» » » Kinh Mười Pháp Tu Vãng Sanh Cực Lạc

Kinh Mười Pháp Tu Vãng Sanh Cực Lạc

Mục Tục Tạng Kinh | 0

Kinh Mười Pháp Tu Vãng Sanh Cực Lạc: thuộc tập X1 (Tục tạng kinh), kinh số 14.
Thất Dịch Nhơn Danh, bản Việt dịch của Như Hòa.

Tôi nghe như thế này: Một thời đức Phật ngự tại thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật, cùng với chúng đại tỳ-kheo một vạn hai ngàn người, đều là đại A La Hán, [là những vị] được mọi người hay biết, tên các ngài là: Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha A Na Luật Đà, những vị như vậy đều làm thượng thủ. Lại cùng vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát cùng hội, hết thảy đều trụ địa vị Bất Thoái Chuyển, trang nghiêm bằng vô lượng công đức, tên các ngài là: Diệu Cát Tường Bồ Tát, Vô Năng Thắng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, các vị đại Bồ Tát như vậy làm thượng thủ. Lại có Thích Đề Hoàn Nhân, chủ thế giới Kham Nhẫn: Đại Phạm Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương, trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa các vị thiên tử thượng thủ như vậy và A Tố Lạc v.v… vì nghe pháp nên thảy đều đến dự. Ai nấy lễ dưới chân Phật, lui ra ngồi qua một bên.

Lúc bấy giờ, A Nan bạch Phật rằng:
– Thế Tôn từ khi thành đạo đến nay, trong các pháp để giải thoát hết thảy chúng sanh được phu diễn rộng rãi trong kinh điển Đại Thừa, Ngài tuyên nói pháp “Tây Phương Cực Lạc thế giới vi diệu tối thắng, thanh tịnh trang nghiêm, bổn thệ nguyện sâu nặng, công đức chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, hết thảy chúng sanh vãng sanh Cực Lạc thế giới”. Chúng con lắng nghe, tin nhận, tu hành, chưa nghe pháp quán thân, sự ấy như thế nào? Kính xin Phật giảng cho.
Phật bảo A Nan:
– Phàm pháp quán thân chẳng quán Đông Tây, chẳng quán Nam Bắc, chẳng quán bốn phương bàng, trên dưới, chẳng quán hư không, chẳng quán ngoại duyên, chẳng quán nội duyên, chẳng quán thân sắc, chẳng quán sắc thanh, chẳng quán sắc tượng, chỉ quán vô duyên. Đấy là pháp quán thân chân chánh, trừ cách quán thân này ra, tìm cầu kỹ khắp mười phương, nơi nơi chốn chốn, chẳng còn pháp nào khác để được giải thoát.

Phật lại bảo A Nan:
– Chỉ tự quán thân, thiện lực tự nhiên, chánh niệm tự nhiên, giải thoát tự nhiên, vì sao thế? Ví như có người tinh tấn trực tâm, được giải thoát chân chánh, người như thế chẳng cầu giải thoát mà giải thoát tự đến.

A Nan lại bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn! Chúng sanh trong thế gian nếu có chánh niệm giải thoát như thế, sẽ chẳng có hết thảy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ba đường ác.

Phật bảo A Nan:
– Chúng sanh trong thế gian chẳng được giải thoát là vì sao? Hết thảy chúng sanh đều do giả nhiều, thật ít, không có lấy một chánh niệm; do nhân duyên ấy địa ngục thì nhiều, giải thoát thì ít. Ví như có kẻ đối với cha mẹ mình và với sư, tăng, bề ngoài ra vẻ hiếu thuận, trong lòng bất hiếu, ngoài hiện vẻ tinh tấn, trong lòng chẳng thật. Kẻ ác như thế, báo tuy chưa đến, tam đồ chẳng xa, không có chánh niệm, chẳng được giải thoát.

A Nan lại bạch Phật rằng:
– Nếu là như vậy, nên tu thiện căn nào để được chánh giải thoát?

Phật bảo A Nan:
– Nay ông nghe kỹ, ta sẽ nói cho ông, có mười pháp vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới hòng được giải thoát. Thế nào là mười?

Một là quán thân chánh niệm, thường đem lòng hoan hỷ, dùng thức ăn, y phục thí Phật và Tăng, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Hai là chánh niệm, dùng thuốc cam lộ tốt lành, thí cho một vị tỳ-kheo mắc bịnh và hết thảy, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Ba là chánh niệm, chẳng hại một sanh mạng, từ bi đối với hết thảy, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Bốn là chánh niệm, từ nơi thầy thọ giới, tịnh huệ tu phạm hạnh, thường ôm lòng hoan hỷ, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Năm là chánh niệm, hiếu thuận cha mẹ, kính thờ sư trưởng, chẳng khởi tâm kiêu mạn, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Sáu là chánh niệm, đi đến tăng phường, cung kính chùa tháp, nghe pháp hiểu một nghĩa, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Bảy là chánh niệm, trong một ngày một đêm, thọ trì Bát Trai Giới, chẳng phá điều nào, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Tám là chánh niệm, nếu có thể trong tháng chay hoặc trong ngày chay, xa lìa nhà cửa, thường đến chỗ thầy lành, vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Chín là chánh niệm, thường có thể giữ giới trong sạch, siêng tu Thiền Định, hộ pháp, chẳng ác khẩu. Nếu có thể làm được như thế sẽ vãng sanh cõi Phật A Di Đà.
Mười là chánh niệm, nếu đối với đạo vô thượng, chẳng khởi tâm phỉ báng, tinh tấn trì tịnh giới, lại dạy kẻ vô trí, lưu truyền kinh pháp này, giáo hóa vô lượng chúng sanh, những người như thế thảy đều được vãng sanh cõi Phật A Di Đà.

Lúc bấy giờ, mười phương thế giới chấn động sáu cách, trời mưa hoa quý đẹp, hết thảy các Bồ Tát trong mười phương cõi Phật đều nhóm đến trong hội này, một lòng nghe pháp. Trong đại hội có một vị Bồ Tát, tên là Sơn Hải Huệ, bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn! Cõi Phật A Di Đà kia có những sự vui mầu nhiệm thù thắng gì mà hết thảy chúng sanh đều nguyện vãng sanh cõi ấy?

Phật bảo Sơn Hải Huệ Bồ Tát:
– Nay ông nên đứng dậy chắp tay, đứng ngay ngắn hướng về Tây, chánh niệm quán cõi Phật A Di Đà, nguyện được thấy Phật A Di Đà.

Lúc bấy giờ, hết thảy đại chúng, cũng đều đứng dậy chắp tay, cùng quán A Di Đà Phật. Lúc đó, A Di Đà Phật hiện đại thần thông, phóng quang minh lớn, chiếu thân Sơn Hải Huệ Bồ Tát. Lúc ấy, các vị như Sơn Hải Huệ Bồ Tát v.v… liền thấy tất cả những sự trang nghiêm diệu hảo trong cõi nước Phật A Di Đà thảy đều bằng bảy báu: núi bảy báu, tháp bảy báu, nhà cửa bảy báu, lầu gác bảy báu; nước, chim, rừng cây thường thốt ra pháp âm. Cây đạo tràng trong cõi nước ấy cao bốn mươi vạn do-tuần, dưới cây có tòa sư tử cao năm trăm do-tuần, A Di Đà Phật ngày ngày thường chuyển pháp luân. Nhân dân cõi ấy chẳng tu tập việc bên ngoài, chỉ chân chánh tu tập việc bên trong: miệng nói lời Phương Đẳng, tai nghe tiếng Phương Đẳng, tâm hiểu nghĩa Phương Đẳng.

Lúc bấy giờ, Sơn Hải Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn! Chúng con nay trông thấy lợi ích thắng diệu chẳng thể nghĩ bàn nơi cõi ấy, con nay nguyện hết thảy chúng sanh đều được vãng sanh, rồi sau đấy chúng con cũng nguyện sanh về cõi ấy.

Phật thọ ký rằng:
– Chánh quán, chánh niệm, đắc chánh giải thoát, thảy đều sanh về đó.

Phật bảo Sơn Hải Huệ Bồ Tát:
– Ông nay muốn độ hết thảy chúng sanh thì phải nên thọ trì kinh này.

Phật bảo đại chúng:
– Sau khi ta diệt độ, thọ trì kinh này trong tám vạn kiếp rộng tuyên nói, lưu truyền, đến thời ngàn đức Phật trong Hiền kiếp, khiến khắp các chúng sanh nghe biết, tin ưa tu hành; kẻ nói, kẻ nghe đều được vãng sanh cõi Phật A Di Đà. Nếu có những kẻ như thế, ta từ hôm nay trở đi, thường sai hai mươi lăm vị Bồ Tát hộ trì người ấy, thường khiến cho người ấy không bệnh, không khổ, dù là người hay phi nhân đều chẳng thừa dịp làm hại được, đi, đứng, nằm, ngồi, bất luận là ngày hay đêm, thường được an ổn.

Nếu có chúng sanh tin tưởng sâu xa kinh này, niệm A Di Đà Phật, nguyện vãng sanh thì đức Phật A Di Đà trong thế giới Cực Lạc kia bèn sai Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Pháp Tự Tại Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Đà La Ni Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Kim Tạng Bồ Tát, Kim Cang Bồ Tát, Sơn Hải Huệ Bồ Tát, Quang Minh Vương Bồ Tát, Hoa Nghiêm Vương Bồ Tát, Chúng Bảo Vương Bồ Tát, Nguyệt Quang Vương Bồ Tát, Nhật Chiếu Vương Bồ Tát, Tam Muội Vương Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Tự Tại Vương Bồ Tát, Bạch Tượng Vương Bồ Tát, Đại Oai Đức Vương Bồ Tát, Vô Biên Thân Bồ Tát, hai mươi lăm Bồ Tát ấy ủng hộ hành giả, dù đi hay đứng, dù nằm hay ngồi, dù ngày hay đêm, trong hết thảy thời, hết thảy nơi, chẳng cho ác quỷ, ác thần được thừa dịp làm hại.

Phật lại bảo Sơn Hải Huệ:
– Kinh này tên là Đổ A Di Đà Phật Sắc Thân Chánh Niệm Giải Thoát Tam Muội kinh (kinh thấy sắc thân A Di Đà Phật, chánh niệm giải thoát tam muội), còn tên là Độ Chư Hữu Lưu Sanh Tử Bát Nạn Hữu Duyên Chúng Sanh kinh (kinh cứu độ các chúng sanh hữu duyên trong các cõi sanh tử và tám chỗ nạn), thọ trì như thế. Chúng sanh chưa có duyên Niệm Phật Tam Muội thì kinh này có thể mở cửa đại tam muội, có thể đóng cửa địa ngục cho chúng sanh, kinh này có thể trừ sạch những kẻ hại, ác quỷ cho chúng sanh, bốn hướng thảy đều an ổn.

Phật bảo Sơn Hải Huệ:
– Như ta vừa nói, nghĩa ấy như thế.

Sơn Hải Huệ Bồ Tát bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn! Con nay đảnh thọ (1) kinh cao quý, chẳng dám nghi ngờ. Nhưng trong đời này và đời mai sau, có các chúng sanh hay sanh phỉ báng, chẳng tin kinh này, những kẻ như thế sau này sẽ ra sao?

Phật bảo Sơn Hải Huệ Bồ Tát:
– Sau này trong Diêm Phù Đề, nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, hoặc nam, hoặc nữ, thấy có kẻ đọc tụng kinh này mà nếu như nóng giận, ôm lòng phỉ báng. Do vì báng chánh pháp, nơi thân hiện tại của người ấy bị các bệnh nặng dữ, thân căn chẳng đủ, hoặc là bịnh điếc, bịnh lòa, bịnh câm, bịnh ngọng, bịnh thất âm, quỷ mị, tà cuồng, bịnh phong, bệnh rét, sốt, trĩ, thủy thũng, mất trí, các bệnh nặng dữ như thế, đời đời mắc phải. Chịu khổ như thế, ngồi nằm chẳng yên, đại tiện tiểu tiện cũng đều chẳng thông, cầu sống chẳng được, cầu chết không xong.

Hoặc đến khi chết đi, đọa vào địa ngục, trong tám vạn kiếp, chịu khổ não lớn, trăm ngàn vạn đời, chưa từng nghe đến tên thức ăn, nước uống, mãi lâu sau mới được ra, sanh vào nhân gian, làm trâu, ngựa, heo, dê, bị người giết hại, chịu đại khổ não. Sau mới được làm người, thường sanh nhà hạ tiện, trăm ngàn vạn đời chẳng được tự tại, mãi chẳng được nghe danh hiệu Tam Bảo. Vì báng kinh này nên chịu khổ như thế.

Bởi thế, với kẻ vô trí, đừng nói kinh này; với người chánh quán, chánh niệm, với người như thế mới nên nói cho. Những ai chẳng kính kinh này đọa trong địa ngục. Những ai kính trọng được chánh giải thoát, vãng sanh nước Phật A Di Đà. Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiện nam tử, thiện nữ nhân, chánh tín kinh này, ưa thích kinh này, khuyên lơn, chỉ dạy chúng sanh, người nói kẻ nghe thảy đều vãng sanh cõi nước Phật A Di Đà. Vì thế, kẻ có lòng tin, sau khi ta diệt độ, trì kinh pháp này, chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp trong đời trược ác, rộng tuyên truyền lưu thông, người ấy chính thật là đệ tử ta, ngay trong thân này đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Phật nói kinh này xong, tôn giả A Nan, các đại Thanh Văn, và các tỳ-kheo, Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy thế gian: trời, người, A Tu La v.v… nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ lớn, tin nhận, phụng hành.

Phật thuyết Thập Vãng Sanh A Di Đà Phật Quốc kinh hết

(Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa dịch xong ngày 24 tháng 07 năm 2004)

(1) Đảnh thọ: hiểu theo nghĩa đen nhận lấy vật gì đội lên đầu, hiểu theo nghĩa rộng là cung kính lãnh thọ, vô cùng tôn trọng, gìn giữ, không dám khinh dễ.

Phật thuyết Thập Vãng Sanh A Di Đà Phật quốc kinh
Thất dịch nhân danh

Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Vương Xá Thành, Kỳ Xà Quật sơn trung, dữ đại tỳ-kheo chúng vạn nhị thiên nhân câu, giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức, kỳ danh viết: Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha A Na Luật Đà, giai như thị đẳng nhi vi thượng thủ. Hựu dữ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát câu, nhất thiết giai trụ bất thoái chuyển vị, vô lượng công đức chúng sở trang nghiêm, kỳ danh viết: Diệu Cát Tường Bồ Tát, Vô Năng Thắng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, như thị đẳng chư đại Bồ Tát nhi vi thượng thủ. Phục hữu Thích Đề Hoàn Nhân, Kham Nhẫn giới chủ: Đại Phạm Thiên Vương, Tứ Đại Thiên Vương. Như thị thượng thủ bách thiên câu chi na dữu đa chư thiên tử chúng, cập A Tố Lạc đẳng, vị văn pháp cố, giai tất lai tập, các lễ Phật túc, thoái tọa nhất diện.

Nhĩ thời A Nan bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn thành đạo dĩ lai, vu quảng phu diễn Đại Thừa kinh điển nhất thiết chúng sanh giải thoát chi pháp trung, tuyên thuyết Tây Phương Cực Lạc thế giới vi diệu tối thắng, thanh tịnh trang nghiêm, A Di Đà Phật bổn thệ trọng nguyện, bất khả tư nghị công đức, nhất thiết chúng sanh vãng sanh Cực Lạc thế giới chi pháp, ngã đẳng đế thính, tín thọ, tu hành, vị văn quán thân chi pháp, kỳ sự vân hà? Duy nguyện thuyết chi!

Phật cáo A Nan ngôn:
– Phù quán thân chi pháp giả, bất quán Đông Tây, bất quán Nam Bắc, bất quán tứ duy thượng hạ, bất quán hư không, bất quán ngoại duyên, bất quán nội duyên, bất quán thân sắc, bất quán sắc thanh, bất quán sắc tượng, duy quán vô duyên, thị vi chánh chân quán thân chi pháp. Trừ thị quán thân, thập phương đế cầu, tại tại xứ xứ, cánh vô biệt pháp nhi đắc giải thoát.

Phật phục cáo A Nan:
– Đản tự quán thân, thiện lực tự nhiên, chánh niệm tự nhiên, giải thoát tự nhiên, hà dĩ cố? Thí như hữu nhân, tinh tấn trực tâm, đắc chánh giải thoát. Như thị chi nhân, bất cầu giải thoát, giải thoát tự chí.

A Nan phục bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Thế gian chúng sanh nhược hữu như thị chánh niệm giải thoát, ưng vô nhất thiết địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh tam ác đạo dã.

Phật cáo A Nan:
– Thế gian chúng sanh bất đắc giải thoát. Hà dĩ cố? Nhất thiết chúng sanh giai do đa hư thiểu thật, vô nhất chánh niệm; dĩ thị nhân duyên, địa ngục giả đa, giải thoát giả thiểu. Thí như hữu nhân, vu tự phụ mẫu, cập dĩ sư tăng, ngoại hiện hiếu thuận, nội hoài bất hiếu, ngoại hiện tinh tấn, nội hoài bất thật. Như thị ác nhân, báo tuy vị chí, tam đồ bất viễn, vô hữu chánh niệm, bất đắc giải thoát.

A Nan phục bạch Phật ngôn:
– Nhược như thị giả, cánh tu hà thiện căn đắc chánh giải thoát?

Phật cáo A Nan:
– Nhữ kim thiện thính, ngô kim vị nhữ thuyết, hữu Tây Phương Cực Lạc thế giới thập vãng sanh pháp, khả đắc giải thoát. Vân hà vi thập?

Nhất giả, quán thân chánh niệm, thường hoài hoan hỷ, dĩ ẩm thực, y phục, thí Phật cập Tăng, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Nhị giả, chánh niệm dĩ cam lộ lương dược thí nhất bệnh tỳ-kheo cập nhất thiết, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Tam giả chánh niệm, bất hại nhất sanh mạng, từ bi vu nhất thiết, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Tứ giả chánh niệm, tùng sư sở thọ giới, tịnh huệ tu phạm hạnh, thường hoài hoan hỷ, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Ngũ giả chánh niệm, hiếu thuận vu phụ mẫu, kính phụng vu sư trưởng, bất khởi kiêu mạn tâm, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Lục giả chánh niệm, vãng nghệ vu tăng phường, cung kính vu tháp tự, văn pháp giải nhất nghĩa, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Thất giả chánh niệm, nhất nhật nhất dạ trung, thọ trì Bát Trai Giới, bất phá nhất, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Bát giả chánh niệm, nhược năng trai nguyệt, trai nhật trung, viễn ly vu phòng xá, thường nghệ vu thiện sư, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Cửu giả chánh niệm, thường năng trì tịnh giới, cần tu vu thiền định, hộ pháp bất ác khẩu, nhược năng như thị hành, vãng sanh A Di Đà Phật quốc.
Thập giả chánh niệm, nhược vu vô thượng đạo, bất khởi phỉ báng tâm, tinh tấn trì tịnh giới, phục giáo vô trí giả, lưu bố thị kinh pháp, giáo hóa vô lượng chúng sanh, như thị chư nhân đẳng tất giai đắc vãng sanh A Di Đà Phật quốc.

Nhĩ thời thập phương thế giới lục chủng chấn động, vũ trân diệu hoa, tha phương Phật quốc nhất thiết chư Bồ Tát lai tập thử hội, nhất tâm thính pháp. Đại hội trung hữu nhất Bồ Tát, danh Sơn Hải Huệ, bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Bỉ A Di Đà Phật quốc, hữu hà diệu lạc thắng sự, nhất thiết chúng sanh giai nguyện vãng sanh bỉ?

Phật cáo Sơn Hải Huệ Bồ Tát:
– Nhữ kim ưng đương khởi lập hiệp chưởng, chánh thân hướng Tây, chánh niệm quán A Di Đà Phật quốc, nguyện kiến A Di Đà Phật.

Nhĩ thời, nhất thiết đại chúng diệc giai khởi lập, hiệp chưởng, cộng quán A Di Đà Phật. Nhĩ thời, A Di Đà Phật hiện đại thần thông, phóng đại quang minh, chiếu Sơn Hải Huệ Bồ Tát thân. Nhĩ thời, Sơn Hải Huệ Bồ Tát đẳng, tức kiến A Di Đà Phật quốc độ, sở hữu trang nghiêm diệu hảo chi sự, giai tất thất bảo, thất bảo sơn, thất bảo tháp, thất bảo phường, thất bảo lâu các, thủy, điểu, thọ lâm, thường thổ pháp âm. Bỉ quốc đạo tràng thọ cao tứ thập vạn do-tuần, thọ hạ hữu sư tử tòa, cao ngũ bách do-tuần, A Di Đà Phật nhật nhật thường chuyển pháp luân. Bỉ quốc nhân dân, bất tập ngoại sự, chánh tập nội sự, khẩu thuyết Phương Đẳng ngữ, nhĩ thính Phương Đẳng thanh, tâm giải Phương Đẳng nghĩa.

Nhĩ thời, Sơn Hải Huệ Bồ Tát bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Ngã đẳng kim giả, đổ kiến bỉ quốc thắng diệu lợi ích, bất khả tư nghị, kim ngã nguyện nhất thiết chúng sanh, tất giai vãng sanh, nhiên hậu ngã đẳng diệc nguyện sanh bỉ quốc.

Phật ký chi viết:
– Chánh quán, chánh niệm, đắc chánh giải thoát, giai tất sanh bỉ.

Phật cáo Sơn Hải Huệ Bồ Tát:
– Nhữ kim dục độ nhất thiết chúng sanh, ưng đương thọ trì thị kinh.

Phật cáo đại chúng:
– Vu ngã diệt hậu, thọ trì thị kinh, bát vạn kiếp trung, quảng tuyên lưu bố, chí Hiền kiếp thiên Phật, sử chư chúng sanh phổ đắc văn tri, tín nhạo tu hành. Thuyết giả, thính giả giai đắc vãng sanh A Di Đà Phật quốc. Nhược hữu như thị đẳng nhân, ngã tùng kim nhật, thường sử nhị thập ngũ Bồ Tát hộ trì thị nhân, thường linh thị nhân vô bệnh vô não. Nhược nhân, nhược phi nhân bất đắc kỳ tiện, hành trụ tọa ngọa, vô vấn trú dạ thường đắc an ổn.

Nhược hữu chúng sanh thâm tín thị kinh, niệm A Di Đà Phật, nguyện vãng sanh giả, bỉ Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, tức di Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Pháp Tự Tại Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Đà La Ni Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Đức Tạng Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Kim Tạng Bồ Tát, Kim Cang Bồ Tát, Sơn Hải Huệ Bồ Tát, Quang Minh Vương Bồ Tát, Hoa Nghiêm Vương Bồ Tát, Chúng Bảo Vương Bồ Tát, Nguyệt Quang Vương Bồ Tát, Nhật Chiếu Vương Bồ Tát, Tam Muội Vương Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Tự Tại Vương Bồ Tát, Bạch Tượng Vương Bồ Tát, Đại Oai Đức Vương Bồ Tát, Vô Biên Thân Bồ Tát, thị nhị thập ngũ Bồ Tát, ủng hộ hành giả, nhược hành, nhược trụ, nhược tọa, nhược ngọa, nhược trú, nhược dạ, nhất thiết thời, nhất thiết xứ, bất linh ác quỷ, ác thần đắc kỳ tiện dã.

Phật hựu cáo Sơn Hải Huệ:
– Thị kinh danh vi Đổ A Di Đà Phật Sắc Thân Chánh Niệm Giải Thoát Tam Muội kinh, diệc danh Độ Chư Hữu Lưu Sanh Tử Bát Nạn Hữu Duyên Chúng Sanh kinh, như thị thọ trì. Chúng sanh vị hữu Niệm Phật Tam Muội duyên giả, thị kinh năng dữ tác khai đại tam-muội môn, thị kinh năng dữ chúng sanh bế địa ngục môn, thị kinh năng dữ chúng sanh trừ hại nhân ác quỷ điễn diệt, tứ hướng giai tất an ổn.

Phật cáo Sơn Hải Huệ:
– Như ngã sở thuyết, kỳ nghĩa như thị.

Sơn Hải Huệ Bồ Tát bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Ngã kim đảnh thọ tôn kinh, bất cảm hữu nghi. Nhiên vu kim thế, cập vị lai thế, chư hữu chúng sanh, đa sanh phỉ báng, bất tín thị kinh, như thị chi nhân, vu hậu vân hà?

Phật cáo Sơn Hải Huệ Bồ Tát:
– Vu hậu Diêm Phù Đề, hoặc hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, nhược nam, nhược nữ, kiến hữu độc tụng thị kinh giả, hoặc tương sân nhuế, tâm hoài phỉ báng. Do thị báng chánh pháp cố, thị nhân hiện thân chi trung, đắc chư ác trọng bệnh, thân căn bất cụ, hoặc đắc lung bệnh, manh bệnh, ám bệnh, á bệnh, thất âm bệnh, quỷ mị, tà cuồng, phong, lãnh, nhiệt, trĩ, thủy thũng, thất tâm, như thị đẳng giả chư ác trọng bệnh, thế thế tại thân. Như thị thọ khổ, tọa ngọa bất an, đại tiểu tiện lợi diệc giai bất thông, cầu sanh bất đắc, cầu tử bất đắc. Hoặc nãi chí tử, đọa vu địa ngục bát vạn kiếp trung, thọ đại khổ não, bách thiên vạn thế, vị tằng văn thủy thực chi danh. Cửu hậu đắc xuất, sanh tại nhân trung, tác ngưu, mã, trư, dương, vị nhân sở sát, thọ đại khổ não. Hậu đắc nhân thân, thường sanh hạ tiện, bách thiên vạn thế bất đắc tự tại, vĩnh bất văn Tam Bảo danh tự. Vị báng thị kinh cố, thọ khổ như thị.

Thị cố, vô trí nhân trung, mạc thuyết thị kinh. Chánh quán, chánh niệm, như thị chi nhân, nhiên hậu dữ thuyết. Bỉ thử bất kính thị kinh, đọa vu địa ngục, bỉ thử kính trọng, đắc chánh giải thoát, vãng sanh A Di Đà Phật quốc. Nhược hữu tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, thiện nam tử, thiện nữ nhân, chánh tín thị kinh, ái nhạo thị kinh, khuyến đạo chúng sanh, thuyết giả, thính giả, giai tất vãng sanh A Di Đà Phật quốc. Thị cố hữu tín giả, ngã diệt hậu thọ trì thị kinh pháp, chánh pháp, tượng pháp, mạt pháp trược ác thế trung, quảng tuyên lưu bố, thị nhân tức vi chân ngã đệ tử, hiện thân tức đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

Phật thuyết thử kinh dĩ, tôn giả A Nan, chư đại Thanh Văn, cập chư tỳ-kheo, Bồ Tát Ma Ha Tát, nhất thiết thế gian thiên, nhân, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

卍新纂大日本續藏經 第01冊
No.14 十往生阿彌陀佛國經 (1卷)
【失譯 出周錄】
第 1 卷

No. 14

佛說十往生阿彌陀佛國經

失譯人名 出周錄

如是我聞一時佛在王舍城耆闍崛山中與大比丘眾萬二千人俱皆是大阿羅漢眾所知識其名曰摩訶迦葉摩訶阿那律陀皆如是等而為上首。

又與無量菩薩摩訶薩俱一切皆住不退轉位無量功德眾所莊嚴其名曰妙吉祥菩薩無能勝菩薩常精進菩薩不休息菩薩如是等諸大菩薩而為上首復有釋提桓因堪忍界主大梵天王四大天王如是上首百千俱低那庾多諸天子眾及阿素洛等為聞法故皆悉來集各禮佛足退坐一面。

爾時阿難白佛言世尊成道已來於廣敷演大乘經典一切眾生解脫之法中宣說西方極樂世界微妙最勝清淨莊嚴阿彌陀佛本誓重願不可思議功德一切眾生往生極樂世界之法我等諦聽信受修行未聞觀身之法其事云何唯願說之。

佛告阿難夫觀身之法者不觀東西不觀南北不觀四維上下不觀虗空不觀外緣不觀內緣不觀身色不觀色聲不觀色像唯觀無緣是為正真觀身之法除是觀身十方諦求在在處處更無別法而得解脫佛復告阿難但自觀身善力自然正念自然解脫自然何以故譬如有人精進直心得正解脫如是之人不求解脫解脫自至阿難復白佛言世尊世間眾生若有如是正念解脫應無一切地獄餓鬼畜生三惡道也。

佛告阿難世間眾生不得解脫何以故一切眾生皆由多虗少實無一正念以是因緣地獄者多解脫者少譬如有人於自父母及以師僧外現孝順內懷不孝外現精進內懷不實如是惡人報雖未至三途不遠無有正念不得解脫阿難復白佛言若如是者更脩何善根得正解脫。

佛告阿難汝今善聽吾今為汝說有西方極樂世界十往生法可得解脫云何為十一者觀身正念常懷歡喜以飲食衣服施佛及僧往生阿彌陀佛國二者正念以甘妙良藥施一病比丘及一切往生阿彌陀佛國三者正念不害一生命慈悲於一切往生阿彌陀佛國四者正念從師所受戒淨慧修梵行常懷歡喜往生阿彌陀佛國五者正念孝順於父母敬奉於師長不起憍慢心往生阿彌陀佛國六者正念往詣於僧坊恭敬於塔寺聞灋解一義往生阿彌陀佛國七者正念一日一夜中受持八齋戒不破一往生阿彌陀佛國八者正念若能齋月齋日中遠離於房舍常詣於善師往生阿彌陀佛國九者正念常能持淨戒勤修於禪定護法不惡口若能如是行往生阿彌陀佛國十者正念若於無上道不起誹謗心精進持淨戒復教無智者流布是經法教化無量眾生如是諸人等悉皆得往生阿彌陀佛國。

爾時十方世界六種震動雨珍妙華他方佛國一切諸菩薩來集此會一心聽法大會中有一菩薩名山海慧白佛言世尊彼阿彌陀佛國有何玅樂勝事一切眾生皆願往生彼佛告山海慧菩薩汝今應當起立合掌正身向西正念觀阿彌陀佛國願見阿彌陀佛爾時一切大眾亦皆起立合掌共觀阿彌陀佛爾時阿彌陀佛現大神通放大光明照山海慧菩薩身爾時山海慧菩薩等即見阿彌陀佛國土所有莊嚴妙好之事皆悉七寶七寶山七寶塔七寶坊七寶樓閣水鳥樹林常吐法音彼國道場樹高四十萬由旬樹下有獅子座高五百由旬阿彌陀佛日日常轉法輪彼國人民不習外事正習內事口說方等語耳聽方等聲心解方等義爾時山海慧菩薩白佛言世尊我等今者覩見彼國勝妙利益不可思議今我願一切眾生悉皆往生然後我等亦願生彼國佛記之曰正觀正念得正解脫皆悉生彼。

佛告山海慧菩薩汝今欲度一切眾生應當受持是經佛告大眾於我滅後受持是經八萬劫中廣宣流布至賢劫千佛使諸眾生普得聞知信樂修行說者聽者皆得往生阿彌陀佛國若有如是等人我從今日常使二十五菩薩護持是人常令是人無病無惱若人若非人不得其便行住坐臥無問晝夜常得安穩若有眾生深信是經念阿彌陀佛願往生者彼極樂世界阿彌陀佛即遣觀世音菩薩大勢至菩薩藥王菩薩藥上菩薩普賢菩薩法自在菩薩獅子吼菩薩陀羅尼菩薩虗空藏菩薩德藏菩薩寶藏菩薩金藏菩薩金剛菩薩山海慧菩薩光明王菩薩華嚴王菩薩眾寶王菩薩月光王菩薩日照王菩薩三昧王菩薩自在王菩薩大自在王菩薩白象王菩薩大威德王菩薩無邊身菩薩是二十五菩薩擁護行者若行若住若坐若臥若晝若夜一切時一切處不令惡鬼惡神得其便也佛又告山海慧是經名為覩阿彌陀佛色身正念解脫三昧經亦名度諸有流生死八難有緣眾生經如是受持眾生未有念佛三昧緣者是經能與作開大三昧門是經能與眾生閇地獄門是經能與眾生除害人惡鬼殄滅四向悉皆安穩。

佛告山海慧如我所說其義如是山海慧菩薩白佛言世尊我今頂受尊經不敢有疑然於今世及未來世諸有眾生多生誹謗不信是經如是之人於後云何。

佛告山海慧菩薩於後閻浮提或有比丘比丘尼若男若女見有讀誦是經者或相瞋恚心懷誹謗由是謗正法故是人現身之中得諸惡重病身根不具或得聾病盲病瘖病瘂病失陰病鬼魅邪狂風冷熱痔水腫失心如是等諸惡重病世世在身如是受苦坐臥不安大小便利亦皆不通求生不得求死不得或乃至死墮於地獄八萬劫中受大苦惱百千萬世未曾聞水食之名久後得出生在人中作牛馬猪羊為人所殺受大苦惱後得人身常生下賤百千萬世不得自在永不聞三寶名字為謗是經故受苦如是是故無智人中莫說是經正觀正念如是之人然後與說彼此不敬是經墮於地獄彼此敬重得正解脫往生阿彌陀佛國若有比丘比丘尼優婆塞優婆夷善男子善女人正信是經愛樂是經勸導眾生說者聽者悉皆往生阿彌陀佛國是故有信者我滅後受持是經法正法像法末法濁惡世中廣宣流布是人即為真我弟子現身即得阿耨多羅三藐三菩提。

佛說此經已尊者阿難諸大聲聞及諸比丘菩薩摩訶薩一切世間天人阿修羅等聞佛所說皆大歡喜信受奉行。

佛說十往生阿彌陀佛國經

No. 14-A 十往生經真偽決疑

難云開元釋教錄十八卷此經入偽妄亂真錄然者非正經何祖師(道綽善導)引用之耶答雖屬疑偽文義不違引證何非況入偽目偏在昇師古來碩德未必雷同(觀念法門記下可見)例如天台引法行經妙勝定等輔行記六之二云準諸目錄皆推此經(法行經)以為疑偽文義既正或是失譯乃至今家所引像法決疑經妙勝定等意亦如是如涅槃後分本在偽目至大唐刊定始入正經豈以時人未決便推入偽大師親證位在初依不應錯用(已上)同補註十四云安法師二教論云法行經者無有人翻雖入疑科未傷弘旨像法決疑經一卷(乃至)妙勝定經等舊錄或謂疑偽至唐已來或刊為正斯皆以人情自去取耳又復諸師撰錄存沒去取各自不同皆此之類也矣(略鈔)。

于時元祿十一年九月上旬
武江上高輪龍原寺九世住 寂譽靈哲欽書

【經文資訊】卍新續藏第 01 冊 No. 0014 十往生阿彌陀佛國經
【版本記錄】CBETA 電子佛典 2014.04,完成日期:2014/04/26
【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依卍新續藏所編輯
【原始資料】CBETA 人工輸入,CBETA 掃瞄辨識
【其他事項】本資料庫可自由免費流通,詳細內容請參閱【中華電子佛典協會資料庫版權宣告】

1025 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay