» » Phước Cái Chánh Hạnh Sở Tập Kinh

Phước Cái Chánh Hạnh Sở Tập Kinh

Mục Sách mới | 0

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671
Từ trang 719 đến trang 745.
Long Thọ Bồ Tát tập.
Tây Thiên dịch kinh Tam Tạng Triêu Tán Đại Phu, Thí Hồng Lô Khanh, Tuyên Phạm Đại Sư, Sắc Tứ Sa Môn thần, Nhựt Xứng và những vị khác cùng phụng chiếu dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán.
Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt ngày 9.6.2009 nhân mùa An Cư Kiết Hạ Phật Lịch 2553.
Tỳ Kheo Thích Hạnh Nhẫn góp phần hiệu đính xong lần thứ nhất vào ngày 5 tháng 7 năm 2016.

QUYỂN THỨ NHẤT

Cúi đầu lễ chư Phật
Các Bồ-tát thánh chúng
Hay dùng mắt trí sáng
Chiếu khắp các quần sinh.
Đế-Thích đủ nghìn mắt,
Đại Tự Tại ba mắt,
Và ánh sáng nhật, nguyệt
Đều không thể chiếu khắp.
Na-La-Diên hai mắt
Biến hiện các sắc tướng
Hàng phục A-tu-la,
Cậy kiêu mạn, sân khuể.
Chỉ Phật đủ trí quang
Diệt ác, trừ tăm tối.
Như dùng đuôi Khổng tước
Quét trừ các bẩn độc,
Như Lai Đại Trượng Phu
Đảnh bày, tướng bạch hào
Bảy vòng phải thành loa
Nhuần thắm cực khả ái
Sáng thế gian, nhật, nguyệt
Ẩn che đều chẳng hiện,
Chư thiên và thế nhân
Đều cúng dường, xưng tán.

Nghe nói như thế rồi, muốn làm thế nào? Phải đối với lời Phật, tôn trọng yêu thích. Ánh sáng trí huệ kia như đèn chiếu xa có thể phá ngu si tối tăm che đậy. Cho nên khai thị trí nhãn của Phật, giống như mây lớn có thể mưa cam lộ, như trăng tròn mùa Thu có thể trừ nóng phiền não. Kết cuộc có thể gánh vác giữ gìn chính pháp của chư Phật, tăng trưởng tất cả trí tuệ của Phật, quyết định thành tựu căn lực giác chi, dứt trừ hai loại sóng gió nghiệp hoặc, không bị sông ái cuốn chìm, cưỡi thuyền chính pháp đến bờ kia. Nơi các hành như bố thí phải khéo tu hành, dùng các đồ quý giá đem bố thí, phá trừ lầm lỗi của tham, tăng trưởng lợi ích của nghĩa. Vui giữ giới thanh tịnh, đọc tụng kinh điển. Làm như thế rồi, này các Tì-khưu, với lọng phước ấy sẽ chóng được viên mãn.

Như được Phật nói, với mười nghiệp thiện sao chẳng tu? Do tâm bị tham sai khiến giống như tôi tớ, thân dính khoái lạc, chẳng ngộ vô thường, đủ loại tìm cầu không có dừng nghỉ. Do vì ngu sinh mà sinh ngã mạn, với của cải của mình tham tiếc gìn giữ, thấy những người đến xin thì cúi mặt mà đi. Chưa từng tạm có lúc nào ở nơi an nhàn thanh tịnh tu trì giới thanh tịnh, tập các thiền định, như những gì được đức Phật nói mà làm lợi hữu tình. Ông ở trong đó không có chỗ nào được vậy.

Lại, với tài bảo này tăng thêm kiêu mạn, trạo cử tán loạn, khởi nhiều ưu não, sinh các sợ hãi, ngăn che đường thiện; là pháp tán loạn, là pháp vô thường, không có chủ tể, không có chỗ quy thú, trước sau đều chẳng thể đắc được. Chút vui hiện tại, sát-na chẳng còn, giống như cảnh mộng, dương diễm huyễn hóa, thành Càn-thát-bà và như vòng tròn lửa, như thân chuối kia, không có thật thể, như bọt nổi trên nước chốc lát liền tan. Người ngu không rõ nên đủ loại hy vọng nắm giữ. Do nhân duyên này nên khổ nhiều vui ít, tích tập tất cả căn bản phiền não.

Cho nên phải nghĩ đến sự không bền chắc, nghĩ đến vô thường. Đối trị như thế ắt không bị trộm cướp, nước lửa, quan sứ xâm lấn tổn hại, cũng không bị Diêm Tu-La vương ăn nuốt, mà đời sau quyết định thành tựu phúc báo khoái lạc. Do dùng tài bảo bố thí, nhiếp các hữu tình, người này giống như hoa Cổ-mâu-na khai nở đầy đặn tươi thắm, được mọi người thấy sinh vui thích. Tất cả tội báo đã tích tập tiêu diệt trong sát-na, giống như nổi lửa thiêu sạch củi khô không dư sót; như ở sông Hằng rửa các cấu nhiễm trọn được thanh tịnh. Như báu Ma-ni tùy ý thành tựu, những người đến xin đều khiến đầy đủ, hoặc cùng xưng tán là nơi y chỉ, làm cát tường hơn hết. Công đức chân thật, danh tốt lan truyền, lìa các lỗi lầm tai họa, thọ mạng dài lâu. Rộng tu Phạm hành ắt có thể phá hoại các độc tham, sân, si, tà kiến; cưỡi thuyền công đức vĩnh viễn không còn đọa lạc.

Nếu tâm nhiễm ô tham trước cảnh dục, tạo hắc nghiệp rồi, phải như thiên tử Nga-Ma-Na-Bà-La lập tức thay đổi sám hối tạ tội. Phải biết người nữ là đường ác đáng chán. Hữu tình ngu si cạnh tranh tham trước. Người tham trước dục này như người khát kia uống nước muối, tâm không dừng đủ. Như cắt rễ cây không lâu sẽ khô héo; như dòng nước xiết trên núi không thể ngăn chặn; như ở hang rắn độc sẽ bị nó mổ; như kính truyền nhiệt chạm vào sinh khổ não; như tham quả độc sau ắt bị tổn hại; như sương trên cỏ không thể dừng lâu; như mây nổi trong không chốc lát liền tan diệt; như thành bằng cát sẽ gấp bị phá hủy; như chén đất thể tính chẳng bền chắc; như cây cung của Đế-Thích không lâu sẽ ẩn mất; như cưỡi xe hỏng chuyển động liền xiêu vẹo; giống như lưới võng chạm vào liền quấn. Tất cả tai nạn mà lấy làm bạn lữ, cho nên người chân chính phải nên xả bỏ.

Lại, Thế Tôn nói, nếu với năm dục không sinh tham trước thì hiện tại thu hoạch được vô lượng quả báo vui. Người ấy có thể cắt đứt dòng xiết phiền não, cưỡi thuyền chính pháp đến được bờ kia.

Ta trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp tích tập phúc hành, mới có thể hoạch đắc được biện luận nghĩa vị phong phú, vì chúng sinh mà bình đẳng khai thị. Các ông phải đến chỗ không nhàn an tịnh, với điều Ta nói nghiên cứu chọn lọc, như trong sữa mà cầu tô, đề hồ. Biết như thế rồi, tích tập pháp tài và vật thanh tịnh dùng bố thí.

Lại, chư Như Lai đã ra khỏi bùn lầy phiền não ba cõi, thành tựu thắng đức thanh tịnh vô lậu, phương tiện mà khai thị pháp Tri túc, như vườn rừng đẹp nếu ở sẽ mát mẻ, lìa các nhiệt não. Khéo tu các hành này sẽ sinh Phạm Thiên. Ta ở nơi này, tất cả phiền não chẳng động loạn được, tất cả sợ hãi trọn đều trừ diệt. Do duyên này nên phá hoại luân hồi, thành được chính giác.

Lại, chư Như Lai tương ưng với đại bi, khéo hàng phục được tất cả ngoại đạo. Dùng trí thanh tịnh quán sát chọn lọc, dùng lời nhu nhuyến nhiếp thọ dạy bảo, vì họ nói chính pháp khiến sinh tin hiểu, phá hoại lưới ma, ở trong Phật pháp tâm được an trụ.

Đại trượng phu này có thể hống như Sư tử, như đại long tượng uy đức đặc tôn, nổi sấm chớp lớn, giáng mưa cam lộ Giới, Định vô lậu, hương vi diệu huân tu. Những điều đã làm trọn không tổn hại, vì các chúng sinh tuyên nói pháp yếu, lìa các hận não, khiến chúng vui sướng. Như cây Kiếp-Ba trổ hoa mềm mại, pháp lạc tối thượng tẩy trừ cấu uế của tâm.

Như Thế Tôn nói, trì giới thanh tịnh ắt có pháp thiện, lìa các sợ hãi, được an ổn khoái lạc, có thể vượt biển khổ, đến bờ kia. Khéo phá bốn ma, nghĩa là: thiên ma, ấm ma, tử ma và phiền não ma. Người này ắt có thể thổi loa pháp lớn, đánh trống pháp lớn, thắp đuốc pháp lớn, tâm thanh tịnh hoan hỉ, lợi ích cho tất cả, giáo hóa trời người, vì làm Phật sự.

Lại, chư Như Lai, trong vô lượng kiếp tích lũy công đức, tu tập trí tuệ mà thành tựu được biện tài vô ngại, bốn vô sở úy, mười loại trí lực, phương tiện thông đạt pháp Bồ-đề phần, có thể dùng tên trí huệ phá các ma oán, trong ba cõi là tối đệ nhất, vì các hữu tình mà làm người cha lành.

Lại, chư Như Lai do đầy đủ mười trí lực thù thắng, giáo hóa các ngoại đạo làm đệ tử, với giới trí của Phật sinh ham thích sâu xa. Vị đầu tiên chứng thánh là Kiều Trần Như, có thể khai màng mắt ngu si ám. Trong chính pháp thù thắng nhất là Ma-Ha Ca-Diếp.
Trong Phạm Chí là thượng thủ, uống thuốc pháp của Phật chữa bệnh phiền não là Tôn giả Xá-Lợi Tử.

Tu đủ thắng hành lên bậc chính pháp, an chỗ thanh tịnh lầu các giải thoát là A-Nâu-Lâu-Đà, Tân-Đầu Lô-Phả La-Đọa Xà, Ma-Ha Câu-Hi-La, A-Na-Đà…

Lại có thể hóa độ Vua Tần-Bà Sa-La, trong Phật pháp sinh tin hiểu sâu, tôn trọng cung kính, làm đệ tử của Phật.

Các thánh giả này đều dùng búa trí huệ chém đứt cây duyên sinh, lìa các vọng niệm, mong cầu nhất thiết trí, bỏ cái thấy ngoại đạo, phục trừ ngã mạn, trọn có thể thành tựu tất cả công đức.

Nếu nơi rắn độc bốn đại, năm tụ uẩn trống rỗng mà vọng là chủ tể thì ắt chẳng giải thoát. Phải dùng kiếm trí huệ chém đứt nó. Lại, mắt trí quán cảnh giới sáu xứ giống như oán tặc, mười hai xứ giống như rừng gai. Người khéo nhận hiểu thời không bị lửa dữ phiền não trong, ngoài bức bách. Người này ắt khéo trì giới thanh tịnh, trụ đất nhẫn nhục, được phần niệm xứ, đủ ánh sáng trí huệ phá tối ám vô minh. Người này ắt có thể uống nước Bát thánh đạo, lại có thể khai mở hoa phần Bồ-đề, lại có thể vượt lầu gác ba thời, đoạn các kết của Hữu, nơi Bồ-đề trường ngồi kiết già khéo trụ Tứ thiền, định thù thắng vô lậu, thọ dụng tất cả pháp lạc vô thượng.

Lại, những người ngu hoại phần thiện pháp, đắm vui cảnh giới năm dục của thế gian, như gió gặp sương chẳng thể lâu dài, nổi trôi biển khổ không giải thoát được, thấy cầu pháp lành thời bỏ mà đi xa.

Như trong kinh nói, xưa có trưởng giả Bà-la-môn muốn dùng kiếm để hại một người nữ, bỗng nhiên thấy Như Lai, liền lớn tiếng xướng rằng: “Nguyện Phật cứu độ”, liền được giải thoát. Lại như Ương-Quật Ma-La muốn hại mẹ. Lại có thể hàng phục Phạm Chí Trường Trảo khởi đại ngã mạn, khiến cho vào Phật pháp, được ăn vị của chính pháp. Cũng khiến tất cả những người ngu si, nghe nói thế rồi, xả trừ kiêu mạn. Cũng như rồng ác tâm luôn nhiệt não, phun khí độc mạnh làm hại lúa mạ. Lại như Dạ-xoa dùng mắt ác nhìn trăm nghìn chúng sinh mà làm tổn hại. Như những người buôn chìm trong biển lớn bị cá lớn muốn ăn nuốt. Những sự sợ hãi như thế, chỉ có Như Lai là có thể cứu độ.

Lại như nhật, nguyệt sợ A-tu-la. Thiên chủ Đế-Thích sợ đọa đường ác. Phạm Vương dị chấp cho Ngã là thường. Những cái thấy không chân thật, điên đảo như thế, bị lui tới trong luân hồi chịu các bức bách, mà khiến nghe chính pháp hoặc có thể được ngộ hiểu, muốn được vị của giải thoát, phá vỏ vô minh. Ánh sáng trí huệ như trăng thanh tịnh.

Cho nên phải với lời dạy của Như Lai, sinh tôn trọng sâu xa. Gần gũi Pháp sư, vui nghe chính pháp, tham cứu nghĩa chân thật, như lời dạy mà phụng hành.

Giáo lý của ngoại đạo là pháp luân hồi, những người có trí phải khéo suy nghĩ.

Lại, Thế Tôn Thích-Ca Mâu-Ni nói pháp cam lộ là ánh sánh trí huệ phá các si ám. Như ở đỉnh cao cúi nhìn vạn vật đang tích tụ phi pháp như bồi đắp phân nhơ, phải dùng lưới trí mà trừ bỏ đi. Dẹp các ma oán, phá các dị luận, khiến cho vào được chỗ hiểu mà phát sinh tâm trí, tất cả tội ác đều được tiêu trừ.

Lời của đức Mâu-Ni như bóng tàn lớn che mặt trời phiền não mà được mát mẻ. Nếu có thể vẽ, tạc tượng Phật, dùng hương, vòng hoa tùy sức cúng dường chính là thềm đường từ từ sinh thiên vậy.

Vì y theo lời Phật nên có bao nghiệp chướng sẽ thanh tịnh trong sát-na, thiền định, giải thoát đều được hiện tiền, không như ngoại đạo bỏ phí một đời, không có tu tập, khởi tà vọng kiến, nương nước sông Hằng tắm rửa mà cầu giải thoát.

Biết như thế rồi, phải nên dũng mãnh vượt cảnh giới ma, nắm lấy kiếm trí huệ phá giặc phiền não, hoại vòng sinh tử, xé lưới trói buộc, đủ mắt trí thanh tịnh, diệt các si ám, dứt tâm tham ái, hàng phục rắn độc sân hận, đoạn các tà kiến, bẻ gãy núi ngã mạn. Nơi Phật sinh ái lạc tôn trọng, rải hoa Bà-la để cúng dường, như ý mong cầu đều được thành tựu. Lìa các sự hủy báng, giải thoát các sự sợ hãi, an trụ trong chính lý của chư Phật, lìa tướng sinh diệt được an lạc tịch tĩnh. Phải nên nhất tâm vui muốn nghe pháp.

Tôi nghe như vầy: Một thời Phật ở thành Xá-Vệ, vườn Cấp Cô Độc, vườn Kỳ Đà. Lúc đó trong chúng hội có hai ngoại đạo gọi là: Đại tiên Ca-Tì-La và Đại tiên Điểu-Lô-Già, bỏ tà kiến gốc, vào được chỗ hiểu trí Phật, khéo trừ si ám, có thể vượt được biển khổ, nghĩ như thế này: Làm sao Như Lai thành tựu được công đức như dù lọng lớn thanh tịnh như thế, sắc tướng thù diệu như khối vàng ròng, uy nguy đĩnh đạc như núi Tu-Di, ba mươi hai tướng đại trượng phu cùng tám mươi vẻ đẹp tùy hình vi diệu, hiển hiện phân minh, không gì sánh. Tất cả cấu uế bụi trần không thể nhiễm. Hiện thân một trượng sáu ánh sáng rực rỡ tận hư không giới, hoặc u hoặc hiển không đâu chẳng chiếu. Mắt như hoa sen xanh rộng lớn. Tướng bạch hào khoảng giữa hai mi như trăng tròn mùa Thu. Mặt sáng tươi nhuận vi diệu đáng yêu. Tóc màu xanh xám như đuôi Khổng tước. Đảnh tướng đầy phẳng như lọng của Thiên Đế. Nhục kế thanh tịnh như báu ma-ni. Khi cử thân sắc vàng giao chiếu, tất cả chúng sinh vui thích được nhìn, ví như bầy ong tìm hương vi diệu.

Mỗi một tướng tốt nhìn không có chán, như mùa Xuân hoa câu-tô-ma khai nở.

Lúc ấy Như Lai, theo như được niệm bởi tâm của ngoại đạo, dùng mắt trí thanh tịnh quán tất cả chúng sinh trong vô lượng vô biên thế giới, sinh lòng lân mẫn lớn lao mà nói rằng: Nam, nữ các người! Ta đã trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp tu tập phúc trí rộng lớn vô biên, không phải là dùng chút ít nhân mà hoạch đắc được. An trụ bảo tạng công đức vô tận, dùng tâm đại bi quyết định cứu tế vô lượng trăm nghìn địa ngục chúng sinh. Lìa tưởng oán thân hoặc khiến dứt khổ. (Đọc tiếp)

395 Tổng số lượt xem 2 lượt xem ngày hôm nay