); tình trạng khả quan (Verbesserung) chí có hai (zwei) phần trăm; 47 phần trăm hy vọng (erwarten) sẽ có sự ổn định (Stabilität).
Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) Allensbach được tạp chí (Zeitschrift) „Capital“ và tờ báo „Frankfurter Allgemeine Zeitung“ ủy nhiệm (im Auftrag) thực hiện một cuộc thăm dò ý kiến 517 nhân vật lãnh đạo (Führungskraft) sau cuộc thắng cử (Wahlsieg) của ông Trump, trong số này (darunter) có giám đốc các tập đoàn kinh doanh (Konzernchef), Thủ Hiến tiểu bang (Ministerpräsident) và các nhân vật lãnh đạo hành chánh (Verwaltungschef).

Tin dpa, hình Seth Wenig.

Thứ ba ngày 24.01.2017
Mức lương hưu cao nhưng cũng không ra khỏi sự đói nghèo ở tuổi già.

Cuộc tranh luận (Debatte) về việc phấn đấu (Bekämpfung) chống nạn đói nghèo ở tuổi già (Altersarmut) đã bị bảo hiểm hưu trí (Rentenversicherung) cảnh báo (warnen) về những chiến lược (Strategie) sai lầm (falsch).
Ngay cả (selbst) sự gia tăng rất đáng kể (ganz erhebliche Erhöhung) của mức luơng hưu theo luật định (gesetzliches Rentenniveau) đối với hai phần ba (Zweidrittel) người già bị nghèo đói hôm nay (heute) cũng không làm cho mức thu nhập (Einkommen) của họ cao hơn (oberhalb) sự trợ cấp xã hội cho người già (Grundsicherungsanspruch), theo một văn kiện (Schreiben) của Liên Hội Bảo Hiểm Sức Khoẻ Đức (Deutscher Rentenversicherung Bund) gửi Quốc Hội Đức (Bundestag) được các tờ báo (Zeitung) của nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke biết đến.
Cơ quan (Behörde) có trách nhiệm (zuständig) cho khoảng 30 triệu người đóng bảo hiểm (Versicherte) và người hưu trí (Rentner), theo bài tường thuật (Bericht), đã quy chiếu (sich berufen) một công trình khảo sát (Studie) mới nhất (aktuell) và được họ tài trợ (födern): Kết quả (Ergebnis), có khoảng 24 phần trăm người nhận (Empfänger) trợ cấp sinh sống dành cho người lớn tuổi (Grundsicherung) ngày nay hoàn toàn (überhaupt) không có lương hưu (Rente) từ bảo hiểm theo luật định (gesetzliche Versicherung). Tiếp theo là 40 phần trăm nhận (erhalten) lương hưu theo luật định (gesetzliche Rente) ít hơn (weniger als) 400 Euro.
„Điều hiện nay (inszwischen) không thể phủ nhận (unstrittig) rằng, sự đói nghèo ở tuổi già thường (häufig) bị quy về (zurückführen) những nguyên nhân cụ thể có thể nêu ra được (konkret benennbare Ursache) và cần (bedürfen) có sự phấn đấu tập trung vào mục tiêu nhiều hơn (gezielter) bằng những phương thức khắc phục nguyên nhân“ các tờ báo trích dẫn (zitieren) từ quan điểm nhận định (Stellungnahme). Ngược lại, mức lương hưu cao (hoheres Rentenniveau) không thể giải quyết (lösen) những vấn đề (Probleme) cho các nhóm đặc biệt (spezifische Gruppe) có nguy cơ tăng sự nghèo đói ở tuổi già (erhöhtes Altersarmutsrisiko).

Tin dpa, hình Franz-Peter Tschauner.

Chủ nhật ngày 21.01.2017
Quốc Hội công nhận Cannabis như dược phẩm không cần toa chỉ định.

Cannabis (cần sa) như là dược phẩm (Arznei) cho ung thư (Krebs) hoặc (oder) bệnh nhân bị  đau nhức (Schmerzpatient) nay (nun) dễ dàng hơn nhiều (viel einfacher). Và khác hơn (anders) trước, các công ty bảo hiểm sức khoẻ (Krankenkasse) trong tương lai (künftig) phải trả tiền (zahlen). Ngay (selbst) đảng Tả Khuynh (Linke) và Xanh (Grüne) cũng nhận thấy (finden) rằng dự thảo của liên minh cầm quyền (Koalitionsentwurf) tốt (gut).
Người bệnh nặng (Schwerkranke) tại Đức trong tương lai cũng có thể nhận (bekommen) Cannabis theo toa chỉ định (auf rezept verschreiben). Quốc Hội Đức (Bundestag) đã nhất trí (einstimmig) thông qua (beschließen) một dự thảo luật tương đương (entsprechender Gesetzentwurf) – sau nhiều năm tranh luận (jahrlange Debatte) về đề tài (Thema) này. Rồi thì (dann) các công ty bảo hiểm sức khoẻ phải trả tiền trị liệu (Therapie) bằng những nụ cần sa đã được ướp khô (getrocknete Cannabisblüten).

Khi một bác sĩ (Arzt) lý giải (begründen) tác dụng khả quan (positive Wirkung) đối với tiến trình bệnh hoạn (Krankheitsverlauf) hoặc triệu chứng (Symptom) thì có thể ra toa chỉ định Cannabis: Chẳng hạn (etwa) ở các bệnh như đa xơ cứng (Multipler Sklerose), đau mãn tính (chronische Schmerzen), kém ăn nghiêm trọng (schwere Appetitlosigkeit) hoặc buồn nôn (Übelkeit) do (infolge) hóa trị (Chemotherapie). Cannabis vẫn tiếp tục bị cấm (weiter verbieten) là thuốc phiện (Rauschmittel).
Việc trồng trọt (Anbau) cho mục tiêu y khoa (medizinische Zwecke) phải được nhà nước (Staat) quy định (regeln). Một Dịch Vụ (Agentur) thuộc Viện Liên Bang về Dược Phẩm và Sản Phẩm Y Tế (Bundesinstitut für Arzneimittel und Medizinprodukte, viết tắt là BfArM) bảo đảm rằng Cannabis phải được canh tác theo phẩm chất tiêu chuẩn (standardisierte Qualität). Cơ quan này sẽ mua Cannabis và giao cho các nhà sản xuất (Hersteller) và dược phòng (Apotheken). Cho đến nay vẫn bị lệ thuộc vào sự nhập khẩu (Importe).

Ông Herrmann Gröhe (CDU), Bộ Trưởng Y Tế Đức (Bundesgesundheitsminister) nhấn mạnh (betonen) trong một thông tin (Mitteilung) rằng: „Người bệnh nặng cần phải được chăm sóc (versoregen) tốt nhất như có thể (bestmöglich).“ Cho đến nay (bisher), bệnh nhân dùng Cannabis cần (gebrauchen) có giấy phép đặc biệt (Sondergenehmigung) – đến nay có khoảng 1.000 người.
Một sự khác thường (nicht üblich) trong quốc hội (Parlament) là phe đối lập (Opposition) đã ca ngợi (loben) triệt để (ausdrücklich) liên minh cầm quyền về đạo luật này. „Chỉ có ít chỗ (wenig Spielraum) đáng than phiền (meckern)“, theo ông Frank Tempel, chuyên gia về nha phiến (Dorgenexperte) đảng Tả khuynh. „Hoan hô, bà Mortler!“, ông Haral Terpe, chuyên gia thuộc đảng Xanh, nói với bà Marlene Mortler (CSU), Đặc Uỷ Viên Về Nha Phiến (Drogenbeauftragte). Những điểm yếu (Schwäche) của dự thảo luật ban đầu (ursprünglich) được hoan hỷ bỏ qua.
Bà Ingrid Fischbach (CDU), Thứ Trưởng Y Tế (Gesundheitsstaatssekretärin) giải thích (erläutern) rằng, những người bệnh nặng phải được quan tâm khác hơn (anders) như ban đầu (ursürnglich) dự tính (planen) chẳng hạn như điều trị cho tới cùng, trước khi (bevor) bác sĩ chỉ định cho dùng Cannabis. Vị bác sĩ phải nhìn thấu (genau hinschauen) để đi đến kết luận rằng, đã đến thời điểm chỉ định dùng cần sa.

Ngoài ra, hiện nay có thời hạn rút ngắn (verkürzte Frist), nội trong khoảng (innerhalb) thời gian này, các công ty bảo hiểm sức khoẻ phải được phép (erlauben) cho trị liệu bằng cần sa (Cannabistherapie). Thay vì (statt) như các liệu pháp khác kéo dài nhiều tuần lễ thì việc này phải diễn ra (geschehen) trong vòng ba (drei) ngày. „Bệnh nhân cần (brauchen) có sự giúp đở (Hilfe) nhanh chóng và không quan liêu (unbürokratisch), theo bà Fischbach.

Hiệu quả (Wirkung) việc sử dụng (Gebrauch) Cannabis cần phải được nghiên cứu (erforschen) tốt hơn (besser) nữa. Các bác sĩ phải cung cấp (liefern) dữ liệu (Daten) của bệnh nhân dùng Cannabis trên khuôn khổ nặc danh (anonymisiert) đến Viện BfArM.

Ông Tempel yêu cầu (fordern) phải cung cấp (bereitstellen) nhiều tài chánh hơn (mehr Geld) cho việc nghiên cứu (Forschung) như vậy. Ngoài ra cần phải được đảm bảo (sicherstellen) rằng, các bệnh nhân sử dụng Cannabis lái xe (Auto fahren) không phải sợ (fürchten) mất bằng lái (Führerscheinverlust). Nhiều diễn giả (Redner) nhấn mạnh (betonen) rằng, họ vui mừng (froh sein) rằng, đề tài (Thema) này trong thủ lập pháp (Gesetzverfahren) không liên quan gì đến câu hỏi (Frage) xem Cannabis như là loại nha phiến (Rauschgift) để tiêu thụ giải trí (Freizeitkonsum) nữa. „Nó không liên quan đến việc hút phiện (kiffen) theo toa chỉ định (Rezept)“, bà Karin Maag, chính trị gia (Politikerin) đảng CDU nhấn mạnh. Đồng nghiệp (Kollege) của bà là ông Burkhard Blienert (SPD) cũng lên tiếng đồng tình (sich aussprechen) việc xóa bỏ sự kỳ thị hóa (Entkriminalisierung) và việc tiêu thụ có quy định (regulierter Konsum).

Thượng Viện Đức (Bundesrat) không cần chấp thuận (zustimmen) đạo luật (Gesetz). Nó sẽ có hiệu lực (in Kraft treten) trong tháng ba (März) tới đây.

Tin dpa, hình Alexandra Rojkov.

Thứ năm ngày 19.01.2017
Ông Gauck nhận thấy nền dân chủ tại Đức đang bị đe dọa.

Đất nước chúng ta sẽ thế nào? Câu hỏi này (Frage) đã được ông Gauck, Tổng Thống Đức (Bundespräsident) đặt ra trước đây năm (fünf) năm (Jahr) tràn đầy tin tưởng (volle Zuversicht). Nhưng đến cuối nhiệm kỳ (Endes der Amtzeit), quan điểm (Sicht) của ông rõ ràng (deutlich) bi quan hơn (pessimistischer). Trong bài diễn văn (Rede) đọc kết thúc nhiệm kỳ, ông Joachim Gauck, Tổng Thống Đức, đã cảnh báo (warnen) trước những nguy cơ (Gefahr) đe dọa nền Dân Chủ (Demokratie) tại Đức.
Ông nhắc lại (erinnern) diễn văn nhậm chức (Antrittsrede) năm 2012 trước khoảng (etwa) 200 khách (Gast) trong lâu đài (Schloss) Bellevue và nói (sagen) rằng: „Bây giờ (nun), sau gần (fast) năm năm, tôi có ý thức (Bewusstsein) mạnh mẽ hơn (stärker) rằng một nước Đức Dân Chủ và Vững Chắc (demokratisches und stablies Deutschland) cũng (auch) bị nhiều nguy hiểm đe dọa (drohen). Nên mọi nỗ lực lớn (große Anstrengung) để làm (machen) cho đất nước này vẫn mạnh (stark) trong tương lai (in der Zukunft) thật cần thiết (notwendig).“
Ông Gauck sẽ bãi nhiệm (scheiden) vào ngày 18 tháng ba (März) tới đây, sau năm năm nhậm chức. Người kế vị (Nachfolger) ông sẽ được bầu (wählen) vào ngày 12 tháng hai (Februar) – mọi người đều tin tuởng rằng gười ấy là ông Frank-Walter Steimeier (SPD), Bộ Trưởng Ngoại Vụ (Aßenminister).

Tin dpa, hình Michael Kappeler.

Thứ tư ngày 18.01.2017
Học sinh trùm khăn che kín mặt – khoa học gia cảnh báo về các cuộc tranh luận liên quan đến đề tài này.

Vụ tranh cãi chính trị (politischer Streit) về các học sinh nữ trùm khăn che kín mặt (vollverschleierte Schülerin) tại Belm gần thành phố Osnabrück đã bị các khoa học gia (Wissenschaftler) cảnh báo (warnen) về một nguy cơ (Gefahr) của sự cực đoan hóa (Radikalisierung)
Ông Werner Schiffauer, chuyên gia (Experter) về Hồi giáo (Islamismus) của đại học (Universität) Frankfurt/Oder phủ nhận (ablehnen) một cuộc tranh luận chính trị (politische Diskussion) về các học sinh nữ lớp mười (zehntklässlerin) trùm khăn che kín mặt (Nikab) ngồi trong giờ học (Unterricht) từ ba (drei) năm qua. Điều này vô duyên (nicht sinnvoll) từ góc độ sư phạm (pädagogische Hinsicht), có thể đưa đến một vụ „éo le cho nhà nước“ (Staatsaffäre). Nếu sự an bình trong học đường (Schulfrieden) không bị xáo trộn (stören), thì ông khuyên (raten) nên có „đường hướng mềm dẽo“ (weicher Kurs), nếu áp lực quá nhiều (zuviel Druck) có thể đưa đến (führen) một sự cực đoan hóa (Radikalisierung). Tương tự như vậy, theo bà Silvia Horsch, nhà thần học về Hồi Giáo (islamische Theologin) thuộc đại học đại học Osnabrück.
Từ (seit) mùa thu (Herbst) năm qua, tại tiểu bang Niedersachsen người ta đã bàn luận (diskutieren) về trường hợp của một thiếu nữ 16 tuổi tại Belm. Đảng CDU trong quốc hội tiểu bang (Landtag) đã cáo buộc (vorwerfen) bà Frauke Heiligenstadt (SPD), Bộ Trưởng Văn Hóa (Kulturministerin), „khoanh tay“ (Nichtstun) và thậm chí (sogar) yêu cầu (fordern) kiện (anklagen) bà về tội cố ý vi phạm (vorsätzliche Verletzung) lời tuyên thệ nhậm chức (Amtseid) của bà. Bộ (Ministerium) xem đây (sehen) là một trường hợp cá nhân (Einzelfall) và muốn tạo điều kiện (ermöglichen) cho nữ học sinh này theo đuổi  hết học trình (Schulabschluss).

Tin dpa, hình tư liệu Boris Roessler.

Thứ hai ngày 16.01.2017
Nhiều tai nạn xảy ra tại công trường xây dựng trong mùa đông – Việc bảo vệ lao động rất quan trọng.

Làm việc (arbeiten) nơi công trường xây dựng (Baustelle) trong mùa đông (kalte Jahreszeit) đặc biệt (besonders) nguy hiểm (gefährlich). Cho nên (deshalb) cần phải để ý (achten) rất nhiều điều (Ding) trong công việc hàng ngày (tägliche Arbeit).
Việc làm ở các công trường xây dựng thường (oft) được tiếp tục (weitergehen) trong mùa đông (Winter) kèm theo sự gia tăng nguy hiểm (erhöhte Gefahr) cho người lao động (Beschäftigte). Chẳng hạn bị té (Stürze) trên giàn giáo đóng băng (vereiste Gerüste) và cầu thang (Treppe), theo Hiệp Hội Nghề Nghiệp Ngành Xây Dựng (Berufsgenossenschaft der Bauwirtschaft, viết tắt là BG Bau).
Ngoài ra, vì trời lạnh (Kälte) công nhân có thể mau lạnh hơn (schneller unterkühlen). Theo (gemäß) các quy định về nơi làm việc (ARbeitsstättenverordnung), người lao động có quyền (Anspruch) có thể di chuyển (umziehen) đến một chỗ làm việc được thời tiết bảo vệ (wettergeschützter Ort) và ấm hơn (wärmer). Tại công trường xây dựng phải có một phòng nghỉ giải lao (Pausenraum) ít nhất (mindestens) ấm (warm) 21 độ (Grad).

Ngoài ra (außerdem), điều cũng quan trọng (wichtig) là phải lưu ý đến quần áo thích hợp (passende Kleidung). Tốt nhất (am bestens) mặc (tragen) nhiều lớp (mehere Lagen). Tốt hơn hết là áo khoác (Jacke) và quần (Hose) từ sợi siêu nhỏ (Mikrofaser) và bên dưới (darunter) là quần áo lót (Wäsche) bằng vật liệu lông cừu (Fleece-Material) để thu (aufnehmen) hơi nước (Feuchtigkeit). Bên dưới mũ bảo vệ (Schutzhelm), công nhân xây dựng (Bauarbeiter) nên đội thêm một một chiếc mũ (Mütze) nữa để giữ ấm đầu (Kopf).
Từ tháng mười hai (Dezember) 2015 đến tháng hai (Februar) 2016 có 23.000 tai nạn lao động nghiêm trọng (schwerer Arbeitsunfall) được ghi nhận (registrieren), trong số này có khoảng 5.000 người bị vấp (stolpern), té (stürzen) hoặc bị trượt té (ausrutschen).

Tin dpa, hình Malte Christians.

Chủ nhật ngày 15.01.2017
Liên minh lớn cầm quyền tranh cãi về 7 tỷ thặng dư thuế.

Tiếp theo lần thứ hai, ông Schäuble, Bộ Trưởng Tài Chánh Đức (Bundesfinanzminister) công bố (verkünden) hàng tỷ Euro dư (Plus) cho ngân sách (Etat). Ông muốn sử dụng (nutzen)  số tiền dư (zusätzliches Geld) để giảm bớt (Abbau) các nợ cũ (Altlast). Nhưng đảng SPD và CSU không hoan hỷ điều này (nicht gut ankommen).
Hàng tỷ Euro thặng dư (Überschuss) trong kho bạc nhà nước (Staatskasse) đã gây ra (auslösen) một vụ tranh cãi (Streit) và nhiều tham vọng mới (neue Begehrlichkeit) cho liên minh lớn cầm quyền (Koalition) đen (CDU/CSU) – đỏ (SPD) (schwarz-rot). Ông Wolfgang Schäuble (CDU), bộ trưởng tài chánh Đức, muốn số thặng dư ngân sách (Haushaltsüberschuss) của liên bang (Bund) gần 6,2 tỷ Euro dùng để giảm nợ (Schuldenabbau).
Ngược lại (dagegen), đảng SPD nhắm đến việc đầu tư thêm (zusätzliche Investition) và cũng như các chính khách (Politiker) đảng CSU và các nhà kinh tế (Ökonomen) lên tiếng nên giảm gánh nặng (Entlastung) cho người dân (Bürger). Ông Sigmar Gabriel, đảng trưởng đảng SPD, phản bác (kontern) một tin ngắn (Kurznachricht) rằng: „Tiền do người dân làm ra (erwirtschaften) nên ông bộ trưởng tài chánh không được phép tích trữ (horten).“

Nhờ (dank) sự ổn định thăng tiến kinh tế (stabiler Konjunktur) và kỷ lục lao động (Beschäftigungsrekord) cũng như tiền lời thấp (niedrige Zinsen), nên các kho bạc nhà nước nói chung trong năm 2016 có thặng dư. Liên bang, các tiểu bang (Länder), địa phương (Kommune) và các quỹ xã hội (Sozialkasse) cộng chung (zusammen schließen) có thặng dư khoảng (rund) 19 tỷ (Milliarde) Euro.
Riêng liên bang đạt (erzielen) con số 6,2 tỷ Euro, đây là một sự thặng dư lần thứ hai. Cục Thống Kê Đức (Statistisches Bundesamt) còn cho biết thậm chí (sogar) có dư (Plus) khoảng 10,4 tỷ Euro. Con số khác biệt chỉ là hệ quả (Folge) của cách tính khác nhau (unterschiedliche Berechnungsmethode). Vì thế, các nhà thống kê (Statistiker) tính cho năm 2016 số tiền 3,5 tỷ Euro từ các cuộc đầu tư của địa phương (Kommunalinvestition) đã đuợc thông qua (beschließen) vào trong số thặng dư của liên bang.

Tin dpa, hình Ole Spata.

Thứ bảy ngày 14.01.2017
Nhà chức trách ghi nhận thành phần nguy hiểm cho nền an ninh Đức từ cánh thân Tả cực đoan nhiều hơn cánh thân Hữu cực đoan.

Theo một bài tường thuật của báo chí (Pressebericht) thì chính phủ Đức (Bundesregierung) ghi nhận (registrieren) thành phần „nguy hiểm“ (Gefähderte) từ cánh tả cực đoan (linksextremisch, ám chỉ thành phần thân cộng sản) nhiều hơn hữu khuynh cực đoan (rechtsextremisch, ý muốn nói đến thành phần phát-xít) và những người giúp khủng bố (terroristische Helfer).
Như vậy, chính phủ từ đầu tháng giêng (Anfang Februar) trong lãnh vực (Bereich) „phạm pháp có tác động chính trị thân tả“ (politisch motivierte Kriminalität links) tổng cộng (zusammen) có 130 „tên nguy hiểm“ và „những tên đáng ngại“ (relevante Personen) – về lãnh vực „phạm pháp có tác động chính trị thân hữu“ (politisch motivierte Kriminalität rechts) có 126 người. Kết Nối Biên Tập Đức (Redaktionsnetzwerk Deutschland, viết tắt là RND) quy chiếu vào câu trả lời của Bộ Nội Vụ Đức (Bundesministerium) về thắc mắc (Anfrage) của đảng khối Tả khuynh (Linksfraktion) trong quốc hội Đức (Bundestag).

Đối với thành phần gọi là „nguy hiểm“ thì các cơ quan an ninh (Sicherheitsbehörde) cho rằng những hành vi phạm pháp có chính trị nặng (schwere politische Straftat) cũng giống như (wie) một vụ tấn công (Anschlag). Gọi là „người đáng ngại“ (relevante Person) là những ai hỗ trợ (unterstützen) hoặc tự thân (selbst) có hành vi phạm pháp mang tính chất chính trị.
Bà Martina Renner, nghị viên quốc hội Đức (Bundestagsabgeordnete) thuộc đảng Tả khuynh đã cáo buộc (vorwerfen) chính phủ (Regierung) rằng, họ đã xem thường (verharmlosen) nguy cơ (Gefahr) từ thành phần thân hữu. „Liên quan đến (angesichts) sự nổ bùng (Explosion) hành vi bạo lực (Gewalttat) thân hữu và kỳ thị chủng tộc (rassistisch) và khoảng 600 lệnh bắt giam đang hiện hành (offener Haftbefehl) đối với thành phần phát-xít (Neonazis) thì tôi cho rằng việc đánh giá cán cân chính trị (politische Gewichtung) này là cẩu thả (grob und fahrlässig)“, bà nói với Nối Kết Biên Tập.
Một so sánh: Trong phạm vi „Chủ Nghĩa Khủng Bố Hồi Giáo“ (Islamistischer Terrorismus), chính phủ ghi nhận có 547 „tên nguy hiểm“ và 366 „tên đáng ngại“

Tin dpa, hình Julian Stähle.

Thứ sáu ngày 13.01.2017
Hầu như không có việc trục xuất người xin tỵ nạn bị bác đơn trở lại Bắc Phi.

Đêm giao thừa tại Köln đã làm cho người đến từ Bắc Phi lần đầu tiên (ertsmal) trở thành trọng tâm (Fokus) của các cuộc tranh luận về người tỵ nạn (Flüchtlingsdebatte). Hàng chục ngàn (zehntausend) người di dân (Migrant) đến từ Maghreb sau đó bị trục xuất (abschieben) trở lại quê hương họ. Vụ thảm sát (Attentat) tại Berlin giờ đây (jetzt) đã cho thấy (zeigen) rằng, việc trục xuất vô cùng khó khăn (extrem schwierig).
Trong năm qua, hầu như không có người xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) đến từ Bắc Phi (Nordafrika) bị trục xuất. Từ tháng giêng (Januar) đến mười một (November), theo nguồn tin (Angaben) của Bộ Nội Vụ Đức (Bundesinnenministerium) đã có 368 người bị trục xuất trở về các quốc gia Bắc Phi.

Tuy nhiên (allerdings), Cục Liên Bang về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF) trong cùng khoảng thời gian (im gleichen Zeitraum) đã bác (ablehnen) 8363 đơn xin tỵ nạn (Asylantrag) của những người đến từ các quốc gia ấy. Việc thực thi thật sự (tatsächliche Durchsetzung) bổn phận phải ra khỏi (Ausreispflicht) nước Đứcthường (oftmals) bị thất bại (scheitern) bởi nhiều chướng ngại khác nhau (verschiedene Hemmnissen) trong lúc thực hành (in der Praxis), theo sự trả lời của Bộ Nội Vụ thắc mắc (Anfrage) của thông tấn xã Đức dpa.
Ngoài (neben) các nguy cơ về sức khoẻ (gesundheitliche Gefahr) và các mối đe dọa cụ thể (konkrete Gefahr) cho thân thể và cuộc sống (Leib und Leben) ở nước đến (Zielland), thì người xin tỵ nạn bị bác đơn cũng được cấp (erteilen) giấy phép tạm dung tạm thời (zeitweise Duldung), khi việc trục xuất (Abschiebung) không thể được (nicht möglich) vì thiếu giấy tờ (fehlende Papiere) hoặc (oder) sự từ chối (Weigerung) của quốc gia đến (Zielstaat).
Ông Thomas de Maizière (CDU), Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister) vào đầu năm (Frühjahr) 2016 đã đến (reisen) Tunesien, Marokko và Algerien, để thảo luận (besprechen) việc trục xuất nhanh (schnelle Abschiebung) những người đến từ các khu vực (Region) này. Trong năm 2015, theo lời ông de Maizière có khoảng 10.000 Marokkaner, 13.000 Algerier và 2.500 Tunesier đã đến (kommen) Đức, phần lớn (zum größten Teil) không có viễn ảnh được ở lại (Bleibeperspektive).

Nguồn: Bamf, BM; hình Patrick Seeger.

Thứ năm ngày 12.01.2017
Cựu Tổng Thống Roman Herzog qua đời.

„Những lời phát biểu tác động“ (Ruck-Rede) của ông vẫn còn trong (bleiben)  ký ức (Erinnerung). Ông Roman Herzog không mệt mõi (unermüdlich) thúc đẩy (auffordern) người dân (Bürger) Đức cải cách (reformieren). Nay, vị cựu Tổng Thống Đức (Altbundespräsident) 82 tuổi đã qua đời (sterben). „Một cá tính nỗi bật“ (markante Persönlichkeit), ông Gauck, vị kế nhiệm (Nachfolger) nói (sagen).
Vị Tổng Thống Đức trước đây (früherer Bundespräsident), ông Roman Herzog qua đời (tot sein), hưởng thọ 82 tuổi, Văn Phòng Tổng Thống Đức (Bundespräsidialamt) đã xác nhận (bestätigen) thắc mắc (Anfrage) của thông tấn xã Đức (Deutsche Presse Agentur, viết tắt là dpa) tại Berlin.
Ông Herzog đã đứng (stehen) hàng đầu (Spitze) nước Cộng Hòa Liên Bang Đức (Bundesrepublik Deutschland, viết tắt là BRD) từ 1994 đến 1999. Trước đó ông là luật gia (Jurist), chính khách (Politiker) đảng CDU và Chủ Tịch (Präsident) Tòa Án Hiến Pháp Đức (Bundesverfassungsgericht).

Ông sanh ngày 05.04.1934 tại Landshut, con trai (Sohn) của một nhân viên lưu trữ hồ sơ (Archivar), trước tiên hành nghề luật (juristische Karriere), ở tuổi 30 ông đã làm luận án Tiến sĩ (habilitieren). Một năm sau đó, ông trở thành giáo sư đại học (Professor, viết tắt là Prof.) của Đại Học Tự Do (Freie Universität) Berlin. Năm 1970 ông gia nhập (eintreten) đảng CDU. Năm 1983, ông được bổ nhiệm (berufen) làm Phó Chủ Tịch (Vizepräsident) Tòa Án Hiến Pháp Đức và ở nhiệm sở (Amt) này ông đã chủ trương đường lối tự do (liberale Linie). Năm 1987 ông đứng đầu pháp đình tối cao (oberstes Gericht) của Đức.
Cuối đời (zuletzt), ông Herzog sống tại Götzenburg tại Jagsthausen gần Heilbronn, quê hương (zuhause) của người vợ thứ hai (zweite Frau) của ông, bà đã dấn thân (sich engagieren) giúp chồng mình suốt (während) nhiệm kỳ (Amtzeit) của chồng trong lãnh vực xã hội (soziales bereich) và qua đời trong tháng sáu (Juni) năm 2000.

Tin dpa, hình Daniel Naupold.

Thứ tư ngày 11.01.2017
Wolfsburg dẫn đầu mức thu nhập.

Mức thu nhập (Einkommen) trong nước Đức có sự chênh lệch (Kluft) rất lớn (enorm). Trung bình (durchschnittlich) một dân cư (Einwohner) sinh sống tại thành phố công nghệ (Industriestadt) Wolfsburg có mức thu nhập gần gấp đôi (doppelt so viel) hơn một người dân (Bürger) khu vực rừng núi giàu khoáng chất (Erzgebirge) thuộc tiểu bang Sachsen. Bị bỏ lui phía sau (abhängen) đặc biệt (vor allem) là các khu vực ở Đông Đức Ostdeutschland, đảng Tả khuynh (Linke) đã than phiền (klagen).
Wolfsburg là một thành phố trung bình có đồng lương cao nhất (höchster Lohn) trong nước Đức – trong vòng đai khu vực đồi núi (Gebirgskreis), người dân có thu nhập thấp nhất (wenigsten). Đây là câu trả lời (Antwort) thắc mắc (Anfrage) của Bộ Xã Hội Đức (Bundesoszialministerium) do đảng Tả khuynh nêu ra, mà thông tấn xã Đức (dpa) tại Berlin biết đến (vorliegen).

Theo đó, tổng thu nhập trung bình hàng tháng (mittleres monatliches Bruttoeinkommen) tại Wolfsburg là 4.610 Euro, kế đến là Ingolsatdt với 4.545 Euro, Ludwigshafen 4.491Euro và Erlangen với 4.486 Euro. Ở khu vực núi đồi, tổng lương tháng (monatliches Bruttoentgelt) trung bình là 2.036 Euro. Đứng tận cùng bảng là vòng đai (Kreis) Vorpommern – Rügen với 2.057 Euro và Elbe-Elster 2.060 và Görlitz là 2.068 Euro.
Wolfsburg là trụ sở chính (Hauptsitz) của đại công ty xe (Autokomzern) VW; Ingolstadt có hãng xe Audi và Ludwigshafen có đại doanh nghiệp hóa chất (Chemieriese) BASF. Khu vực núi đồi từ nhiều thế kỷ (Jahrhundert) nay hỉ khai thác quặng mỏ (Bergbau).

Tin dpa, hình Peter Steffen.

Thứ hai ngày 09.01.2017
Đạo luật ngưng lên tiền muớn nhà vẫn không có tác dụng.

Các địa phương (Kommunen) cho rằng việc ngưng giá tiền mướn nhà (Mietpreisbremse) được thực hiện (einführen) trong năm 2015 vẫn (weitgehend) không có tác dụng (wirkungslos). Biện pháp (Maßnahme) thực hiện giới hạn cao độ (Obergrenze) cho việc mướn mới (Neuvermietung) đã không đạt (erzielen) hiệu quả rộng rãi (Breitenwirkung) như mong muốn (erhoffen).
Điều này đã được vị Tổng Quản Đốc (Hauptgeschäftsführer) của Tổng Hội Thành Phố và Địa Phương Đức (Deutscher Städte- und Gemeindebund), ông Gerd Landsberg, nói (sagen) với các tờ báo (Zeitung) thuộc nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke. “Nó quá quan liêu (bürokratisch) và ẩn tàng (sich bergen) nguy cơ (Gefahr) cho sự dè đặt đầu tư (Investitionhemmung).” Trước đó (zuvor), Tổng Hội người mướn nhà (Mieterbund) đã (bereits) phàn nàn (beklagen) rằng, đạo luật (Gesetz) có nhiều ngoại lệ (Ausnahme) và đối với người mướn nhà (Mieter) không minh bạch (instransparent). Đồng thời, nó còn có (bestehen) mối nghi (Berdacht) rằng, nhiều chủ nhà (Vermieter) xem thường (ignorieren) những quy tắc luật định (gesetzliche Bestimmung).

Đạo luật hãm giá cả mướn nhà quy định (vorschreiben) rằng, tiền mướn nhà (Miete) trong các đô thị không được phép vượt quá (übersteigen) 10 phần trăm của giá cho mướn mới thích nghi (anpassen) với thị trường nhà cửa (Wonungsmarkt) căn cứ vào “giá tương đương tại địa phương” (ortsübliche Vergleichsmiete). Tuy nhiên (allerdings), người mướn nhà trong các thành phố phát triển mạnh mẽ (Boom-Stadt) trong năm qua chỉ sử dụng quyền thưa kiện (Klagerecht) có tính cách nhỏ giọt (nur vereinzelt).
Liên Hội Thành Phố và Địa Phương khẳng định (bekräftigen) yêu cầu (Forderung) của họ rằng chính phủ Đức (Bundesregierung) cần phải can thiệp nhiều hơn nữa về việc xây cất (Bau) nhà ở (Wohnraum). Một khả năng (Möglichkeit) có thể là trợ cấp trẻ em xây dựng (Baukindergeld) để các gia đình trẻ trung (junge Familie) có thể mua được (erwerben) nhà riêng (Wohneigentum) dễ dàng hơn (leichter).

Tin dpa, hình Britta Pedersen.

Chủ nhật ngày 08.01.2017
Những người tỵ nạn được cứu vớt, theo ông Bouffier hãy trả họ lại Phi Châu.

Những người tỵ nạn được cứu vớt (gerettete Flüchtlinge) tại Trung Hải (Mittelmeer), theo quan điểm (Ansicht) của vị Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang Hessen, ông Volker Bouffier, trong tương lai (künftig) nên đưa họ trở lại (zurückbringen) Bắc Phi (Nordafrika). Một để nghị tuơng tự (entsprechender Vorschlag) của đảng CSU được ông chấp thuận (zustimmen) „vô giới hạn“ (uneingeschränkt), chính khách (Politiker) đảng CDU phát biểu (sagen).
„Chúng ta không thể và không muốn để họ bị chết chìm (ertrinken) ngoài biển khơi (Meer)“, theo ông Bouffier. Nhưng điều cũng sai lầm (nicht richtig) khi, „ai được chúng ta cứu vớt (retten) thì tự động (automatisch) được vào Âu Châu.“. Như vậy, người ta chỉ (lediglich) chống lưng (stützen) việc kinh doanh (Geschäft) của bọn buôn người (Menschenschlepper).

Theo quan điểm của ông Bouffier, thì người tỵ nạn phải được đưa trở lại Phi Châu (Afrika) sống trong các trung tâm tiếp nhận (Aufnahmezentren). „Điều này hợp lý hơn (vernüftiger) cho việc giúp đở (helfen) họ ngay tại chỗ (vor Ort), hơn là phải thông qua việc xác định (feststellen) bởi một thủ tục tỵ nạn lâu dài (langwieriges Asylverfahren), và khi không được phép ở lại (bleiben) thì cũng khó mà trục xuất họ (zurückfphren).“ Một hợp đồng (Abkommen) tỵ nạn tương tự (ähnlich) như đối với Thổ Nhĩ Kỳ (Türkei), theo nhà chính trị đảng CDU này, bằng việc giúp đở tài chánh (finanzielle Hilfe) của Berlin cũng có thể thực hiện (für möglich halten) cho Ai Cập (Ägypten) hoặc Tunesien.

Tin dpa, hình Boris Roessler.

Thứ bảy ngày 07.01.2017
Chúc mừng năm mới chỉ đến giữa tháng giêng!

Những lời chúc mừng (Grüße) của đồng nghiệp (Kollege) là một phần xã giao trong sinh hoạt văn phòng (Büroalltag) và tạo ra (schaffen) một không khí làm việc dễ chịu (angenehmes Arbeitsklima). Đúng giờ (gerade) giao thừa (Jahreswechsel), người ta thường (oft) chúc nhau (wünschen) „năm mới vui vẻ (frohes Neues). Nhưng câu chúc này thật ra (eigentlich) còn kéo dài bao lâu (wie lange) nữa?
Ai gặp (sehen) một đồng nghiệp trong năm mới lần đầu tiên (zum ersten Mal), trên nguyên tắc (in der Regel) chúc mừng người ấy năm mới vui vẽ. Nhưng lời chúc mừng năm mới (Neujahrsgrüße) có thể còn nói được đến chừng nào nữa? May thay (zum Glück), có một nguyên tắc đơn giản (einfache Regel) mà ai cũng có thể tự định hướng (orientieren) cho mình.

Quy tắc chung (Faustregel): Đến giữa (Mitte) tháng giêng (Januar) thì chấm dứt (Schluss). „Người ta nói (sagen) rằng, đến giữa tháng giêng thì năm mới đã quá cũ (schon zu alt) rồi.“ theo bà Carolin Lüdemann, huấn luyện viên thăng tiến sự nghiệp (Karriercoach), giải thích. Điều này cũng có giá trị (gelten) cho lời chúc mừng năm mới bằng bưu thiếp (Postkarte). Nếu ai còn thì nên gửi nhanh (schnell) để có thể đến (ankommen) người nhận (Empfänger) trước giữa tháng giêng, bà Lüdemann khuyên (raten). Quy tắc chung cũng có giá trị cho thư riêng (private Post).
Điều này không có nghĩa rằng, năm mới sau ngày 15 tháng giêng không được phép chúc nhau nữa. Đề tài (Thema) có thể được gói ghém trong một nội dung khác. Chẳng hạn với một câu (Satz) “Tôi hy vọng (hoffen), năm mới đã bắt đầu (beginnen) tốt đẹp (gut) cho Bạn”, bà Lüdemann đề nghị (empfehlen). “Như vậy người ta cũng có thể chúc mừng, nhưng có vẻ cởi mở hơn (offener).”

Tin dpa, hình Jens Kalaene.

Thứ sáu ngày 06.01.2017
Chi phí dọn nhà hãy khai báo trong tờ khai thuế.

Việc dọn nhà thường kèm theo nhiều phí tổn (großer Aufwand), nhất là tài chánh (finanziell). Vì thế cho nên cần khai báo (angeben) mọi chi phí cho việc dọn nhà (Umzugskosten) trong tờ khai thuế (Steuererklärung). Bất kể (unabhängig) đó là một sự đổi chỗ ở (Standortwechsel) có tính cách riêng (privat) hay vì nghề nghiệp (beruflich), thì việc khai báo xin khấu trừ thuế có thể (möglich) tiết kiệm được rất nhiều (große Einsparung). Người đóng thuế (Steuerzahler) nên khai báo phí dọn nhà lúc khai thuế thu nhập (Einkommensteuererklärung). „Những gì có thể khấu trừ thuế (absetzen) cũng tùy vào (abhängen) lúc khai rằng dọn nhà vì nghề nghiệp hay vì chuyện riệng“, theo bà Isabel Klocke, thuộc Liên Hội Người Đóng Thuế (Bund der Steuerzahler) giải thích (erklären).
Ví dụ (beispielsweise), ai đó dọn (ziehen) đến một thành phố (Stadt) khác, để nhận (aufnehmen) việc làm mới (neue Arbeit) hoặc để rút ngắn (verkürzen) thời gian đi làm (Fahrtzeit), cũng có thể lý giải (argumentieren) rằng việc dọn nhà có liên quan đến nghề nghiệp. Các chi phí cho việc dọn nhà có thể khai báo trong cột „chi phí để duy trì việc làm“ (Werbungskosten) trong tờ khai thuế thu nhập.

Các chi phí như vậy có thể là chi phí cho công ty dọn nhà (Umzugsunternehmen), phí đi lại (Reisekosten) hoặc chi phí cho một chuyến đi xem (Besichtigung) căn hộ mới (neue Wohnung). Mọi chi phí phải ghi riêng (Einzeln) để chứng minh (nachweisen), ví dụ bằng các hóa đơn (Rechnung). Nếu dọn nhà vì nghề nghiệp thì chi phí dọn nhà có các khoản đổ đồng (Pauschalbetrag): Cho người độc thân (Ledige) khoản này hiện nay (derzeit) là 746 Euro và cho đôi vợ chồng (Verheiratete) là 1.493 Euro. Cho một thân nhân kế tiếp cùng sống trong hộ gia đình (Haushalt), chẳng hạn con cái (Kinder) thì khoản này cho mỗi trẻ em là 329 Euro. Các khoản đổ đồng này có hiệu lực (gelten) cho tất cà mọi sự dọn nhà xảy ra (stattfinden) sau ngày 01 tháng ba (März) 2016. Nếu đứa trẻ không đến trường mới (neue Schule) để học mà cần (erforderlich) phải có giờ học ở nhà (Nachhilfsunterricht), thì có thể khai khấu trừ thuế chi phí này ở khoản cao nhất (Höchstbetrag) là 1.882 Euro.
Ai chuyển nhà hay căn hộ vì lý do riêng thì chi phí cho công ty dọn nhà hoặc thợ thủ công (Handwerker) có thể khai báo như chi phí cho các dịch vụ gia đình (haushaltsnahe Dienstleistung) ví dụ thù lao thợ thủ công (Handwerkerleistung) trong tờ khai thuế thu nhập. „Người đóng thuế cũng không nên đánh giá thấp (unterschätzen) lợi ích này lúc khai thuế “ theo bà Klocke. Trường hợp tối đa (Maximalfall) có thể qua việc khai báo (Angabe) thù lao dịch vụ này lên đến 4.000 Euro và thù lao thợ thủ công 1.200 Euro thì người đóng thuế đã tiết kiệm (einsparen) một số tiền như vậy trong năm cho việc khai thuế thu nhập.

Tin dpa, hình Bodo Marks.

Thứ năm ngày 05.01.2017
Người tỵ nạn ở Braunschweig bị tình nghi gian lận trợ cấp xã hội.


Có lúc để mọc râu (Bart wchsen lassen), có khi mang cặp mắt kính (Brille aufsetzen): Bằng những thủ thuật (einfache Tricks) như vậy, nhiều người xin tỵ nạn (Asylbewerber) đã ghi danh (scih anmelden) nhiều lần (mehrfach), theo các vụ điều tra (Ermittlung) của ủy ban đặc nhiệm (Sonderkommission) tại Braunschweig thuộc tiểu bang Niedersachsen. Họ làm như vậy để nhận (kassieren) trợ cấp nhiều lần (mehrfach Leistungen). Số tiền lường gạt lên đến hàng triệu Euro. Ủy ban đặc nhiệm (Sonderkommission) tại Braunschweig thuộc Trung Tâm Điều Tra (Zentrale Ermittlungen) hiện đang theo dõi (verfolgen) hơn (mehr als) 300 vụ (Fall) gian lận trợ cấp xã hội (Sozialbetrug) của những người xin tỵ nạn. Chủ yếu (hauptsächlich) liên quan đến những người tỵ nạn đến từ Sudan; họ đã đến Đức theo làn sóng tỵ nạn (Flüchtlingsstrom) trong mùa hè (Sommer) 2015, theo ông Jörn Memenga, điều hành trưởng (Leiter) tổ đặc nhiệm (Soko). Ông ước đoán (schätzen) tổng thiệt hại (Gesamtschaden) các vụ đã được phát hiện (aufgedeckter Fall) lên đến nhiều triệu Euro. Đài phát thanh và truyền hình NDR Bắc Đức đã tường thuật (berichten) trước tiên (zuerst).

Theo (zufolge) bài tường thuật (Bericht), những người tỵ nạn đã tự ghi danh (sich registrieren) nhiều lần tại Trụ Sở Tiếp Nhận của Tiểu Bang (Landesaufnahmestelle) Braunschweig, để nhận lãnh (beziehen) tiền trợ cấp (Leistung) cùng lúc (parallel) ở nhiều địa phương (Gemeinde). Đa phần (zumeist), những người xin tỵ nạn tự khai báo (sich geben) ba (drei) hay (oder) bốn (vier) lý lịch (Identität), theo ông Memenga: „Có lúc họ để mọc râu, có khi mang cặp kính, có lần để tóc ngắn (Haare kürzer), và lần nào cũng mang họ (Name) khác.“ Cho nên, nhân viên làm việc (Sacharbeiter) trong lúc (während) chen chúc ồ ạt (enormer Andrang) không có cơ hội (Chance) để nhận ra (durchschauen) sự lừa đảo (Schwindel).

Trung bình (im Schnitt), mỗi người theo cách này (Methode) lường gạt (erschlichen) nhiều ngàn Euro, theo vị điều hành trưởng đội Soko. Theo luật tài trợ người xin tỵ nạn (Asylbewerberleistungsgesetz), mỗi người tỵ nạn có tiền túi (Taschengeld) 135 Euro mỗi tháng. Ai sống (leben) bên ngoài (außerhalb) cơ sở tiếp đón (Aufnahmeeinrichtung) sẽ nhận thêm (weitere Zuwendung) 216 Euro.
Các điều tra viên (Ermittler) phát hiện trường hợp của một người xin tỵ nạn có đến 2 lý lịch. „Y đã nhận 45.000 Euro trợ cấp bất hợp pháp (Unrecht)“, theo ông Memenga. Theo đài NDR tường thuật, những nhân viên (Mitarbeiter) cơ quan tiếp nhận của tiểu bang (Landesaufnahmebehörde) lúc nào đó (irgendwann) đã phát hiện (auffallen) cái mánh (Masche) này.
Thật tế (eigentlich), theo tiêu chuẩn (Standard) thì ngay (gleich) sau khi tiếp nhận đầu tiên (Erstaufnahme) người tỵ nạn phải bị lấy vân tay (Fingerabdruck), theo ông Matthias Eichler, phát ngôn viên (Sprecher) Bộ Nội Vụ (Innenministerium) tiểu bang Niedersachsen. „Nhưng trong lúc cao điểm của cuộc tỵ nạn thì mỗi ngày (täglich) có đến 2000 người đến, làm cho việc hành chánh bình thường (tagesaktuell) không thể (nicht möglich) thực hiện được.“ Từ thời điểm này đã sinh ra các vụ gian lận (Betrugsfall). Trễ nhất (Spätestens) kể từ mùa hè 2016 thì thủ tục lấy vân tay mới được thực hiện (miterfassen) lập tức (sofort) lúc mới đến.

Theo ước đoán của ông Memenga, những người tỵ nạn lường gạt trợ cấp đang bị điều tra vẫn còn có mặt (sich befinden) trong nước Đức. „Nhưng rất khó khăn (mühselig) để xác định (feststellen) lý lịch của họ. Dù vậy, chúng tôi đã có tên của họ để ngưng (einstellen) việc tài trợ (Zahltung) tiếp tục.“
Dường như (vermutlich) cũng khó đưa người tỵ nạn lường gạt trợ cấp ra tòa (Gericht), theo bà Julia Meyer, Công Tố Viện (Staatsanwaltschaft) Braunschweig. „Khi bị phát hiện (auffliegen) thì thủ phạm (Täter) đã cao bay xa chạy (schon weiterziehen).“ Và khi không biết chỗ cư ngụ (Aufenthaltsort) của họ, thì chỉ còn cách, viết (ausschreiben) lệnh truy nã (Fahndung) kẻ phạm tội (Beschuldigte).

Tin dpa, hình tư liệu của Arne Dedert.

Thứ tư ngày 04.01.2017
Có quá nhiều trẻ em tỵ nạn tại Đức.

Khoảng 300.000 trẻ em tỵ nạn (Flüchtlingskinder) đã đến Đức trong vòng (binnen) hai năm nay. Trên thực tế (Realität), theo Unicef thì vẫn chưa có đủ (ausreichend) trường mầm non (Kita, viết tắt của nhóm từ Kindertagesstätte), đợi chờ (Warten) có giờ học (Unterricht), co ró (Ausharren) trong các trại tạm trú tập thể (Sammelunterkunft). Tình trạng thiếu phòng ở (Wohnungsmangel) tại Đức đã gây khó khăn (erschweren) cho việc tá túc đúng theo tiêu chuẩn gia đình (familiengerechte Unterbringung).
Mặc dù có nhiều nỗ lực to lớn (große Anstrengung) của nhà nước (Bund), các tiểu bang (Länder), địa phương (Kommunen) và rất nhiều người giúp đở thiện nguyện (ehrenamtliche Helfer), các trẻ tỵ nạn vẫn phải sống (leben) trong những tình huống không tốt đẹp (desolate Umstände). „Những nhu cầu đặc biệt (besondere Bedürfnisse) của chúng và quyền lợi (Rechte) của trẻ rất tiếc (leider) thường bị (immer wieder) lãng quên (übersehen)“, vị quản đốc (Geschäftsführer) của tổ chức Unicef tại Đức, ông Christian Schneider, đã lên tiếng chỉ trích (kritisieren).

Nhiều trẻ gái (Mädchen) trai (Jungen) phải sống hơn nhiều tháng trong các trại tập thể (Gemeinschaftsunterkunft). Ở đó, chúng không được bảo vệ (schützen) để phòng chống bạo lực (Gewalt) và lạm dụng (Missbrauch), hầu như không có (kaum) cơ hội tham gia các chương trình chơi đùa (Spiel) và học (Lernen) hoặc được hỗ trợ tâm lý (psychologische Unterstützung). „Tuổi thơ (Kindheit) của chúng đang trong tình trạng chờ đợi (Wartestand), ít có cuộc sống riêng (Privatspähre), bị nhiều nguy hiểm (Gefahr) và có nhiều buồn bã (große Tristesse)“, ông Schneider nói (sagen) với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse Agentur, viết tắt là dpa).
Trên toàn thế giới (weltweit) có khoảng 50 triệu trẻ em phải rời bỏ (verlassen) quê hương (Heimat) của chúng, trong số này có 28 triệu em hiện đang trên được tỵ nạn (Flucht). Vị quản đốc Unicef tại Đức đòi hỏi (verlangen), ít ra phải có tối thiểu (Minimum) an ninh (Sicherheit) và sự ổn định (Stabilität) dành cho các em – bất kể (ganz gleich) các em ở diện pháp lý (rechtlicher Status).

Tin dpa, hình tư liệu của Bernd Wüstneck.

Thứ ba ngày 03.01.2017
Tăng lương tối thiểu, ít giờ làm việc.

Kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) năm 2017, lương tối thiểu (MIndestelohn) tăng (steigen) 34 Cent. Sự việc này mang đến hệ quả đặc biệt (besondere Folgen) cho những người làm việc ít giờ (Minijobber). Trên trang (Seite) Internet của Tổng Công Đoàn Đức (Deutscher Gewerkschaftsbund, viết tắt là DGB), quý vị có thể theo dõi để lưu ý (beachten) đến những điều có liên quan đến sự việc.
Qua việc nâng (Erhöhung) lương tối thiểu theo luật định (gesetzlich), thì những người làm việc ít giờ cũng có sự thay đổi (sich ändern) giờ làm việc hàng tháng (monatliche Arbeitszeit) của họ. Bởi họ chỉ được phép có thu nhập (verdienen) tối đa (maximal) 450 Euro mỗi tháng (Monat), nên kể từ năm 2017 họ được làm ít hơn (weniger) hai tiếng, DGB lưu ý (hinweisen) điều này.

Lương tối thiểu tăng kể từ đầu năm 2017 từ 8,50 Euro thành 8,84 Euro. Với mức lương cũ, người làm việc ít giờ được phép làm tối đa (höchstens) mỗi tháng 52,94 giờ (Stunde) mỗi tháng (pro Monat). Số giờ (Stundenzahl) này giảm đi (sinken) qua việc tăng lương nên chỉ còn 50,9 giờ.
Muốn biết số giờ làm việc tối đa mỗi tháng (monatliche Höchststundenzahl) liên quan đến lương giờ (Stundenlohn) nào, thì người làm việc ít giờ có thể dựa (mithilfe) theo một bảng liệt kê (Tabelle) trên trang Internet của DGB để tìm hiểu (überprüfen). Trang này sẽ bắt đầu hoạt động (aktivieren) vào ngày 10 tháng giêng từ 17 đến 19 giờ (Uhr) và cũng cung cấp một link đàm thoại (Chat) về lương tối thiểu. Người lao động (Arbeitnehmer) có thể nêu ra (stellen) thắc mắc (Fragen) liên quan đến lương tối thiểu mới theo luật định.

Tin dpa, hình Jens Büttner.

Thứ hai ngày 02.01.2017
Cơ hội tỵ nạn xấu. Cơ quan BAMF cứu xét nhanh để mau hồi cư.

Một số người xin tỵ nạn (Asylbewerber) có ít triễn vọng ở lại (Bleibeperspektive) nước Đức. Những người này trong tương lai (künftig) sẽ được Sở Liên Bang có thẩm quyền (zuständiges Bundesamt) sau khi đặt chân (nach der Ankunft) trực tiếp (direkt) thông báo (informieren) về việc hồi cư (Rückkehr) trở về quê hương (Heimatland) của họ. Một dự án thí điểm (Pilotprojekt) đã lên chương trình. „Có thể tưởng tượng (vorstellbar) rằng sẽ có việc thiết lập (einrichten) một trạm riêng (eigene Station) ngay trong các trung tâm tiếp đón mới (neues Ankunftszentrum) để làm trạm đầu giải quyết hồ sơ (erste Anlaufstelle) cho những người này“, theo bà Jutta Cordt, nữ giám đốc tương lai Sở Liên Bang về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF). Điều này chắc chắn (sicher) là một sự khôn khéo (klug), nhưng vẫn chưa (noch nicht) có tính quyết định (entschieden). Việc đầu tiên (erst) là cần phải có đủ nhân viên (Personal) và phòng ốc (Raum).

Các chương trình (Programm) tự nguyện hồi hương (freiwillige Rückkehr) cần phải được tăng lên (aufstocken), theo bà Jutta Cordt. Một công trình khảo sát (Studie) của Công Ty Tư Vấn (Beratungsunternehmen) McKinsey được Sở BAMF ủy nhiệm thực hiện (im Auftrag) mới đây đã đề nghị (empfehlen) cần gây (ausüben) nhiều áp lực (mehr Druck) đối với những người tỵ nạn đã bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber), để họ mau hồi hương (zurückkehren).
Trong 25 trung tâm tiếp đón (Ankunftszentrum) của BAMF trên toàn quốc (bundesweit) có nhiều cơ quan hợp tác với nhau (zusammenarbeiten) dưới một mái nhà (unter einem Dach) – từ bác sĩ (Arzt) của BAMF cho đến Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA). Người tỵ nạn bằng mọi cách phải ở (bleiben) tại đây từ lúc nộp đơn (Antragstellung) cho đến (bis zur) lúc có quyết định (Entscheidung).

Tin và hình của n-tv.de, vck/dpa

 


Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật

Trước thềm năm Dương Lịch 2017

Chúng con thành kính chúc
Quý Hòa Thượng, Thượng Tọa,
Đại Đức Tăng Ni trong và ngoài nước
Pháp Thể Khinh An, Chúng Sanh Dị Độ,
Phật Sự Viên Thành

Kính chúc Quý Đạo Hữu và Độc Giả
cùng thân quyến và bạn hữu
có nhiều sức khoẻ, an lạc và an lành.

THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
phụ trách Tin Vắn Đức Quốc trang nhà VIÊN GIÁC
01.01.2017

Chủ nhật ngày 01.01.2017
Năm mới, luật mới.

Điện (Strom) và bảo hiểm chăm sóc (Pflegeversicherung) đắt hơn (teuer) trong năm 2017, lương tối thiểu (Mindestlohn) và các khoản miễn thuế (Steuerfreibetrag) tăng (steigen). Những thay đổi mới kề từ đầu năm 2017 xin được tóm lược như sau:

1. Người lao động (Arbeitnehmer) nộp ít thuế (weniger Steuer).

Các khoản (Betrag) miễn thuế căn bản (Grundfreibetrag) đối với các loại (jedlicher Art) thu nhập (Einkunft) tăng từ 01 tháng giêng (Januar) lên thành 8.820 Euro cho người độc thân (Ledige) và 17.640 Euro cho một đôi vợ chồng (Verheiratete). Một cặp vợ chồng (Ehepaar) không con cái (ohne Kinder) mà có thu nhập phải đóng thuế hàng năm (zu verteuerndem Jahreseinkommen) khoảng 72.000 Euro thì thuế thu nhập (Einkommensteuer) giảm (sinken) khoảng 157 Euro.

2. Không còn phải trả phí (Gebühr) Roaming.
Người đi nghỉ hè (Urlauber) và người đi kinh doanh (Geschäftsreisende) kể từ giữa (ab Mitte) năm 2017 không phải trả tiền (zahlen) phụ phí (Extragebühr) cho việc sử dụng điện thoại cầm tay (Handynutzung) ở nước ngoài (Ausland) thuộc EU. Phí Roaming bị hủy bỏ (wegfallen) kể từ ngày 15 tháng sáu (Juni).

3. Trợ cấp con cái nhiều hơn.
Khoản trợ cấp con cái (Kindergeld) tăng 2 Euro mỗi tháng (pro Monat). Như vậy, hai đứa con đầu (erste beiden Kinder) mỗi đứa có 192 Euro, đứa thứ ba 198 Euro và mỗi đứa khác 223 Euro.

4. Nhờ (dank) chính sách tiền hưu mới gọi là Flexi-Rente, nhiều người hưu non (Frührentner) có thêm tài chánh.
Ai ở số tuổi giữa (zwischen) 63 và 67 ít lao động (weniger arbeiten) và nhận (beziehen) một phần lương hưu (Teilrente) thì không còn bực tức (ärgern) nữa về giới hạn thu nhập phụ (Hinzuverdienstgrenze) cứng nhắc (starr) nữa. Việc thực thi (Einführung) loại lương hưu mới (Flexi-Rente) kể từ tháng bảy (Juli) 2017 thì ở mức 6.300 Euro sẽ không tính vào (anrechungsfrei) lương hưu. Thu nhập (Verdienst) hơn con số này thì 40 phần trăm số thu nhập ấy bị tính vào một phần lương hưu.

5. Nhiều trợ cấp nuôi dưỡng hơn (mehr Pflegegeld).
Năm cấp độ chính sách nuôi dưỡng (fünf Pflegegrade) sẽ thay thế (erstezen) ba bậc nuôi dưỡng cho đến nay (bisher). Nhiều người cần được chăm sóc (Pflegebedürftige) qua đó (dadurch) sẽ nhận kể từ đầu năm 2017 nhiều trợ cấp nuôi dưỡng và chăm sóc (Pflegeleistung). Quỹ chăm sóc (Pflegekasse) sẽ cấp (zahlen) nhiều hơn chẳng hạn cho đến 609 Euro đối với người bệnh lãng trí (an Demenz leidender Patient) bậc 1.

6. Lương hưu (Rente) tiếp tục tăng.
Lương hưu năm 2017 sẽ tăng khoảng hai (zwei) phần trăm. Năm 2016 đã tăng 4,25 phần trăm ở phía Tây (West) cũng như 5,95 phần trăm ở phía Đông (Ost).

7. Lương tối thiểu (Mindestlohn) nhiều hơn.
Kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) 2017, lương tối thiểu luật định (gesetzlicher Mindestlohn) tăng (erhöhen) từ 8,50 thành 8,84 Euro.

8. Thời hạn mới cho việc nộp (Abgabefrist) tờ khai thuế (Steuererklärung).
Thời hạn nộp (abgeben) tờ khai thuế cho năm 2016 không còn (nicht mehr) là cuối tháng năm (Mai) nữa, mà là (sondern) ngày 31 tháng bảy (Juli). Cũng có sự dễ dàng (Erleichterung) về vấn đề (Sache) xuất trình (vorliegen) các hóa đơn (Belege): Trong tương lai (künftig), chỉ cần gửi đến (schicken) Sở Thuế Vụ (Fiananzamt) khi có yêu cầu (Aufforderung).

9. Nhiều tiền hơn cho người nhận trợ cấp Hartz-IV.
Cấp độ (Satz) Hartz-IV cho người lớn (Erwachsene) tăng từ 404 thành 409 Euro; trẻ em (Kinder) từ 6 đến 13 tuổi tăng từa 270 lên thành 291 Euro, đôi vợ chồng (Paare) từ 364 lên thành 368 Euro mỗi người (pro Person) và thanh thiếu niên (Jugendliche) từ 14 đến 18 tuổi tằng 30 Euro thành 311 Euro.

10. Truyền hình tư nhân (Privat-Fernsehen) thông qua (per) ăn-ten (Antenne) trở thành truyền hình trả phí (Bezahl-Fernsehen).
Ai muốn xem các đài RTL, ProSieben, Sat.1 và đại loại thông qua truyền hình ăn-ten kỹ thuật số (digitales Antennenfernsehen, viết tắt là DVB-1 HD) kể từ tháng tư (April) phải trả (zahlen) thêm 5 Euro mỗi tháng.

11. Các trận túc cầu liên bang (Bundesliga) nay cũng đấu trong ngày thứ hai (Montag).
Bắt đầu mùa (Saison) đá bóng (Fußball) 2017/2018, hợp đồng truyền hình mới (neuer TV-Vertrag) các trận đấu bóng đá Đức (Fußball-Bundesliga) có hiệu lực. Tương lai (künftig) cũng có những trận đá bóng cấp một (Erstligaspiele) trong các ngày thứ hai (montags), và đài Eurosport nay (jetzt) đã có quyền trình chiếu (Übertragungsrechte) các trận đấu trong ngày thứ sáu (Freitagsspiel).

12. Điện (Strom) sẽ đắt hơn (teuer).
279 nhà cung cấp điện dùng (Stromgrundversorger) đã tuyên bố (ankündigen) tăng giá (Preiserhöhung). Trung bình con số tăng khoảng 3,5 phần trăm và gây ảnh hưởng (betreffen) cho khoảng (etwa) 10 triệu gia đình (Haushalte).

13. Bảo hiểm chăm sóc (Pflege-Versicherung) đắt hơn.
Kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) năm 2017, khoản đóng phí (Beitragssatz) bảo hiểm chăm sóc tăng 0,2 phần trăm. Với tổng thu nhập (Brutto) 3000 Euro mỗi tháng thì người lao động phải đóng thêm ba (drei) Euro mỗi tháng.

14. Người có thu nhập khá (Besserverdiener) phải đóng nhiều.
Giới hạn tính khoản phí đóng (Beitragsbemessungsgrenze, viết tắt là BMG) của tổng khoản lương lao động (Brutto-Arbeitslohn) cho bảo hiểm hưu trí và thất nghiệp (Renten- und Arbeitslosenversicherung) tăng ở phía Tây từ 6.200 thành 6.350 Euro; phía Đông từ 5.400 lên thành 5.700 Euro. Bảo hiểm sức khoẻ và chăm sóc (Kranken- und Pflegeversicherung) tăng BMG ở phía Đông và Tây tăng mỗi tháng (monatlich) 4.350 Euro. Vì vậy, ai có thu nhập tốt (Gutverdiener) phải tự thích nghi (sich einstellen) với việc đóng phí cao này.

15. Không buộc hưu trí (Zwangruhestand) đối với người nhận Hartz-IV có ít lương hưu.
Trong tương lai, Trung Tâm Tìm Việc (Jobcenter) không buộc (zwingen) người nhận (Empfänger) trợ cấp Hartz-IV phải về hưu sớm (frühzeitig) ở tuổi 63 chịu thiệt thòi (Einbuß) đến 12 phần trăm, khi mức (Höhe) lương hưu này gây (verursachen) ra tình trạng cần trợ cấp (Bedürftigkeit) ở tuổi gìa, hiện giờ (derzeit) là 404 Euro.

16. Thêm một ngày nghỉ lể (Feiertag).
Vì ngày Kỷ Niệm Sự Cải Cách (Reformationsjubiläum) rơi (fallen) vào ngày thứ ba (Dienstag)  trong tuần, tức ngày 31 tháng mười (Oktober) 2017, nên cả nước (bundesweit) có thêm một ngày nghĩ lễ luật định (gesetzlicher Feiertag) nhiều hơn.

17. Telekom dẹp (abschaffen) hệ thống điện thoại tường (Telefon-Festnetz) loại cổ điển (klassisch).
Đến cuối năm (bis Ende) 2017, công ty Telekom chuyển đổi (umstellen) tất cả đường giây kết nối (Anschluss) Analog và ISDN sang hệ thống điện thoại Internet. Ai không muốn có thể chấm dứt hợp đồng (Vertragskündigung).

18. Đảm bảo (Absicherung) cho người chăm sóc (Pflegende).
Kể từ 2017, bảo hiểm chăm sóc trả những khoản hưu trí (Rentenbeitrag) cho những ai (Person) chăm sóc (pflegen) những người ở cấp chăm sóc (Pflegegrade) 2 đến 5 và nhiều nhất (höchstens) 30 giờ làm việc (erwerbstätig) mỗi tuần (pro Woche). Họ trả tiền suốt thời gian (auf die Dauer) hành nghề chăm sóc (Pflegetätigkeit) cũng như các khoản bảo hiểm thất nghiệp (Arbeitslosenversicherungsbeitrag), khi người chăm sóc không còn (aufgeben) hành nghề (Beruf) chăm sóc nữa.

19. Miễn phí (gratis) WLAN trong các toa tàu ICE.
Miễn phí (kostenlos) WLAN trong các toa tàu (Zug) ICE kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) 2017.

20. Giới hạn thu nhập cao (höhere Verdienstgrenze) cho bảo hiểm sức khoẻ tư nhân (private Krankenversicherung).
Mức thu nhập để người lao động (Arbeitnehmer) có thể đóng bảo hiểm tư nhân (privat krankenversichern) kể từ nằm 2017 tăng thành 57.600 Euro tổng thu nhập (Brutto) mỗi năm (jährlich).

21. Nhiều tiền nuôi con (Unterhalt).
Kể từ tháng giêng 2018, cha (Vater) hay mẹ (Mutter) sống ly thân (getrennt leben) phải trả tiền nuôi con tối thiểu (Mindestunterhalt) nhiều hơn. Tăng cho mỗi trẻ đến 5 tuổi (bis zum fünften Lebensjahr) 7 Euro thành 342 Euro, cho trẻ từ 6 đến 11tuổi tăng 9 Euro thành 393 Euro và trẻ từ 12 đến 17 tuổi tăng 10 Euro thành 460 Euro. Khoản chi cho trẻ thành niên (volljähriges Kind) tăng 11 Euro thành 527 Euro.

22. Nhiều khoản ứng trước nuôi dưỡng (Unterhaltsvorschuss) hơn.
Cha hay mẹ có bổn phận trả tiền nuôi con (unterhaltspflichtig) mà không chịu trả tiền, thì nhà nước (Staat) sẽ phải chịu ứng trước (Unterhaltsvorschuss). Kể từ 2017 thì khoản này không còn giới hạn nữa (unbegrenzt) và cho đến lúc trẻ trưởng thành (Volljährigkeit).

Trích dịch từ nhiều báo và tạp chí, hình ảnh Internet.

2978 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay