» » Thiền tập chuyển hóa não bộ như thế nào?

Thiền tập chuyển hóa não bộ như thế nào?

Thiền tập chuyển hoá não bộ như thế nào?

medi u gehrin 6Việc nghiên cứu não bộ cho thấy: Thiền tập thường xuyên sẽ có tác dụng tích cực cho não bộ con người, tăng cường hệ thống miễn nhiễm và làm chậm tiến trình lão hóa. Khoa học gia và nhà nghiên cứu não bộ, ông Ulrich Ott, lý trình những kết quả nghiên cứu quan trọng nhất và soi sáng vấn đề: Sự nghiên cứu ngày nay sẽ có lợi ích gì trong việc khảo sát các phương pháp Phật Giáo về TU TÂM.

Hầu như không có một môn khoa học nào nhiều lý thú như việc nghiên cứu não bộ. Nó hứa hẹn mang đến nhiều kiến thức sâu sắc trên lãnh vực căn bản về bộ thần kinh liên quan đến cuộc sống cảm xúc và những tiến trình tâm thức của con người, chẳng hạn sự chú tâm, nhận biết, học tập, ký ức cũng như mọi ảnh hưởng của chúng đối với bệnh tật và sự già nua. Ngày nay, bằng phương pháp chụp cắt hình, chúng ta có thể quan sát và đo đạt được sự hành hoạt bộ não của con người, sự hoạt động và cấu trúc của nó thay đổi ra sao.

„Các bạn hãy nhìn vào một dấu cộng nhỏ (+) và đừng suy nghĩ chi cả.“ Họ là những tình nguyện thử nghiệm viên, đang nằm trong ống máy chụp cắt hình cộng hưởng từ (Magnetresonanztomograf) và chăm chú nhìn vào màn hình không có gì cả, ở ngay giữa màn hình chỉ có một dấu cộng nhỏ  (+). Vấn đề không chỉ đơn giản như vậy, mà chính là sự ngưng bặt suy nghĩ, một sự tĩnh lặng của tâm thức. Điều mà thiền sinh nào cũng có thể trãi nghiệm bản thân, thì sự nghiên cứu khoa học thần kinh mãi trong thập niên trở lại ngày càng rõ biết rằng: TÂM THỨC không đơn giản „ngưng nghỉ“ được! Trái lại, trong lúc các tình nguyện thử nghiệm viên nghỉ ngơi và không làm một việc gì cả, bởi các nhà nghiên cứu mong muốn bộ não không hoạt động như có thể – để làm một yếu tố căn bản so sánh – thì sự hoạt động của một số vùng não nhất định thậm chí còn nhiều hơn nữa.

Theo dấu tâm bất an.

medi u gehrin 7Thật tế đây là một công việc không dễ dàng để có thể chú tâm vào một dấu cộng nhỏ (+) một cách đơn giản và trong giai đoạn đó không suy nghĩ gì cả. Trong khi đó, những vùng não bộ hoạt động tiết lộ rằng, các tình nguyện thử nghiệm viên đã hướng tâm ý về những đề mục khác rồi. Chẳng hạn: Chuyện gì đã xảy ra với XY? Cuộc thử nghiệm này có lợi ích chăng? Hy vọng tất cả mọi thứ trong đầu tôi đều ổn định. Lát nữa tôi còn phải đi chợ. Chừng nào nghỉ hè? Chắc chắn sẽ là một cuộc nghỉ hè tốt đẹp v.v…và những dòng tư tưởng diễn ra liên tục không còn có thì giờ để suy nghĩ. Khác với sự mong đợi, thì giờ được sử dụng để tạm thời liệng mình về quá khứ hoặc tương lai.
Cho nển để diễn đạt tình trạng tâm thức, thì khó có một khả năng nào có thể theo dõi được nó, khi những ý tưởng và suy nghĩ luôn tiếp nối nhau vô tận. Trạng thái suy nghĩ vẫn vơ và lẫn quẫn đóng một vai trò rất quan trọng ở nhiều căn bệnh tâm lý, bởi vì nỗi u sầu, sợ sệt hay giận dữ từ đó có thể sinh ra và làm tăng thêm. Cho nên nhiều phương pháp trong ngành tâm lý học được sử dụng để hướng dẫn và giúp đở bệnh nhân có tri kiến trong tiến trình hành hoạt của tâm thức và ảnh hưởng tác động đến những hoạt động tâm thức bất lành thiện.

Tác dụng trị liệu của thiền chánh niệm.

Một trong những phương pháp thành công nhất có thể áp dụng thiền tập trong việc trị liệu đã gắn liền với tên tuổi của ông Jon Kabat-Zinn. Cuối thập niên 1970, ông được yêu cầu giúp đở một số bệnh nhân đau nhức mãn tính, đây là những trường hợp hết hy vọng điều trị, và những bệnh nhân này được xem là „vô phương cứu chữa“ thì giai đoạn này cũng là sự ra đời một phương pháp và được ông đặt tên là „Mindfulness-Based Stress Reduction“ viết tắt là MBSR, tiếng Việt: Khắc Phục STRESS bằng Chánh Niệm; tiếng Đức: Stressbewältigung durch Achtsamkeit.

Tham dự viên các khóa học ban đầu do ông tự hướng dẫn đã học tập trong tám tuần lễ cách ngồi quán cảm thọ hơi thở bằng sự quán thân (body scan), nghĩa là hành giả quán từ ngón chân lên đến đỉnh đầu trong một tư thế chấp nhận và buông xả mọi tư tưởng ý nghĩ khác cũng như thực tập yoga và Chánh Niệm cho cuộc sống hàng ngày – tấc cả các bài thuyết trình đều quy chiếu về sự căng thẳng thần kinh (STRESS) và thảo luận nhóm.

Frontaler Kortex-beschr.Điều rất ngạc nhiên là có nhiều bệnh nhân đau nhức đã thưởng lạc rất nhiều từ những hành vi mới được truyền đạt từ các khóa học. Ông Stefan Schmidt, một giáo sư đại học, người đã từng thực hiện nhiều công trình khảo sát đau nhức lâm sàng bằng liệu pháp MBSR, đã giải thích rằng, điều này xảy ra vì lẽ bệnh nhân „biết  chấp nhận  sự đau đớn“. Đa phần sự đau khổ sinh ra bởi hành vi hoặc tư tưởng phản chống lại cái đau và việc đánh giá tiêu cực về cái đau ấy. Mặc dù sự cảm nhận cái đau nhức không giảm hay giảm chút ít, thì cái đau  khổ cũng giảm thiểu rõ rệt, khi những cảm thọ phụ tùng như sợ sệt, trầm cảm và tự kết án . . .tạo thành triệu chứng phủ trùm cái đau ấy và làm cho các tâm hành an ổn, dễ chịu bị đẩy lui ra.

Hiện nay MBSR được áp dụng rộng rãi cho việc trị liệu các chứng bệnh thể chất và rối loạn tâm lý. Nhiều phương thức khác cũng đóng vai trò chủ yếu trong sự tu tập của Phật Giáo là thực tập Chánh Niệm. Pháp thực tập này chuyên áp dụng đặc biệt để phòng chống sự tái phát ở chứng trầm cảm („Mindfulness-based Cognitive Therapy“ viết tắt là MBCT, tiếng Việt: „Liệu Pháp Chánh Niệm Trên Căn bản Nhận Thức“), để điều trị các bệnh nghiện (chương trình phòng chống tái phát của Alan Marlatt) và các chứng rối loạn tâm thái (Borderline) được điều trị bằng Liệu Pháp Đàm Thoại Nhân Cách của Marsha Linehan).

Đã có nhiều công trình khảo sát chứng minh hiệu quả của MBSR và MBCT. Hai phương pháp này có tác dụng tốt cho bệnh nhân, cũng như cho những tham dự viên khoẻ mạnh nhưng bị Stress.

Những nguyên nhân của hiệu quả.

Nhưng làm thế nào để giải thích được những hiệu quả đa dạng tích cực của nó? Tiến trình vật lý nào là nền tảng cho các tác dụng ấy? Câu trả lời đầu tiên được soi sáng nhờ công trình khảo sát của Richard Davidson và các đồng nghiệp của ông. Các nhân viên một công ty kỹ thuật sinh hoá đã tham dự một khoá MBSR và biểu hiện cho các đồng nghiệp khác biết về trạng thái cảm thọ tích cực hơn của họ. Đây chính là sự thực tập chuyển hóa hoạt động của phần não bên trái để cải thiện phản ứng đề kháng liên quan chặt chẽ với cảm xúc. Tính năng động của não và hệ thống đề kháng của con người đóng vai trò quan trọng trong tiến trình trị liệu bởi sự tương tác phức tạp của hai phần này.

Một kết quả mới về các cơ chế trên trong việc thực tập chánh niệm được đề cập trong bốn phạm trù sau: 1. Sự chú ý, 2. Ý thức về thân, 3. Điều chỉnh cảm xúc, 4. Tuệ tri. Đối với bốn lãnh vực này, hiện nay có rất nhiều công trình khảo sát đã được thực hiện cho thấy sự hoạt động và cấu trúc của não bộ qua việc thực tập thiền chánh niệm được chuyển hoá, đồng thời việc đo đạt được những sự thay đổi của cảm thọ và hành vi chứng minh qua việc trả lời những câu hỏi và nhiều thử nghiệm khác nhau.

Tập trung chú ý và phát huy.

medi u gehrin 3Để tập trung và duy trì sự chú tâm vào một đối tượng không phải là chuyện dễ dàng. Các máy vi tính chuyên biệt cho việc thử nghiệm có thể ghi nhận khách quan hiệu suất của não bộ và chứng tỏ rằng khả năng này có thể cải thiện bằng sự thực tập chánh niệm. Các thiền giả nhớ biết mau hơn bằng sự huân tập – nghĩa là lặp đi lặp lại, khi họ bị dòng tư tưởng hay ý nghĩ lôi cuốn đi và như vậy mọi triệu chứng rối loạn tâm thức có thể bị mờ nhạt rất hiệu quả. Nhiều công trình khảo sát đã có thể cho thấy tính năng động ở những vùng não bộ tương đương của các thiền giả cao hơn.

Mặt khác, các thử nghiệm và đo đạt điện não cho thấy các thiền giả có thể phân phối sự chú tâm của họ tốt hơn. Khi một loạt chữ cái hiện ra nhanh và liên tục tiếp nối nhau có hai chữ giống nhau, thì chữ thứ hai thường bị bỏ qua, một hiện tượng được biết đến gọi là „Cái chớp mắt của sự chú tâm“. Để nhận biết cả hai chữ thì chữ đầu không được phép chú tâm hoàn toàn đến nó. Dường như các thiền giả có khả năng trãi rộng cánh cửa nhận biết hiện tại (hiện pháp lạc trú). Tỷ số nhận biết đúng thứ tự các chữ ở thiền giả lớn tuổi – trung bình 50 – rõ ràng cao hơn những người được thử nghiệm cùng tuổi và thậm chí còn tốt hơn những người trẻ mới thực tập tuổi trung bình là 25

Sự lão hóa chậm hơn của chất não.

Thông thường tuổi càng cao thì khả năng tập trung giảm đi, tỷ lệ sai lầm và thời gian phản ứng trái lại lên cao. Một công trình khảo sát tại Canada đã không xác định được khuynh hướng tiêu cực đặc thù này ở một nhóm thiền giả so với một nhóm được thử nghiệm khác. Cũng như tỷ trọng của chất xám được đo trong các tế bào thần kinh đã cho thấy sự giảm thiểu liên quan đến tuổi tác điển hình chỉ có ở nhóm người được thử nghiệm.

Một công trình khảo sát cùng khuynh hướng đã đo chất trắng trong các dây thần kinh não bộ. Trong khi chất trắng trong tất cả những bó lớn sợi thần kinh của nhóm được thử nghiệm giảm trầm trọng thì ngược lại ở những thiền giả lớn tuổi không đáng kể. Các kết quả này cho thấy rằng sự thực tập đều đặn, sự tu tập cái „sơ tâm“ có thể dẫn đến việc làm chậm sự lão hóa của não bộ. Ngoài sự thực tập, những quan niệm khác về cuộc sống, chẳng hạn cách dinh dưỡng, cũng có thể ảnh hưởng đến tiến trình chậm lão hóa này.

Quán thân

Technician Michael Anderle (left with eyeglasses) and co-principle investigators Richard J. Davidson (center wearing jacket) and Antoine Lutz (right) prepare Buddhist monk Matthieu Ricard for a functional magnetic resonance imaging (fMRI) test at the MRI facility in the Waisman Center at the University of Wisconsin-Madison on June 4, 2008. Ricard is a longtime participant in an ongoing research study led by Davidson that monitors a subject's brain activity and the impact of meditation on pain regulation. Davidson is director of the Waisman Lab for Brain Imaging and Behavior (WLBIB) and the William James and Vilas Professor of Psychology and Psychiatry. ©UW-Madison University Communications 608/262-0067 Photo by: Jeff Miller Date:  06/08    File#:  NIKON D3 digital frame 2584

Ngay trong năm 2005, người ta đã khảo sát chất xám ở nhiều thiền giả và tìm thấy nó trong vùng đảo võ não dày hơn so với nhóm được thử nghiệm. Trong một cuộc khảo sát riêng, chúng tôi đã cũng tìm ra ở đó một tỷ trọng chất xám lớn hơn nơi các thiền giả thường xuyên thực tập quán thân (Body Scan). Song song việc làm tinh tế hơn thực tập quán thân, dường như trong não bộ có một bản đồ tương đương tự biết phân biệt.

Vùng võ não có liên quan đến khu vực biểu hiện các cảm xúc từ bên trong thân thể. Ai “cảm thấy tốt”, thì cũng cảm nhận nơi thân chính xác như vậy, cho nên họ có thể phản ứng đối với các tín hiệu Stress sớm hơn và có ngay biện pháp đối phó. Ông Kabat-Zinn gọi đó là sự tiếp thu được cải thiện về cái nhận biết nơi thân và một cảm thọ trong thân thường bị đánh giá là bị hư và bị từ chối.

Buông xả và bình thản.

Cuộc sống hàng ngày của hầu hết mọi người đầy dẫy những tình huống phải tự phản ứng đột phát. Có tài xế nào mà chưa trãi nghiệm tình trạng khi có một người lái xe chậm chạp đang chạy lù lù trước mặt, lạng qua lạng lại, trong khi đó đương phải vội vã vì công việc hay một cái hẹn nào đó! Dẫu biết rằng, việc chửi đổng và sự tuyệt vọng đập vào vô-lăng cũng không thể rút ngắn được thời gian; nhưng dường như chúng ta ai cũng không thể làm gì khác hơn được. Tương tự như vậy, đối với những người dễ bực tức, sợ sệt không thể tránh khỏi những tình huống như vậy hoặc khi bị thất bại có thể sớm tìm ra một lối thoát.

Những cấu trúc nằm sâu trong não bộ xử lý mọi cảm xúc mạnh mẽ của sự giận dữ và sợ hãi cũng có thể được tác động gây ảnh hưởng làm tốt hơn nhờ thiền định. Điều này đã cho thấy sau tám tuần lễ thực tập chánh niệm song song với việc giảm thiểu cuộc sống căng thẳng thì có sự giảm thiểu chất xám trong hạnh nhân não bộ. Những cấu trúc sắp đặt ở thùy trán (frontale Kortex) có thể tự động ức chế những phản ứng cảm xúc đối với những kích thích khó chịu, hầu tạo ra những cách đối xử mới;  một công trình khảo sát đã cho thấy rằng, có một tỷ trọng lớn hơn của chất xám não bộ tùy vào quá trình thiền tập dài lâu của thiền giả. Vòng tròn kích hoạt cảm xúc trong não bộ rõ ràng có thể chuyển hóa bằng sự thực tập; nó tạo điều kiện có thể thay đổi được những mẫu mực phản ứng đã ăn sâu trong tâm thức và thay vào đó bằng sự tu tập một thái độ bình thản và cởi mở hơn để từ đó có thể phản ứng hài hòa hơn trong cùng một trạng huống.

Lòng từ.

medi u gehirn 2Ngõ hầu có thể biết một hành động từ bi được luyện tập đến mức độ nào, thì một công trình khảo sát rộng lớn dưới sự điều hành của cô Tania Singer thuộc Viện Max-Planck ở Leipzig, Đông Đức, đã được thực hiện. Trong những cuộc khảo sát trước đây, một tăng sĩ Phật Giáo, Thầy Matthieu Ricard đã thể hiện chứng tỏ một khả năng phi thường tự điều chỉnh những vùng não tương ứng. Trong một công trình nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng âm thanh như la hét và khóc để gợi lòng từ, các thiền giả đã thể hiện sự kích hoạt não mạnh mẽ hơn đối với những kích thích tương ưng hơn là những người tình nguyện thử nghiệm và đặc biệt khi sự thực tập thiền từ bi của họ được đánh giá thành công. Như vậy, thiền tập không liên quan đến sự vô cảm, mà là một sự đồng cảm lớn hơn.

Vị kỷ và bản ngã

Thậm chí cái bản ngã đã trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học thần kinh và một công trình khảo sát với các thiền giả cũng đã dẫn đến nhiều kết luận khá thú vị. Hầu có thể phân biệt được vị kỷ và bản ngã một mặt, mặt khác là sự tuệ tri một cách cụ thể hơn, người ta đặt ra hai điều kiện cho cuộc khảo sát này: Ở điều kiện thứ nhất, các tình nguyện thử nghiệm viên nên cho biết đặc tính của chữ đưa ra đối với họ thế nào (thí dụ như „lười biếng“, „hấp dẫn“, „thông minh“). Ngược lại, công việc của điều kiện thứ nhì là họ tự nhận biết (tuệ tri) thân xác họ ngay trong giây phút hiện tại.

Từng vùng não khác nhau đã hoạt động trong hai điều kiện này. Ở những người đã kết thúc thành công thực tập chánh niệm, họ có thể tự tách rời được sự hoạt động trong những vùng này, theo những người thực hiện sự khảo sát cho rằng đó là một sự nhận biết tinh vi – nghĩa là những ý tưởng riêng tư bị tách rời khỏi kinh nghiệm thực tế của bản thân một cách rõ ràng và cụ thể hơn.

Triễn vọng.

Quan điểm ngắn gọn của các kết quả tất nhiên không đưa ra một kết luận hoàn hão được, nhưng ít ra cũng gây nên một ấn tượng về tính đa dạng của vấn đề và các phương thức nghiên cứu thiền tập mang tính cách khoa học thần kinh. Mang tính cách quyết định cho sự tiến bộ nhanh chóng của việc nghiên cứu là sự đối thoại lợi ích và tương quan hợp tác của các nhà khoa học và các thiền giả. Đơn cử một thí dụ điển hình là các hội nghị của Viện Tâm Thức và Cuộc Sống (Mind and Life Institute) được đại diện các truyền thống thiền, đặc biệt là Ngài Đạt Lai Lạt Ma cũng như các khoa học gia nổi tiếng thảo luận và trao đổi kinh nghiệm.

Tiến Sĩ Ulrich Ott là một Thạc Sĩ Tâm Lý Học, đang nghiên cứu tại Viện „Bender In­stitute of Neuroimaging“, viết tắt là BION thuộc đại học Gießen, về tình trạng thay đổi của ý thức qua thiền định. Trọng tâm việc nghiên cứu của ông là tác dụng của thiền định vào chức năng và cấu trúc não bộ được khảo sát bằng máy chụp cộng hưởng từ. Ngoài ra, ông dạy phương pháp thư giãn, yoga và thiền định cho phân khoa tâm lý học.

Những tác phẩm liên quan:
„Thiền Cho Người Hoài Nghi“ (Meditation für Skeptiker), nhà xuất bản O.W.Barth 2010, tác giả: Ulrich Ott;
„Thiền định và Nghiên Cứu  Não Bộ“ (Meditation und Gehirnforschung), một cuộc đối thoại, nhà xuất bản Suhlkamp 2008, tác giả: Wolf Singer và Matthieu Ricard

Bài của Ulrich Ott, đăng trên tạp chí „BUDDHISMUS aktuell“, phát hành 3/12
Thị Chơn biên dịch / 02.07.2016

4771 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay