» » » Pháp Thức Thực Hành Tâm Chú Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi

Pháp Thức Thực Hành Tâm Chú Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi

Mục Tục Tạng Kinh | 0

Pháp Thức Thực Hành Tâm Chú Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi thuộc tập X74 (Tục tạng kinh), kinh số 1480, tổng cộng 1 quyển, – Tống ‧Tri Lễ Thuỷ Tập, Thanh ‧Độc Thể Trùng Toản, bản Việt dịch của Quảng Minh.

Tôn giả Tứ Minh Tri Lễ (1) , biên tập nghi quỹ.
Luật sư Hoa Sơn Độc Thể(2) , sửa văn chỉnh lời.
Sa môn Gia Hòa Tịch Xiêm (3) , thêm tranh khắc bản.

Nam mô đại bi Quan Thế Âm bồ tát. (3 lần)
Nhất thiết cung kính: Một lòng kính lạy Tam bảo thường trú khắp cả mười phương. (1 lạy)

(Đốt hương, rải hoa, vị chủ lễ xướng:)
Tất cả đại chúng, xin mời quỳ xuống, nghiêm cầm hương hoa, như pháp cúng dường.

Nguyện mây hương mầu này
Khắp cùng mười phương cõi
Vô biên quốc độ Phật
Vô lượng hương trang nghiêm
Đầy đủ đạo bồ tát
Thành tựu hương Như lai.

(Quán tưởng:)
Con dâng hương hoa khắp mười phương
Làm đài ánh sáng rất vi diệu
Các âm nhạc, hương báu cõi trời
Các món ăn, y báu cõi trời
Không thể nghĩ bàn pháp trần mầu
Mỗi một trần thành tất cả trần
Mỗi một trần thành tất cả pháp
Chuyển hóa vô ngại, trang nghiêm nhau
Khắp cả mười phương trước Tam bảo
Đều có thân con hiến cúng dường
Mỗi cúng phẩm khắp cả pháp giới
Thế tôn và con không ngại nhau
Cùng tận vị lai làm việc Phật
Khắp xông pháp giới các chúng sanh
Được xông đều phát tâm bồ đề
Cùng vào vô sanh, chứng trí Phật.

(Cúng dường xong, tất cả cung kính, vị chủ lễ xướng:)
Kính lạy đời quá khứ Như lai Chánh Pháp Minh, chính là đời hiện tại bồ tát Quán Thế Âm, đấng thành công đức diệu, đầy đủ lòng đại bi, nơi trong một thân tâm hiện ra ngàn tay mắt, soi thấy khắp pháp giới, hộ trì các chúng sanh, phát tâm đạo rộng lớn, dạy trì chú Viên mãn, mãi rời xa đường ác, được sanh trước chư Phật. Những tội nặng vô gián, cùng bịnh ác quấy thân, khó nỗi cứu vớt được cũng đều khiến tiêu trừ. Các tam muội, biện tài, những mong cầu hiện tại đều cho được toại nguyện. Quyết định không nghi ngờ thì mau được ba thừa, sớm lên quả vị Phật. Sức oai thần công đức, khen ngợi sao cho cùng, cho nên con một lòng, quy mạng và đảnh lễ. (1 lạy)

Một lòng kính lạy đức Phật bổn sư là Thích Ca Mâu Ni Thế tôn. (1 lạy)

(Quán tưởng:)
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Thích Ca Như lai hào quang sáng ngời
Trước Thế tôn thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
Một lòng kính lạy đức Phật ở thế giới Cực lạc phương Tây là A Di Đà Thế tôn. (1 lạy)

(Quán tưởng:)
Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
A Di Đà Phật hào quang sáng ngời
Trước Thế tôn thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
Một lòng kính lạy đức phật ở đời quá khứ trong vô lượng ức kiếp là Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Thế tôn. (1 lạy)
Một lòng kính lạy chín mươi chín ức hằng sa chư Phật Thế tôn ở đời quá khứ. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đức phật ở đời quá khứ trong vô lượng kiếp là Chánh Pháp Minh Thế tôn. (1 lạy)
Một lòng kính lạy tất cả chư Phật Thế tôn khắp cả mười phương. (1 lạy)
Một lòng kính lạy một ngàn đức Phật ở Hiền kiếp, ba đời tất cả chư Phật Thế tôn. (1 lạy)
Một lòng kính lạy chương cú thần diệu tên là Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni. (xưng lễ 3 lần)

(Quán tưởng:)
Chân không pháp tánh như hư không
Pháp bảo thường trú khó nghĩ bàn
Thân con ảnh hiện trước pháp bảo
Một lòng như pháp quy mạng lễ.
Một lòng kính lạy vị thuyết ra các đà la ni là đại bồ tát Quán Thế Âm và mười phương ba đời tất cả tôn Pháp. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đại bồ tát Quán Thế Âm, bậc tự tại, đại từ đại bi, ngàn tay ngàn mắt. (xưng lễ 3 lần)

(Quán tưởng:)
Bồ tát, chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Bồ tát đại bi hào quang sáng ngời
Trước bồ tát thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
Một lòng kính lạy đại bồ tát Đại Thế Chí. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đại bồ tát Tổng Trì Vương. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đại bồ tát Nhật Quang, đại bồ tát Nguyệt Quang. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đại bồ tát Bảo Vương, đại bồ tát Dược Vương, đại bồ tát Dược Thượng. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đại bồ tát Hoa Nghiêm, đại bồ tát Đại Trang Nghiêm, đại bồ tát Bảo Tạng. (1 lạy)
Một lòng kính lạy đại bồ tát Đức Tạng, đại bồ tát Kim Cang Tạng, đại bồ tát Hư Không Tạng. (1 lạy)(4)

(Lễ xong, đứng lên chắp tay tụng:)
Kinh nói: Nếu có vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, hay đồng nam, đồng nữ nào, muốn tụng trì chú này, trước tiên phải phát tâm từ bi đối với chúng sanh và sau đây y theo tôi mà phát nguyện:
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau biết tất cả pháp.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được con mắt trí tuệ.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau độ tất cả chúng sanh.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm được phương tiện tốt.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau ngồi thuyền bát nhã.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm vượt biển cả khổ đau.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau được các pháp giới định.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm lên núi cao niết bàn.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con mau về ngôi nhà vô vi.
Kính lạy đại bi Quán Thế Âm, nguyện con sớm đồng thân thể pháp tánh.
Nguyện con đến núi đao thì núi đao tự gãy đỗ.
Nguyện con đến vạc sôi thì vạc sôi tự khô cạn.
Nguyện con đến địa ngục thì địa ngục tự hủy diệt.
Nguyện con đến ngạ quỷ thì ngạ quỷ tự no đủ.
Nguyện con đến tu la thì tu la tự hiền lành.
Nguyện con đến súc sanh thì súc sanh tự khôn ngoan.(5)

(Hành giả quán tưởng thân mình đang đối trước chư Phật và Bồ tát, xưng niệm hồng danh, tha thiết thành tâm như đang bị thiêu đốt, đắm chìm mà cầu xin cứu giúp)
Nam mô Quán Thế Âm bồ tát. (21 lần đến 49 lần, 1 lạy)
Nam mô A Di Đà Phật. (21 lần đến 49 lần, 1 lạy)

(Tụng tiếp:)
Bồ tát Quán Thế Âm thưa với đức Phật: Bạch đức Thế tôn, nếu các chúng sanh tụng trì thần chú đại bi mà đọa ba đường ác thì con thề không thành chánh giác. Người tụng trì thần chú đại bi nếu không sanh về quốc độ của chư Phật thì con thề không thành chánh giác. Người tụng trì thần chú đại bi nếu nơi tâm không đắc vô lượng tam muội biện tài thì con thề không thành chánh giác. Người tụng trì thần chú đại bi tâm, sống trong đời hiện tại, có những mong cầu mà không có kết quả toại nguyện thì thần chú này không được gọi là đà la ni đại bi tâm.

Bồ tát Quán Thế Âm nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chắp tay đứng thẳng, đối với các chúng sanh khởi tâm đại bi, nở mặt mỉm cười, liền nói chương cú thần diệu tên là Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:
1. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.
(Đây là bản thân của bồ tát Quán Thế Âm, phải khởi đại bi, dụng tâm đọc tụng, đừng cao giọng, tâm ý nóng vội)
2. Nam mô a rị da.
(Đây là bản thân của bồ tát Như Ý Luân, đến đây phải gìn giữ tâm ý)
3. Bà lô yết đế thước bát ra da.
(Đây là bản thân của bồ tát Trì Bát Quán Thế Âm. Nếu muốn lấy xương cốt xá lợi, thì tụng chú này, quán tưởng bồ tát đang cầm bát)
4. Bồ đề tát đỏa bà da.
(Đây là bồ tát Bất Không Quyến Sách, nắm giữ đại binh)
5. Ma ha tát đỏa bà da.
(Đây là chủng tử của bồ tát, tức bản thân của người tụng chú)
6. Ma ha ca lô ni ca da.
(Đây là bản thân của bồ tát Mã Minh, tay cầm chày Kim Cang)
7. Án.
(Chữ án này là các quỷ thần chắp tay lắng nghe tụng chú)
8. Tát bàn ra phạt duệ.
(Đây là bản thân của bốn đại thiên vương, hàng phục ma quân)
9. Số đát na đát tả.
(Đây là danh tự của bộ lạc quỷ thần thuộc bốn đại thiên vương)
10. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da.
(Đây là bản thân của bồ tát Long Thọ, cần phải dụng tâm mà tụng câu này, chớ có qua loa mà đánh mất tâm tánh bồ tát)
11.Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà.
(Đây là viên mãn báo thân Lô Xá Na Phật)
12. Nam mô na ra cẩn trì.
(Đây là bản thân của thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật, cần phải dụng tâm)
13. Hê rị ma ha bàn đa sa mế.
(Đây là thần vương Dương Đầu, cùng với các quyến thuộc của thiên ma)
14. Tát bà a tha đậu du bằng.
(Đây là bồ tát Cam Lộ, cũng là bộ lạc của bồ tát Quán Thế Âm dùng làm quyến thuộc)
15. A thệ dựng.
(Đây là thiên vương dạ xoa Phi Đằng, đi tuần khắp bốn phương để xem xét những điều thị phi)
16. Tát bà tát đá (na ma bà tát đa (6) ) na ma bà dà.
(Đây là thần vương Bà Gia Đế, thân hình cao lớn, da đen, lấy da báo làm quần, tay cầm cây đao sắt)
17. Ma phạt đặc đậu.
(Đây là bản thân của bồ tát Quân Trà Lợi, cầm bánh xe sắt và sợi dây, có ba con mắt)
18. Đát điệt tha.
(Đây là lời nói sắc bén)
19. Án, a bà lô hê.
(Đây là bản thân của bồ tát Quán Thế Âm, chắp tay ngang ngực)
20. Lô ca đế.
(Đây là bản thân của thiên vương Đại Phạn, bộ lạc của thần tiên)
21. Ca ra đế.
(Đây là đế thần có thân dài lớn, màu đen)
22. Di hê rị.
(Đây là thiên thần Ma Hê Thủ La ở cõi trời Tam thập tam thiên thống lãnh thiên binh, thân màu xanh)
23. Ma ha bồ đề tát đỏa.
(Đây là chân tâm, cũng có nghĩa là tâm không tạp loạn, nên gọi là tát đỏa)
24. Tát bà tát bà.
(Đây là bồ tát Hương Tích nắm giữ quỷ binh của năm phương để làm tùy tùng, việc đó không thể nghĩ bàn)
25. Ma ra ma ra.
(Đây là bồ tát dùng lời nói trị phạt cũng tức là cứu giúp chúng sanh)
26. Ma hê ma hê rị đà dựng.
(Giống như câu trên)
27. Câu lô câu lô yết mông.
(Đây là bồ tát Không Thân nắm giữ tướng quân Thiên Đại thống lãnh hai mươi muôn ức thiên binh)
28. Độ lô độ lô phạt xà da đế.
(Đây là bồ tát Nghiêm Tuấn nắm giữ Khổng Tước Vương cùng binh chúng thô bạo)
29. Ma ha phạt xà da đế.
(Giống như câu trên)
30. Đà ra đà ra.
(Đây là bồ tát Quán Thế Âm, thị hiện cái thân đại trượng phu)
31. Địa rị ni.
(Đây là Sư Tử Vương, chứng nghiệm và che chở người đọc tụng)
32. Thất phật ra da.
(Đây là bồ tát Tích Lịch, hàng phục các loài ma và quyến thuộc của chúng)
33. Giá ra giá ra.
(Đây là bản thân của bồ tát Tồi Toái, tay cầm bánh xe vàng)
34. Mạ mạ.
(Họ tên …. thọ trì)
Phạt ma ra.
(Đây là bản thân của Đại Hàng Ma Kim Cang, tay cầm bánh xe vàng)
35. Mục đế lệ.
(Đây là chư Phật chắp tay nghe tụng chân ngôn)
36. Y hê y hê.
(Đây là thiên vương Ma Hê Thủ La)
37. Thất na thất na.
(Giống như câu trên)
38. A ra sâm phật ra xá lợi.
(Đây là bồ tát Quán Thế Âm, tay cầm cái bàng bài, cây nỏ, cây cung và mũi tên)
39. Phạt sa phạt sâm.
(Giống như câu trên)
40. Phật ra xá da.
(Đây là bản thân của đức Phật A Di Đà, bổn sư của bồ tát Quán Thế Âm)
41. Hô lô hô lô ma ra.
(Đây là tám bộ quỷ thần vương)
42. Hô lô hô lô hê rị.
(Giống như câu trên)
43. Sa ra sa ra.
(Thời kỳ dữ dội đầy cả năm thứ vẩn đục)
44. Tất rị tất rị.
(Đây là bồ tát Quán Thế Âm làm lợi ích tất cả chúng sanh, việc đó không thể nghĩ bàn)
45. Tô rô tô rô.
(Đây là tiếng lá cây rơi rụng ở cõi nước của chư Phật)
46. Bồ đề dạ bồ đề dạ.
(Đây là bồ tát Quán Thế Âm kết duyên với chúng sanh)
47. Bồ đà dạ bồ đà dạ.
(Đây là bản thân của tôn giả A Nan)
48. Di đế rị dạ.
(Đây là bồ tát Đại Xa, tay cầm cây đao vàng)
49. Na ra cẩn trì.
(Đây là bồ tát Long Thọ, tay cầm cây đao vàng)
50. Địa rị sắc ni na.
(Đây là bồ tát Bảo Tràng, tay cầm cây chĩa ba sắt)
51. Ba dạ ma na.
(Đây là bồ tát Bảo Kim Quang Tràng, tay cầm cây xử bạt chiết la)
52. Sa bà ha.
53. Tất đà dạ.
(Đây là thông đạt tất cả pháp môn)
54. Sa bà ha.
55. Ma ha tất đà dạ.
(Đây là bồ tát Phóng Quang, tay cầm phan đỏ)
56. Sa bà ha.
57. Tất đà du nghệ.
(Đây là chư thiên, bồ tát thảy đều vân tập, tay cầm cây đao vàng)
58. Thất bàn ra dạ.
(Đây là an tức hương)
59. Sa bà ha.
60. Na ra cẩn trì.
(Đây là bản thân của bồ tát Sơn Hải Huệ, tay cầm cây kiếm vàng)
61. Sa bà ha.
62. Ma ra na ra.
(Đây là bồ tát Bảo Ấn Vương, tay cầm cây búa vàng)
63. Sa bà ha.
64. Tất ra tăng a mục khư da.
(Đây là bản thân của bồ tát Dược Vương, chữa trị các bệnh)
65. Sa bà ha.
66. Sa bà ma ha a tất đà dạ.
(Đây là bản thân của bồ tát Dược Thượng, chữa trị các bệnh)
67. Sa bà ha.
68. Giả cát ra a tất đà dạ.
69. Sa bà ha.
70. Ba đà ma yết tất đà dạ.
71. Sa bà ha.
72. Na ra cẩn trì bàn già ra dạ.
73. Sa bà ha.
74. Ma bà lị thắng yết ra dạ.
75. Sa bà ha.
76. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.
77. Nam mô a rị da.
78. Bà lô cát đế.
79. Thước bàn ra dạ.
80. Sa bà ha.
81. Án tất điện đô.
82. Mạn đá ra.
83. Bạt đà da.
84. Sa bà ha.(7)

Bồ tát Quán Thế Âm nói chú này xong thì đại địa chấn động đủ cả sáu cách, chư thiên mưa xuống hoa báu đầy dẫy, mười phương chư Phật thảy đều hoan hỷ. Thiên ma, ngoại đạo sợ hãi, lông tóc dựng đứng. Tất cả chúng hội đều được quả chứng, có vị đắc quả tu đà hoàn, có vị đắc quả tư đà hàm, có vị đắc quả a na hàm, có vị đắc quả a la hán, có vị chứng đắc địa thứ nhất, địa thứ hai, địa thứ ba, địa thứ tư, địa thứ năm, cho đến địa thứ mười. Vô lượng chúng sanh phát tâm bồ đề. (1 lạy)

(Niệm thầm:)
Đệ tử … cùng pháp giới chúng sanh, vô thỉ thường tạo tội chướng sâu nặng từ ba nghiệp và sáu căn, là do không gặp được chư Phật nên không biết lối ra, chỉ thuận theo sanh tử nên không biết lý mầu. Nay con biết được thì cũng đã cùng chúng sanh tạo ra không biết bao nhiêu tội chướng sâu nặng rồi. Con đối trước mười phương chư Phật, trước đại bồ tát Quán Thế Âm, khắp vì chúng sanh mà quy mạng sám hối, nguyện xin gia hộ khiến cho tội chướng được tiêu diệt cả.

(Quỳ xuống, xướng:)
Đệ tử chúng con khắp vì bốn ơn ba cõi và pháp giới chúng sanh, nguyện đoạn trừ cả ba thứ chướng ngại(8) , nên quy mạng sám hối.

(Xướng xong, năm vóc sát đất, nhất tâm tưởng niệm:)
Đệ tử … cùng pháp giới chúng sanh, vô thỉ đến giờ, do ái và kiến(9) mà trong chấp nhân ngã, ngoài vì bạn xấu, nên không tùy hỷ ai cả, dầu là một điều thiện bằng tơ tóc, chỉ biết bùng dậy tội lỗi bằng cả ba nghiệp. Việc tuy không rộng mà ác ý bủa khắp. Ngày đêm liên tục, không có gián đoạn. Che giấu lỗi lầm, không muốn ai hay. Không sợ đường dữ, không hổ không thẹn. Bài bác cho rằng không có nhân quả. Vì vậy ngày nay, tin tưởng sâu xa nguyên lý nhân quả, phát sanh hổ thẹn hệ trọng, sợ hãi to lớn mà bộc bạch sám hối. Đoạn tâm liên tục mà phát tâm bồ đề. Đoạn ác tu thiện, siêng năng thúc giục cả thân miệng ý. Đổi bỏ tánh xấu nặng nề ngày xưa mà tùy hỷ với người phàm cũng như bậc thánh, dầu một điều thiện bằng tơ tóc mà thôi. Nghĩ nhớ chư Phật mười phương có phước tuệ to lớn, có thể cứu vớt con, đem con ra khỏi biển hai chết(10) mà đặt lên trên bờ ba đức(11) . Từ vô thỉ đến nay, con không biết các pháp bản tính vắng lặng, nên đã gây nhiều điều ác, nay biết được các pháp vắng lặng mà cầu bồ đề, muốn độ chúng sanh mà làm nhiều việc thiện, dứt hết điều ác, nguyện xin đức Quán Thế Âm từ bi nhiếp thọ.

(Tưởng niệm xong, quỳ xướng:)
Chí tâm sám hối: Đệ tử … cùng pháp giới chúng sanh, hiện tiền một tâm, vẫn đủ ngàn pháp, đều có sức thần, cùng với trí sáng, trên đồng tâm chư Phật, dưới bằng tánh muôn loài. Do bởi u mê che ánh sáng kia, nên đối cảnh hôn mê, khởi lòng chấp nhiễm, nơi pháp tánh bình đẳng mà lại nhân ngã bỉ thử. Lại do ái kiến làm gốc, thân miệng làm duyên, trong nẻo luân hồi, gây nên đủ tội: mười ác, năm nghịch, khinh chê người khác, hủy báng chánh pháp, phá trai, phạm giới, phá tháp, hủy chùa, lấy cắp tài vật của tăng bốn phương, làm bẩn phạn hạnh thanh tịnh, xâm tổn tài vật, ẩm thực của thường trụ, thì dẫu cho có ngàn Phật xuất thế cũng khó sám hối. Những tội như thế, không lường không ngằn, khi bỏ báo thân, phải đọa ba đường ác, chịu vô lượng khổ sở. Lại trong đời này, phiền não thiêu đốt, tật bịnh vây quanh, duyên ngoài bức bách, chướng ngăn đạo pháp, khó nỗi tiến tu. May gặp thần chú Viên mãn đại bi, có thể mau trừ những tội như thế, cho nên nay con, hết lòng trì tụng. Con nguyện nương về bồ tát Quán Thế Âm, các đấng đạo sư trong mười phương, phát tâm bồ đề, tu hạnh chân ngôn, cùng với chúng sanh, tỏ bày các tội, cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu trừ.

Nguyện đức đại bi Quán Thế Âm đại bồ tát nắm giữ con bằng ngàn tay, soi thấy con bằng ngàn mắt, làm cho con bặt hết duyên chướng trong ngoài, trở về vắng lặng, hạnh nguyện của con và người cùng được viên thành, mở ra bản tánh thấy biết, dẹp trừ ngoại ma, ba nghiệp siêng cần, tu nhân tịnh độ.

Xin nguyện cho con, khi bỏ thân này, không vào đường khác, quyết được sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà, đích thân cúng dường đức đại bi Quán Thế Âm, đủ các tổng trì, rộng độ quần sanh, đều thoát khổ luân, đều thành Phật đạo.

(Đứng lên, xướng:)
Đệ tử sám hối phát nguyện rồi, xin quy mạng đảnh lễ Tam Bảo. (1 lạy)
Nam mô Thập phương Phật.
Nam mô Thập phương Pháp.
Nam mô Thập phương Tăng.
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Phật.
Nam mô Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đại đà la ni.
Nam mô Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm bồ tát.
Nam mô Đại Thế Chí bồ tát.
Nam mô Tổng Trì Vương bồ tát.
Tự quy y Phật
Xin nguyện chúng sanh
Thể theo đạo cả
Phát lòng vô thượng.
Tự quy y Pháp
Xin nguyện chúng sanh
Thấu rõ kinh tạng
Trí tuệ như biển.
Tự quy y Tăng
Xin nguyện chúng sanh
Quản lý đại chúng
Hết thảy không ngại.
Kính chào thánh chúng.
********
Tâm này vốn phi tâm, huyễn xuất ngàn tay mắt, cõi cõi dụng toàn chương, trần trần thể ứng hiện, quán hết thế gian âm, nhĩ căn thảy soi thấy. Cúi đầu đại bi đà la ni, tầm thanh cứu khổ không nghĩ bàn. Một tơ tóc còn không tha vật, lấp đầy hư không đó là anh. Ôi ! Khắp chuyển hàm linh lên bờ giác, ngàn sai muôn khác cùng dung hợp.

Lại nữa, từ nơi văn tự chẳng lập, cả khi danh tướng chưa sanh, thử nói cứu cánh gọi cái gì, chẳng phải suy lường tuyệt nói suy. Chân như là như thế, tự tại là ở đây. Lấy ra trong đó cái then máy, chẳng ngại việc tốt cả nhà hay.
Tịch Xiêm tôi thưở nhỏ có được đại bi tâm chú và xuất tượng, kính tụng đã lâu. Đến đầu năm Khang Hy, Ất mão, hợp khắc sám pháp. Nay là mùa đông Kỷ Mão, tôi tham duyệt mấy bản, gộp làm hành pháp, biên tập một lần nữa. Với những vị cùng chung chí nguyện, Tịch Xiêm tôi đến lễ bái, chào hỏi. Bạch miêu(12) tận cùng điều thiện, tự họa còn nơi giao phó, Đường ngôn chẳng phải, Phạn ngữ không sai, trú huyễn tùy hỷ chắp tay ngang trán, xưng niệm Quán Âm trì chú đại bi.

Chùa Tây thiên ở Mục sơn, sa môn Minh Bổn lễ bái, cảm ghi cuối quyển bài kệ:
Đại trí Quán Thế Âm
Đấng đủ đại bi tâm
Khéo thuyết đà la ni
Đại bi cứu tất cả
Con nay phát nguyện rộng
Trì tụng đà la ni
Vô ngại đại bi tâm
Ánh sáng từ đảnh xuất
Khắp soi con, cõi này
Và cả mười phương giới
Dưới cứu dáy phong luân
Trên đến trời hữu đảnh
Di lâu cùng thiết vi
Nước biển lớn, sông ngòi
Trong đây các chúng sanh
Được chiếu đều lợi ích
Rời khổ được giải thoát
Đều phát tâm bồ đề
Hết một báo thân này
Cùng sanh nước Cực lạc
Nguyện đại bi tâm này
Ánh sáng chiếu mười phương
Bao nhiêu hư không giới
Vi trần các cõi Phật
Quốc độ các Như lai
Đều sanh hoan hỷ lớn
Sức phương tiện, nguyện, trí
Thương xót gia hộ con
Ở nơi vô kiến đảnh
Khắp phóng đại bi quang
Từ cõi vi trần kia
Đều đến quán đảnh con
Diệt trừ tất cả tội
Thành tựu tất cả nguyện
Khiến con sớm đầy đủ
Vô ngại đại bi tâm
Như chư Phật Thế tôn
Rộng độ cho tất cả
Đức bổn sư Thích Ca
Thuyết kinh đại bi này
Con đối với kinh này
Quyết định tin, không nghi
Nguyện con ở vị lai
Thành tựu nhất thiết trí
Đem tâm đại bi này
Rộng lớn làm việc Phật
Cúng dường hằng sa Phật
Độ thoát các chúng sanh
Như bồ tát Quán Âm
Hay cứu khổ thế gian.

Cùng với bài kệ này, tỳ kheo Tự Như, ngày thường tụng chú, rộng phát nguyện văn để sáng sạch đạo pháp, mở lớn bi thệ bằng việc trì chương cú này, tụng theo thời khóa quên năm tháng. Mùa xuân năm Canh tuất, được quyển kinh này, phù hợp bổn nguyện và tâm ý phó chúc lưu thông của đại sĩ Quán Âm. Một hôm nâng kinh, thỉnh họa kệ trên, nhân đó mà thầy viết rằng:

Đại sĩ không thân hiện thân, ngàn tay ngàn mắt, không lời hiện lời, âm thanh chương cú. Nếu có thể ở bên ngoài hình tướng, ngôn ngữ mà tin nhận vâng làm thì chỉ có đức Quán Thế Âm.

Tôi cũng từ nơi đó mà tâm đắc.
Kiến An Tự Như.

Chú âm vang thấu khắp mọi nơi, như đại luân phong giữ đại địa. Nếu Phật, bồ tát cùng thiên tiên, nơi họng lưỡi nhả ra lửa sáng, diệt trừ nhiều kiếp nhân nghiệp chướng, cởi mở chúng sanh thanh tịnh trí, viên mãn vô ngại giải thoát môn. Sáng sạch đạo pháp, gốc ấy là chưa khởi một niệm. Sáng sạch đạo pháp, là có được chú bổn này, nên ghi rằng:
Chùa Tịnh Từ, đảo Đông Tự, tỳ kheo Đức Hải.
Cúi đầu Quán Âm đại bi tâm
Hiện ngàn tay mắt không nghĩ bàn
Tuyên thuyết bí mật đà la ni
Cứu độ chúng sanh chấn đại địa
Trời ngường bi ngưỡng, quỷ thần khâm
Ngoại đạo ma quân sanh sợ hãi
Thí như mặt trời đi hư không
Phóng ánh sáng lớn khắp rực rỡ
Đập nát tất cả núi chướng ngại
Mở ra tất cả trí kim cương
Khiến trừ chúng sanh tâm nhiệt não
Ăn được vị cam lộ mát mẻ
Sáng sạch đạo pháp ngày thọ trì
Bày ra vô lượng thệ đại bi
Hoàn toàn quyết định tín, không nghi
Thành tựu tuệ thanh tịnh chư Phật.

Trụ trì chùa Kính Sơn, tỳ kheo Hy Lăng nói bài kệ ca ngợi rằng:
Đức Chánh Pháp Minh, bậc Quán Tự Tại đã thuyết thần chú, gọi là đại bi cứu giúp chúng sanh rời biển khổ, kéo dài cõi phúc (diên hựu) mà vẫn chưa vào mùa thu.

Chùa Tịnh Nhân, thượng nhân Nguyên Minh được mời tán thán, viết rằng:
Dũng đông can phù, tỳ kheo Phổ Dung
Không tiếng, không chữ, một bài chú
Gọi là Vô ngại đại bi tâm
Mở bày các phương người mắt sáng
Chớ đem lá vàng làm hoàng kim.

Chùa Diên Hựu, đầu mùa hạ năm Canh thân, viện Liên Hoa, sa môn Nghị Nhuận viết ở sám thất nơi Giang thành:
Một niệm đại bi tâm
Mười giới đều viên mãn
Vốn không tất cả tướng
Làm tất cả biện tài
Huyễn ứng không suy lường
Mạnh làm ngàn tay mắt
Khắp ngăn tất cả ác
Tổng trì tất cả thiện
Nước dơ trăng tự mất
Nước trong trăng tự hiện
Hiểu đặc tánh pháp giới
Xúc cảnh liền linh nghiệm
Minh sư đủ mắt này
Trời tối phát ánh sáng
Sâu chắc thể đại bi
Có được rời các kiến
Nơi ngày sáng trời trong
Có dòng chảy xoay vần
Cúi đầu đấng đại bi
Thường hưng phương tiện lớn.

Thiên trúc, quan chín phẩm, Đường Viên Chiếu kính lạy viết:
Kính lạy đầy đủ đại bi tâm
Lợi sanh thân hiện ngàn tay mắt
Một thân lại hiện sát trần thân
Diệu trí thần thông rộng phô diễn
Cứu giúp khắp cả về vô vi
Ban đầu tăng ấy huân muôn thiện
Mặt trời chiếu sáng mùa tươi tốt
Trái đất xuân về vật sinh sôi
Thể hội chân như, giữ pháp sáng
Mật ngữ, kỳ hình chẳng phân biện
Ở trong một câu hiểu tự trì
Chánh Pháp Minh Vương trong tối rõ.

Minh đạo nhân ghi.
Sau khi cung kính thư họa hình tượng của đà la ni đại bi tâm. Pháp sư Sơ Tấn lúc đó 20 tuổi, đã tụng trì đại bi tâm đà la ni.

Đại sư Văn Cốc ghi: Trần lao tội nghiệp, trí ngu không khỏi, giàu nghèo cùng chịu. Con trong ngày đêm, tụng đủ năm biến, các thiện đua nhóm, muôn ác tranh diệt. Không thể nói, không thể nói. Đến nay 50 tuổi, mỗi ngày thì thầm mà một niệm không động.

Tới ngày khó khăn của mẹ(13) , pháp sư Thương Tuyết nói: Mang đây thúc giục thấy nghe, quỳ xuống mở ra ngắm thưởng, sao chép bạch miêu, giấy mực như mới. Bỗn dưng đại địa chấn động, trời mưa hoa báu, buồn vui góp mặt.

Nhân đó pháp sư Sơ Tấn cúi đầu ghi:
Đấng đại bi Quán Âm
Xưa nay không thân
Hiện ra ngàn tay ngàn mắt
Xưa nay không chữ
Nói ra chương cú thần diệu
Lại có đời nào người nào
Huyễn xuất bốn mươi chín thân tướng hảo(14) .

Quốc sư Tỉ Trung Phong ở trong bảy thân đời quá khứ đều để lại kệ liên hệ ở câu cuối: Quả là tràng ánh sáng, ấn là tạng thần thông. Pháp sư Yểm Quyển một hôm cười nói: Thỉnh cầu bên ngoài hình tướng ngữ ngôn.

Tấn tôi ẩn tu quen rồi, thường thọ trì kinh Phật, lại mười năm qua, trắng đen tìm nhau, sự tùy hỷ như mây, do hiểu ra nên nói: Ngài Kiến An Tự Như ca ngợi “sáng sạch đạo pháp bằng khóa tụng quên năm tháng”, đó là thích hợp cái ý phó chúc lưu thông của đại sĩ Quán Thế Âm.

Nhân đây khắc in, lưu thông tám phương; ngước lên cám ơn lão nhân Thương Tuyết, mang tặng chí tình. Bấy giờ ngài 62 tuổi. Tấn tôi xin kết bạn.

Chú giải:
1. Tôn giả Tứ Minh (960-1028): Cao tăng Trung quốc, thuộc tông Thiên Thai, sống vào đời Tống, tức pháp sư Tri Lễ. Vì sư trụ trì ở núi Tứ Minh, hoằng dương giáo nghĩa Thiên Thai, là nhân vật trung tâm của phái Gia Sơn thuộc tông Thiên Thai nên người đời gọi sư là Tứ Minh Tri Lễ hoặc tôn xưng là Tứ Minh tôn giả. Thiên thủ thiên nhãn đại bi tâm chú hành pháp nằm trong Tục tạng kinh, số 1480. Nghi quỹ sám pháp này được tôn giả soạn tập, căn cứ vào Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (ĐTK 1060), do ngài Già Phạm Đạt Ma dịch và phần chú đại bi thì lấy từ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (ĐTK 1064), do ngài Bất Không dịch, nhưng thêm 5 âm Na ma bà tát đa (那摩婆萨多) ở câu 16.
2. Luật sư Độc Thể (1601-1679): Ngài là vị tổ thứ hai của phái Thiên Hoa luật tông cuối đời Minh, người Điền nam, họ Hứa, tự là Thiệu Như, sau đổi là Kiến Nguyệt. Thuở nhỏ giỏi hội họa, nhất là vẽ tượng Quán Âm đại Sĩ. Năm 14 tuổi cha mẹ qua đời, bác nuôi dưỡng ăn học. Chợt một hôm nhận ra cảnh vô thường trong cuộc sống, ngài bỏ nhà đi làm đạo sĩ Lão giáo, rồi sau đó đến học kinh Hoa Nghiêm với vị lão tăng tên là Xích Nham ở Kiến Xuyên. Đọc phẩm Thế chúa diệu nghiêm, ngài bổng tĩnh ngộ bèn xuất gia với Lượng Như pháp sư, ở núi Hồng Bảo. Thọ giới cụ túc với Tam Muội Tịch Quang luật sư và trở thành bậc thượng toạ, thay thế thầy giảng kinh Phạm Võng. Đọc qua luật Tứ Phần, chỗ nào bế tắc thì hướng về Phật cầu nghĩa, tịnh tọa một lát thì thông suốt. Ngài 8 lần chủ tọa đạo tràng, hơn 70 lần khai giới đàn. Lúc sắp nhập tịch, Tịch Quang phó chúc tử y và các bộ giới bản, ngài được nối pháp Tịch Quang. Từ đó về sau ngài cứ y luật mà tổ chức giới đàn kiết hạ an cư hết sức nghiêm túc và gây được giá trị cảm xúc lợi lạc lớn. Ngài là tác giả bộ Tỳ ni nhật dụng thiết yếu.
3. Sa môn Gia Hòa Tịch Xiêm: Cao tăng đời nhà Thanh. Năm Khang Hy thứ 60 (1795), ngài Tịch Xiêm đứng ra coi khắc bản in Đại bi sám pháp. Đến năm Gia Khánh thứ 24 (1819), ngài duyệt lại bản in, biên tập lại một lần nữa. Hiện tại bản Đại bi sám pháp được ghi trong Tục tạng kinh là bản của ngài Tịch Xiêm biên tập. Bản Đại bi sám pháp do Phật giáo Hương Cảng phát hành thì đã có thêm một ít phần, và hòa thượng Thích Thiền Tâm có lẽ dựa vào bản này mà lược soạn Đại bi sám pháp.
4. Bản Đại bi sám pháp của Phật giáo Hương Cảng phát hành có thêm:
Một lòng kính lạy đại bồ tát Di Lặc, đại bồ tát Phổ Hiền, đại bồ tát Văn Thù Sư Lợi. (1 lạy)
Một lòng kính lạy mười phương ba đời tất cả bồ tát. (1 lạy)
Một lòng kính lạy tôn giả Ma ha Ca Diếp, vô lượng vô số đại thanh văn tăng. (1 lạy)
Một lòng kính lạy vị xiển dương Thiên Thai giáo quán tông là tôn giả Tứ Minh, đại sư Pháp Trí. (1 lạy)
Một lòng đại vì Thiện Tra Phạm Ma, thiên tử Cù Bà Già, bốn vương hộ thế, tám bộ trời rồng, thiên nữ Đồng Mục, thần hư không, thần sông biển, thần nguồn suối, thần sông hồ, thần cỏ thuốc, thần cây rừng, thần nhà cửa, thần nước, thần lửa, thần gió, thần đất, thần núi, thần đá, thần cung điện đều thủ hộ người trì chú, tất cả trời rồng, quỷ thần và các quyến thuộc, xin thay thế mà đảnh lễ Tam Bảo. (1 lạy)
5. Nghi thức trì tụng chú đại bi giản lược, trước nhất là xướng “đại bi khải thỉnh”, như sau:
a. Kính bạch vầng trăng Quán Tự Tại
b. Quảng đại viên mãn thân tử kim
c. Ngàn tay thường hiện nơi thế gian
d. Ngàn mắt ánh sáng thường soi chiếu
e. Một ngàn hai trăm chân ngôn ấn
f. Làm đầy chúng sanh những nguyện cầu
g. Mặt lặng yên, ba mắt trang nghiêm
h. Đảnh đội Di Đà, cầm bảo khí
i. Khen nói chân ngôn, pháp vi diệu
j. Thọ trì sẽ chứng bồ đề Phật
k. Biện tài vô ngại hóa trời người
l. Trong chúng bồ tát làm thượng thủ
m. Tạm nghe trừ diệt trần sa nghiệp
n. Tụng niệm thêm lớn nhân thành Phật
o. Đại bi nguyện lực không thể nghĩ
p. Cho nên nay con niệm, tán thán.
Sau đó, phát nguyện theo đại sĩ Quán Thế Âm ở trên, niệm hồng danh Quán Thế Âm bồ tát và A Di Đà Phật, tụng chú đại bi, cuối cùng là hồi hướng công đức.
6. Năm âm này, rõ ràng là được thêm vào, vì toàn bộ chú đại bi ở đây là trích từ chú đại bi của kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (ĐTK số 1064), không có 5 âm này. Phần kinh văn thì trích trong Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh (ĐTK số 1060).
7. Tụng 5 biến, như kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni ghi: “Nếu chúng sanh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong ngàn muôn ức kiếp sanh tử.”
8. Phiền não, vọng nghiệp, khổ báo (hoặc, nghiệp, khổ).
9. Ái là lầm sự, như tham lam, sân hận … Kiến là lầm lý, như ngã kiến, tà kiến …
10. Biển hai chết: sanh tử phân đoạn và sanh tử biến dịch.
11. Ba đức: pháp thân đức, bát nhã đức và giải thoát đức.
12. Bạch miêu: trường phái hội họa Trung Quốc dùng bút vẽ cặp đôi để khắc họa chân dung thành nhiều đường nét chứ không lấy màu làm chỗ dựa. Đầu tiên là vẽ phác bằng những nét đơn giản, rõ ràng, sau đó thêm vào những nét chải chuốt, tô điểm làm cho tác phẩm sống động.
13. Mẫu nan nhật: ngày khó khăn của mẹ, tức ngày sinh nhật của mình, là ngày mà người mẹ phải trải qua thập tử nhất sanh.
14. Đại Bi xuất tướng đồ là bộ tranh vẽ hiện tướng của Đức Quán Thế Âm trong từng mỗi câu chú. Tổng cộng có 88 bức đồ họa, trong đó có 84 bức minh họa tướng thị hiện của Đức Quán Thế Âm (tương ứng với 84 câu chú Đại bi), 4 bức còn lại là hiện thân Bồ tát trong hình thể Kim Cang, Viên mãn tướng và Thiên thủ Quan âm. Tuy nhiên, nếu xét theo thời gian, thì từ thời nhà Nguyên đến nay lưu hành không phải chỉ có một loại 88 bức họa. Kinh Đại bi tâm đà la ni, bản in thời nhà Minh, có 50 tôn tượng; thời nhà Thanh, vua Khang Hy, Đại bi sám pháp được biên tập lại và bổ sung hình tượng khi in ấn, có 52 đồ tượng; thời nhà Thanh, pháp sư Sơ Tấn ghi “huyễn xuất tứ thập cửu tướng hảo thân”; Chiết Giang, núi Phổ Đà, tàng trữ cổ bản Đại bi xuất tướng lại có 88 tôn tượng. Ngoài ra còn có bản Minh nhân thiên thủ thiên nhãn đại từ tâm đà la ni kinh, tàng trữ ở cung vua (hiện nay được sao chụp, in ấn và phát hành) dung hợp tất cả khác biệt của các bản kia. Duyên khởi của đại bi xuất tướng đồ là từ ngài Bất Không, người dịch bản kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni (ĐTK số 1064). Trong kinh ấy, ngài Bất Không có ghi chú (không hoàn toàn) từng câu của chú đại bi, trong đó nêu ra 48 tôn tượng. Từ đó có ra các bản Đại bi xuất tướng, ít nhất là 52 tôn tượng và nhiều nhất là 88 tôn tượng. Đại bi sám pháp, phần chú đại bi thì dựa vào bản của ngài Bất Không dịch, nhưng có thêm 5 âm Na ma bà tát đa ở câu 16.

卍新纂大日本續藏經 第74冊
No.1480 千手千眼大悲心咒行法 (1卷)
【宋 知禮始集 清 讀體重纂】
第 1 卷
No. 1480

千手千眼大悲心呪行法

四明尊者 知禮 儀軌始集

華山律師 讀體 刪文重纂

嘉禾沙門 寂暹 補像較梓

南無大悲觀世音菩薩(三稱)

一切恭謹

一心頂禮十方常住三寶(一禮畢)
(燒香散華首者唱)

是諸眾等 各各胡跪 嚴持香華
如法供養

願此香華雲 徧滿十方界 一一諸佛土
無量香莊嚴 具足菩薩道 成就如來香

(想云)

(我此香華徧十方 以為微妙光明臺
諸天音樂天寶香 諸天肴膳天寶衣
不可思議妙法塵 一一塵出一切塵
一一塵出一切法 旋轉無礙互莊嚴
遍至十方三寶前 十方法界三寶前
悉有我身修供養 一一皆悉遍法界
彼彼無雜無障礙 盡未來際作佛事
普熏法界諸眾生 蒙熏皆發菩提心
同入無生證佛智)

供養已一切恭謹(唱已一禮)

南無過去正法明如來現前觀世音菩薩。成妙功德。具大慈悲。於一身心。現千手眼。照見法界。護持眾生。令發廣大道心。教持圓滿神呪。永離惡道。得生佛前。無間重愆。纏身惡疾。莫能救濟。悉使消除三昧辯才。現生求願。皆令果遂。決定無疑。能使速獲三乘。早登佛地。威神之力。歎莫能窮。故我一心歸命頂禮。

一心頂禮本師釋迦牟尼世尊(想云)
(能禮所禮性空寂 感應道交難思議
我此道場如帝珠 釋迦如來影現中
我身影現釋迦前 頭面接足歸命禮)

(如禮阿彌陀佛。即云阿彌陀佛影現中云云。禮僧但改為菩薩等。下隨位倣此)。

一心頂禮西方極樂世界阿彌陀世尊
一心頂禮過去無量億劫千光王靜住世尊
一心頂禮過去九十九億殑伽沙諸佛世尊
一心頂禮過去無量劫正法明世尊
一心頂禮十方一切諸佛世尊
一心頂禮賢劫千佛三世一切諸佛世尊
(○大眾聞罄上香)

一心頂禮廣大圓滿無閡大悲心大陀羅尼神妙章句(三稱三禮 想云)
(真空法性如虗空 常住法寶難思議
我身影現法寶前 一心如法歸命禮)

一心頂禮觀音所說諸陀羅尼及十方三世一切尊法
(大眾上香)

一心頂禮千手千眼大慈大悲觀世音自在菩薩摩訶薩(三稱三禮 想云)
(能禮所禮性空寂 感應道交難思議
我此道場如帝珠 大悲菩薩影現中
我身應現大悲前 為求滅障接足禮)

一心頂禮大勢至菩薩摩訶薩
一心頂禮總持王菩薩摩訶薩
一心頂禮日光菩薩月光菩薩摩訶薩
一心頂禮寶王菩薩藥王菩薩藥上菩薩摩訶薩
一心頂禮華嚴菩薩大莊嚴菩薩寶藏菩薩摩訶薩
一心頂禮德藏菩薩金剛藏菩薩虗空藏菩薩摩訶薩
經云。若有比丘。比丘尼。優婆塞。優婆夷。童男。童女。欲誦持者。於諸眾生。起慈悲心。先當從我發如是願。

(眾隨舉 以下一字一擊引磬)。

南無大悲觀世音 願我速知一切法
南無大悲觀世音 願我早得智慧眼
南無大悲觀世音 願我速度一切眾
南無大悲觀世音 願我早得善方便
南無大悲觀世音 願我速乘般若船
南無大悲觀世音 願我早得越苦海
南無大悲觀世音 願我速得戒定道
南無大悲觀世音 願我早登涅槃山
南無大悲觀世音 願我速會無為舍
南無大悲觀世音 願我早同法性身
我若向刀山 刀山自摧折
我若向火湯 火湯自枯竭
我若向地獄 地獄自消滅
我若向餓鬼 餓鬼自飽滿
我若向修羅 惡心自調伏
我若向畜生 自得大智慧

(行者想身。對此佛菩薩前。稱念尊名。惟在哀切。如遭焚溺。求於救濟)。

南無觀世音菩薩
南無阿彌陀佛
(稱念稍急各十聲。至第四第七。高揭首句末字。俱聲大磬。佛號終收一下拜起問訊。主者舉)。

觀世音菩薩白佛言。世尊。若諸眾生。誦持大悲神呪。墮三惡道者。我誓不成正覺。誦持大悲神呪。若不生諸佛國者。我誓不成正覺。誦持大悲神呪。若不得無量三昧辯才者。我誓不成正覺。誦持大悲神呪。於現在生中。一切所求。若不果遂者。不得為大悲心陀羅尼也。乃至說是語已。於眾會前。合掌正住。於諸眾生。起大悲心。開顏含笑。即說如是廣大圓滿無閡大悲心大陀羅尼神妙章句。陀羅尼曰。

南無喝囉怛娜哆囉夜[口*耶](一)(此是觀世音菩薩本身。大須慈悲。用心讀誦。勿高聲神性急) 南無阿唎[口*耶](二)(此是如意輪菩薩本身。到此須存心) 婆盧羯帝爍鉢囉[口*耶](三)(此是持鉢觀世音菩薩本身。若欲取舍利骨。誦此存想菩薩持鉢) 菩提薩埵婆[口*耶](四)(此是不空羂索菩薩押大兵) 摩訶薩埵婆[口*耶](五)(此是菩薩種子自誦呪之本身也) 摩訶迦盧尼迦[口*耶](六)(此是馬鳴菩薩本身。手把鈸折羅即是) 唵(七)(此唵是諸鬼神合掌聽誦呪也) 薩皤囉罰曳(八)(此四大天王之本身降魔) 數怛那怛寫(九)(此是四大天王部落鬼神名字也) 南無悉吉栗埵伊蒙呵唎[口*耶](十)(此是龍樹菩薩本身。大須用心誦此。勿疎失菩薩性急) 婆盧吉帝室佛羅楞馱婆(十一)(此是圓滿報身盧舍那佛) 南無那囉謹墀(十二)(此是清淨法身毗盧遮那佛本身。大須用心) 醯唎摩訶皤哆沙咩(十三)(羊鳴。此是羊頭神王。共諸天魔為眷屬) 薩婆阿他豆輸朋(十四)(此是甘露菩薩。亦是觀世音菩薩部落以為眷屬也) 阿逝孕(十五)(此是飛騰夜叉天王。巡歷四方察其是非也) 薩婆薩哆那摩婆薩哆那摩婆伽(十六)(此是婆加帝神王。其形黑大。以豹皮為裩。手把鐵叉) 摩罰特豆(十七)(此是軍吒利菩薩本身。把鐵輪并把索。而有三眼是也) 怛姪他(十八)(此是劍語) 唵阿婆盧醯(十九) 盧迦帝(二十)(此是大梵天王本身。神仙為部落) 迦羅帝(二十一)(此是帝神長大黑色也) 夷醯唎(二十二)(此是三十三天。是魔醯首羅天神。領天兵青色) 摩訶菩提薩埵(二十三)(此是實心更無雜亂心。即名薩埵) 薩婆薩婆(二十四)(此是香積菩薩。押五方鬼兵以為侍從。不可思議) 摩囉摩囉(二十五)(此是菩薩相罰語。即為齊也) 摩醯摩醯唎馱孕(二十六)(同前) 俱盧俱盧羯幪(二十七)(此是空身菩薩押天大將軍。領二十萬億天兵也) 度盧度盧罰闍耶帝(二十八)(此是嚴峻菩薩。押孔雀蠻兵也) 摩訶罰闍耶帝(二十九)(同前) 陀羅陀羅(三十)(此是觀世音菩薩大丈夫身即是也) 地唎尼(三十一)(此是師子王兵騐讀誦) 室佛囉[口*耶](三十二)(此是霹靂菩薩降伏諸魔眷屬) 遮囉遮囉(三十三)(此是摧碎菩薩本身。手把金輪) 摩摩(某甲受持)罰摩囉(三十四)(此是大降魔金剛本身。把金輪) 穆帝[口*(肄-聿+(企-止+米))](三十五)(此是諸佛合掌聽誦真言) 伊醯移醯(三十六)(此是魔醯首羅天王) 室那室那(三十七)(同前) 阿囉嘇佛囉舍利(三十八)(此是觀世音菩薩。把牌弩弓箭也) 罰沙罰嘇(三十九)(同前) 佛囉舍耶(四十)(此是阿彌陀佛本身。觀世音菩薩師主) 呼盧呼盧摩囉(四十一)(此是八部鬼神王) 呼盧呼盧醯唎(四十二)(同前) 娑囉娑囉(四十三)(此是五濁惡世也) 悉唎悉唎(四十四)(此是觀世音菩薩利益一切眾生不可思議) 蘇嚧蘇嚧(四十五)(此是諸佛樹葉落聲) 菩提夜菩提夜(四十六)(此是觀世音菩薩結緣眾生) 菩馱夜菩馱夜(四十七)(此是阿難本身也) 彌帝唎夜(四十八)(此是大車菩薩手把金刀) 那囉謹墀(四十九)(此是龍樹菩薩手把金刀之處) 地唎瑟尼那(五十)(此是寶幢菩薩手持鐵叉是也) 波夜摩那(五十一)(此是寶金光幢菩薩鈸折羅杵) 娑婆訶(去聲)(五十二) 悉陀夜(五十三)(此是達一切法門) 娑婆訶(去聲)(五十四) 摩訶悉陀夜(五十五)(此是放光菩薩手把赤幡) 娑婆訶(去聲)(五十六) 悉陀喻藝(五十七)(此是諸天菩薩盡悉以集。手把金刀) 室皤囉夜(五十八)(此是安息香也) 娑婆訶(去聲)(五十九) 那囉謹墀(六十)(山海慧菩薩本身。手把金刀) 娑婆訶(去聲)(六十一) 摩羅那羅(六十二)(此是寶〔即〕王菩薩手把金斧) 娑婆訶(去聲)(六十三) 悉囉僧阿穆佉耶(六十四)(此是藥王菩薩本身。行療諸病) 娑婆訶(去聲)(六十五) 娑婆摩訶阿悉陀[口*耶](六十六)(此是藥上菩薩本身。行療諸病) 娑婆訶(去聲)(六十七) 者吉囉阿悉陀夜(同聲)(六十八) 娑婆訶(去聲)(六十九) 波陀摩羯悉哆夜(同聲)(七十) 娑婆訶(去聲)(七十一) 那囉謹墀皤伽囉[口*耶](七十二) 娑婆訶(七十三) 摩婆利勝羯囉夜(七十四) 娑婆訶(七十五) 南無喝囉怛那哆囉夜耶(七十六) 南無阿唎[口*耶](七十七) 婆盧吉帝(七十八) 爍皤囉夜(七十九) 娑婆訶(八十) 悉殿都(八十一) 漫哆羅(八十二) 跋馱耶(八十三) 娑婆訶(八十四)

觀世音菩薩。說此呪已。大地六變震動。天雨寶華。繽紛而下。十方諸佛。悉皆歡喜。天魔外道。恐怖毛竪。一切眾會。皆獲果證。或得須陀洹果。或得斯陀含果。或得阿那含果。或得阿羅漢果者。或得一地二地三四五地。乃至十地者。無量眾生。發菩提心。

(一拜默念我及眾生。無始常為三業六根重罪所障。不見諸佛。不知出要。但順生死。不知妙理。我今雖知。猶與眾生。同為一切重罪所障。今對觀音十方佛前。普為眾生。歸命懺悔。惟願加護。令障消滅 念已。跪唱云)。

普為四恩三有法界眾生。悉願斷除三障。歸命懺悔。

(唱已五體投地。心復念言)。

(我與眾生。無始來今。由愛見故。內計我人。外加惡友。不隨喜他一毫之善。惟徧三業。廣造眾罪。事雖不廣。惡。心徧布。晝夜相續無有間斷。覆諱過失。不欲人知。不畏惡道。無漸無愧。撥無因果。故於今日。深信因果。生重慚愧。生大怖畏。發露懺悔。斷相續心。發菩提心。斷惡修善。勤策三業。翻昔重過。隨喜凡聖一毫之善。念十方佛。有大福慧。能救拔我。及諸眾生。從二死海。置三德岸。從無始來。不知諸法本性空寂。廣造眾惡。今知空寂。為求菩提。為眾生故。廣修諸善。遍斷眾惡。惟願觀音慈悲攝受)。

(想訖跪唱云)。

至心懺悔(弟子某等)與法界一切眾生。現前一心。本具千法。皆有神力。及以智明。上等佛心。下同含識。無始闇動。障此靜明。觸事昏迷。舉心縛著。平等法中起自他想。愛見為本。身口為緣。於諸有中。無罪不造。十惡五逆。謗法謗人。破戒破齋。毀墖壞寺。偷僧祇物。污淨梵行。侵損常住。飲食財物。千佛出世。不通懺悔。如是等罪。無量無邊。捨茲形命。合墮三途。備形萬苦。復於現世。眾惱交煎。或惡疾縈纏。他緣逼迫。障於道法。不得熏修。今遇(一拜)
大悲圓滿神呪。速能滅除如是罪障。故於今日。至心誦持。歸向(一拜)
觀世音菩薩及十方大師。發菩提心。修真言行。與諸眾生。發露眾罪。求乞懺悔。畢竟消除。惟願(一拜)
大悲觀世音菩薩摩訶薩。千手護持。千眼照見。令我等內外障緣寂滅。自他行願圓成。開本見知。制諸魔外。三業精進。修淨土因。至捨此身。更無他趣。決定得生(一拜)
阿彌陀佛極樂世界。親承供養。

大悲觀音。具諸總持。廣度羣品。皆出苦輪。同到智地。

(次起立云)。

懺悔發願已。歸命禮三寶。(一拜)

南無十方佛
南無十方法
南無十方僧
南無本師釋迦牟尼佛
南無阿彌陀佛
盧無千光王靜住佛
南無廣大圓滿無礙大悲心大陀羅尼
南無千手千眼觀世音菩薩
南無大勢至菩薩
南無總持王菩薩
自歸依佛。當願眾生。紹隆佛種。發無上心。
自歸依法。當願眾生。深入經藏。智慧如海。
自歸依僧。當願眾生。統理大眾。一切無礙。
和南聖眾
本茲心非心。幻出千手眼。剎剎用全彰。塵塵體應現。觀盡世間音。耳根悉照見。稽首大悲陀羅尼。尋聲救苦不思議。一毫端上非他物。畟塞虗空渠即伊。噫嘻。普運含靈登覺岸。千差萬別總相宜。

又 從不立文字處。向未彰名相時。且道畢竟喚甚麼。非思量際絕言思。真如兮如是。自在兮在茲。拈出個中關棙子。不妨好事大家知。

此大悲心呪。出像暹自髫年所得。敬誦久之。至康熈乙卯始。合刻懺法。今于己卯冬。參閱數本。最可法者。纂入重輯。公諸同志。寂暹拜讚并識。

白描盡善。字畫尤寄。唐言不是。梵語亦非。幻住隨喜手加額。喚作觀音古大悲。

西天目山沙門明本再拜併題于卷之尾云

觀音大智土。具大悲心者。善說陀羅尼。大悲救一切。我今發弘誓。持此大悲心。無礙陀羅尼。光明從頂出。遍炤我此土。及以十方界。下際風輪際。上至有頂天。彌樓與鐵圍。大海江河水。是中諸眾生。蒙光皆獲益。離苦得解脫。悉發菩提心。盡此一報身。同生極樂國。

願此大悲心。光明照十方。所有虗空界。微塵眾佛剎。彼土諸如來。皆生大歡喜。方便願智力。慈哀加被我。各於無見頂。普放大悲光。從彼微塵方。咸來灌我頂。滅我一切罪。成我一切願。令我早具足。無礙大悲心。如諸佛世尊。廣度於一切。

本師釋迦尊。說此大悲經。我於此經中。決定信無疑。願我於未來。當成一切智。以此大悲心。廣大作佛事。供養洹沙佛。度脫諸眾生。如觀音菩薩。能救世間苦。

右此偈。比丘自如。日常誦呪。私發願文。淨明道者。大啟悲誓。持此章句。課誦忘歲月。至大庚戌春。得此經卷。適符本願。此大士付囑流通之意也。一日捧經。請書前偈。因謂之曰。

大士無身示身。千手千眼。無語示語。章句音聲。若能於形相語言之外。信受奉行。非唯觀世音。我亦從中證。

建安自如

呪音充徹一切處。如大風輪持大地。若佛菩薩天仙。於喉舌中吐光熾。滅除歷劫業障因。豁達眾生清淨智。圓滿無礙解脫門。淨明道者。未興一念底便是 淨明道者。得此呪本。為題之云。

淨慈東嶼德海

稽首觀音大悲心。現千手眼不思議。宣說秘密陀羅尼。救度眾生震大地。天人悲仰鬼神欽。外道羣魔生佈畏。譬如日輪行虗空。放大光明遍赫熾。能摧一切障礙山。能開一切金剛智。能除眾生熱惱心。令食甘露清涼味。淨明道者日受持。顯出無量大悲誓。若還決定信無疑。成就諸佛清淨慧。

徑山住持比丘希陵說偈讚云

正法明觀自在所說神呪。號大悲拔濟眾生離苦海。

延祐己未秋。淨因寺元明上人請贊。故書。

甬東乾符比丘普容

無聲無字一篇呪。誰謂大悲無礙心。展示諸方明眼者莫將黃葉作黃金。

延祐庚申孟夏。蓮華院沙門義潤。書于江城懺室。

一念大悲心。十界咸圓滿。本無一切相。當試一切辯。幻應叵測量。強施千手眼。徧遮一切惡。總持一切善。水濁月似亡。水清月似現。但了介爾性。觸境即靈驗。明師具此眼。墨塵發光焰。深諦大悲體。克獲離諸見。青天白日中。有流多洄漩。稽首大悲主。恒興大方便。

天竺九品觀堂圓照再拜書

稽首具足大悲心。利生身現千手眼。一身復現剎塵身。妙智神通廣敷闡。與拔徧至我無為。由始那僧熏萬善。中天日朗蔀或豐。大地春回物何限。爾欲真入持明門。密語奇形莫分辯。當頭一句解自持。正法明王暗中顯。

明道人記

敬書畫像大悲心陀羅尼後

晉二十歲。誦持大悲心陀羅尼。聞谷大師云。塵勞罪業。智愚未免。豪賤共有。子能一宿。誦滿五遍。眾善競會。萬惡爭消。不可說不可說。迄今五十歲。惟日喃喃。一念不動耳矣。屆母難日。蒼雪法師。擕此筴見示。胡跪展玩。繕寫白描。楮墨如新。恍如大地震動。天雨寶華。悲喜交集。因稽首曰。觀音大悲主。本來無身。現出千手千眼。本來無字。宣出神妙章句。更有何代何人。幻出四十九相好身。俾中峯國師以下過去七人。又各各綴偈讚于尾。果光明幢印神通藏耶。法師掩卷一笑曰。請求之形相語言之外。

晉潛在拜識

晉受持梵筴。又十年矣。緇素相索。隨喜者如雲。因憬然曰。建安自如贊嘆。淨明道者課誦忘歲月。適符大士付囑流通之意。因即刊布八遐。仰謝蒼雪老人。持贈至誼。時年六十有二。晉載拜識。

【經文資訊】卍新續藏第 74 冊 No. 1480 千手千眼大悲心咒行法
【版本記錄】CBETA 電子佛典 2014.04,完成日期:2014/04/26
【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依卍新續藏所編輯
【原始資料】CBETA 人工輸入,CBETA 掃瞄辨識
【其他事項】本資料庫可自由免費流通,詳細內容請參閱【中華電子佛典協會資料庫版權宣告】

695 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay