» » Tin Vắn Đức Quốc tháng 11.2016

Tin Vắn Đức Quốc tháng 11.2016

Thứ ba ngày 29.11.2016
tdq-20161129

Hầu như (fast) một trong ba người bị tình trạng thất nghiệp (Arbeitslosigkeitslage) ảnh hưởng (betreffen): Tiền (Geld) chi hàng ngày (alltägliche Ausgaben) trở nên quá thiếu hụt. Chẳng hạn (etwa) trả tiền mướn nhà (Miete), lò sưởi (heizen), đi nghỉ hè ngắn hạn (kurzer Urlaub) trong năm hoặc mua một thiết bị (Gerät) như máy truyền hình (Fernseher) hoặc điện thoại (Telefon). Hầu như một trong ba người thất nghiệp (Arbeitslose) tại Đức không thể tự trang trải (sich leisten) được nhiều nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày (tägliches Leben). Trong năm qua, có 30,1 phần trăm người không có việc làm (Erwerbslose) bị thiệt thòi vật chất đáng kể (erhebliche materielle Entbehrung), theo một thống kê (Statistik) thông tấn xã Đức (Deutsche Presse-Agentur, viết tắt là dpa) có (vorliegen).

Các con số chính thức (offizielle Zahlen) cho thấy (zeigen) năm 2008 chỉ có 26 phần trăm người thất nghiệp bị ảnh hưởng. Kề từ năm 2012, con số này hơn 30 phần trăm. Những con số này trích từ sự thăm hỏi (Befragung) với tiêu đề „Cuộc Sống trong Âu Châu“ của Cục Thống Kê Liên Bang (Statistisches Bundesamt). Các cơ quan công quyền (behörde) đã thiết lập (zusammenstellen) bởi câu hỏi (Anfrage) của đảng Tả khuynh (Linke) trong quốc hội (Bundestag).
Hiện nay quốc hội đang tư vấn (Beratung) xác định lại (Neufestlegung) mức trợ cấp tiền thất nghiệp loại hai, tương đương trợ cấp xã hội (Sozialhilfe), Hartz-IV cho năm 2017 phải tăng thêm, theo bà Bộ Trưởng Xã Hội (Sozialministerin), Andrea Nahles (SPD) – dự tính là 560 Euro mỗi tháng.

Tin dpa, hình tự liệu của Uwe Zucchi.

Thứ năm ngày 17.11.2016
Sử dụng điện thoại di động trong giờ làm việc – có được phép hay không?

tdq-20161117Thỉnh thoảng (zwischendurch) xem SMS và điện thư (E-Mail), một cú điện thoại tư (privates Telefongespräch) hoặc chơi game: Công nhân (Beschäftigte) có được phép (dürfen) sử dụng (nutzen) điện thoại cầm tay (Handy) của họ lúc (während) làm việc (arbeiten) hay không? Và được sử dụng (verwenden) cho việc gì (wofür)? Đôi khi (hin und wieder) đưa mắt nhìn vào Smartphone: Rất nhiều nguời lúc làm việc đã từng (schon) làm việc này. Nhưng (doch) công nhân cũng cần phải biết (wissen) rằng: „Việc sử dụng Smartphone cho chuyện riêng tư trong thời gian làm việc (Arbeitszeit) trên nguyên tắc (grundsätzlich) luôn (immer) bị cấm (verbieten)“, theo bà Nathalie Oberthür, nữ luật sư chuyên ngành (Fachanwältin) về luật lao động (Arbeitsrecht) tại Köln. Bởi vì (denn) giờ làm việc là giờ làm việc và người công nhân được chủ (Arbeitgeber) trả lương (bezahlen) cho giờ làm việc. Trước khi (bevor) vói tay lấy (greifen) cái Handy, một nhân viên (Mitarbeiter) cũng phải cần phải hỏi chủ nhân: Được phép (erlauben) dùng Smartphone trong xí nghiệp (Betrieb) này trong trường hợp nào? Đã có một sự hướng dẫn rõ ràng (klare (Weisung) của chủ hay không?

Nếu chủ cấm cụ thể (ausdrücklich) không được phép dùng Handy tư trong giờ làm việc và khi một nhân viên nào đó vi phạm (verstoßen) thì có thể bị cảnh cáo (abmahnen) ngay lúc vi phạm đầu tiên. Nhưng thông thường (häufig) không có một chỉ thị rõ ràng nào trong xí nghiệp về vụ việc này. Trong trường hợp này, để lần đầu vi phạm không gặp khó khăn với chủ, nhân viên có thể nói rằng họ sử dụng Smartphone theo cái gọi là „như dạng xã hội“ (sozialadäquat) trong giờ làm việc.

Được xem là „sozialadäquat“ ví dụ như xem lướt qua (kurz) SMS hoặc E-Mail. Nhưng ở đây phải rõ rằng: „Nếu việc này quá độ (exzessiv) và kéo dài hàng giờ (stundenlang) thì ngay lần đầu vi phạm cũng là lý do chính đáng (rechtfertigen) bị sa thải (Kündigung) mà không cần phải cảnh cáo trước (vorherige Abmahnung)“, bà Oberthür giải thích (erklären), bà cũng là thành viên (Mitglied) Ủy Ban Quản Đốc (Geschäftsführender Ausschuss) của Tổ Luật Lao Động (Arbeitsgemeinschaft für Arbeitsrecht) thuộc Hiệp Hội Luật Sư Đức (Deutscher Anwaltsverein). Việc sử dụng điện thoại cầm tay (Handynutzung) ở chỗ làm đã đóng một vai trò (Rolle) rất quan trọng trong vụ xử (Prozess) liên quan đến tai nạn tàu hỏa (Zugunglück) tại Bad Aibling thuộc tiểu bang Bayern làm cho 12 người thiệt mạng (ums Leben kommen). Bị cáo (Angeklagte) là nhân viên điều hành tuyến đường (Fahrdienstleiter) bị tố cáo (vorwerfen) rằng, ngay trong lúc hai đoàn tàu đụng nhau (Zusammenstoß) trong tháng hai (Februar) 2016 thì y mãi chú tâm bấm trò chơi trong Handy của mình.

Tin dpa, hình Sebastian Kahnert.

Thứ tư ngày 16.11.2016
Nhiều người tỵ nạn có trình độ tốt hơn không như dự tính.

tdq-20161116Giữa tháng chín (September) 2015 và tháng chín 2016 có khoảng 50.000 người tỵ nạn (Flüchtlinge) đã đi làm, trong số này thậm chí (sogar) có khoảng 30.000 người làm việc (Beschäftige) đã đóng bảo hiểm xã hội (soazialversicherungspflichtig). Theo ông Frank-Jürgen Weise, giám đốc (Leiter) Cục Tỵ Nạn và Di Dân (Bundesamt für Flüchtlinge und Migration, viết tắt là BAMF) đã được đào tạo tốt (besser ausgebildet) như là chuyên viên (Fachleute) không như dự đoán (gedacht) đến nay (bisher). Khả quan hơn (positiver) là dự đoán về hành vi (Haltung) của những người được thu nhận (aufnehmen) đến từ Syrien, Irak, Afghanistan và những người tìm (Schutzsuchende) Dân Chủ (Demokratie) và phụ nữ (Frauen) khác, ông Weise đã tường trình (berichten) trong một buổi tồ chức (Veranstaltung) của đảng CSU tại Erlangen.

Vị giám đốc BAMF đồng thời điều hành Cục Lao Động Đức (Bundesagentur für Arbeit, viết tắt là BA) căn cứ vào một công trình khảo sát rộng rãi (umfassende Studie) của Viện Nghiên Cứu Thị Trường Lao Động và Nghề Nghiệp (Institut für Arbeitsmarkt- und Berufsforschung, viết tắt là IAB). Các nhà nghiên cứu (Forscher) tại Nürnberg đã giới thiệu kết quả (Ergebnis) sự khảo sát trên hôm thứ tư (Mittwoch) ngày 16 tháng mười một (November) tại Berlin. Công trình khảo sát đặt trọng tâm (Schwerpunkt) đến cơ hội lao động trong tương lai (künftige Beschäftigungschance) của người tỵ nạn.

Đồng thời (zugleich) vị giám đốc BAMF cũng đã khuyến cáo (warnen) phản ứng (reagieren) về tình trạng (Lage) bớt căng thẳng (Entspannung) về việc giảm nhân viên (Personalabbau) của Cục này do ông điều hành đến cuối năm nay (Jahresende). Ngược lại, số lượng nhân viên (Personalbestand) của BAMF hiện nay (derzeit) là 6.300 chỗ (Stelle) trước tiên vẫn còn phải được duy trì (beibehalten) cho thời gian tới (nächste Zeit) “hầu chúng tôi có thể yên tâm (in Ruhe) làm việc (Arbeit machen) và có thể cứu xét (überprüfen) mọi thủ tục (Verfahren)”. Bởi vì (da) còn nhiều người tỵ nạn chỉ được hưởng (gewähren) chế độ bảo vệ (Schutzstatus), cho nên phải cần (brauchen) đủ (ausreichend) nhân viên để cứu xét thường xuyên (regelmäßig).

Tin dpa, hình tư liệu của Bernd Wüstneck.

 

Thứ ba ngày 15.11.2016
Liên hiệp Cơ Đốc ủng hộ ông Steinmeier làm Tổng Thống Đức.

tdq-20161115Chủ tịch (Vorsitzender) các đảng liên minh cầm quyền (Koalitionspartei) sau nhiều vụ dằn co dai dẳng (lange Gezerre) đã thống nhất ý kiến (einigen) vị Bộ Trưởng Ngoại Vụ Đức (beliebter Außenminister) đáng mến là ứng cử viên chung (gemeinsames Kandidat) cho nhiệm sở cao nhất nước (höchstes Staatsamt). Tuy nhiên (allerdings), trong nội bộ liên hiệp Cơ Đốc cũng có nhiều lời chỉ trích (Kritik).

Nước Đức trong thời gian khủng hoảng (Krisenzeit) sẽ có một vị Tổng Thống nhiều kinh nghiệm quốc tế (internationaler erfahrener Bundespräsident) là ông Frank-Walter Steimeier, Bộ Trưởng Ngoại Giao Đức thuộc đảng Dân Chủ Xã Hội (Sozialdemokratische Partei, viết tắt là SPD).

Bà Angele Merkel (CDU), Thủ Tướng (Kanzlerin) và ông Horst Seehofer (đảng trưởng CSU) đã chấp nhận (zustimmen) đề nghị (Vorschlag) của ông Sigmar Gabriel, chủ tịch đảng SPD, nhân vật 60 tuổi trước đây là ứng cử viên Thủ Tướng (Ex-Kanzlerkandidat) làm người kế vị (Nachfolger) ông Joachim Gauck, hiện là Tổng Thống Đức. Hôm thứ hai (Montag), bà Merkel sau nhiều tuần lễ (wochenlang) tìm ứng cử viên trong ban lãnh đạo (Präsideium) đảng CDU đã nói, theo nguồn tin (Information) của dpa, rằng: „Đây là một quyết định (Entscheidung) khả thi (Vernunft).“ Còn ông Gabriel cho rằng đây là một tín hiệu quan trọng (wichtiges Signal) trong một thời điểm thật khó khăn liên quan đến sự bảo tồn (Sicherung) nền dân chủ (Demokratie).

Bà Merkel, các ông Gabriel và Seehofer muốn giới thiệu (präsentieren) chính thức (offiziell) quần chúng (Bevölkerung) ông Steinmeier đáng quý vào ngày thứ tư (Mittwoch) tại Berlin như là một ứng cử viên chung làm người kế vị ông Gauck.

Tin dpa, hình Britta Pedersen .

Thứ hai ngày 14.11.2016
Liên minh lớn cầm quyền vẫn tiếp tục tìm Tổng Thống.

tdq-20161114Không đầy (nicht einmal) 50 phút (Minute) kéo dài (dauern) cuộc gặp gỡ (Treffen) ba lãnh tụ đảng (Parteichef). Không có sự thống nhất ý kiến (Einigung). Cho nên việc tìm kiếm (Suche) một ứng cử viên chung (gemeinsamer Kandidat) cho nhiệm sở cao nhất (höchstes Amt) của nước Đức vẫn còn tiếp tục. Phiên họp các lãnh tụ (Spitze) liên hiệp Cơ Đốc (Union) và đảng SPD để đi đến một quyết định (Entscheidung) về một ứng cử viên chung cho cuộc bầu cử Tổng Thống (Bundespräsidentenwahl) vào ngày 12 tháng hai (Februar) năm 2017 lại (erneut) bị hoãn (vertagen).

Ông Gabriel, đảng trưởng SPD, vẫn bám chặt vào (festhalten) đề nghị (Vorschlag) của mình, nghĩa là sẽ đưa ông Frank-Walter Steinmeier (SPD), bộ trưởng ngoại vụ Đức (Außenminister) là ứng cử viên làm người kế vị (Nachfolger) ông Joachim Gauck.
Còn đảng CDU thích (gern) đề cử (nominieren) ông Norbert Lammert (CDU) làm Tổng Thống Đức, nhưng nhân vật này phất tay (abwinken) không muốn. Ông Volker Bouffier (CDU), Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang Hessen đang lãnh đạo liên minh (Bündniss) đen-xanh (schwarz-grün = CDU/Grüne), có nhiểu điều kiện tốt (gute Voraussetzung) – nhưng hoàn toàn (wohl) không muốn.

Trong tháng hai năm 2012, ông Gauck được bầu (wählen) làm nguyên thủ quốc gia (Staatsoberhaupt). Nhân vật 76 tuổi này không muốn tái (wieder) ứng cử (kandidieren) bởi lý do tuổi tác (Altersgrund). Nhà thần học (Theologe) và trước đây (ehemalig) là Đặc Ủy Viên về Hồ Sơ Tình Báo (Beauftragte für die Stasi-Unterlagen) của chế độ cộng sản Đông Đức trước ngày thống nhất nước Đức đã là người kế nhiệm ông Christian Wulff, vị Tổng Thống Đức từ chức (zurücktreten). Ông Gauck là ứng cử viên chung của các đảng liên hiệp Cơ Đốc, FDP, SPD và đảng Xanh (Grüne) và đã đắc cử ngay lần bình bầu đầu tiên (erster Wahlgang) với đa số (Mehrheit) 991 phiếu bầu. Ông được đánh giá (schätzen) là một nhân vật đứng ngoài đảng phái (parteiübergreifend).

Tin dpa, hình Gregor Fischer.

Chủ nhật ngày 13.11.2016
Quốc Hội thông qua việc nghiên cứu gây nhiều tranh cãi về bệnh lãng trí.

tdq-20161112Số người bệnh lãng trí (Demenzkranker) trong nước Đức ngày càng gia tăng (zunehmen). Vì vậy cho nên nhu cầu (Bedarf) nghiên cứu chuyên sâu (intensive Forschung) về chứng bệnh (Erkrankung) này rất cần thiết. Nhưng đây chính là (gerade) một đề tài nhạy cảm (sensibles Thema) trong nước Đức. Việc nghiên cứu bệnh lãng trí trong tương lai (künftig) sẽ được dễ dàng hơn (erleichtern) bởi một số điều kiện nhất định (bestimmte Vorrausetzung). Quốc Hội Đức (Bundestag) đã thông qua (verabschieden) một quy định mới (Neuregelung) về luật dược phẩm (Arzneimittelgesetz) có liên quan đến việc thử nghiệm thuốc men (Medikamententest) gây nhiều tranh cãi (umstritten) ở những người bệnh lãng trí. Trong một cuộc bỏ phiếu (Abstimmung), có 357 trong số 542 nghị viên tham dự (teilnehmende Abgeordnete) chấp thuận (ja) và 164 phiếu chống (nein) – 21 nghị viên bỏ phiếu trắng.

Cái gọi là (sogenannte) nghiên cứu nhóm thiện nguyện (gruppennützige Forschung) ở người bệnh lãng trí tại Đức trong tương lai trên nguyên tắc (grundsätzlich) có thể được (möglich), cho dù (auch wenn) chỉ có một nhóm (Gruppe) bệnh nhân (Patient), chứ không liên quan đến lợi ích riêng của người bệnh. Việc này cho đến nay (bisher) bị cấm (verbieten) trong nước Đức. Tuy nhiên (allerdings), bệnh nhân trước đó (zuvor) phải có đầy đủ (im Vollbesitz) năng lực tâm thức (geistige Kraft) và đồng ý (einwilligen) sau khi có sự tư vấn y tế bắt buộc (verpflichtete ärztliche Beratung) được viết thành văn (schriftlich).

Việc cho phép (Zulassung) một cuộc thử nghiệm (Test) như vậy đã được Quốc Hội hôm thứ tư (Mittwoch) bỏ phiếu quyết định (abstimmen) theo phương thức gọi là riêng biệt (separat) không bắt buộc đảng khối (separat ohne Fraktionszwang). Cho nên đã có nhiều lo ngại đáng kể (erhebliche Bedenken) cho đến nay. Trong nước Đức hiện có 1,5 đến (bis) 1,6 triệu người bệnh lãng trí  – xu hướng (Tendenz) gia tăng (steigend). Cho nên việc nghiên cứu căn bệnh này rất cần thiết (sehr wichtig). Nhưng việc nghiên cứu ở những người không có khả năng (nicht fähig) chấp thuận chính là một đề tài nhạy cảm ở Đức. Hiệp Hội Các Nhà Nghiên Cứu Sản Suất Dược Phẩm (Verband der forschenden Arzneimittelhersteller) phát biểu (sich äußern) rất dè dặt (sehr zurückhalten) đối với vụ việc này. „Việc này đối với chúng tôi trước tiên (erstmal) hiện nay (jetzt) chẳng có gì thay đổi (sich nichts ändern). Và cũng vẫn thế (so bleiben)“, theo hiệp hội này „và chúng tôi đã không có yêu cầu (fordern) thay đổi gì về luật dược phẩm cả.“

Tin dpa, hình minh họa của Karl-Josef Hildenbrand.

Thứ bảy ngày 11.11.2016
Ông Schäuble lo ngại về những rối ren chính trị sau vụ đắc cử của ông Trump.

tdq-20161111Ông Wolfgang Schäuble (CDU), Bộ Trưởng Tài Chánh Đức (Bundesfinanzminister) tỏ ra lo ngại (sich besorgt zeigen) về lối (Art) tranh luận chính trị (politische Auseinandersetzung) sau vụ thắng cử (Wahlerfolg) bầu Tổng thống Mỹ (US-Präsidentschaftswahl) của ông Donald Trump, cũng sẽ diễn ra ngay trong nước Đức. Trong một bài viết (Beitrag) cho tờ báo (Zeitung) „Hình Ảnh“ (Bild), nhà chính khách (Politiker) đảng CDU này viết (schreiben) rằng: „Chủ nghĩa dân phổ mỵ dân (demagogischer Populismus) không chỉ là một vấn đề (Problem) của Mỹ. Mà nó là những cuộc tranh luận chính trị sẽ diễn ra trong tình trạng đáng lo ngại (besorgniserregender Zustand) bất kỳ nơi nào (anderswo) ở phương Tây (Westen).“

Ông Hans-Peter Friedrich, phó chủ tịch đảng khối liên hiệp Cơ Đốc (Unionsfraktionsvize) hiện giờ (derweil) đã cảnh báo (warnen) về một hệ quả (Effekt) Trump và sự vùng lên (Erstarken) của những người dân phổ (Populist) trong nước Đức. Nhiều người có cảm giác (sich fühlen) xa lạ (fremdbestimmt), theo lời ông Friedrich nói với tờ „Bild“. Khi người dân không được các đảng phái nhân dân (Volkspartei trả lời đích đáng, thì họ sẽ đi theo (zuwenden) những người dân phổ ngay trên đất nước này (hierzulande).

Tin dpa, hình Rainer Jensen.

 

Thứ sáu ngày 10.11.2016
Náo nhiệt về bức tường chống tiếng ồn trước một trại tỵ nạn ở München.

tdq-20161110Một bức tường chống tiếng ồn (Lärmschutz-Mauer) cao bốn (vier) mét trước một trại tỵ nạn (Flüchtlingsheim) tại München gây ra những lời chỉ trích (Kritik) và hiểu lầm (Unverständnis). „Ai dám chắc rằng chính họ (selber) không tự giam mình (sich einschließen) trong đó“, theo bà Monika Steinhauser, nữ quản đốc (Geschäftsführerin) hội đồng tỵ nạn (Flüchtlingsrat) München.
Chỗ cư ngụ (Unterkunft) của những người tỵ nạn trẻ (junge Flüchtlinge) vẫn còn đang xây dựng (noch nicht im Betrieb). Tuy nhiên, cư dân (Anwohner) trong phường (Stadtteil) Neuperlach đã đấu tranh (durchsetzen) để xây bức tường (Mauer). Công trường xây dựng (Bauwerk) tiếp giáp (grenzen) với một lằn màu xanh (Grünstreifen) kế tiếp là hào (Böschung), rồi đến các khu vườn (Garten) và những ngôi nhà (Wohnhäuser) của các khu vườn này.

Ông Guido Bucholtz thuộc ủy ban quận (Bezirkausschuss) Ramersdorf – Perlach đánh giá việc xây dựng (Bau) này là một sự điên rồ (Wahnsinn). Ông đã gửi (schicken) một cuốn Video quay bức tường cho một tờ báo (Zeitung) tại München và đã gây ra một cuộc tranh luận (Debatte) sôi nổi.
„Người ta nghĩ như thế nào mà phải xây một bức tường ngăn cách người tỵ nạn và cư dân và lại còn lập luận (agumentieren) rằng đó là bức tường chống tiếng ồn ào?“, ông Bucholtz nói với thông tấn xã Đức (Deutsche Presse – Agentur, viết tắt là dpa) hôm thứ hai (Montag). „Đây là một tín hiệu (Signal) cho thấy rằng, người ta muốn khai trừ (abschotten) người tỵ nạn, bởi vì người ta không bao giờ muốn có thành phần này.“

Tin dpa, hình Sven Hoppe.

Thứ năm ngày 10.11.2016
Luật Nhập Cư sẽ là đề tài tranh cử Quốc Hội Đức sắp đến.

tdq-20161109Người Đức ngày càng già hơn (älter) và ít hơn (weniger): Các công ty (Firma) trong những năm tới rõ ràng (absehbar) sẽ thiếu (fehlen) đến hàng triệu chuyên viên (Fachkraft). Bằng đạo luật nhập cư (Einwanderungsgesetz), đảng SPD giờ đây (nun) muốn thu hút (anlocken) và bình chọn (auswählen) những đầu óc thông minh (kluge Köpfe) từ khắp nơi trên thế giới (aus aller Welt). Việc này sẽ diễn ra trước cuộc bầu cử (Wahl) Quốc Hội Đức (Bundestagswahl) chăng? Liên hiệp Cơ-Đốc (Union) muốn không biết gì cả (nichts) về một đạo luật nhập cư nhanh chóng (rasch) như vậy. Dù vậy, liên hiệp này cũng tỏ ra sẳn sàng để đàm thoại về đề nghị (Angebot) của đảng SPD, theo ông Peter Tauber, Tổng Thư Ký (Generalsekretär) đảng CDU. „Bởi hiện giờ có nhiều vấn đề khác còn cấp bách hơn (drängender).“

Ông yêu cầu (auffordern) đảng SPD rằng, trước tiên (zunächst) cần phải đồng thuận (zuzustimmen) với nhau về việc phân loại (Einstufung) các quốc gia được xem là đất nước có an ninh (sichere Herkunftsstaaten), được như vậy thì người xin tỵ nạn (Asylbewerber) không có triễn vọng (ohne Aussicht) được công nhận (Anerkennung) có thể bị nhanh chóng trục xuất hơn (schneller abschieben). Cũng như vậy, đảng CSU bác bỏ (ablehnen) việc khởi động (Vorstoß) của ông Thomas Oppermann, chủ tịch đảng khối (Fraktionschef) SPD trong quốc hội, về việc quốc hội sẽ quyết định (beschließen) một phương sách (Konzept) tuyển dụng (anwerben) chuyên gia ngoại quốc (ausländische Fachkraft) trước kỳ nghỉ hè (Sommerpause) và bầu cử năm 2017.

Tâm điểm (Herzstück) phương sách của SPD là hệ thống điểm (Punktsystem) theo kiểu mẫu (Vorbild) của Gia-Nã-Đại (Kanada). Người ngoại quốc làm đơn xin (ausländische Bewerber) sẽ nhận (bekommen) số điểm tính theo tiêu chí (Kriterien) như trình độ (Qualifikation), kiến thức ngôn ngữ (Sprachkenntnisse), công ty cho chỗ làm (Arbeitsplazangebot), tuổi tác (Alter) và cơ hội hòa nhập (Integrationschance). Nếu tổng số điểm ít nhất (Mindestpunktzahl) phải đạt được là 65 trên 100 điểm cho các sinh viên tốt nghiệp cao học (Hochschuleabsolvent); 60 trên 100 điểm đối với chyuên viên được đào tạo nghề (Berufsausbildung, thì họ sẽ có một chỗ trong danh sách chờ đợi (Warteliste). Nếu có một chỗ làm (Jobangebot), thì người này sẽ trượt vào (rutschen) lên phía trước (nach oben) bảng xếp hạng (Ranking) tự động (automatisch). Nhiều người ngoại quốc trẻ được đào tạo hàng đầu (top-ausgebildete junge Ausländer) cho đến nay đã đi vòng (Bogen) tránh né nước Đức để đến các quốc gia như Mỹ quốc, Kanada, Anh Quốc (Großbritanien) hoặc các nước trong khu vực Bắc Âu (Skandinavien). Nước Đức ngược lại vẫn là một quốc gia hấp dẫn trong (innerhalb) Âu Châu. Riêng (allein) các quốc gia khác của EU trong năm qua (Vorjahr) đã có sự nhập cư (Zuwanderung) khoảng 380.000 người.

Tin dpa, hình tư liệu Bernd Wüstneck.

Thứ ba ngày 08.11.2016
Bộ trưởng nội vụ Đức muốn đưa người tỵ nạn trở lại Phi Châu.

tdq-20161108Ông Thomas De Maizìere (CDU), bộ trưởng bộ nội vụ Đức (Bundesinnenminister) muốn đưa những người di dân được cứu (gerettete Migranten) ngoài Địa Trung Hải (Mittelmeer)  trực tiếp (direkt) trở lại (zurückschicken) Phi Châu (Afrika). Điều này đã được nữ phát ngôn viên (Sprecherin) của bộ (Ministerium) xác nhận (bestätigen) tờ „Welt am Sonntag“ (Thế Giới Ngày Chủ Nhật). „Thiếu một viễn ảnh (Aussicht) về việc đến được các bờ biển Âu Châu (europäische Küste) có thể là một lý do (Grund) mà người di dân không để ý đến nên đã bỏ mạng sống và trả nhiều tiền cho một chuyến du hành nguy hiểm (gefährliche Reise)“, theo nữ phát ngôn viên. Mặt sau (hinter) lời đề nghị (Vorschlag) ẩn chứa (stecken) một hy vọng (Hoffnung) rằng, người di dân sẽ nhận ra (erkennen) rằng, việc vượt biển (Überfahrt) đến Ý (Italien) là một điều vô vọng (aussichtslos).

Người di dân từ Libyen ra biển (in See stechen), theo lời đề nghị sẽ bị đưa đến một quốc gia Bắc Phi (nordafrikanisches Land) khác, chẳng hạn như (wie etwa) Tunesien hoặc Ägypten (Ai Cập). Ở đó, họ có thể làm đơn xin tỵ nạn (Asyl beantragen) để đến Âu Châu. Nếu điều này được thực hiện (gewähren), thì chắc chắn (sicher) họ sẽ bị đưa đến lục địa (Kontinent) này.
Theo nguồn tin (Angaben) của bộ, thì vẫn còn chưa có kế hoạch cụ thể (konkreter Plan) nào hoặc các cuộc đàm thoại (Gespräche) trên bình diện (Ebene) EU. Việc duy trì (Einhaltung) các thủ tục pháp hiến (rechtstaatliche Verfahren) và việc tôn trọng (Beachtung) Công Ước về Nhân Quyền (Menschenrechtskonvention) là những „điều kiện không thể thiếu“ (unabdingbare Voraussetzungen) cho việc cân nhắc trong tương lai (künftige Überlegungen).

Theo Tổ Chức Di Dân Quốc Tế (Internationale Organisation für Migration), năm nay có 4.220 người bị chết tại Địa Trung Hải trên đường vượt biển. Như vậy có 725 người chết nhiều hơn củng thời điểm (im selben Zeitraum) của năm ngoái (Vorjahr).

Tin dpa, hình Federico Gambarini.

 

Thứ hai ngày  07.11.2016
Vẫn còn khó khăn trong việc tìm một ứng cử viên Tổng Thống Đức.

tdq-20161107Liệu liên minh lớn cầm quyền (große Koalition) thống nhất ý kiến (sich einigen) về việc tìm một ứng cử viên chung (gemeinsamer Kandidat) làm người kế nhiệm (Nachfolger) ông Gauck hay chăng? Câu trả lời có lẽ sẽ có sau phiên họp cấp cao (Spitzentreffen) của họ; còn hiện giờ vẫn bỏ ngõ. Đảng SPD đề nghị ông Steinmeier. Còn liên hiệp Cơ-Đốc hoàn toàn không muốn điều này.

Trong tháng sáu (Juni) vừa qua, ông Gauck, đương kim Tổng Thống Đức (amtierender Bundespräsident) đã tuyên bố (erklären) rằng, vì lý do sức khoẻ (Altersgründen) nên ông sẽ không tiếp tục ứng cử tiếp cho nhiệm kỳ lần hai (Amtszeit). Người kế nhiệm ông sẽ do một cuộc họp liên bang (Bundesversammlung) bầu chọn (wählen) vào ngày 12 tháng hai (Februar) năm 2017. Các đảng thuộc liên hiệp Cơ-Đốc (Unionsparteien) trên cổng (Internetportal) „wahlrecht.de“ (quyền bầu cử) có nhiều phiếu (mehr Stimmen) hơn SPD và đảng Xanh (Grüne) chung nhau (zusammen), nhưng CDU và CSU vẫn còn thiếu (fehlen) khoảng 90 phiếu.

Tin dpa, hình Britta Pedersen.

Chủ nhật ngày 06.11.2016
Cấm ăn nơi chỗ làm – Hội Đồng Xí Nghiệp được phép can thiệp.

tdq-20161106Khi quá đói bụng (großer Hunger), nhiều công nhân (Arbeitnehmer) ăn (essen) tạm chút gì đó (nebenbei) trong văn phòng (Büro). Khi chủ nhân (Arbeitgeber) muốn cấm (untersagen) việc ăn uống (Essen) ở chỗ làm (Arbeitsplatz), thì họ không được phép thực hiện khi chưa có sự can thiệp (mitreden) của Hội Đồng Xí Nghiệp (Betriebsrat).
Nếu chủ nhân muốn cấm ăn uống ở chỗ làm thì Hội Đồng Xí Nghiệp có quyền đồng quyết định (Mitbestimmungsrecht), tổ chức „Bund-Verlag“ (Tòa Soạn Liên Bang) đã lưu ý (hinweisen) điều này quy chiếu theo một quyết định (Entscheidung) của Tòa Án Lao Động Tiểu Bang (Landesarbeitsgericht) Berlin-Brandenburg, hồ sơ thụ lý số Az.: 7 TaBVGa 520/16.

Trường hợp cụ thể là một chủ điều hành (Betreiber) một trung tâm điện thoại (Callcenter) cấm công nhân viên (Mitarbeiter) ăn uống tại chỗ làm mà không có sự tham gia (beteiligen) của Hội Đồng Xí Nghiệp. Đương sự đã phủ nhận (bestreiten) quyền đồng quyết định của Hội Đồng Xí Nghiệp. Sau đó, hội đồng này đã tác động (erwirken) ngăn cấm chủ nhân ban hành (erteilen) quy tắc (Regelung) này bằng một thủ tục phòng hộ pháp lý tức thời  (einstweiliger Rechtsschutz) và đã thành công (erfolgreich)

Tin dpa, hình Sebastian Kahnert.

Thứ bảy ngày 05.11.2016
Hủy lệnh bắt giam một phụ nữ từ chối đóng phí đài phát thanh.

tdq-20161105Một phụ nữ 43 tuổi tại tiểu bang Brandenburg từ hơn ba năm qua không chịu (verweigern) trả tiền (zahlen) phí đài phát thanh (Rundfunkbeitrag) nay không phải vào tù (Haft). Tòa án tiểu bang (Landgericht) Postdam đã hủy (aufheben) lệnh (Anordnung) ép giam (Erzwingungshaft) sáu (sechs) tháng đối với người mẹ sống độc thân nuôi con (alleinerziehende Mutter), theo lời phát biểu của phát ngôn viên tòa án (Gerichtssprecher), ông Sascha Beck, hôm thứ ba (Dienstag). Đài phát thanh Berlin – Brandenburg, viết tắt là rbb, đã ủy nhiệm (beauftragen) cơ quan Beetzsee đòi phụ nữ này phải trả số tiền phí đài là 309,26 Euro chưa đóng của năm 2013. Phụ nữ này từ chối (sich verweigern) việc khai báo tài sản (Vermögen), nên tòa án dân sự (Amtsgericht) Brandenburg/Havel đã ra lệnh (anorden) phạt ép tù bà trong tháng tám (August). Cơ quan Beetzsee cho biết (mitteilen) rằng đài rbb là chủ nợ (Gläubiger) đã làm đơn (Antrag) yêu cầu thu hồi (zurückziehen) việc ra lệnh giam tù phụ nữ thiếu nợ (Schuldnerin), ông Beck giải thích. Và sau đó toà án tiều bang đã hủy (aufheben) lệnh giam (Haftbefehl) vào chiều thứ hai (Montagnachmittag).

Tin dpa, hình tư liệu của Ralf Hirschberger.

Thứ sáu ngày 04.11.2016
Lãnh đạo chính quyền tiều bang Mecklenburg-Vorpommern tái đắc cử.

tdq-20161104Ông Erwin Sellering tái đắc cử (wiederwählen) một lần nữa (erneut) chức nhiệm Thủ Hiến (Ministerpräsident) tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern. 41 trong số 71 nghị viên quốc hội tiểu bang (Landtagsabgeordnete) đã bỏ phiếu thuận (stimmen) nhiệm kỳ lần ba (dritte Amtszeit) cho chính trị gia (Politiker) 67 tuổi thuộc đảng SPD.
Như vậy, ông Sellering thiếu (fehlen) ít nhất (mindestens) một phiếu (Stimme) thuộc hàng ngũ chính quyền (Regierungslager) đỏ-đen (rot (CDU) / schwarz (CDU)) để có (verfügen) 42 ghế (Sitze) trong quốc hội tiểu bang này. Đảng SPD dù phải chịu (hinnehmen) nhiều thất thoát (Verlust) trong lần bầu cử quốc hội tiểu bang (Landtagswahl) vào đầu (Anfang) tháng chín (September) vừa qua với 30,6 phần trăm, nhưng cũng vẫn là đảng mạnh nhất (stärkste Partei). Sau việc đu đưa (Sondierung) với đảng Tả khuynh (Linke) và CDU, cuối cùng đảng SPD quyết định (entscheiden) tiếp tục (Fortsetzung) liên minh cầm quyền (Koalition) với liên hiệp Cơ-Đốc (Union = CDU+CSU) đã thành hình (bestehen) từ năm 2006. Ông Sellering muốn bổ nhiệm (berufen) các bộ trưởng (Minister) sau khi tuyên thệ nhậm chức (Amtsvereidigung).

Tin dpa, hình Jens Büttner.

 

Thứ năm ngày 03.11.2016
Một lần nữa xảy ra một vụ đụng độ giữa thành phần cực đoan hữu khuynh và người xin tỵ nạn tại Bautzen – Đông Đức.

tdq-20161103Sau (nach) những vụ bạo loạn (Krawallen) giữa (zwischen) người xin tỵ nạn (Asylbewerber) và thành phần cực đoan hữu khuynh (Rechtsextremen) tại Bautzen, cho đến nay tình hình trong thành phố (Stadt) thuộc tiểu bang (Bundesland) Sachsen vẫn yên tĩnh. Nhưng (doch) rõ ràng (offenbar) sự yên tĩnh (Ruhe) này dường như không thật (trügerisch), vì lẽ hiện đang có những vụ điều tra (Ermittlung) hình phạm (Straftat) mới (neu). Trong thành phố Bautzen lại diễn ra một vụ đụng độ (Konfrontation) giữa thành phần bị tình nghi (mutmaßlich) là cực đoan hữu khuynh và thanh thiếu niên tỵ nạn (junge Flüchtlinge). Cảnh sát cục (Polizeidirektion) Görlitz đã nói đến (sprechen) các vụ đe dọa (Bedrohung) và ném đá (Steinwurf) vào người tỵ nạn trong đêm ngày thứ ba (Dienstagabend).

Những lời buộc tội (Vorwurf) căn cứ vào (beruhen auf) lời khai (Angabe) của người bị ảnh hưởng (Betroffene) và các nhân chứng (Zeuge). Cảnh sát vẫn đang tìm kiếm thêm các nhân chứng khác. Theo cảnh sát, trước hết (zunächst) họ được báo tin (informieren) rằng, có tình trạng đe dọa (bedrohliche Situation) xảy ra trong ngày thứ ba tại chợ Kornmarkt. Nơi đây là trung tâm điểm (zentraler Platz) diễn trường (Schauplaz) của nhiều vụ bạo loạn giữa người tỵ nạn và thành phần cực đoan hữu khuynh trong thời gian qua.

Tại Bautzen, đặc biệt (vor allem) trong tháng chín (September) diễn ra nhiều vụ bạo động (Ausschreitung) giữa các thanh thiếu niên tỵ nạn và thành phần bị tình nghi là cực đoan hữu khuynh. Cho nên, thành phố này sau đó đã trở thành một tít lớn (Schlagzeilen) cho cả nước (bundesweit). Dạo đó (damals), cảnh sát cũng quy trách nhiệm cho người tỵ nạn vì họ đã dùng bạo lực (Gewalt).

Tin dpa, hình tư liệu của Xcitepress.

 

Thứ tư ngày 02.11.2016
Học vấn tốt là một sự phòng hộ tốt nhất chống thất nghiệp.

tdq-20161102Cho dù (auch wenn) việc đào tạo nghề (Berufausbildung) thường (meist) mất rất nhiều thì giờ (viel Zeit in Anspruch nehmen), nhưng nỗ lực (Einsatz) này cũng đáng giá (sich lohnen) cho tương lai (Zukunft). Theo một cuộc khảo sát (Studie), thì những người có bằng tốt nghiệp nghề (Berufabschluss) rõ ràng (deutlich) có cơ hội (Chance) tốt hơn (besser) để có chỗ làm (Arbeitsplatz) so với những người không có học vấn (Ausbildung). Theo hiểu biết (Erkenntnis) của các nhà nghiên cứu thị trường lao động (Arbeitsmarktforscher), thì có học vấn tốt (gute Ausbildung) được xem như là một sự phòng hộ tốt nhất (bester Schutz) chống thất nghiệp (Arbeitslosigkeit). Những con số gần đây (jüngste Zahlen) đã cho thấy (zeigen) rằng tình trạng thất nghiệp cao ở những người có tay nghề thấp (Geringqualifizierte).
Hầu như tất cả nam và nữ giới không có bằng tốt nghiệp nghề trong năm 2015 bị thất nghiệp (erwerblos) nhiều hơn (mehr als) 20 phần trăm, theo sự đánh giá mới được công bố (kürzlich veröffentliche Auswertung) của Viện (Institut) Nghiên Cứu Thị Trường Lao Động Và Nghề Nghiệp (Institut für Arbeits- und Berufsfroschung, viết tắt là IAB. Chỉ số thấ nghiệp (Arbeitslosenquote) của nhóm này tăng (steigen) 0,4 phần trăm, theo các nghiên cứu gia (Forscher) tường trình (berichten).

Ngược lại (dagegen), chỉ có 4,6 phần trăm tất cả công dân Đức (Bundesbürger) có học nghề bị thất nghiệp, như vậy là 0,3 phần trăm ít hơn (weniger) năm 2014. Chỉ số thất nghiệp của các học giả (Akademiker) trong năm qua (Vorjahr) thậm chí (sogar) chỉ có 2,4 phần trăm; tương đương (entsprechen) một sự suy giảm (Rückgang) gần 0,2 phần trăm.
Thấp nhất (am niedrigsten) là sự thất nghiệp của các thầy cả (Meister), kỹ thuật viên (Techniker) và sinh viên tốt nghiệp cao đẳng kỹ thuật (Fachschuleabsolvent). Theo các con số của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (Internationale Arbeitsorganisation, viết tắt là ILO), trong năm 2015 chỉ có 1,8 phần trăm thành phần này bị thất nghiệp. Cuộc khảo sát cho thấy, việc đào tạo (Ausbildung) và học bổ túc (Fortbildung) cho sự hòa nhập (Integration) của người tỵ nạn (Flüchtlinge) quan trọng (wichtig) như thế nào (wie) đã được ông Enzo Weber, nghiên cứu gia về thị trường lao động của IAB nhấn mạnh (betonen).

Tin dpa, hình Julian Stratenschulte.

Thứ ba ngày 01.11.2016
Có điều gì ẩn chứa bên trong nỗi bất mãn nghề nghiệp.

tdq-20161101Quá nhiều sợ hãi (zu viel Angst) về những thất bại của bản thân (eigene Scheitern) sẽ dẫn đến (führen) một sự thất vọng (Frust) lâu dài (auf Dauer), điều này đặc biệt (vor allem) đóng một vai trò lớn (große Rolle) trong nghề nghiệp (Beruf). Những bế tắc (Blockade) trong công việc (im Job) thường (oft) là những yếu tố khởi phát (Auslöser) từ thưở ấu thơ (Kindheit). Tuy nhiên cũng có giải pháp (Lösung) để khắc phục (überwinden) nó.
Nếu người lao động (Berufstätige) không hài lòng (unzufrieden) với công việc của họ, thì đàng sau (dahinter) đó có thể ẩn tàng (verstecken) những nỗi sợ thất bại (Versagensangst). Một số người (Manche) vì có quá nhiều (so viel) nỗi sợ thất bại nên tự nguyện (freiwillig) đứng sau lưng người khác, theo nữ thạc sĩ tâm lý học (Diplom-Psychologin) và tư vấn sự nghiệp (Karriereberaterin) tại München, cô Madeleine Leitner.
Giai đoạn đầu thì dễ dàng hơn (einfacher): Vì lẽ (da) người ấy không phải là nhân vật (Person) đứng (sethen) dưới ánh đèn sân khấu (Rampenlicht), cho nên sẽ có ít (weniger) nguy cơ (Gefahr) làm sai (falsch machen) điều gì đó (etwas). Đồng thời (gleichzeitig) họ cũng không nhất thiết (nicht unbedingt) phải đáp ứng (erfüllen) một vai trò lớn như vậy.

Nhưng những người bị ảnh hưởng (Betroffene) thường (häufig) là những người ngay (bereits) trong thưở ấu thơ đã học (lernen) rằng sai lầm (Fehler) là một cái gì đó xấu xa (Schlechtes) mà người ta phải xấu hổ (sich schämen) vì nó. Chẳng hạn, cha mẹ (Eltern) đã chế diễu (verspotten) con cái (Kinder) hoặc (oder) thậm chí (sogar) trừng phạt (bestrafen) chúng. Hậu quả (Folge) có thể là chúng rụt rè (scheuen) trước ánh đèn sân khấu và như vậy sẽ tự làm bế tắc (sich blockieren) sự nghiệp của bản thân.
Ngược lại (dagegen), khi những nỗi sợ hãi này trước tiên (zunächst) được ý thức nhận biết (bewusstmachen), chẳng hạn sợ nói chuyện (sprechen) trước đám đông (Öffentlichkeit). Sau đó (anschließend) họ có thể tư duy (überlegen) rằng tại sao họ có nỗi sợ hãi ấy; ví dụ họ lo (Sorge) rằng sẽ bị làm nhục (blamieren) trước đám đông? Nhiều nỗi lo sợ được phát hiện (sich herausstellen) rằng hoàn toàn (völlig) không hợp lý (irrational); và điều này cũng được áp dụng sau đó, khi họ thường thích nghi (sich stellen) với tình huống (Situation) sợ sệt nên sẽ vượt qua (übersethen) dễ dàng hơn (leichter).

Tin dpa, hình Jens Kalaene.

2672 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay