» » Tin Vắn Đức Quốc tháng 12.2016

Tin Vắn Đức Quốc tháng 12.2016

Thứ tư ngày 28.12.2016
Đa số người Đức đồng ý việc giám sát bằng máy thu hình.

Sau vụ tấn công (Anschlag) Chợ Giáng Sinh (Weihnachtsmarkt) tại Berlin, đa số (Mehrheit) người Đức muốn có sự giám sát (Überwachung) nhiều hơn bằng những biện pháp an ninh thêm (zusätzliche Sicherheitsmaßnahme). Ông de Maizière, Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister) yêu cầu (auffordern) chính quyền (Regierung) tiểu bang Berlin hãy xem xét lại (überdenken) thái độ do dự (zögerliche Haltung) của họ, bởi chính quyền Berlin không muốn điều này.
Theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận (Umfrage) của Viện Nghiên Cứu Tư Tưởng (Meinungsforschungsinstitut) YouGov thực hiện cho Thông Tấn Xã Đức (Deutsche Presse Agentur, viết tắt là dpa) thì có 73 phần trăm người Đức đồng ý (sich aussprechen) tăng (Aufstockung) lực lượng cảnh sát (Polizeikraft) và 61 phần trăm về việc trang bị tốt hơn (bessere Ausrüstung) cho cảnh sát. Đa phần (große Mehrheit) với 60 phần trăm chấp thuận (einverstanden) việc giám sát mạnh mẽ hơn bằng máy thu hình (stärkere Videoüberwachung) ở các nơi công cộng (öffentliche Räume).

Theo cuộc thăm dò dư luận của YouGov, có một trong hai người được hỏi ý kiến (Befragte) yêu cầu  dành nhiều trách nhiềm (mehr Kompetenz) cho quân đội Đức (Bundeswehr) trong các vụ tấn công khủng bố (Terroranschlag). Binh lính (Soldat) nên được phép sử dụng (zum Einsatz kommen) chống các vụ khủng bố lớn (großer Anschlag), khi có cảnh sát yêu cầu (bitten) giúp đỡ (Hilfe). Nhưng đến nay vẫn chưa xác định (festlegen) chính xác (genau) là lực lượng nào đảm nhận nhiệm vụ (Aufgabe) nào. Trong tháng ba (März), sẽ diễn ra (stattfinden) một cuộc thực tập chung đầu tiên (erste gemeinsame Übung) của quân đội Đức và cảnh sát một trường hợp khủng bố (Terrorfall).

Tin dpa, hình minh họaa của Roland Weihrauch.

Thứ ba ngày 27.12.2016
Chục ngàn người di dân sẽ đoàn tụ gia đình.

Ai được công nhận (anerkennen) tỵ nạn (Flüchtling) sẽ được phép (dürfen) đón (holen) gia đình (Familie) họ sang Đức. Nay (nun) đảng CSU đthắc mắc (fragen), liệu có đủ (genügend) nhà ở (Wohnraum), giáo viên (Lehrer) và giáo viên mầm non (Erzieher) hay không. Bà Thủ Hiến (Regierungschefin) tiểu bang Saarland cảnh báo (warnen) rằng sự hội nhập (Integration) chỉ (nur) có thể thành công (gelingen), khi chính người Đức rõ ràng (klar) về giá trị (Werte) và truyền thống (Tradition) của họ.
Việc đoàn tụ gia đình (Familiennachzug) của hàng chục ngàn người tỵ nạn sẽ là một gánh nặng (Belastung) về lâu dài (auf Dauer) nhiều hơn (stärker) đối với những người di dân mới đến (ankommende Migranten), theo ước đoán (Einschätzung) của ông Johannes Singhammer, Phó Chủ Tịch Quốc Hội Đức (Bundestagsvizepräsident).

Số (Zahl) người Syrer ở đây (hierzulande) sẽ tăng gấp đôi (sich verdoppeln), vì thân nhân họ (Angehörige) sẽ đoàn tụ (nachkommen), theo chính khách (Politiker) đảng CSU nói (sagen) với Thông Tấn Xã Đức (Deutsche Presse Agentur, viết tắt là dpa). Bà Annegret Kramp-Karrenbauer (CDU), Thủ Hiến (Ministerpräsidentin) tiểu bang Saarland yêu cầu (fordern) sự nhập cư (Einwanderung) phải được quy định (regeln) rõ ràng hơn (klarer). Như mỗi quốc gia (Staat) khác, nước Đức cũng được phép định nghĩa (definieren) rằng „chúng ta muốn ai ở Đức“. Điều cần thiết (Nötiges) là một cuộc luận đàm (Debatte) mới về một „Văn Hóa Dẫn Đạo“ (Leitkultur), đề làm rõ (klären) „những quy tắc thành và bất thành văn“ (geschrieben und ungeschriebene Regeln) cho tất cả mọi người (für alle) trong nước (im Land).
Trong năm 2015, ước tính (schätzungsweise) có chừng (rund) 890.000 di dân và tỵ nạn đã đến Đức – khoảng (etwa) ba lần (drei Mal) nhiều hơn (so viele) năm trước đó (zuvor).

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Thứ hai ngày 26.12.2016
Ông de Maizière muốn gia hạn việc kiểm soát biên giới.

Ông Thomas de Maizière, Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister), muốn gia hạn việc kiểm soát biên giới (Grenzkontrolle) với Áo (Österreich) trong một thời gian dài (unabsehbare Zeit). „Tôi có ý định (Absicht) rõ ràng (deutlich) tiếp tục (fortsetzen) việc kiểm soát (Kontrolle) qua khỏi tháng hai (Februar). Nếu cần thiết sẽ thêm nhiều tháng (Monat) nữa. Trong thời điểm hiện nay (im Moment), tôi chưa thấy có một sự kết thúc (Ende)“ theo nhà chính trị (Politiker) đảng CDU nói với tờ „Bild am Sonntag“ (Hình Ảnh Ngày Chủ Nhật). Những lời chỉ trích (Kritik) từ nước Áo bị ông bác bỏ (zurückweisen). Tuy nhiên (allerdings), mọi quyền lợi (Interessen) của nước Áo cũng sẽ được quan tâm đến (berücksichtigen), ông nhấn mạnh (betonen). Việc kiểm soát sẽ thích ứng (anpassen) tình hình (Lage) chung và lưu tâm đến (Rücksicht nehmen) nền kinh tế (Wirtschaft), người du lịch (Urlauber) và sự lưu thông ở biên giới (Grenzverkehr).

Thật tế (eigentlich), quyền tự do đi lại (Reisefreiheit) giữa (zwischen) 26 thành viên (Mitglied) đa phần trực thuộc (angehören) khu vực (Raum) Schengen vẫn có hiệu lực (gelten). Theo tình trạng khủng hoảng tỵ nạn (Flüchtlingskrise), nước Đức và nhiều quốc gia khác đã thực thi (einführen) việc kiểm soát biên giới trong mùa thu (Herbst) 2015, và kể từ thời điểm đó đến nay vẫn mãi bị gia hạn (verlängern). Việc kiểm soát hiện nay (derzeitig) được kéo dài (befristen) đến giữa (Mitte) tháng hai.
Ngay (schon) cuối (Ende) tháng mười (Oktober), ông Maizière đã có quan điểm (Ansicht) rằng việc kiểm soát có thể được nới lỏng (lockern) trở lại, khi các biên giới bên ngoài (Außengrenze) của EU được đảm bảo (sichern) rộng rãi (umfassend) hoặc (oder) các quốc gia EU có đủ (gegnügend) chỗ tá túc (Unterkunft) cho người tỵ nạn. Thái độ (Haltung) này đã bị một vài quốc gia thuộc khu vực Schengen chỉ trích (kritisieren). Bởi vì (da) tình hình hiện nay (inzwischen) có phần yên ổn (beruhigen) trở lại, cho nên một vài quốc gia cho rằng (halten) việc kiểm soát tiếp tục dư thừa (überflüssig). Ngoài nước Đức ra, hiện nay (aktuell) các quốc gia như Áo, Đan Mạch (Dänemark), Thụy Điển (Schweden) và Na Uy (Norwegen) cũng kiểm soát biên giới của họ.

Tin dpa, hình Michael Kappeler.

Chủ nhật ngày 25.12.2016
Gia tăng việc kiểm soát phi trường, nhà ga và khu vực biên giới.

Vũ trang (bewaffnet) bằng súng tiểu liên (Maschinenpistole) và áo giáp (Schutzweste) hoặc kín đáo (unauffälig) hay ẩn nấp (verdeckt). Cảnh sát liên bang (Bundespolizei) tăng cường (verstärken) việc kiểm soát (Kontrolle) các sân bay (Flughafen), nhà ga (Bahnhof) và các khu vực biên giới (Grenzgebiet) Đức để ngăn chận (verhindern) khủng bố (Terror) sau vụ tấn công khủng bố (Terroranschlag) tại Berlin, theo tổng hành dinh cảnh sát liên bang (Bundespolizeipräsidium) tại Postdam cho biết (mitteilen).

Cũng ngay tại sân bay lớn nhất nước Đức (am größten deutsches Flughafen) tại Frankfurt, công an cảnh sát cũng đã tăng cường bảo vệ (schutzen), không chỉ ở lực lượng (Kraft) cảnh sát, mà còn đặc biệt (besonders) quan tâm đến (aufmerksam) mọi nguy biến có thể xảy ra (mögliche Gefahr), theo lời phát ngôn viên (Sprecher) tại Frankfurt/Main nhấn mạnh (betonen).

Tin dpa, hình Boris Roessler.

Thứ bảy ngày 24.12.2016
Ty lao Động phải tài trợ việc học nghề cho người tàn tật.

Những người cần được chăm sóc nhiều (stark pflegebedürftige Menschen) hưởng quyền (Anspruch) tài trợ học tập (Ausbildungsförderung). Cơ sở (Elementar) của sự giúp đở tài chánh (finanzielle Unterstützung) là thật sự họ có một cơ hội (Chance) tiếp tục làm việc (Weiterbeschäftigung) trong thị trường lao động (Arbeitsmarkt) hay không.

Trường hợp: Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA) phải tài trợ (finanzieren) cho một người tàn tật nặng (Schwerbehinderte) học nghề thiết kế trang Web (Webdesign) khi người này chỉ còn có thể điều khiển (steuern) máy vi tính (Computer) bằng đôi mắt (Augen). Nhưng với điều kiện (Vorassetzung): Việc đào tạo nghề nghiệp này (berufliche Ausbildung) vẫn còn (noch) có một cơ hội hành nghề (berufliche Tätigkeit) sau này. Toà Án Xã Hội Tiểu Bang (Landessozialgericht) Rheinland – Pfalz quyết định (entscheiden) như vậy – hồ sơ thụ lý số Az.: L 1 AL 52/15, được Tổ Chức Thông Tin Luật Sự Đức (Deutsche Anwaltauskunft) thông báo (informieren).

Tin dpa, hình Patrick Pleul.

Thứ năm ngày 22.12.2016
Cắt giảm trợ cấp trẻ em cho người ngoại quốc khối EU.

Ông Sigmar Gabriel, đảng trưởng SPD, yêu cầu (fordern) nhanh chóng (zügig) cắt giảm (kürzen) trợ cấp cho trẻ em (Kindergeld) của những người ngoại quốc (Ausländer) khối EU. „Khi một đứa trẻ (Kind) không sống (leben) trong nước Đức, mà sống trong quê hương (Heimatland) của nó, thì trợ cấp trẻ em phải được cấp theo mức độ (Niveau) của quê hương nó đang sống“.
Điều này đã được vị bộ trưởng kinh tế (Wirtschaftsminister) và Phó Thủ Tướng (Vizekanzler) nói (sagen) với những tờ báo (Zeitung) của nhóm truyền thông (Mediengruppe) Funke. Sự rộng rãi (Freizügigkeit) không được phép lạm dụng (missbrauchen) để xâm nhập (einwandern) vào hệ thống xã hội (Sozialsystem) của Đức, theo ông Gabriel. Từ nhiều tháng qua, ông đã mong đợi (warten) một đề nghị (Vorschlag) từ ông Wolfgang Schäuble (CDU), bộ trưởng tài chánh (Finanzminister) Đức, về việc cắt giảm trợ cấp trẻ em.
Ngay trong tháng hai (Februar), liên minh lớn cầm quyền (Koalition) trên nguyên tắc (grundsätzlich) đã đồng thuận (einigen), trợ cấp trẻ em của những người rập theo mẫu (Vorbild) của Anh quốc, họ thường cấp chi phí sinh sống (Lebensunterhaltungskosten) tượng tự như sự trợ cấp trong các quốc gia đó.

Ông Gabriel nói rằng, nhiều đoạn đường trong vài thành phố lớn (Großstadt) của Đức toàn là những ngôi nhà cũ rích (Schrottimmobilien) có người di dân (Migrant) sống (wohnen) trong đó chỉ vì một lý do (aus einem Grund): „Vì họ muốn nhận (beziehen) trợ cấp trẻ em theo tiêu chuẩn Đức trong khi chúng hoàn toàn không (gar nicht) sống trong nước Đức.“ Điều này tương ứng (entsprechen) với luật pháp hiện hành (derzeitige Rechtslage). Vì thế, ông Gabriel yêu cầu có sự điều chỉnh (Korrektur) lại: „Trong Âu Châu có quyền nhập cư (Zuwanderung) để làm việc, nhưng không có quyền nhập cư vào hệ thống xã hội mà không có làm việc (ohne Arbeit).“
Những người ngoại quốc khối EU được hưởng quyền (Anspruch) trợ cấp cho trẻ em suốt thời gian (Dauer) cư trú làm việc (Arbeitsaufenthalt) trong nước Đức – cho dù (auch wenn) trẻ nhỏ (Nachwuchs) sống trong một quốc gia EU khác. Tháng mười hai (Dezember) 2015, theo Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit), có khoảng 120.000 trẻ em sống ở ngoài nước Đức (Ausland) không có quốc tịch Đức (deutsche Staatsangehörigkeit) đã nhận (erhalten) trợ cấp cho trẻ em từ nước Đức. Gần (knapp) một nửa (Hälfte) số này là người Ba Lan (Polen), kế đến (gefolgt) là Pháp (Franzosen), Rumänen, Tschechen (Tiệp) và Ungarn.

Tin dpa, hình Kay Nietfeld.

Thứ ba ngày 20.12.2016
Gian lận việc chăm sóc có thể bị cắt giảm trợ cấp.

Một sự gian lận việc chăm sóc (Pflegebetrug) có thể tốn kém (teuer): Ai khai man (falsche Angaben) trong sự tính toán (Abrechnung) việc tài trợ chăm sóc (Pflegeleistung) có thể bị cắt giảm (Kürzung) sự tài trợ tiếp (weitere finanzielle Hilfe) – thậm chí (sogar) cũng có thể bị tính ngược về trước (rückwirkend).
Ai nhận trợ cấp chăm sóc không hợp lý có nguy cơ (riskieren) bị cắt giảm trợ cấp. Đây là quyết định (Entscheidung) của Tòa Án Xã Hội (Sozialgericht) tại Berlin, hồ sơ thụ lý số Az.: S 145 SO 1411/16 ER.
Như vậy, Ty Xã Hội (Sozialamt) có thể tính ngược lại thời điểm đã khai man để nhận sự giúp đở xã hội (Sozialhilfe) của người cần được chăm sóc (Pflegebedürftige) để cắt giảm khoản tài trợ (Beitrag) ấy mà việc này do một dịch vụ chăm sóc không chính đáng (krimineller Pflegedienst) với sự hợp tác (Mitwirken) của người được chăm sóc để gian lận việc tính toán (Abrechnungsbetrug). Ty Xã Hội được phép tính vào (anrechnen) khoản trợ cấp bảo đảm cuộc sống (Grundsicherung) hiện thời khi đòi hoàn trả (Rückforderung), tổ chức Thông Tin của Luật Sư Đức (Deutsche Anwaltauskunft) cảnh báo (warnen).

Trường hợp: Một phụ nữ (Frau) sanh năm 1949 nhận trợ cấp đảm bảo cuộc sống của Ty Xã Hội từ nhiều năm qua. Đồng thời (zugleich) bà cũng là một bệnh nhân (Patientin) của một dịch vụ chăm sóc. Cơ quan này đã biết (erfahren) rằng trong thời gian (Zeitraum) từ tháng mười một (November) 2014 đến (bis) tháng hai (Februar) 2015 bà đã hợp tác (mitwirken) trong việc gian lận sự tính toán của dịch vụ chăm sóc hầu nhận được (erhalten) cái gọi là trả tiền (Zahlung) “Kick-Back” để có thu nhập (Einkommen) giữa (zwischen) 245 và 336 Euro mỗi tháng (monatlich). Sau đó (daraufhin), Ty Xã Hội đã đòi bà hoàn trả (zurückfordern) 1125 Euro trợ cấp xã hội. Để giải quyết yêu cầu (Forderung), khoản trợ cấp đảm bảo cuộc sống của bà đang nhận bị cắt đi 73 Euro mỗi tháng. Bà này không đồng ý và phủ nhận (bestreiten) việc nhận tiền của dịch vụ chăm sóc.

Phán quyết: Trước vành móng ngựa (vor Gericht), lời nói (Aussage) của bà không có thuyết phục (überzeugend). Việc tính toán những khoản trợ cấp của Ty Xã Hội chính đáng (rechtsmäßig), các thẩm phán (Richter) gảii thích (erklären). Theo những quyển sổ kế toán bị tịch thu (beschlagnahmte Kassenbücher) thì trong nhiều năm thậm chí (sogar) bà đã nhận của dịch vụ chăm sóc tồng cộng (insgesamt) 12.000 Euro. Sự phản kháng (Einwand) của bà không thể chấp nhận. Thật tế có chứng minh (Nachweise) rằng, mỗi ngày bà có ký tên (unterschreiben) cho việc chăm sóc hàng ngày (tägliche Pflege), mặc dù (obwohl) theo báo cáo cuối cùng (Abschlusßbericht) của Cục Hình Sự Tiểu Bang (Landeskriminalamt, viết tắt là LKA) thì bà hoàn toàn (überhaupt) không được chăm sóc. Sự bất tín (Unzuverlässigkeit) của dịch vụ chăm sóc này đã được tòa án biết đến (bekannt) qua nhiều vụ xử khác (weitere Vefahren).

Tin dpa, hình Friso Gentsch.

Chủ nhật ngày 18.12.2016
Bà Kraft yêu cầu phạt nặng hành vi bạo lực đối với giáo viên.

Bà Hannelore Kraft (SPD), Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang Nordrhein – Westfalen, muốn có hình phạt nặng hơn (härtere Strafe) cho những hành vi lăng mạ (Beleidigung), đe đọa (Drohung) và bạo lực (Gewalt) đối với giáo viên (Lehrer). Một đề nghị luật pháp tương ưng (entsprechende Gesetzesinitiative) đã được đệ trình (einbringen) Thượng Viện (Bundesrat) hôm thứ sáu (Freitag) tuần qua (Vorwoche), theo tờ „Rheinische Post“ tường thuật (berichten).
Cũng có thêm nhiều người (Person) làm việc (arbeiten) cộng đồng (Gemeinwesen) cần phải được bảo vệ (schützen). „Tấn công (Angriffe) và lăng mạ giáo viên, công nhân viên nhà nước (Amtsträger), lực lượng cấp cứu (Rettungskraft), nhân viên giúp đỡ (Helfer) hoặc tình nguyện viên (Ehrenamtliche) không phải là tội vặt vãnh (Bagatelldelikte)“, theo bà Kraft. Ngay (schon) khi có dấu hiệu đầu tiên (erstes Anzeichen) hành vi phạm pháp (strafbares Verhalten) thì nhà nước (Staat) cũng đã phải can thiệp (einschreiten) rồi.

Qua sáng kiến (Initiative) này, bà Kraft có phản ứng (reagieren) đối với kết quả một cuộc thăm dò ý kiến (Umfrage) của Forsa trong tháng mười một (November) vừa qua. Theo đó, một trong bốn giáo viên đã một lần (einmal) bị đe dọa,  sáu phần trăm bị bạo lực. Liên hiệp Cơ-Đốc (Union) và đảng SPD cũng lên kế hoạch (planen) tăng hình phạt (Strafverschärfung) về hành vi lăng mạ, đe dọa và bạo lực đối với cảnh sát (Polizei), nhân viên cứu hỏa (Feuerwehrleute) và nhân viên y tế (Sanitäter).

Tin dpa, hình Wolfram Kastl.

Thứ năm ngày 15.12.2016
Không học vị Tiến Sĩ với học trình y khoa ở nước ngoài.

Học vị Tiến Sĩ (Doktortitel) không phải là Tiến Sĩ học vị – liệu học vị này của các nhà y khoa (Mediziner) ở nước ngoài có đủ đáp ứng yêu cầu (Anforderung) của Đức hay không, cũng tùy vào quốc gia nơi họ nhận bằng cấp. Đây là phán quyết (Urteil) của Tòa Án Hành Chánh (Verwaltungsgericht) tại Mainz.
Bất cứ ai đã hoàn tất (abschließen) học trình y khoa (Medizinstudium) ở nước ngoài (im Ausland), cũng không được gọi là „Tiến Sĩ Y“ (Doktor der Medizin), theo quyết định (Entscheidung) của tòa án trên.
Nguyên đơn (Kläger) là một người đàn ông (Mann) trong tiều bang Rheinland-Pfalz, đã hoàn tất học trình y khoa tại Bỉ (Belgien) trong thập niên 80 (thời điểm nước Đức chưa thống nhất và khối EU chưa được thành hình) với học hàm (Grad) „Docteur en Médecine, Chirurgie et Accouchements» (Bác Sĩ Y Khoa, Phẫu Thuật và Hộ Sinh).
Trong thập niên 2000, vị bác sĩ (Arzt) này đã sử dụng học vị Tiến Sĩ của Đức bất hợp pháp (unrechtmäßig). Vì vậy, ông bị phạt tiền (Bußgeld) và bị xử kiện tại Tòa Án Nghề Nghiệp (Berufsgericht). Giờ đây (nun), ông muốn đòi (einfördern) được mang tước hiệu học vị Tiến Sĩ Y của Đức, nhưng tòa án đã bác (zurückweisen) đơn kiện (Klage) chống lại (gegen) Cục Bác Sĩ Tiểu Bang (Landesärztekammer) Rheinland-Pfalz.
Theo quan điểm (Auffassung) của tòa, một học hàm cao học nước ngoài (ausländischer Hochschulgrad) chỉ được sử dụng (führen) theo hình thức (Form) của quốc gia nơi ông được cấp (verleihen) bằng. Một sự hoàn tất học trình y khoa không trong nước Đức và không tương đương (entsprechen) sự kiểm tra của nước Đức (deutsches Staatsexam) thì không có học hàm Tiến Sĩ Y của Đức (Dr.med.)

Tin dpa, hình Rolf Vennenbernd.

Thứ tư ngày 14.12.2016
Bệnh vẫn đi làm: Công nhân nên biết những gì.

„Thế à! Hai tuần nghĩ bệnh (krankgeschrieben) hả? Không thể được, tôi cần phải làm cho xong (fertigstellen) một dự án (Projekt).“ Tình huống này (Situation) thường xảy ra ở phòng mạch (Praxis) của bác sĩ (Arzt). Nhưng bệnh nhân có thể đi làm (ins Büro gehen) hay không?
Nhiều đại công ty (Konzern) cung cấp (bieten) những chương trình tập khoẻ (Fitnessprogramm) để công nhân viên (Mitarbeiter) giữ gìn sức khoẻ (gesund bleiben). Công ty chế tạo xe (Autobauer) Daimler thậm chí (sogar) còn dự tính (planen) thưởng (Bonus) cho công nhân ít (selten) nghĩ việc (ausfallen).
Tuy nhiên (jedoch), các chuyên gia (Expert) lo ngại (befürchten) rằng, sẽ có nhiều nhân viên dù (trotz) đau yếu (Krankheit) vì muốn có thưởng vẫn lết đến (schleppen) chỗ làm. Nhưng thật tế điều này có được phép (erlauben) hay không? Và tình trạng pháp lý (rechtliche Lage) như thế nào?

Dù có giấy chỉ định của bác sĩ không thể lao động được (Arbeitsfähigkeitsbescheinigung), nhưng tôi có được phép đi làm hay không?
„Cho dù tôi có khả năng lao động (arbeitsfähig) hay không (oder nicht), đây là chuyện do tôi tự (selbst) quyết định (entscheiden)“, theo lời ông Hans-Georg Meier, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht).

Tôi có được phép đi làm dù có giấy chứng nhận không thể lao động của bác sĩ hay không?
„Liệu tôi có khả năng lao động (arbeitsfähig) hay không (oder nicht), là do tôi tự (selbst) quyết định (entscheiden)“, theo ông Hans-Georg Meier, luật sư chuyên ngành (Fachanwalt) về luật lao động (Arbeitsrecht). Cho dù ngay cả bác sĩ nghĩ rằng (meinen) rằng, việc đi làm (arbeiten) có ảnh hưởng không tốt (beeinträchtigen) cho sức khoẻ (Gesundheit), thì quyết định cũng vẫn ở người công nhân. Cũng như chủ nhân (Arbeitgeber) không thể nói rằng: „Bạn có giấy nghĩ bệnh, tôi không để cho Bạn bước vào chỗ làm.“ Liệu người lao động (Berufstätigte) thật sự có phải làm việc dù bị bệnh hay không, thì đây là một câu hỏi khác (andere Frage). Nếu họ muốn ở nhà (zu Hause bleiben), thì họ cũng có thể bằng mọi cách (auf jeden Fall) quy chiếu vào (sich berufen) giấy chứng nhận không có khả năng lao động.

Người chủ có được phép yêu cầu công nhân bị bệnh về nhà hay không?
Tùy! „Nếu đây là một việc tự gây nguy hại cho bản thân (Selbstgefährdung) của công nhân thì người chủ có thể lưu ý họ điều này“, theo ông Meier. Nhưng nếu họ nhất quyết muốn ở lại làm, thì đây là quyết định của họ. Trường hợp khác, khi công nhân bị bệnh gây nguy hiểm (gefähdern) cho đồng nghiệp (Kollege) hoặc không thể giải quyết (ausführen) được công việc (Arbeit) một cách ghiêm túc(ordentlich). Ông Meier đơn cử (nennen) ví dụ (Beispiel): „Một tài xế xe vận tải (Kraftfahrer) bị chóng mặt (schwinderlig sein), dĩ nhiên không thể lái (fahren) xe vận tải được.“ Và ai đó có ngón tay bị băng bột (eingegipste Finger) thì không cách gì sử dụng được máy vi tính (Computer). Cho nên chủ nhân có thể yêu cầu (fordern) họ đi về nhà.

Tôi có phải thông báo (informieren) chủ nhân về căn bệnh (Krankheit) của tôi hay không?
Không – chỉ (trừ) những trường hợp ngoại lệ (Ausnahmfall). „Chỉ khi nào căn bệnh có ảnh hưởng (Auswirkung) đến chỗ làm (Arbeitsplatz), thì phải thông báo cho chủ nhân biết“, theo ông Meier. Chẳng hạn, công nhân mắc bệnh truyền nhiễm (anstekckende Krankheit) và như vậy có thể lây lan (infizieren) đến đồng nghiệp. Nhưng điều này cũng phải để kiểm tra (testen). Tương tự như vậy, khi công nhân này làm việc ở khâu sản xuất (Produktion) thực phẩm (Lebensmittel), cho nên có thể gây ra sự ô nhiễm (Verunreinigung) vì căn bệnh công nhân này.

Tin dpa, hình Andrea Warnecke

Thứ ba ngày 13.12.2016
Nước Đức muốn triển hạn việc kiểm soát biên giới.

Theo những tin truyền thông (Medienberichte), nước Đức muốn triển hạn (verlängern) việc kiểm soát biên giới (Grenzkontrolle). Việc này có thể được duy trì (aufrecht erhalten) đến sau kỳ bầu cử quốc hội Đức (Bundestagswahl) trong mùa Thu (Herbst) năm 2017, tờ „Thế Giới Ngày Chủ Nhật“ (Welt am Sonntag) tường thuật (berichten).Chính quyền Đức đã đưa nguyện vọng (Anliegen) của họ để thảo luận (zur Sprache) trên bình diện Âu Châu (europäische Ebene) và hăm dọa (drohen) rằng, biện pháp (Maßnahme) này sẽ vẫn được tiếp tục (fortsetzen) thực hiện trong trường hợp khẩn cấp (notfalls) không cần sự đồng thuận (ohne Einverständnis) của các quốc gia thành viên (Mitgliedsstaaten). Việc kiểm soát (Kontrolle) ở biên giới tiểu bang Bayern và Áo đã được thực hiện (einführen) bởi (wegen) làn sóng tràn ngập (starker Zustrom) người tỵ nạn (Flüchtlinge) trong năm ngoái.

Theo một bài tường thuật (Bericht) của tạp chí thông tin chính trị „Tấm Gương“ (Spiegel), thì chính quyền Đức đã trình bày (vortragen) nguyện vọng (Wunsch) của họ trong một phiên họp (Sitzung) các Đại Sứ (Botschafter) của EU. Ủy Ban (Kommission) EU đã có phản ứng (reagieren) về hành vi (Verhalten) khởi xướng (Vorstoß) trên. Trong phiên họp các Đại Sứ (Botschaftersitzung), vị đại diện ủy ban EU (Kommissionsvertreter) đã khuyến cáo (mahnen) rằng, nước Đức phải giải thích (erklären) chính xác hơn (genauer) về mối nguy cơ khủng bố có thể xảy ra (angebliche Terrorgefahr) như là sự biện giải (Begründung) cho việc kiểm soát biên giới. Theo (laut) „Spiegel“, Berlin đã biện giải (begründen) cho việc khởi xướng rằng, „chức năng thanh lọc (Filterfunktion) ở ngoại biên (Außengrenze)“ của EU không có. Ngoài ra (außerdem), chính quyền Đức còn có (vorliegen) dấu hiệu (Hinweise) cho thấy rằng, quân khủng bố (Terroristen) có hiện diện (sich befinden) trong số người tỵ nạn. Điều này được ghi vào trong biên bản (Protokoll) phiên họp các Đại Sứ.

Tin dpa, hình tư liệu của Mathias Balk.

Thứ hai ngày 12.12.2016
Có thể chưa nên đi làm trong khóa học đầu.

Việc làm phụ (Nebenjob) đối với nhiều sinh viên (Studierende) là một nguồn tài chánh quan trọng (wichtige Finazierungsquelle). Chính (gerade) lúc bắt đầu (Start) cuộc đời sinh viên đòi hỏi (fordern) sự tập trung (Konzentration) rất cao (hoch), cho nên tốt hơn hết (lieber) họ nên đắn đo suy nghĩ (überlegen) về việc chi tiêu (Ausgabe) của mình.
Lý tưởng (idealerweise) là sinh viên (Student) nên từ bỏ (verzichten) việc đi làm kiếm tiền trong khóa học đầu (erstes Semester). Nếu vấn đề tài chánh không thể khác hơn được (gar nichts anders gehen), thì có thể (möglichst) đi làm tối đa (maximum) năm (fünf) giờ (Stunde) mỗi tuần (pro Woche).
Để không sao lảng (vernachlässigen) việc học (Studium), trên nguyên tắc (in der Regel) sinh viên không nên đi làm nhiều giờ trong khóa học đầu (Erstsemester), theo ông Stefan Grob thuộc Tổ Chức Giúp Đở Sinh Viên Đức (Deutsches Studentenwerk). Thay vì (statt) đi làm (arbeiten), tốt hơn (besser) nên giảm (senken) sự chi tiêu. Hầu giảm (reduzieren) chi phí (Kosten) cho việc ăn uống (Essen), sinh viên nên thường (öfter) đến căn-tin sinh viên (Mensa) ăn. Để giảm (minimieren) tiền mướn phòng (Wohnung), sinh viên có thể xin (bewerben) dọn vào (einziehen) cư xá sinh viên (Studentenwohnheim) ở.
Nếu sinh viên thật sự (wirklich) cần phải đi làm thêm, thì họ nên lưu ý (beachten) rằng, công việc nên gần gủi việc học (studiennah), ví dụ (beispielsweise) thay vì (statt) chạy bàn (kellnern) thì việc làm có ý nghĩa hơn (sinnvoller) là làm (machen) một công việc phụ (Hilfsjob) trong đại học (Universität), ông Grob giải thích (erklären). Như vậy, công việc (Job) ít ra (zumindest) cũng còn có chút gì liên hệ đến việc học.
Theo kết quả một cuộc thăm dò ý kiến tiêu biểu (präsentative Befragung) của tổ chức sinh viên trên, có 61 phần trăm sinh viên đi làm (erwerbstätig). Đối với nhiều sinh viên thì công việc làm thêm ngoài (neben) số tiền cung cấp của cha mẹ là một cột trụ lớn thứ hai (zweite große Säule) cho việc tài trợ sự học (Studienfinanzierung).

Tin dap, hình Axel Heimken.

Chủ nhật ngày 11.12.2016
Đảng CDU tranh cải về đề tài vận động bầu cử với thông hành đôi.

Quyết định đại hội đảng (Parteitagsbeschluss) ghi rằng: Hủy bỏ (abschaffen) quốc tịch đôi (doppelte Staatsbürgerschaft). Nhưng đảng CDU, sau đại hội đảng đã bắt đầu (anfangen) tranh cải (streiten) trong nội bộ về quyết định gây tranh luận (umstrittenne Entscheidung) này. Liệu nó có phải là một đề tài tranh cử (Wahlkampfthema) nóng bỏng mang thắng lợi cho đảng CDU hay không? Điều này đã làm cho nhiều đảng viên CDU (Parteimitglied) giờ đây thêm nghi ngờ(Zweifel).

Bà Angela Merkel, đảng trưởng (Parteivorsitzende) CDU kiêm Thủ Tướng Đức (Bundeskanzlerin) đã giải thích (erklären) ngay tức khắc (umgehend) rằng, bà đánh giá quyết định (Beschluss) này là sai lầm (falsch). Trong nhiệm kỳ còn tiếp diễn (laufende Legislaturperiode), quốc tịch đôi vẫn có hiệu lực thi hành (geltende Praxis) và cấp (erteilen) cho những trẻ em (geborene Kinder) con của người di dân nhập cư (Zuwandere) sinh tại Đức – ngoài quốc tịch Đức chúng còn mang quốc tịch của cha mẹ (Eltern). Bà không muốn mang đề tài thông hành đôi vào cuộc tranh cử sắp đến, bà Merkel nói.

Tin dpa, hình Daniel Bockwoldt.

Thứ bảy ngày 10.12.2016
Muốn có một chỗ học ngành Y.

Ai muốn học (studieren) ngành y khoa (Medizin) sau khi đậu tú tài (Abitur) tại Đức cần phải có điểm thật tốt (sehr gute Noten). Việc tuyển sinh (Numerus clausus) lần cuối với số điểm tú tài giữa (zwischen) 1,0 và 1,1. Nếu học sinh nào tính toán (strategisch denken) và gom góp (sammeln) điểm thưởng (Bonuspunkte) thì cuối cùng sẽ có điểm tú tài thấp (schlechtere Abiturnote). Thông thường rất khó khăn (sehr hart). Bác sĩ (Artz) đối với nhiều người là một nghề lý tưởng (Traumberuf). Nhìn về con số xin học (Studienbewerber) ngành (Fach) y trong khóa mùa đông (Wintersemester) 2016/2017, trên toàn nước Đức (bundesweit) có 9150 chỗ học (Studienplatz), nhưng có đến 43.827 người nộp đơn – tỷ lệ (Verhältnis) 1:5 (eins zu fünf).

Điều kiện tuyển sinh của ngành y lần cuối là giữa (zwischen) 1,0 và 1,1. Nhưng nếu ai có điểm yếu (schlechte Note), cũng có thể đạt được mục tiêu (Ziel) này. Việc nộp đơn (Bewerbung) sẽ thông qua một tổ chức cứu xét cho nhập học cao học (Hochschulzulassung). Có ba chỉ số (Quote) đáng kể (maßgeblich) là: 20 phần trăm chỗ cho các ứng viên (Bewerber) có điểm tú tài tốt nhất (beste Abitrnote), 20 phần trăm cho những người đợi lâu nhất (längste Wartezeit) và 60 phần trăm phân phối theo cách chọn lựa (Auswahlverfahren) của cao học. „Tôi sẽ tham gia (mitmachen) bằng mọi cách (auf jeden Fall) cả ba chỉ số trên, vì (denn) ứng viên không có gì (nichts) bị thua thiệt cả (verlieren)“, bà Kerstin Lütge-Varney của tổ chức trên.

Ai muốn có chỗ học (Studienplatz) trong khóa mùa đông 2016/17 cần phải có điểm rất tốt (sehr gute Note). Các học sinh có tú tài (Abiturient) được xếp theo (odrnen) tiểu bang (Bundesland). Ai đến từ Berlin hoặc Hamburg, cần (brauchen) ít nhất (mindestens) điểm 1,0; trong tiểu bang Niedersachsen điểm 1,1.
20 phần trăm chỗ dành cho (vergeben) danh sách chờ đợi (Warteliste) đối với nhiều học sinh có tú tài cũng chưa hẳn là thuận lợi. Khóa mùa đông 2016/17 dành cho những ai chứng minh (vorweisen) rằng họ đã có thời gian chờ đợi (Wartezeit) ít nhất (mindestens) 14 khóa học (Semester), nghĩa là 7 năm (!).
Đối với hầu hết các ứng viên có cơ hội (Chance) ở 60 phần trăm chỗ do cách chọn lựa của các đại học dành cho, theo bà Lütge-Varney. Một vài cao học tặng điểm thưởng (Bonus) tính vào điểm tú tài (Abinote), khi hội đủ (erfüllen) một số tiêu chí (Kriterien) sau:

Trắc nghiệm y khoa (Medizinertest): Các ứng viên có thể cải thiện (verbessern) điểm của họ ở 23 cao học, khi họ đậu (bestehen) trắc nghiệm y khoa TMS. Nó diễn ra (stattfinden) một lần (enmal) trong năm tại 50 địa điểm (Ort) trong nước Đức, thời gian kéo dài (dauern) từ 10:00 đến 17:00 giờ và phí tổn (kosten) 73 Euro. Điểm thưởng bao nhiêu sau khi thi đậu do từng cao học tự (selbst) xác định (bestimmen). Ví dụ (Beispiel): Cao học Erlangen-Nürnberg thưởng cho 10 phần trăm giỏi nhất trong kỳ trắc nghiệm điểm thưởng 0,8 tính vào điểm tú tài – từ 2,0 thành 1,2. Trắc nghiệm y khoa chỉ được làm một lần.

Để chuẩn bị cho kỳ trắc nghiệm, các ứng viên phải dự tính (einplanen) từ 30 đến 40 tiếng (Stunde) cho việc chuẩn bị (Vorbereitung), theo ông Alexander Zimmerhofer thuộc công ty (Firma) ITB Consulting đã phát minh (entwickeln) và cung cấp (anbieten) trắc nghiệm này. Các ứng viên sẽ không được hỏi về kiến thức (Wissenfrage), mà là những bài tập (Aufgabe) đo lường (messen) khả năng học (Studierfähigkeit) của một người (Person). Các đại học (Universität) tại Hamburg và Berlin tự làm trắc nghiệm y khoa riêng với Ham-Nat.

Đào tạo nghề (Berufsausbildung): Các ứng viên có thể nhận (bekommen) được một điểm thưởng, nếu đã kết thúc (abgeschlossen) học đào tạo nghề. Ví dụ, đại học Freiburg tặng điểm thưởng tối đa (maximal) 0,5 tính vào điểm tú tài.

Phỏng vấn chọn (Auswahlgespräch): Một vài cao học cho (geben) ứng viên một cơ hội (Gelegenheit) có điểm thêm qua một cuộc phỏng vấn. Một vài cao học đặt điều kiện (Bedingung) rằng chỉ mời (einladen) một ứng viên, khi họ đặt (setzen) cao học này đứng đầu (Rang eins) danh sách mong muốn (Wunschliste) học lúc nộp đơn xin học.

Từng điểm (Einzelnote) / tranh tài (Wettbewerbe) / dịch vụ tự nguyện (Freiwilligendienst): Bốn cao học tại Dresden, Jena, Rostock và Greifswald tặng điểm thưởng, khi ứng viên có từng điểm rất cao (sehr gute Einzelnote) trong một số môn học nào đó (bestimmte Fächer). Vì dụ đại học Rostock: Ở đó (dort), điểm các môn Toán (Mathe), Đức Ngữ (Deutsch), Sinh Học (Bio), Vật Lý (Physik) và Hóa Học (Chemie) đặc biệt (besonders) quan trọng (wichtig). Ngược lại (wiederum), có trường tặng điểm thưởng 0,2, khi ứng viên đã thắng (gewinnen) cuộc tranh tài Thanh Thiếu Niên Nghiên Cứu (Jugend forscht). Một điểm thưởng cũng thường (häufig) dành cho Năm Xã Hội Tự Nguyện (Freiwilliges Soziales Jahr) hoặc (oder) Dịch Vụ Tự Nguyện Liên Bang (Bundesfreiwilligendienst).

Tin dpa, hình Waltraud Grunitzsch.

Thứ tư ngày 07.11.2016
Bà Merkel phải dè dặt nhiều hơn trong cuộc bầu cử quốc hội Đức sắp tới.

tdq-20161208Bà Thủ Tướng (Kanzlerin) yêu cầu (bitten) đảng CDU của bà khẩn cấp (eindringlich) giúp đở (Hilfe) cho năm bầu cử khó khăn (schwierigs Wahljahr) 2017. Nhưng một số đại biểu (etliche Delegierte) đã gây khó khăn cho bà; cho nên bà cần dè dặt nhiều hơn đối với đảng của mình trong cuộc vận động bầu cử quốc hội Đức (Bundestagswahlkampf) năm 2017. Trong cuộc bầu cử mới của đại hội đảng (Parteitag) CDU diễn ra hôm thứ ba (Dienstag) tại Essen, bà đảng trưởng (Parteichefin) chỉ nhận (erhalten) được 89,5 phần trăm phiếu bầu (Stimme): 845 phiếu thuận (Ja-Stimmen), 99 đại biểu bỏ phiếu (votieren) chống (Nein).
Đây là kết quả xấu nhất (schlechtestes Ergebnis) của bà suốt (während) nhiệm kỳ làm Thủ Tướng (Kanzlerschaft) và là kết quả lần thứ hai tệ nhất, năm 2004 bà có 88,4 phần trăm. Bà Merkel nói: „Quý đại biểu thân mến, tôi chấp nhận kết quả cuộc bầu cử và rất vui mừng với kết quả này. Thành thật cám ơn sự tin tưởng.“

Kết quả này có thể cho rằng đây là một kết quả về chính sách tỵ nạn (Flüchtlingspolitik) của bà Merkel và sự thất bại của đảng CDU trong nhiều cuộc bầu cử quốc hội tiểu bang (Landtagswahl) bởi sự lớn mạnh (Stärkung) của đảng AfD.
Ông Seehofer, đảng trưởng CSU, đã không được mời (einladen) tham dự. Đảng huynh đệ (Schwesterpartei) này cử đại diện (vertreten) họp với đảng CDU tại Essen là ông Andreas Scheuer, Tổng Thư Ký (Generalsekretär) và bà Gerda Hasselfeldt, Chủ Tịch Nhóm Đảng Tiểu Bang (Landegruppenchefin) CSU. Ông Scheuer nói rằng, đảng CDU đã nắm bắt (ergreifen) được một cơ hội cực lớn (Riesenchance) trong việc thắt chặt (Verschärfung) đường lối tỵ nạn (Asylkurs).
Tin dpa, hình Michael Kappeler.

Thứ ba ngày 06.11.2016
Nhiều người không có nhà tại Đức.

tdq-20161206Hàng trăm ngàn (hunderttausend) người trong nước Đức không có một mái nhà cố định (festes Dach über dem Kopf), không có nhà ở (Wohnung) hoặc không có một hợp đồng mướn nhà (Mietvertrag), khuynh hướng (Tendenz) ngày càng tăng (steigend). Chính phủ (Regierung) thì cho rằng, vấn đề không phải là thiếu phòng ở (fehlender Wohnraum). Số người không có nhà (Wohnungslose) trong năm qua đã gia tăng (ansteigen) rõ rệt (deutlich). Trong năm 2010 có 248.000 người, năm ngoái (Vorjahr) đã lên đến con số 335.000, theo sự trả lời (Antwort) câu chất vấn (Anfrage) chính phủ Đức (Bundesregierung) của đảng khối Tả khuynh (Linke) trong quốc hội và thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) có được (vorliegen).
Con số trên liên quan đến 29.000 trẻ em (Kinder) và 306.000 người lớn (Erwachsene), trong số này đa phần (Großteil) là nam giới (Männer). Thành phần gọi là vô gia cư là những người sống trên đường phố (auf der Straße leben), hoặc được đưa đến sống (unterbringen) trong các trại (Unterkunft) hay nhà (Heim) tạm trú hoặc sống nơi thân quyến (Verwandte).
„Tình trạng vô gia cư (Wohnungslosigkeit) không thể viện dẫn (begründen) rằng thiếu phòng ở, mà (sondern) trên nguyên tắc (in der Regel) xuất phát từ những nguyên do xã hội và tâm lý xã hội (soziale und psycho-soziale Ursache) khác“, chính phủ trả lời. Cho nên, sự giúp đở có mục đích (gezielte Hilfe) rất cần thiết (nötig), bởi vấn đề gia đình (familiäre Proleme), nghiện ngập (Sucht) hoặc bệnh hoạn (Krankheit) cũng đóng một vai trò không kém. Chính phủ không dự tính (planen) làm một thống kê (Statistik) về người vô gia cư.
Đói nghèo (Armut) ngày càng (zunehmend) lan tràn (ausbreiten) trong nước Đức. „Tình trạng vô gia cư phải phấn đấu giải quyết.“ Cho nên, chính phủ Đức cần phải thiết lập một thống kê những người không có nhà cửa này.

Tin dpa, hình Jan-Philipp Strobel.

Thứ hai ngày 05.11.2016
Lương tối thiểu cao hơn kể từ năm 2017: Thời gian làm việc thích ứng công việc ít giờ.

tdq-20161205Lương tối thiểu (Mindestlohn) sắp tới sẽ tăng (steigen) 34 Cent. Mức thu nhập (Einkommens-Obergrenze) ở công việc ít giờ (Minijob) là 450 Euro. Ai không muốn vượt qua (überschreiten) mức này, thì phải giảm (kürzen) giờ làm việc (Arbeitszeit) tương ứng (entsprechend). Lương tối thiểu luật định (gesetzlich) tăng; những ai làm (beschäftigen) các việc như giữ trẻ (Babysitter) hoặc lau chùi (Ptuzfrau) trên cơ sở lương tối thiểu (Minijob-Basis) cần phải để ý (beachten).
Kể từ ngày 01 tháng giêng (Januar) 2017, lương tối thiểu hiện nay (derzeit) là 8,50 Euro sẽ được nâng lên (anheben) thành 8,84 Euro mỗi giờ (pro Stunde). Điều này được Hiệp Hội Tư Vấn Thuế (Steuerberaterverband) Berlin-Brandenburg lưu ý (aufmerksam machen).
Qua việc tăng lương này, trong tương lai (künftig) mỗi tháng có hai giờ làm việc ít hơn (weniger) để đạt mức 450 Euro. Vì vậy cho nên, giờ làm việc mỗi tháng cần phải xét lại (überprüfen) và tùy trường hợp cần phải thích nghi (anpassen).

Tin dpa, hình Arno Burgi.

Chủ nhật ngày 04.12.2016
Hỗ trợ phương án trục xuất của ông Strobl.

tdq-20161204Một đề tài quan trọng (wichtiges Thema) cho đại hội đảng (Parteitag) CDU sắp đến là chính sách tỵ nạn (Asylpolitik). Ông Strobl, phó chủ tịch đảng (Parteivize) đã đệ trình (vorlegen) một phương án (Konzept) thực hiện trục xuất gắt gao (scharfe Abschiebepraxis). Ông nhận được (bekommen) sự chống lưng (Rückendeckung) từ cấp cao của đảng (Parteispitze). Ông Peter Tauber, Tổng Thư Ký (Generalsekretär) nói với tờ „Welt“ (Thế Giới) rằng: Chúng tôi vẫn (weiterhin) muốn một đất nước (Land) mà ở đó người truy nả (Verfolgte) có được sự ẩn náu (Zuflucht). Nhưng, chỉ (nur) có những ai thật sự (wirklich) bị truy nã (verfolgen) mà thôi.“

Phương án của vị Bộ Trưởng Nội Vụ (Innenminister) tiểu bang Baden-Württemberg là một trong nhiều đơn đề nghị (Antrag) cho đại hội đảng CDU sẽ được tổ chức vào ngày thứ ba (Dienstag) tuần tới tại Essen. Như vậy, việc giam trục xuất (Abschiebehaft) sẽ được nới rộng (ausweiten), trợ cấp xã hội (Sozialleistung) của những người xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte Asylbewerber) sẽ bị cắt giảm (abkürzen) và một trung tâm trục xuất (Rückführungszentrum) sẽ được thiết lập (einrichten) tại Ai-Cập (Ägypten).

Ông Tauber tán đồng (sich anschließen) những yêu cầu (Forderung) đã được ông Thomas de Maizìere (CDU), Bộ Trưởng Nội Vụ Đức (Bundesinnenminister): Những người A-Phú-Hãn xin tỵ nạn bị bác đơn (abgelehnte afghanissche Asylbewerber) phải bị trục xuất (abschieben), bởi vì theo ông „trong nước Afghanistan còn có nhiều khu vực (Region) người ta có thể sống an toàn (sicher leben). Những người không được hưởng quyền tỵ nạn (keinen Anspruch auf Asyl haben) sau thủ tục pháp lý (rechtsstaatliches Verfahren), thì bị đưa trở lại (zurückführen) chỗ ấy (dorthin), ông cho rằng điều này hợp pháp (legitim).

Trường hợp bệnh hoạn (Krankheit) cũng thế, theo vị Tổng Thư Ký đảng CDU, thì trong tương lai (künftig) cũng không phải là lý do bảo vệ (schützen) cho việc trục xuất. „Ai đó (jemand) bị bệnh trầm trọng đe dọa đến tính mạng (lebensbedrohliche krank sein), dĩ nhiên (selbstverständlich) sẽ không bị trục xuất. Nhưng vẫn có những vụ lạm dụng (Missbrauch) bằng giấy ốm (Krankenschreibung), và ở điều này ông Thomas Strohl đã dẫn chứng (hinweisen) có lý (zu Recht). Về vấn đề này, dĩ nhiên (natürlich) chúng ta cần phải nói chuyện (reden) với nhau.“
Việc xác định (Festlegung) độ cao (Obergrenze) số người tỵ nạn, thì trước sau (wie zuvor) vẫn được ông Horst Seehofer, đảng trưởng CSU, đặt ra như là điều kiện của sự liên minh (Koalitionsbedingung). „Đảng CSU chỉ có thể tham gia cộng tác (zusammenarbeiten) một chính phủ Đức (Bundesregierung), khi sự giới hạn (Begrenzung) việc nhập cư (Zuwanderung) được ghi cụ thể (festschreiben) trong hợp đồng liên minh (Koalitionsvertrag)“, ông nói. „Độ cao con số người tỵ nạn nhận vào nước Đức phải là một thành phần (Teil) của đạo luật giới hạn nhập cư (Einwanderungsgesetz).“

Tin dpa, hình tư liệu của Gino Mirgeler.

Thứ bảy ngày 03.12.2016
Trước tiên có chừng 4.400 người tỵ nạn làm công việc 1 Euro.

tdq-20161203Chương trình (Programm) công việc 1 Euro (Ein-Euro-Job) cho người tỵ nạn (Flüchtlinge) vẫn còn (weiterhin) chậm chạp (schleppend). Đây là những con số (Zahlen) của Cục Lao Động Đức (Bundesamt für Arbeit) được tờ „Passauer Neuen Presse“ biết đến (vorliegen).
Theo đó, tính đến ngày 25 tháng mười một (November) chỉ (lediglich) có 4.392 người tỵ nạn đã bắt đầu (beginnen) nhận công việc (Job) như vậy.
Một chương trình tương tự đã bắt đầu (starten) từ ngày 01 tháng tám (August) của bà Andrea Mahles (SPD), Bộ Trường Bộ Lao Động Đức (Bundearbeitsministerin) dự tính (vorsehen) tổng cộng (insgesamt) có 100.000 công việc 1 Euro cho người tỵ nạn.
Kề từ (seit) tháng tám đã có 12.192 chỗ làm (Arbeitsplatz) đệ đơn (beantragen) nhận người làm việc nhưng đến giờ (inszwischen)chỉ có 6.459 chỗ được chấp thuận (bewilligen), theo bảng tường trình (Bericht). Khi đạo luật Hòa Nhập (Integrationsgesetz) được thực hiện (einführen) thì chương trình này dự tính dành cho người tỵ nạn có viễn ảnh tốt sẽ được ở lại (guter Bleibeperspektive) nhưng đang còn (noch) chờ (warten) quyết định (Bescheid) của Cục Liên Bang về Di Dân và Tỵ Nạn (Bundesamt für Migration und Flüchtlinge, viết tắt là BAMF).
Theo quan điểm (Sicht) của Cục Lao Động Đức, thì đây là chuyện bình thường (normal), bởi các chương trình như vậy cần một thời gian nào đó mới tiến triển tốt đẹp  (gewisse Anlaufzeit). „Kể từ tháng mười (Oktober) con số này tăng (steigen) rõ rệt (deutlich). Đây là điều rất phấn khởi (sehr erfreunlich), theo một phát ngôn viên (Sprecher) của cơ quan này tại Nürnberg nói với tờ báo ấy (Zeitung). Khoảng 42 phần trăm người tỵ nạn làm công việc 1 Euro, theo báo cáo, là những việc làm của các tổ chức, cơ quan nhà nước (stattlich), địa phương (kommunal) hoặc từ thiện (gemeinnützig).

Tin dpa, hình Karl-Josef Hildenbrand

Thứ năm ngày 01.12.2016
Quốc Hội Đức quyết định thông qua việc cải cách về người khuyết tật và đạo luật điều dưỡng.

tdq-20161201

Quốc Hội Đức (Bundestag) quyết định thông qua (beschließen) việc sửa đổi lớn về pháp lý (große Rechtsänderung) đối với người khuyết tật (Behinderten) cũng như (sowie) đạo luật về điều dưỡng (Pflegegesetz). Qua đó, quyền lợi (Rechte) của người khuyết tật sẽ được cải thiện (verbessern) rộng rãi (umfangreich).

Ngoài ra, người khuyết tật có thể giữ (behalten) sự thu nhập (Einkommen) của họ nhiều hơn (mehr) mà không bị tính vào (anrechnen) việc liệt kê hỗ trợ (Eingliederungshilfe). Ở sựviệc điều dưỡng (Pflege), dự tính (planen) sẽ có sự tư vấn tốt hơn (bessere Beratung) cho họ và thân nhân (Angehörige). Như vậy, với đạo luật (Gessetz) này, ông Hermann Gröhe (CDU), Bộ Trưởng Y Tế (Gesundheitsminister) Đức muốn rằng sự cung cấp khác nhau (unterschiedliche Angebote) của địa phương (Kommune) sẽ được tốt đẹp hơn cho việc tư vấn về sự điều dưỡng (Pflegeberatung).

Tin dpa, hình Kay Nietfeld.

2925 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay