» » Hồi Tránh Luận

Hồi Tránh Luận

Mục Sách mới | 0

Luận Hồi Tránh: thuộc tập T32, kinh số 1631, tổng cộng 1 quyển, – Long Thọ Bồ Tát tạo Hậu Ngụy Tỳ Mục Trí Tiên Cộng Cù Đàm Lưu Chi dịch, bản Việt dịch của Thích Như Điển.

HỒI TRÁNH LUẬN
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Luận Tập Bộ Toàn thứ 32
Thứ tự Kinh Văn số 1631
Từ trang 13 đến trang 23, Bồ-tát Long Thọ tạo,
Đời Hậu Ngụy, Tam Tạng Tỳ Mục Trí Tiên thuật,
Sa-môn Thích Như Điển, Phương trượng chùa Viên Giác Đức quốc,
Dịch từ chữ Hán sang chữ Việt ngày 21 tháng 7 năm 2004 tại Hannover, Đức Quốc.
Thích Hạnh Nhẫn hiệu đính lần thứ nhất ngày 9 tháng 11 năm 2015.
Ghi lại bài tựa của Hồi Tránh Luận khi phiên dịch.
Hồi Tránh Luận là do Ngài Long Thọ Bồ Tát tạo nên. Số Xá Lô Ca (một đoạn) 32 chữ. Luận nầy bản chánh bằng chữ Phạn có 600 câu. Đời Đại Ngụy, Đô Nghiệp Hưng Hòa năm thứ 3. Thế Thứ Đại Lương, nhằm tháng Thìn, giờ Quý Dậu, ngày Tân Mão, người nước Ô Trượng, thuộc dòng vua Sát Sát, Tam Tạng Pháp Sư Tỳ Mục Trí Tiên cùng với người nước Thiên Trúc (Ấn Độ) là Bà La Môn Cù Đàm Lưu Chi, ở tại thành đất Nghiệp, nơi chùa Kim Hoa dịch Kinh, tốn sở phí hơn 20 công(đất?). Đại đa số là chữ Phạn, gồm 11.918 chữ. Đối nghĩa dịch có bút tích của Sa Môn Đàm Lâm thọ giáo. Phiếu Kỵ Đại Tướng quân khai phủ nghi đồng tam ty, Ngự Sử Trung Úy Bột Hải Cao trọng mật khải thỉnh cúng dường. Lúc ấy ghi chú đầy đủ. Khi nghe thì làm cho sung mãn pháp lạc. Muốn cho mọi người được nghe, được thấy, nên cùng tôn sùng phiên dịch vậy.

PHẦN KỆ ĐẦU THỨ NHẤT

Kệ hỏi rằng:

Nếu tất cả vô thể,
Ngôn ngữ là tất cả,
Ngôn ngữ tự vô thể
Sao phá được thể kia.

Nếu ngữ có tự thể
Tông lập trước bị hoại,
Như thế ắt có lỗi,
Phải nói lại thắng nhân.

Nếu nói rằng không thanh
Nghĩa này ắt không đúng,
Thanh có mới phá được,
Không thanh phá thế nào?

Ông nói: Phá, bị phá
Như thế cũng chẳng đúng.
Như vậy tướng Tông ông
Tự hoại chẳng phải ta.

Nếu hiện kia là có
Ông có thể phản hồi,
Hiện kia cũng là không
Làm sao phản hồi được?

Nói bốn lượng: Hiện, Tỉ,
A-hàm và Thí dụ;
Có Hiện, A-hàm thành
Thí dụ cũng được thành.

Người trí biết nói pháp,
Thiện pháp có tự thể,
Người đời biết hữu thể,
Pháp khác cũng như thế.

Có pháp- có tự thể
Là điều Thánh nhân nói.
Như thế: Không có pháp-
Không có tự thể pháp.

Các pháp nếu vô thể,
Vô thể chẳng được tên,
Có tự thể – có tên,
Chỉ tên thì gọi gì?

Nếu lìa pháp có tên
Trong pháp kia không có.
Nói: Lìa pháp có tên
Người này có thể vặn.

Pháp nếu có tự thể
Có thể phá các pháp,
Các pháp nếu vô thể
Rốt cuộc phá cái gì?

Nếu có bình, có đất
Có thể phá bình, đất;
Thấy vật có, ắt phá,
Thấy vật không, chẳng phá.

Nếu pháp không tự thể
Ngôn ngữ phá cái gì?
Không pháp mà phá được
Không ngữ cũng thành phá.

Như người ngu si kia
Vọng lấy diễm làm nước,
Nếu vọng chấp: Phá pháp
Việc ấy cũng như thế.

Thủ, sở thủ, năng thủ,
Phá, sở phá, năng phá-
Sáu loại nghĩa như thế
Trọn đều là pháp có.

Nếu không thủ, sở thủ
Cũng không có năng thủ;
Ắt không phá, sở phá,
Cũng không có năng phá.

Nếu không phá, sở phá
Cũng không có năng phá,
Ắt tất cả pháp thành,
Tự thể chúng cũng thành.

Nhân ông ắt chẳng thành
Vô thể làm sao nhân?
Nếu pháp không có nhân
Làm sao nói thành được?

Nếu ông không nhân thành
Phản tự thể các pháp,
Ta cũng không nhân thành
Các pháp có tự thể.

Nếu có nhân, vô thể
Nghĩa này chẳng tương ưng.
Thế gian, pháp vô thể
Ắt chẳng nói có được.

Phá trước, bị phá sau
Như thế chẳng tương ưng,
Hoặc phá sau và cùng.
Như vậy, biết hữu thể.

PHẦN KỆ ĐẦU THỨ HAI

Ngôn ngữ ta nếu lìa
Pháp nhân duyên hòa hợp,
Ắt nghĩa Không thành tựu,
Các pháp không tự thể.

Nếu pháp nhân duyên-không
Ta nay nói nghĩa ấy,
Người nào có nhân duyên
Nhân duyên ấy vô thể.

Người hóa với người hóa,
Người huyễn với người huyễn,
Như thế: Phá, bị phá
Nghĩa cũng lại như vậy.

Ngôn ngữ tự vô thể,
Sở thuyết cũng vô thể,
Như vậy ta không lỗi
Không cần nói thắng nhân.

Ông nói: “Không có thanh”,
Chẳng phải ta thí dụ,
Vì ta không lấy thanh
Để phá được thanh kia.

Hoặc như có trượng phu
Vọng lấy thân nữ hóa
Mà sinh khởi tâm dục,
Nghĩa ấy cũng như thế.

Cũng được thành- chẳng đúng
Vì trong vang không nhân,
Ta nương nơi Thế đế
Cho nên nói như thế.

Nếu không nương Thế đế
Không chứng được Chân đế,
Nếu không chứng Chân đế
Không chứng được Niết-bàn.

Nếu Tông ta là có
Thì ta ắt có lỗi,
Vì Tông ta không vật
Như thế, không bị lỗi.

Nếu ta chấp chuyển hồi
Ắt cần dùng lượng: Hiện…
Lấy chuyển hồi có lỗi
Không vậy thì lỗi gì?

Nếu lượng thành được pháp
Nó lại có lượng thành.
Ông nói, lượng từ đâu
Mà thành được lượng ấy?

Nếu lượng lìa lượng thành
Nghĩa luận ông bị mất,
Như vậy ắt có lỗi,
Phải nói lại thắng nhân.

“Giống như ánh sáng lửa
Hay tự chiếu, chiếu tha,
Lượng kia cũng như thế
Cả hai: Tự, tha thành”.

Lời của ông có lỗi,
Chẳng phải lửa tự chiếu
Vì nó không tương ưng,
Như thấy bình trong tối.

Lại, nếu ông nói rằng:
“Lửa chiếu được tự, tha”.
Nếu lửa đốt vật khác
Cớ gì chẳng tự đốt?

Lại, nếu ông nói rằng:
“Lửa chiếu được tự, tha”,
Tối cũng phải như thế
Tối tự và tối tha.

Trong lửa không có tối
Tự, tha ở chỗ nào?
Tối có thể giết sáng
Lửa làm sao có sáng?

Như thế khi lửa sinh
Khi sinh có thể chiếu,
Lửa sinh liền đến tối
Ắt nghĩa chẳng tương ưng.

Nếu lửa không đến tối
Mà có thể phá tối,
Thì lửa ở chỗ này
Phải phá tất cả tối.

Nếu lượng tự thành được
Không chờ sở lượng thành
Thì ắt lượng tự thành,
Không chờ tha mới thành.

Nếu không chờ sở lượng
Mà lượng ông thành được,
Như thế ắt chẳng ai
Dùng lượng lượng các pháp.

Nếu vật được lượng kia
Chờ lượng mới thành được,
Ắt là sở lượng thành
Chờ lượng sau mới thành.

Vật không lượng mà thành
Ắt là chẳng chờ lượng,
Ông dùng lượng thành nào,
Lượng ấy sao thành được?

Nếu lượng thành của ông
Chờ được lượng mới thành,
Ắt lượng cái được lượng
Như thế chẳng tương ưng.

Nếu lượng thành sở lượng,
Nếu sở lượng thành lượng,
Nếu ông như vậy thì
Hai loại cùng chẳng thành.

Lượng thành được sở lượng,
Sở lượng thành được lượng,
Nếu nghĩa mà như thế
Làm sao cùng nhau thành?

Là cha sinh ra con,
Hay con sinh ra cha?
Cái gì là năng sinh,
Cái gì là sở sinh?

Vì lẽ nào là cha,
Vì lẽ nào là con?
Ông nói hai loại này
Cha con cùng đáng nghi.

Lượng không thể tự thành,
Không tự-tha cộng thành,
Không phải lượng khác thành,
Chẳng không nhân duyên thành.

Nếu điều pháp sư nói:
“Thiện pháp có tự thể”,
Tự thể thiện pháp ấy
Theo pháp phải phân biệt.

Nếu tự thể thiện pháp
Từ nhân duyên mà sinh,
Thiện pháp là tha thể
Làm sao là tự thể?

Nếu có chút thiện pháp
Chẳng từ nhân duyên sinh,
Thiện pháp mà như thế
Chẳng trụ nơi Phạm hành.

Chẳng pháp chẳng phi pháp,
Thế gian pháp cũng không.
Có tự thể ắt thường,
Thường ắt không nhân duyên.

Thiện, bất thiện, vô ký,
Tất cả pháp hữu vi
Nói như thế ắt thường,
Ông có lỗi như thế.

Nếu ai nói: Có danh,
Lời nói có tự thể;
Người ấy, ông vặn được
Lời, danh, ngã chẳng thật.

Nếu danh này là không
Ắt có cũng là không,
Nếu nói có, nói không
Tông ông có hai lỗi.

Nếu danh này là có
Ắt không cũng là có,
Nếu nói không, nói có
Luận ông có hai lỗi.

Như vậy, trước ta nói:
Tất cả pháp đều không,
Nghĩa Tông ta như thế
Ắt chẳng có lỗi được.

Nếu riêng có tự thể
Không ở tại trong pháp,
Ông lo ta nên nói,
Đây ắt chẳng cần lo.

Nếu hữu thể, phá được
Nếu không, được nói thành,
Nếu vô thể, vô không
Làm sao thành phá được?

Ông nói bị phá nào
Bị phá ấy tức không,
Pháp không mà có phá –
Luận ông lỗi như thế.

Ta không có chút vật
Cho nên ta không lỗi,
Như vậy ông vô lý
Ngang ngược vặn hỏi ta.

Ông nói: Pháp khác lời
Nghĩa này, nay ta nói
Không cách nào nói được
Nhưng ta ắt không lỗi.

Ông nói dụ Lộc Ái
Để làm tỏ nghĩa lớn,
Ông nói ta nghe được
Như ví dụ tương ưng.

Nếu kia có tự thể
Không cần nhân duyên sinh,
Nếu mà cần nhân duyên
Như thế, được nói Không.

Nếu “lấy” có thật thể
Người nào phản phá được?
Còn lại cũng như thế
Cho nên ta không lỗi.

Cái thuyết không nhân này
Nghĩa trước đã nói trọn,
Trong ba thời nói nhân
Chúng bình đẳng mà nói.

Nếu nói nhân ba thời
Trước bình đẳng như thế
Như vậy, nhân ba thời
Tương ưng với thuyết Không.

Nếu ai tin vào Không
Người ấy tin tất cả,
Nếu ai chẳng tin Không
Hẳn không tin tất cả.

Không, tự thể, nhân duyên
Ba nói một trung đạo,
Ta quy mạng kính lễ
Vô thượng đại trí huệ.
THỨ BA: GIẢI THÍCH PHẦN KỆ ĐẦU
Giải thích kệ đầu tiên của Luận rằng:

Nếu tất cả vô thể
Ngôn ngữ là tất cả,
Ngôn ngữ tự vô thể
Sao phá được thể kia.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu tất cả pháp đều là nhân duyên, ắt là nhân duyên, nhân duyên hòa hợp, lìa các nhân duyên thì ắt không có tất cả tự thể nào hơn. Như thế, tất cả các pháp đều không. Như mầm không phải trong hạt giống mà có, không phải trong các nhân duyên: Đất, nước, lửa, gió, hư không…mà có, không phải trong mỗi một nhân duyên mà có, không phải trong hòa hợp các nhân duyên mà có, không lìa các nhân duyên hòa hợp mà chỗ khác riêng có. Nếu trong tất cả như thế đều không có, thì như vậy được nói rằng, mầm không có tự thể. Nếu tất cả không có tự thể như vậy, chúng được nói là không.
Nếu tất cả pháp trọn đều không, thì ắt không có ngôn ngữ; nếu không có ngôn ngữ ắt không thể phá tất cả các pháp. Nếu ý ông cho rằng ngôn ngữ chẳng phải không, mà điều được ngôn ngữ nói “Tất cả đều không” – thì nghĩa này không đúng. Tại sao thế? Ông nói rằng: Tất cả các pháp đều không, ắt ngôn ngữ cũng không. Tại sao thế? Vì trong nhân không có, trong tứ đại không có, trong mỗi mỗi không có, trong hòa hợp không có, trong nhân duyên hòa hợp và không hòa hợp- tất cả đều không có. Như thế, ngôn ngữ trong yết hầu không có, trong môi, lưỡi, chân răng, đầu mũi…mỗi mỗi đều không có; trong hòa hợp không có, hai chỗ đều không có; chỉ có nhân duyên với nhân duyên hòa hợp. Lìa nhân duyên hòa hợp như thế, không có một pháp nào khác hơn.
Nếu như vậy, thì tất cả ngôn ngữ đều không có tự thể. Nếu không có tự thể của ngôn ngữ như thế, ắt tất cả pháp đều không có tự thể. Nếu ngôn ngữ này không có tự thể, thì chỉ có cái tên là “phá” không thể phá pháp. Ví như không có lửa ắt chẳng thể đốt, cũng như không có dao ắt chẳng thể cắt, lại như không có nước ắt chẳng thể tràn đầy. Như vậy, không có ngôn ngữ thì làm sao có thể phá tự thể các pháp? Đã không thể phá tự thể các pháp mà tâm trở lại nghĩ đến phá tự thể tất cả pháp, thì nghĩa không tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu ngữ có tự thể
Tông lập trước bị hoại
Như thế ắt có lỗi,
Phải nói lại thắng nhân.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ngôn ngữ này có tự thể, thì Tông nghĩa được ông lập trước tự hoại, tức là có lỗi. Nếu thế, bèn phải nói thêm thắng nhân.
Nếu ý ông cho rằng: Ngôn ngữ có tự thể, các pháp khác không có, thì ắt ngược với câu “các pháp không”, Tông của ông cũng hoại.
Lại còn có nghĩa: Ngôn ngữ không lìa tất cả pháp số. Nếu tất cả pháp trọn đều là không, thì ngôn ngữ cũng không. Nếu ngôn ngữ không ắt chẳng thể phá tất cả pháp. Nếu như vậy, thì trong sáu loại tranh luận tương ưng, chúng lại làm sao chẳng tương ưng với ông?
Ông nói rằng: Tất cả các pháp đều không, ắt ngôn ngữ cũng không. Tại sao vậy? Vì ngôn ngữ cũng là tất cả pháp. Ngôn ngữ nếu không, ắt chẳng thể phá chúng. Nếu phá mà nói rằng: Tất cả pháp không, ắt chẳng tương ưng.
Lại, nếu tương ưng, ngôn ngữ có thể phá tất cả pháp, thì: Tất cả pháp không ắt ngôn ngữ chẳng phải không. Nếu ngôn ngữ chẳng phải không mà phá tất cả pháp ắt chẳng tương ưng. Nếu các pháp không, ngôn ngữ chẳng phải không thì ngôn ngữ phá cái gì?
Lại, nếu ngôn ngữ này vào trong tất cả, thì dụ chẳng tương đương. Nếu ngôn ngữ ấy là tất cả, tất cả đã không thì ngôn ngữ cũng không; nếu ngôn ngữ không ắt chẳng thể phá. Nếu ngôn ngữ không, các pháp cũng không – lấy không mà có thể phá các pháp, khiến cho không, thì như vậy ắt không cũng là nhân duyên – thì ắt là không thể.
Lại, nếu ông sợ rằng dụ chẳng tương đương, mà cho rằng: Tất cả pháp không có thể làm nhân duyên, thì như vậy, không ngữ ắt không thể phá tất cả tự thể.
Lại còn có nghĩa: Có lỗi một bên: Pháp không mà cũng bất không. Nếu nó có lỗi phải nói thêm thắng nhân.
Nếu một bên không, một bên bất không, thì như vậy, nếu nói rằng: Tất cả pháp không- không có tự thể, thì nghĩa chẳng tương ưng.

Lại còn có nghĩa, kệ rằng:
Ông cho rằng: Không thanh
Nghĩa này ắt chẳng đúng
Thanh có phá được thanh,
Không thanh sao phá được?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: Âm thanh có thể phá âm thanh. Như có người nói, còn ông chớ phát ra âm thanh; người kia tự phát ra âm thanh mà có thể phá âm thanh, như thế. Như vậy, tất cả pháp không mà không ngữ có thể phá – thì nay ta nói, điều này không tương ưng. Tại sao thế? Vì âm thanh này có mới phá được âm thanh kia, ngôn ngữ của ông không có ắt chẳng thể phá tự thể các pháp. Nghĩa được ông lập là: Ngôn ngữ cũng không, các pháp cũng không, thì như vậy, nếu cho rằng như không có âm thanh, thì điều này ắt có lỗi.
Kệ rằng:

Ông bảo: Phá, bị phá
Như thế cũng có lỗi.
Như vậy tướng Tông ông
Tự hoại, chẳng phải ta.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: Phá với bị phá cũng như vậy, thì nó không tương ưng. Nếu ông nói rằng: “ Ngôn ngữ của ta có thể phá tự thể của tất cả các pháp”, thì nó không tương ưng. Nay ta nói rằng: Nghĩa này không đúng. Tại sao thế?
Biết tướng Tông như vậy, thì ông có lỗi, chẳng phải ta. Ông nói rằng: Tất cả các pháp đều không. Như vậy, nghĩa của Tông ông ở trước có lỗi, sai lầm chẳng tại ta. Nếu ông nói rằng, ông phá cái bị phá, mà nghĩa không tương ưng, thì nghĩa này không đúng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu hiện kia là có
Ông có thể phản hồi,
Hiện kia cũng là không
Làm sao thủ hồi được?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu tất cả pháp có hiện hữu có thể nắm lấy, thì ông có thể phản hồi, rằng ta khiến các pháp là không. Nhưng thật không như vậy. Tại sao biết thế? Hiện lượng vào trong tất cả pháp số, ắt cũng là không. Nếu ông phân biệt, nương hiện lượng mà có tỉ lượng. Nhưng hiện và tỉ đều không, thì như vậy, không có hiện và tỉ nào có thể được. Hiện lượng và tỉ lượng- cả hai đều không, làm sao phá được? Ông nói rằng Tất cả các pháp là không, thì nghĩa không đúng.
Hoặc ông lại cho rằng: Hoặc tỉ lượng, hoặc hiện lượng, hoặc thí dụ, hoặc lấy A-hàm mà được tất cả pháp; tất cả pháp tự thể như vậy, ta có thể phản hồi, thì điều này, nay ta nói, kệ rằng:

Nói bốn lượng: Tỉ, hiện,
Thí dụ và A-hàm,
Hiện, tỉ, A-hàm thành,
Thí dụ cũng được thành .

Kệ này nói lên nghĩa gì? Trong bốn lượng: Tỉ lượng, thí dụ, A-hàm, hiện lượng, nếu hiện lượng có thể thành thì tỉ lượng, A-hàm…cũng đều có thể thành. Nếu tất cả pháp trọn đều là không, thì hiện lượng cũng không; như vậy, tỉ lượng và thí dụ cũng không; tất cả các pháp được thành tựu bởi lượng trọn đều là không. Vì bốn loại lượng này ở tất cả, nên tùy theo các pháp nào đó, nếu là tỉ lượng thành, thì thí dụ cũng thành, A-hàm cũng thành. Những pháp được thành kia tất cả đều không. Nếu như vậy, thì pháp bất khả đắc, vì lượng và cái được lượng là không. Cho nên không có phá. Như vậy, nếu nói tất cả pháp không- không có tự thể, thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Người trí biết nói pháp
Thiện pháp có tự thể,
Người đời biết hữu thể,
Pháp khác cũng như thế.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Pháp sư nói thiện pháp. Thiện pháp có một trăm mười chín, nghĩa là tâm thì: một tướng: Một là Thọ, hai là Tưởng, ba là Giác, bốn: Xúc, năm: Quán, sáu: Dục, bảy: Tín giải, tám: Tinh tiến, chín: Ức niệm, mười: Tam-ma-đề, mười một: Tuệ, mười hai: Xả, mười ba: Tu, mười bốn: Hợp tu, mười lăm: Tập, mười sáu: Đắc, mười bảy: Thành, mười tám: Biện tài, mười chín: Thích, hai mươi: Cần, hai mươi mốt: Tư, hai mươi hai: Cầu, hai mươi ba: Thế lực, hai mươi bốn: Bất tật, hai mươi lăm: Tự tại, hai mươi sáu: Thiện biện tài, hai mươi bảy: Bất hối, hai mươi tám: Hối, hai mươi chín: Thiểu dục, ba mươi: Bất thiểu dục, ba mươi mốt: Xả, ba mươi hai: Bất tư, ba mươi ba: Bất cầu, ba mươi tư: Bất nguyện, ba mươi lăm: Lạc thuyết, ba mươi sáu: Bất trước cảnh giới, ba mươi bảy: Bất hành, ba mươi tám: Sinh, ba mươi chín: Trụ, bốn mươi: Diệt, bốn mươi mốt: Tập, bốn mươi hai: Lão, bốn mươi ba: Nhiệt não, bốn mươi tư: Muộn, bốn mươi lăm: Nghi, bốn mươi sáu: Tư lượng, bốn mươi bảy: Ái, bốn mươi tám: Tín, bốn mươi chín: Lạc, năm mươi: Bất thuận, năm mươi mốt: Thuận, năm mươi hai: Bất úy đại chúng, năm mươi ba: Cung kính, năm mươi tư: Tác thắng pháp, năm mươi lăm: Kính, năm mươi sáu: Bất kính, năm mươi bảy: Cung cấp, năm mươi tám: Bất cung cấp, năm mươi chín: Định thuận, sáu mươi: Túc, sáu mươi mốt: Phát động, sáu mươi hai: Bất lạc, sáu mươi ba: Phú, sáu mươi tư: Bất định, sáu mươi lăm: Sầu não, sáu mươi sáu: Cầu bất đắc, sáu mươi bảy: Hoang loạn, sáu mươi tám: Giải đãi, sáu mươi chín: Ưu hội, bảy mươi: Bố tịnh, bảy mươi mốt: Nội tín, bảy mươi hai: Úy, bảy mươi ba: Tín, bảy mươi tư: Tàm, bảy mươi lăm: Chất trực, bảy mươi sáu: Bất cuống, bảy mươi bảy: Tịch tĩnh, bảy mươi tám: Bất kinh, bảy mươi chín: Bất thác, tám mươi: Nhu nhuyến, tám mươi mốt: Khai giải, tám mươi hai: Hiềm, tám mươi ba: Thiêu, tám mươi tư: Tỉnh, tám mươi lăm: Bất tham, tám mươi sáu: Bất sân, tám mươi bảy: Bất si, tám mươi tám: Bất nhất thiết tri, tám mươi chín: Phóng xả, chín mươi: Bất hữu, chín mươi mốt: Quý, chín mươi hai: Bất tự ẩn ác, chín mươi ba: Bi, chín mươi tư: Hỷ, chín mươi lăm: Xả, chín mươi sáu: Thần thông, chín mươi bảy: Bất chấp, chín mươi tám: Bất ?, chín mươi chín: Tâm tịnh, một trăm: Nhẫn xả, mật trăm lẻ một: Lợi ích, một trăm lẻ hai: Năng dụng, một trăm lẻ ba: Phúc đức, một trăm lẻ tư: Vô tưởng định, một trăm lẻ năm: Bất nhất thiết trí, một trăm lẻ sáu: Vô thường tam-muội…như thế, như thế…một trăm mười chín thiện pháp.
Thiện pháp như vậy thì tự thể của thiện pháp, bất thiện pháp- tự thể của bất thiện pháp, vô ký- vô ký, bản tính vô ký- bản tính vô ký, dục giới- dục giới, sắc giới- sắc giới, vô sắc giới- vô sắc giới, vô lậu- vô lậu, khổ tập diệt đạo- khổ tập diệt đạo, tu định- tu định…như thế…như thế…thấy có vô lượng các loại pháp đều có tự thể.
Như vậy, nếu nói rằng tất cả các pháp đều không có tự thể- không có tự thể như thế được gọi là không, thì nghĩa không tương ưng.
Đây lại có nghĩa, kệ rằng:

Có pháp- có thể pháp,
Là được Thánh nhân nói,
Như vậy, không có pháp
Không có tự thể pháp.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Cũng như nói: Có pháp thì có tự thể pháp, như vậy: Không có pháp- không có tự thể pháp, giác phần- có tự thể giác phần, bồ-đề phần có tự thể của bồ-đề phần…các pháp khác cũng đều như vậy.
Nếu đã thấy vô lượng loại các tự thể pháp như thế, mà lại nói rằng tất cả các pháp đều không có tự thể, rồi vì không có tự thể nên gọi là không như thế, thì nghĩa không tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Các pháp nếu vô thể
Vô thể chẳng được tên,
Có tự thể – có tên,
Chỉ tên thì gọi gì?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu tất cả pháp đều không có tự thể, thì khi nói không có tự thể tức là ngôn ngữ cũng không. Tại sao thế? Có vật thì có tên gọi, không có vật thì không có tên gọi. Vì tất cả pháp đều có tên gọi, nên phải biết rằng các pháp đều có tự thể. Pháp có tự thể, nên không thể nói rằng tất cả pháp không. Như thế, nếu nói tất cả pháp không- vô tự thể, thì nghĩa chẳng tương ưng. Kệ rằng:

Nếu lìa pháp có tên
Trong pháp kia không có,
Nói lìa pháp có tên
Người ấy ắt bị vặn.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: Có pháp có tên gọi, lìa pháp có tên gọi. Như thế, tất cả các pháp đều không- vô tự thể; thành ra: Không có vật mà có tên gọi, có vật có tên gọi.
Điều này nay ta nói: Nếu như vậy, thì có những người nào đó nói rằng lìa khỏi thể của pháp riêng có danh tự. Nếu tên gọi có riêng, pháp có riêng thì ắt chẳng thể chỉ ra được nó. Không thể chỉ ra như thế mà tâm ông phân biệt riêng có các pháp, riêng có tên gọi, thì nghĩa không đúng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Pháp nếu có tự thể
Có thể phá được pháp,
Các pháp nếu vô thể
Rốt cuộc phá cái gì?

Như có bình, có đất
Có thể phá bình, đất;
Thấy có vật ắt phá,
Thấy không vật không phá.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Có vật mới phá được, không có vật thì không phá. Như không có cái bình và đất, ắt chẳng cần phá. Có bình ắt phá, không bình ắt chẳng phá…như thế, như thế…Pháp không có tự thể ắt chẳng cần phá, pháp có tự thể thì có thể phá được. Không có thì phá cái gì? Nếu tất cả pháp đều không có tự thể mà lại phá, rồi bảo rằng: Tất cả các pháp không có tự thể, thì nghĩa không tương ưng. Ông phá cái gì? Nếu có cái thể của phá thì có thể phá tự thể của tất cả các pháp. Kệ rằng:

Nếu pháp vô tự thể
Ngôn ngữ phá cái gì?
Không pháp mà phá được
Không lời cũng thành phá.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu pháp không có tự thể thì ngôn ngữ cũng không có tự thể, làm sao phá mà nói rằng: Tất cả các pháp đều không có tự thể? Nếu phá như vậy, không nói rằng ngôn ngữ cũng thành phá được; nếu như vậy, thì có các lỗi như lửa lạnh, nước cứng…

Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Như người ngu si kia
Vọng lấy diễm làm nước,
Nếu ông phá “vọng lấy”
Sự ấy cũng như thế.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: Như người ngu si lấy diễm làm nước, trong chỗ không có nước mà hư vọng lấy nước. Có người trí tuệ, vì hồi tỉnh tâm người ấy mà bảo rằng: Ông vọng lấy nước…như thế, như thế… Nơi không có tự thể mà trong tất cả pháp lại chấp lấy tự thể pháp. Vì để hồi tỉnh lại cái vọng tâm của chúng sinh kia nên nói tất cả pháp không có tự thể.
Điều này nay ta nói, kệ rằng:

Thủ, sở thủ, năng thủ,
Già, sở già, năng già-
Sáu loại pháp như thế
Trọn đều là pháp Có.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu sẽ có chúng sinh như thế, thì có thủ, sở thủ, năng thủ – mới được nói là “hư vọng”; già, sở già….như vậy sáu loại nghĩa thành tựu. Nếu sáu nghĩa thành tựu mà lại bảo rằng tất cả các pháp không, thì nghĩa chẳng đúng. Kệ rằng:

Nếu không: Thủ, sở thủ,
Cũng không có năng thủ,
Ắt không: Già, sở già
Cũng không có năng già.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng không có lỗi không có thủ, sở thủ, năng thủ như thế, thì nếu hư vọng chấp lấy phá tự thể tất cả pháp như vậy, thì cái phá cũng không có, cái bị phá cũng không có, cái năng phá cũng không có. Kệ rằng:

Nếu không phá, bị phá
Cũng không có năng phá,
Ắt tất cả pháp thành,
Tự thể chúng cũng thành.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu không có phá, không có cái bị phá, không có năng phá thì ắt là không phá tất cả các pháp, ắt tất cả pháp đều có tự thể. Kệ rằng:

Nhân ông ắt chẳng thành
Vô thể làm sao nhân?
Nếu pháp không có nhân
Làm sao được nói thành?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu tất cả pháp không- không có tự thể, thì trong nghĩa như thế nói nhân không thành. Tại sao thế? Tất cả các pháp đều không- không có tự thể thì nhân có ở chỗ nào? Nếu pháp không có nhân, thì “tất cả pháp không” lấy nhân nào mà thành? Cho nên ông nói tất cả pháp không- không có tự thể thì nghĩa không đúng. Kệ rằng:

Nếu ông không nhân thành
Phản tự thể các pháp,
Ta cũng không nhân thành
Các pháp có tự thể.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: “Ta không có nhân mà thành tựu pháp không có tự thể”, thì nếu ông không có tự thể của nhân mà trở lại thành tựu, thì pháp tự thể của ta cũng không có nhân mà thành tựu. Kệ rằng:

Nếu có nhân, vô thể
Nghĩa này không tương ưng,
Thế gian: Pháp vô thể
Ắt chẳng thể nói có.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: “ Ta có nhân mà thành, còn nhân thì không có tự thể”, nếu như thế, thì nghĩa không có tự thể ắt chẳng tương ưng. Tại sao vậy? Vì tất cả những gì không có tự thể trong thế gian thì không thể nói là có. Kệ rằng:

Phá trước, bị phá sau
Như thế chẳng tương ưng,
Nếu phá sau và cùng
Như thế, biết hữu thể.
Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu phá ở trước, bị phá ở sau thì nghĩa không tương ưng, vì chưa có cái bị phá thì cái phá ấy phá cái gì? Nếu phá ở sau, bị phá ở trước cũng không tương ưng, vì cái bị phá đã thành thì cái phá làm sao có thể phá? Nếu hai pháp: Phá và bị phá cùng lúc, thì không làm nhân duyên cho nhau – cái phá không nhân cái bị phá, cái bị phá không nhân cái phá – đều có tự thể nên ắt chẳng thể nói là phá. Ví như hai sừng cùng sinh, mỗi cái không làm nhân cho nhau: Trái không nhân phải, phải không nhân trái. Như vậy, nếu nói tất cả các pháp không có tự thể thì nghĩa không đúng.
HẾT PHẦN GIẢI THÍCH ĐẦU
THỨ TƯ: GIẢI THÍCH PHẦN TRÊN

Giải thích rằng: Như những gì được ông nói, ta nay đáp lời ông. Ông nói kệ rằng:

Nếu tất cả vô thể
Ngôn ngữ là tất cả,
Ngôn ngữ tự vô thể
Sao phá được thể kia.

Kệ này, nay ta đáp kệ rằng:

Ngôn ngữ ta nếu lìa
Pháp nhân duyên hòa hợp
Ắt là nghĩa Không thành
Các pháp không tự thể.
Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu đáp rằng: Ngôn ngữ trong nhân, trong các đại, trong hòa hợp không có; trong sự lìa tán không có, yết hầu, môi, lưỡi, chân răng, đầu mũi…các chỗ, mỗi chỗ có lực. Như vậy mỗi một chỗ, trong hòa hợp không có. Nếu lìa khỏi nhân duyên hòa hợp như vậy thì không có pháp nào khác hơn. Vì như thế nên không có tự thể. Không có tự thể nên ta nói tất cả pháp đều không có tự thể, nghĩa Không ắt thành. Như ngôn ngữ này không có tự thể- không, các pháp cũng như thế, không có tự thể- không. Cho nên, ông nói rằng: “Vì ngôn ngữ của ông không nên không thể nói không” thì nghĩa này chẳng đúng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu pháp nhân duyên- không
Ta nay nói nghĩa này,
Người nào có nhân duyên
Nhân duyên ấy vô thể.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Ông chẳng thể hiểu tất cả pháp không, không biết nghĩa không, sao có thể đổ lỗi cho ta. Như được ông nói rằng: “ Ngôn ngữ của ông không, ngôn ngữ không có tự thể; vì không có tự thể nên không thể phá pháp”. Cái pháp này, nếu là nhân duyên sinh, thì vì sinh nên có thể nói tất cả pháp không, có thể nói tất cả đều không có tự thể. Vì nghĩa nào mà biết pháp nhân duyên sinh không có tự thể? Pháp của ông tất cả đều nhân duyên sinh, ắt tất cả pháp đều không có tự thể. Pháp không có tự thể ắt cần nhân duyên, nếu có tự thể thì sao cần dùng nhân duyên? Ông lìa nhân duyên ắt không có các pháp. Nếu nhân duyên sinh ắt không tự thể, vì không có tự thể nên được gọi là không.
Như vậy ngôn ngữ của ta cũng nhân duyên sinh, nếu nhân duyên sinh ắt không có tự thể, vì không có tự thể nên được gọi là không, vì tất cả pháp nhân duyên sinh thì tự thể đều không.
Như với cái bình, áo, cỏ…các vật, các pháp ấy mỗi mỗi đều tự có nhân duyên. Trong thế gian, cây cỏ, các vật được làm từ đất có thể đựng mang nước, mật, sữa lui tới và nâng…lại còn các pháp thọ dụng để ngăn lạnh, nóng, gió…vì nhân duyên sinh nên đều không có tự thể…như thế…như thế…Ngôn ngữ của ta nhân duyên hòa hợp mà sinh, như vậy được nói là không có tự thể; nếu không có tự thể như vậy có thể nói là vô tự thể thành. Ngôn ngữ “không” như thế được thế gian thọ dụng.
Cho nên, ông nói rằng: “ Không có tự thể nên ngôn ngữ của ông cũng không, ắt chẳng thể phá tự thể các pháp” – nghĩa này không đúng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Hóa nhân với hóa nhân
Huyễn nhân với huyễn nhân,
Như thế: phá, bị phá
Nghĩa ấy cũng như vậy.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Như người đàn ông hóa đối với người hóa khác thấy có đi, lại làm đủ loại việc mà bèn phá đó; như người đàn ông huyễn với người huyễn khác, thấy có đi, lại làm đủ loại việc mà bèn phá đó. Cái người hóa năng phá kia tức là không; nếu người hoá năng phá đó là không thời người hóa bị phá ắt cũng là không; nếu người bị phá là không thì người phá cũng không. Người huyễn năng phá kia ắt là không. Nếu người huyễn năng phá kia là không thì người huyễn bị phá cũng là không. Nếu cái bị phá không thì người phá cũng không. Như thế…Như thế, ngôn ngữ của ta là không cũng như huyễn hóa không. Như thế ngôn ngữ không có thể phá tự thể tất cả pháp.
Cho nên ông nói rằng: “ Ngôn ngữ của ông không nên chẳng thể phá tất cả pháp có tự thể” thì lời ấy của ông ắt chẳng tương ưng.
Nếu ông nói sáu loại tranh luận kia, thì chúng cũng bị phá như thế. Như vậy ngôn ngữ của ta không tất cả pháp. Ngôn ngữ của ta cũng không, các pháp cũng không, tất cả pháp trọn đều chẳng không.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Nếu ngữ có tự thể
Tông lập trước bị phá,
Như thế ắt có lỗi
Phải nói lại thắng nhân.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Ngôn ngữ không tự thể,
Sở thuyết cũng vô thể,
Ta cũng không có lỗi
Chẳng cần nói thắng nhân.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Ngôn ngữ này của ta, vì nhân duyên sinh nên không có tự thể, như đã được nói ở trước: Nếu có tự thể thì chẳng sinh, nên được gọi là không. Như vậy có thể nói rằng ngôn ngữ này không, tất cả pháp khác trọn đều là không.
Không như vậy nên ta ắt chẳng lỗi. Nếu ta nói rằng ngôn ngữ chẳng phải không còn các pháp khác trọn đều không, thì ta ắt có lỗi. Ta không nói như thế nên không có lỗi.
Về lý, thật không thể nói được rằng: “ Ngôn ngữ chẳng phải không, còn tất cả pháp khác trọn đều không”. Ta do nghĩa này, nên không cần nói thắng nhân. Nếu ngôn ngữ chẳng phải không, còn tất cả pháp khác trọn đều không thì có thể nói thắng nhân.
Cho nên, ông nói rằng: “ Lời tranh luận của ông hoại, ắt có lỗi, phải nói lại thắng nhân”, thì nghĩa này chẳng đúng.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Nếu bảo rằng: Không thanh
Nghĩa này ắt chẳng đúng:
Thanh có, phá được thanh,
Không thanh, sao phá được?

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Ông nói rằng: Không thanh
Chẳng phải ta thí dụ
Vì ta không lấy thanh
Để phá được thanh khác.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Đó chẳng phải thí dụ của ta. Ví như người nào đó nói: “Chớ phát ra âm thanh”, thì người đó tự phát ra âm thanh, rồi lấy âm thanh mà phá âm thanh; âm thanh chẳng phải không. Ta ắt chẳng như thế.
Ngôn ngữ cũng không, pháp phá cũng không. Tại sao vậy? Ví như âm thanh kia có thể phản hồi lại âm thanh này, thì ta không phải như vậy. Ta nói như thế này: Tất cả các pháp đều không có tự thể, vì không có tự thể nên được gọi là không. Tại sao thế? Nếu ngôn ngữ không tự thể mà phản hồi lại không có tự thể, thì ắt tất cả pháp đều thành tự thể. Như nói: Chớ phát ra âm thanh, âm thanh kia có thể phá âm thanh…như thế; cũng như thế, ngôn ngữ không có tự thể mà phá pháp không có tự thể. Nếu không có tự thể mà phá như thế thì ắt tất cả pháp đều thành tự thể, ắt tất cả pháp trọn đều chẳng phải không.
Nhưng ta nói pháp không, chẳng nói pháp chẳng phải không mà thí dụ như vậy.
Kệ rằng:

Hoặc như có trượng phu
Vọng lấy người nữ hóa
Mà sinh khởi tâm dục,
Nghĩa ấy cũng như thế.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Như có người phụ nữ huyễn hóa, thật không có tự thể; hoặc như có người đàn ông nào, với thân của người nữ hóa ấy mà sinh ý nghĩ có thật, khởi tâm dục; sự hư vọng chấp lấy các pháp cũng như thế. Hoặc đức Như Lai, hoặc đệ tử Thanh văn của Như Lai, vì hồi tỉnh lại tâm hư vọng của người kia; hoặc lực oai thần của Như Lai, hoặc lực oai thần của Thanh văn đệ tử của Như Lai biến làm người hóa như thế…; như thế ngôn ngữ không cũng như hóa, như người phụ nữ hóa không có tự thể. Pháp không như vậy không lấy tự thể pháp mà có thể phá, khiến hồi tỉnh như thế. Cũng như thế, lấy thí dụ không này có thể thành nghĩa không. Ta ắt tương ưng, không phải ông tương ưng.
Kệ rằng:

Giống được thành, không đúng
Vì trong vang không nhân,
Ta nương nơi thế đế
Cho nên nói như thế.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ông hoặc cho rằng như không có âm thanh, thì nhân sẽ giống với cái được thành. Tại sao thế? Vì nhân không lìa khỏi tất cả các pháp không có tự thể. Không phải tiếng vang của âm thanh kia mà có tự thể, mà vì nhân duyên sinh nên không có tự thể.
Nếu không có tự thể, mà ông nói rằng âm thanh có thể phá âm thanh, thì nghĩa ấy ắt bị hoại. Lại, điều được ta nói không mâu thuẫn với thế đế, không bỏ thế đế, nương thế đế nên có thể nói thể của tất cả pháp là không. Nếu lìa thế đế thì pháp chẳng thể nói. Đức Phật nói kệ rằng:

Nếu không nương Thế đế
Không chứng được Chân đế,
Nếu không chứng Chân đế
Không chứng được Niết-bàn.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Các pháp như thế không phải là chẳng không, tất cả các pháp đều không có tự thể- hai điều này không khác nhau.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Ông bảo: Phá, bị phá
Như thế cũng chẳng đúng,
Như vậy tướng Tông ông
Tự hoại, chẳng phải ta.

Kệ ấy, nay ta đáp, kệ rằng:

Nếu Tông ta là có
Ắt là ta có lỗi,
Tông ta không một vật
Như vậy chẳng thể lỗi.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu Tông ta là có ắt có tướng của Tông. Nếu ta có Tông và có tướng của Tông, thì ta ắt bị cái lỗi được ông nói. Nhưng, vì không phải Tông ta là có như vậy, vì các pháp thật tịch tĩnh như vậy, vì tính vốn không thì tông có ở chỗ nào? Như thế, tướng của Tông thì ở chỗ nào mà có được? Ta không có tướng của Tông thì sao đổ lỗi cho ta được? Cho nên, ông nói rằng:” Ông có tướng của Tông, có thể bị lỗi” thì nghĩa không đúng.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Nếu hiện kia là có
Ông có thể phản hồi,
Hiện kia cũng là không
Làm sao thủ hồi được?

Nói bốn lượng: Hiện, tỉ,
A-hàm và thí dụ,
Hiện, tỉ, A-hàm thành
Thí dụ cũng được thành.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Nếu ta lấy chuyển hồi
Ắt cần dùng lượng: Hiện…
Lấy chuyển hồi có lỗi
Không như thế, lỗi gì?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ta có một chút pháp nào, ắt cần đến hiện lượng, tỉ lượng, A-hàm, thí dụ; như vậy, bốn lượng lại có bốn lượng. Nếu ta lấy chuyển hồi như thế ắt ta cũng có lỗi. Ta đã không lấy chuyển hồi một chút pháp nào; nếu ta không chuyển, không hồi như vậy, mà ông lại đổ lỗi cho ta như thế, thì nghĩa không đúng. Nếu các lượng như hiện…lại có lượng khác để thành thì ắt vô cùng. Nghĩa của ông như vậy không thể đổ lỗi cho ta.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu lượng thành được pháp
Chúng lại có lượng thành,
Ông nói lượng ở đâu
Mà thành được lượng ấy?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng lượng có thể thành tựu được vật, như lượng với cái được lượng, thì bốn lượng: Hiện, tỉ, A-hàm, thí dụ lại lấy lượng nào mà thành bốn lượng này? Nếu bốn lượng này không có lượng nào khác hơn để thành, thì lượng chẳng tự thành; nếu lượng chẳng tự thành mà có thể thành tựu được vật thì Tông của ông ắt hoại. Nếu lượng lại có lượng khác thành, thì lượng ắt vô cùng; nếu vô cùng thì ắt chẳng có cái được thành lúc đầu tiên, không có lúc giữa thành, không có lúc cuối thành. Tại sao thế? Vì nếu lượng có thể thành tựu vật được lượng, thì lượng ấy lại có lượng khác đến để thành tựu; cái lượng khác ấy lại có lượng khác thành, như vậy thì không có lúc đầu; không có lúc đầu như vậy thì không có lúc giữa, nếu không có lúc giữa thì chỗ nào có lúc cuối? Như thế, nếu nói rằng lượng kia lại có lượng khác thành, thì nghĩa không đúng. Kệ rằng:

Nếu lượng lìa lượng thành,
Nghĩa luận ông ắt mất,
Như thế ắt có lỗi,
Phải nói thêm thắng nhân.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng lượng lìa lượng mà thành, cái vật được lượng lại được lượng thành, nếu tranh luận rằng lượng thành tựu cái được lượng như thế, ông ắt có lỗi: có vật được lượng thành, có vật không được lượng mà thành. Nếu như vậy thì phải nói thắng nhân; nếu nói thắng nhân ắt có thể biết được cái gì là được lượng thành, cái gì không thành. Ông không thể chỉ ra mà phân biệt như thế thì nghĩa chẳng tương ưng.
Điều này nay ta nói: Như có người nói rằng, lượng được ta nói đó thì có thể thành tựu tự và tha, mà nói kệ rằng:

Giống như ánh sáng lửa
Tự chiếu, chiếu được tha,
Lượng kia cũng như thế
Thành tựu tự và tha.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Như lửa tự chiếu, cũng có thể chiếu vật khác; lượng cũng như thế, tự thành và thành tựu vật khác. Ta nay đáp kệ ấy rằng:

Lời của ông có lỗi
Không phải lửa tự chiếu,
Vì nó không tương ưng,
Như thấy bình trong tối.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Lượng kia giống như lửa, có thể thành tựu tự và tha- vấn nạn này không tương ưng, tại sao thế?
Không phải là lửa tự chiếu. Nếu lúc đầu tiên, khi chưa chiếu thì cái bình…trong bóng tối không thể thấy được; vì lửa chiếu rồi sau mới thấy được,…như thế, …như thế, nếu lửa tự chiếu thì lúc đầu tiên lửa phải tối, lúc sau mới sáng, như vậy mới có thể nói rằng lửa có thể tự chiếu. Nếu lúc ban đầu mà lửa sáng ắt chẳng thể nói rằng lửa có thể tự chiếu. Như vậy, nếu phân tích rằng lửa chiếu tự và tha thì nghĩa không đúng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Lại nếu ông nói rằng
Lửa chiếu được tự, tha.
Nếu lửa đốt được vật
Cớ gì chẳng tự đốt?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ông nói rằng lửa có thể tự chiếu và chiếu vật khác…như thế…như thế, tự chiếu chiếu vật khác như thế… Cũng như thế, nếu đã có thể đốt vật khác thì cũng phải tự đốt. Nhưng thật chẳng thấy có sự như thế. Nếu nói rằng lửa kia có thể tự chiếu và chiếu vật khác thì nghĩa không tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Lại nếu ông nói rằng:
“Lửa chiếu được tự, tha”.
Tối cũng phải như thế:
Tối tự và tối tha.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ông nói rằng lửa tự chiếu và chiếu vật khác, có thể trừ tối, thì tối vì cớ gì chẳng tự che và che vật khác? Nhưng thật không thấy có sự như vậy. Nếu nói rằng lửa kia chiếu tự và tha, thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:
Trong lửa không có tối
Tự, tha ở chỗ nào?
Phá tối, diệt được sáng
Lửa làm sao có sáng?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Trong lửa không có tối, chỗ của lửa không có tối, làm sao gọi là sáng có thể phá tối? Nếu trong lửa ấy không có tối như thế, thì chỗ nào có tối mà lửa có thể phá tối? Nếu không có tối nào để có thể phá diệt, thì làm sao mà có thể chiếu được cả tự và tha?
Điều này nay ta nói: Nếu như vậy thì không phải tối ở trong lửa, không phải tối ở chỗ lửa, như thế…như thế, lửa chiếu tự và chiếu tha; lửa sinh liền chiếu, liền có thể phá tối…như thế…như thế, trong lửa không có tối, chỗ của lửa không có tối, như thế lửa sinh có thể chiếu tự và tha. Điều này nay ta nói, kệ rằng:

Như thế, khi lửa sinh
Ngay khi sinh liền chiếu,
Ngay sinh, lửa đến tối
Nghĩa ắt chẳng tương ưng.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu khi lửa sinh mà có thể chiếu tự và tha thì nghĩa không tương ưng. Vì sao biết thế? Như thế, lửa lúc ban đầu không thể đến chỗ tối; tại sao biết thế? Nếu chưa đến chỗ tối thì không thể phá tối, nếu không phá tối thì không thể có sáng. Kệ rằng:

Nếu lửa không đến tối
Mà có thể phá tối,
Lửa ở tại chỗ này
Phải phá tất cả tối.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng lửa không đến chỗ tối mà có thể phá tối, thì lửa ở chỗ này phải có thể phá tất cả chỗ nào tối có trong thế gian. Tại sao thế? Vì cùng chẳng đến vậy. Nhưng thật không thấy có sự như thế. Nếu cùng không đến thì làm sao chỉ có thể phá tối ở chỗ này mà chẳng phá chỗ tối của tất cả thế gian? Nếu ý ông cho rằng lửa không đến chỗ tối mà có thể phá tối thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu lượng tự thành được
Không chờ sở lượng thành,
Thì ắt lượng tự thành,
Không chờ tha mới thành.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng lượng với sở lượng cũng thành giống như lửa, thì lượng ắt tự thành, không chờ cái được lượng. Tại sao thế? Vì nếu tự thành ắt chẳng chờ cái khác, nếu chờ cái khác thì không tự thành.
Điều này nay ta nói: Nếu không chờ nhau thì sao chẳng tự thành? Chờ cái khác thì chẳng tự thành. Điều này nay ta nói: Nếu lượng không chờ cái được lượng thì có lỗi gì? Nay ta nói, kệ rằng:

Không chờ vật được lượng
Nếu lượng ông thành được,
Như thế ắt chẳng ai
Dùng lượng lượng các pháp.

=Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng không chờ cái được lượng mà lượng có thể thành, ắt chẳng có ai dùng lượng để lượng các pháp. Có lỗi như thế. Nếu những ai cần phải dùng lượng thì chẳng chờ cái được lượng mà cũng có được lượng. Nếu không chờ mà thành thì bị lỗi gì? Ắt là tất cả pháp đều không chờ lượng. Nếu tất cả pháp không chờ lượng mà thành thì điều đó có lỗi gì? Thành thì được nói là thành mà chưa thành cũng như thành, vì không chờ vậy.
Nếu ông lại cho rằng chờ cái được lượng thì lượng mới thành được, thì như vậy, bốn lượng đều có chờ mới thành. Tại sao thế? Vì vật chưa thành thì làm sao mà chờ nhau? Vật đã thành rồi thì chẳng cần chờ nhau. Chưa được, chưa thành ắt chẳng chờ vật, nếu đã thành thì không cần chờ thêm mới thành. Như vật đã làm thì chẳng làm nhân duyên.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu mà vật được lượng
Chờ lượng mới thành được,
Thì ắt sở lượng thành,
Chờ lượng, sau mới thành.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu vật được lượng phải chờ lượng mới thành được, thì ắt là dùng lượng để thành sở lượng ấy. Tại sao vậy? Vì cái sở thành không thành, nên lượng thành sở lượng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Vật không lượng mà thành
Thì ắt chẳng chờ lượng,
Ông sao dùng lượng thành,
Lượng ấy sao thành được?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng, không chờ lượng kia mà sở lượng thành tựu, thì ông nay sao còn phải cầu lượng để thành? Tại sao thế? Nghĩa của lượng ấy vì cái được cầu nào? Nếu vật được lượng lìa lượng mà thành tựu, thì lượng kia dùng làm gì?
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu lượng của ông thành
Chờ sở lượng thành thì
Ắt là: lượng, sở lượng
Như vậy chẳng lià nhau.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: Chờ cái vật được lượng cho nên có lượng- vì sợ có lỗi như ở trước- nếu ông như vậy thì, lượng và sở lượng là một, chẳng thể lìa nhau. Nếu ông như thế thì lượng tức là sở lượng. Tại sao biết thế? Vì sở lượng thành lượng- sở lượng tức là lượng; lượng thành sở lượng- lượng tức là sở lượng; lượng và sở lượng là một.
Kệ rằng:

Nếu lượng thành sở lượng
Nếu sở lượng thành lượng,
Nếu ông như vậy thì
Hai loại cùng chẳng thành.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng: Lượng thành sở lượng vì thấy chờ lượng, sở lượng thành lượng vì thấy chờ sở lượng; nếu ông như thế, thì cả hai cùng chẳng thành. Tại sao thế? Kệ rằng:

Lượng thành được sở lượng,
Sở lượng thành được lượng,
Nếu nghĩa mà như thế
Sao cùng thành được nhau?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu lượng có thể thành ra vật được lượng; vật được lượng kia có thể thành lượng, thì: Lượng còn chưa tự thành – nhân duyên chẳng thành – thì làm sao có thể thành được vật sở lượng?
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Sở lượng thành được lượng,
Lượng thành được sở lượng,
Nếu nghĩa mà như thế
Sao cùng thành được nhau?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu vật sở lượng có thể thành lượng kia, lượng ấy có thể thành vật sở lượng thì nhân duyên không thành, làm sao thành được lượng? Kệ rằng:

Là cha sinh ra con,
Hay con sinh ra cha?
Ai là người năng sinh?
Ai là người được sinh?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Như có người nói rằng: “Cha có thể sinh con”, nếu như thế, thì con cũng sinh ra cha. Ông nay vì nói: Ai là người năng sinh, ai là người được sinh? Ông nói rằng lượng có thể thành sở lượng, sở lượng thành lượng như thế, thì nay ông hãy vì nói: Cái gì là năng thành, cái gì là được thành?
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Vì lẽ gì là cha,
Vì lẽ gì là con?
Ông nói hai loại này
Cha, con cùng đáng nghi.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Trước đã nói hai loại: Cha và con, ai là cha, ai là con? Cha và con hai thứ tương đã, nếu chờ nhau mà sinh thì họ cùng đáng nghi: Ai là cha, ai là con? Như thế, như thế…Nếu ông nói lượng này với sở lượng thì cái gì là lượng, cái gì là sở lượng? Hai loại này, nếu có thể thành tựu được vật thì có thể gọi là lượng; nếu vật có thể thành thì được gọi là sở lượng, ắt không có nghi rằng cái gì là lượng, cái gì là sở lượng. Có thể thành tựu như thế thì được gọi là lượng, có thể thành được như thế thì được gọi là sở lượng. Điều này không có nghi rằng: Cái gì là lượng, cái gì là sở lượng.
Kệ rằng:

Lượng không thể tự thành,
Không phải tự- tha thành,
Không phải lượng khác thành,
Chẳng không nhân duyên thành.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Như thế, lượng không tự thành, hiện lượng không phải hiện lượng thành, tỉ lượng không phải tỉ lượng thành, thí dụ không phải thí dụ thành, A-hàm cũng như thế, không phải A-hàm thành. Không phải là tự và tha hỗ tương mà thành.
Hiện lượng không phải là do tỉ lượng, thí dụ, A-hàm mà thành. Tỉ lượng không phải do hiện lượng, thí dụ, A-hàm mà thành. Thí dụ không phải do hiện lượng, tỉ lượng, A-hàm mà thành. A-hàm không phải do Hiện lượng, tỉ lượng, thí dụ mà thành.
Không phải hiện lượng, tỉ lượng, thí dụ, A-hàm khác mà có các lượng hiện lượng, tỉ lượng, thí dụ, A-hàm khác lại để mà thành.
Cũng như tự phần lượng, hòa hợp không thành, cảnh giới tự- tha hòa hợp không thành.
Không phải là không có nhân duyên mà thành.
Không phải là tụ tập mà thành.
Nhân duyên của điều này, như đã được nói ở trước: Hai mươi, ba mươi, hoặc bốn, năm, sáu; hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi hoặc có sáu mươi.
Nếu như điều được ông nói rằng,vì có lượng nên có thể nói sở lượng; vì có lượng và sở lượng nên chứng minh tất cả pháp đều có tự thể, thì nghĩa không tương ưng.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Người trí biết pháp nói
Thiện pháp có tự thể,
Người đời biết có thể,
Pháp khác cũng như thế.

Có pháp- có tự thể,
Là được Thánh nhân nói,
Như vậy, không có pháp
Không có tự thể pháp.

Kệ này nay ta đáp, kệ rằng:

Nếu điều pháp sư nói:
Thiện pháp có tự thể.
Tự thể thiện pháp này
Theo pháp phải phân biệt.
Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu Pháp sư kia cho rằng thiện pháp có tự thể, thì phải phân tích tự thể của thiện này. Thiện pháp này chư thiện tâm kia có tự thể của thiện tâm…như thế…như thế, tất cả các pháp không thấy như vậy. Nếu nói như thế để chỉ ra tự thể của pháp, thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu tự thể thiện pháp
Từ nhân duyên mà sinh,
Thiện pháp là tha thể,
Làm sao là tự thể?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu thể của thiện pháp từ nhân duyên mà sinh, thì nó là tha thể, làm sao có tự thể được? Thể của pháp như thế, còn lại cũng như vậy. Nếu ông nói rằng, cũng như thiện pháp có tự thể của thiện pháp, bất thiện pháp có tự thể của bất thiện pháp…thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu có chút thiện pháp
Không từ nhân duyên sinh,
Thiện pháp nếu như thế
Chẳng trụ nơi Phạm hành.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ý ông cho rằng, có chút thiện pháp nào không từ nhân duyên sinh, cũng như thế: Bất thiện có tự thể của bất thiện, vô ký có tự thể của vô ký…
Nếu mà như vậy thì chẳng trụ nơi Phạm hành. Tại sao thế? Nếu ông như thế thì ắt bỏ mười hai nhân duyên; nếu sẽ bỏ mười hai nhân duyên thì ắt bỏ mất sự thấy mười hai nhân duyên. Nếu không có mười hai nhân duyên như thế, ắt chẳng thấy được mười hai nhân duyên; không thấy được mười hai nhân duyên như thế thì không thấy được pháp .
Thế Tôn nói rằng: Nếu Tì-khưu nào thấy mười hai nhân duyên thì người ấy ắt thấy pháp, nếu không thấy pháp thì chẳng trụ nơi Phạm hành. Nếu lìa mười hai nhân duyên như vậy ắt lìa nguyên nhân của khổ; vì mười hai nhân duyên là nguyên nhân của khổ nên nếu lìa nguyên nhân của khổ thì ắt lìa khổ; nếu không có nguyên nhân thì chỗ nào có khổ.
Nếu không có khổ thì làm sao có diệt? Nếu không có diệt khổ thì tu tập đạo diệt khổ ở chỗ nào? Nếu như vậy thì không có Tứ Thánh Đế; không có Tứ Thánh Đế ắt chẳng có đạo quả Thanh Văn; thấy Tứ Thánh Đế như vậy thì ắt chứng đạo quả Thanh Văn. Không có quả Thanh Văn thời chẳng có Phạm hành.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Không pháp, chẳng không pháp,
Pháp thế gian cũng không,
Có tự thể ắt thường,
Thường ắt không nhân duyên.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu sẽ lìa nhân duyên hòa hợp mà sinh như thế, thì ông bị nhiều lỗi, vì không đắc pháp và phi pháp, nên tất cả pháp thế gian đều bất khả đắc, tại sao vậy? Nhân duyên hòa hợp mà sinh tất cả pháp; vì tất cả pháp đều từ nhân duyên hòa hợp mà sinh, nếu không có nhân duyên hòa hợp để sinh, ắt tất cả pháp của thế gian đều không thể được.
Lại nữa, tự thể không từ nhân duyên hòa hợp mà sinh, thì vì không nhân duyên nên ắt là pháp thường. Vì sao thế? Vì pháp không nhân duyên ắt là thường. Nếu như vậy thời chẳng trụ Phạm hành.
Lại nữa, pháp của ông tự có lỗi lầm. Tại sao vậy? Thế Tôn nói tất cả hữu vi trọn đều vô thường. Chúng có tự thể nào? Trọn đều vô thường. Kệ rằng:

Thiện, bất thiện, vô ký
Tất cả pháp hữu vi,
Như ông nói ắt thường
Ông có lỗi như thế.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu nói rằng thiện pháp có tự thể của thiện pháp, bất thiện và vô ký cũng nói như thế, như thế…thì ông nói tất cả pháp hữu vi là thường. Tại sao vậy? Pháp nếu không có nhân thì chẳng sinh, trụ, diệt; không sinh, trụ, diệt thì chẳng phải pháp hữu vi, ắt tất cả pháp đều là vô vi. Nếu nói rằng: Thiện…tất cả pháp đều có tự thể, ắt tất cả pháp trọn đều chẳng phải không, thì nghĩa không tương ưng.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Các pháp nếu vô thể
Vô thể chẳng được tên,
Có tự thể – có tên,
Chỉ tên thì gọi gì?

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Nếu ai nói có tên,
Nói rằng có tự thể;
Người ấy có thể vặn,
Lời, tên, ngã – chẳng thật.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu người nào nói rằng tên gọi có tự thể, người ấy như thế thì có thể bị ông vấn nạn. Người ấy nói rằng: Có tự thể, có tên gọi, không có tự thể thì không có tên gọi. Ta không nói có tên gọi và tự thể như thế. Tại sao biết vậy? Tất cả các pháp đều không có tự thể, nếu không có tự thể thì chúng được gọi là không. Nếu chúng là không thì có thể nói là không thật. Nếu ông cho rằng có tên gọi- có tự thể, thì nghĩa không tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu tên này là không,
Ắt có cũng là không,
Nếu nói có, nói không
Tông ông có hai lỗi.

Nếu tên này là có
Ắt không cũng là có,
Nếu nói không, nói có
Luận ông có hai lỗi.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu tên gọi này là không thì như vậy Tông mất, nếu nó là có thì như vậy luận mất. Tông của ta không như thế. Nếu có vật thì có tên gọi, không có vật thì không có tên gọi, như thế nên các pháp có tự thể, thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Như thế trước ta nói:
Tất cả pháp đều không,
Tông nghĩa ta như vậy
Ắt chẳng thể có lỗi.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Trước ta đã nói Tông của tất cả pháp cũng gọi là không. Ông chỉ lấy cái tên gọi không mà có cái được nói. Nếu tất cả pháp đều không có tự thể, thì tên gọi cũng không có tự thể. Ta nói như thế, nghĩa Tông không có lỗi, vì ta chẳng nói rằng tên gọi có tự thể.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Nếu lìa pháp có tên
Không ở tại trong pháp,
Nói: Lìa pháp có tên,
Người ấy ắt bị vặn.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Nếu riêng có tự thể
Không ở tại trong pháp,
Ông lo ta nên nói
Đây ắt chẳng cần lo.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Điều ấy chẳng cần lo, ông chỉ hư vọng mà vấn nạn ta. Ta ắt chẳng phá tự thể các pháp. Ta không lìa pháp mà lấy riêng có vật. Người nào thủ pháp thì người ấy cần lo. Ta không thủ pháp nên không phá pháp, làm sao có lỗi? Nếu ta thủ pháp có tự thể, thì ắt có thể vấn nạn rằng: “Ông chẳng tương ưng” . Ta không như thế nên ông vấn nạn quá xa (nghĩa của ta), hoàn toàn chẳng tương đương.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Pháp nếu có tự thể
Có thể phá các pháp,
Các pháp không tự thể
Rốt cuộc phá cái gì?

Như có bình, có đất
Có thể phá bình, đất,
Thấy có vật ắt phá,
Thấy không vậy không phá.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:
Nếu hữu thể phá được,
Nếu không, được nói thành;
Nếu vô thể, vô không
Làm sao thành phá được?

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu có thì phá được, nếu không thì ắt chẳng thể phá. Ta nói rằng tất cả các pháp đều không có tự thể. Thật như ông nói: Tất cả các pháp đều không có tự thể. Tại sao biết thế? Nếu ngươi nói già pháp vô tự thể, thành nhược già các pháp vô tự thể, thành được nói tất cả các pháp đều không.
Kệ rằng:

Ông là sở phá nào
Sở phá ông ắt không
Pháp không mà có phá
Như thế luận ông mất.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu tất cả pháp già có tự thể, nếu không có tự thể thì chúng được gọi là không; cái không ấy cũng không. Cho nên ông nói rằng, có vật ắt phá được, không vật không phá thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại còn có nghĩ, kệ rằng:

Ta không có chút vật
Cho nên ta chẳng phá,
Như vậy, ông vô lý
Ngang ngược mà vặn ta.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ta có phá một chút vật nào thì ông có thể vấn nạn ta. Ta không có phá vật, không có phá vật như thế nên ta không có cái bị phá. Như thế không phá, tất cả pháp là không; như vậy không có cái phá với cái bị phá. Cho nên ông hướng đến ta mà vấn nạn rằng:” Phá cái gì”, thì đây là ông vô lý, ngang ngược mà vấn nạn ta.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Nếu pháp không tự thể
Ngôn ngữ phá cái gì?
Không pháp mà phá được
Ngôn ngữ cũng thành phá.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Pháp ngôn ngữ ông khác,
Nghĩa này, nay ta nói:
Không cách nào nói được,
Nhưng ta không có lỗi.
Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ông nói rằng, không có ngôn ngữ cũng thành phá, thì: Tùy theo các pháp nào đó – tất cả các pháp ấy đều không có tự thể. Câu nói: “Các pháp không có tự thể”, thì không phải là ngôn ngữ ấy làm thành sự không có tự thể. Điều này nay ta đáp, nếu câu nói rằng: “Các pháp không có tự thể”, thì cái câu nói ấy chẳng làm các pháp thành không có tự thể.
Lại còn có nghĩa, vì không có tự thể pháp thì biết không có tự thể pháp; vì có tự thể pháp thì biết có tự thể pháp. Ví như trong nhà thật không có trời. Có người hỏi rằng: “Có thể có trời không?”. Có người đáp: “Có thể có”; có người đáp: “Không có”.
Người đáp không có, thì cũng như ngôn ngữ không thể nơi trong nhà kia mà làm ra sự không có trời, chỉ biết trong nhà trống, không có trời được.
Như thế, nếu nói rằng: “Các pháp không có tự thể”, thì câu nói ấy không thể làm các pháp thành không có tự thể, chỉ biết tự thể các pháp là không. Nếu ông nói rằng: “Nếu không có vật ắt chẳng thể nói được rằng pháp không có tự thể, vì không có ngôn ngữ nên chẳng thể thành pháp không có tự thể”, thì nghĩa không tương ưng.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Như người ngu si kia
Vọng lấy diễm làm nước,
Nếu ông vọng lấy phá
Sự ấy cũng như thế.

Thủ, sở thủ, năng thủ,
Phá, sở phá, năng phá
Sáu loại nghĩa như thế
Trọn đều là pháp có.

Nếu không thủ, sở thủ
Cũng không có năng thủ,
Ắt không phá, sở phá,
Cũng không có năng phá.

Nếu không phá, sở phá
Cũng không có năng phá,
Ắt tất cả pháp thành,
Tự thể chúng cũng thành.

Bốn kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Ông nói dụ Lộc Ái
Để biện minh nghĩa lớn,
Ông lắng nghe ta đáp
Tương ưng như thí dụ.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Thí dụ Lộc Ái là để làm sáng nghĩa lớn. Ông nghe ta đáp, tương ưng như thí dụ. Kệ rằng:

Nếu kia có tự thể
Chẳng cần nhân duyên sinh,
Nếu mà cần nhân duyên
Như vậy được gọi Không.

Kệ này nói lên ngĩa gì? Trong thí dụ Lộc Ái, vọng thủ lấy thể của nước, không nhân duyên mà sinh. Thí dụ của ông tương đương với nhân duyên Lộc Ái – nó thấy điên đảo.
Thấy điên đảo vì chẳng quán sát nhân duyên mà sinh. Như thế có thể nói rằng do nhân duyên mà sinh. Nếu nhân duyên sinh thì tự thể của nó là không. Nghĩa như thế đã được nói ở trước.
Lại còn có nghĩa, kệ rằng:

Nếu chấp tự thể thật
Người ấy bị phản phá,
Còn lại cũng như thế,
Cho nên ta không lỗi.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu trong thí dụ Lộc Ái, cái thể của sự lấy nước là thật, thì ai có thể phản hồi? Nếu có tự thể ắt chẳng thể phản hồi, như lửa nóng, nước mát, không có chướng ngại gì. Thấy sự có thể phản hồi được này, như vậy cái thể của sự “thủ “ là không, như thế… Như thế, trong các pháp còn lại, nghĩa như thế, biết như thế.
Như sự “thủ” kia không có thật, năm loại còn lại cũng như vậy. Nếu ông nói rằng, sáu pháp kia là có, như vậy nên có thể nói được rằng năm pháp còn lại dầu chẳng phải không, thì nghĩa chẳng tương ưng.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Nhân ông ắt chẳng thành
Vô thể thì nhân nào?
Nếu pháp mà không nhân
Làm sao nói thành được?

Ông nếu không nhân thành
Phản tự thể các pháp,
Ta cũng không nhân thành
Các pháp có tự thể.

Nếu có nhân, vô thể
Nghĩa này chẳng tương ưng
Pháp thế gian vô thể
Ắt chẳng được nói có.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Về sự không nhân này
Nghĩa trước đã nói hết,
Trong ba thời nói nhân
Chúng bình đẳng mà nói.
Kệ này nói lên nghĩa gì? Nghĩa lớn như thế ở trước đã nói. Điều này ắt không có nhân, phải nên biết như thế, luận nghĩa như thế. Nhân ở trước đã nói, phản hồi phá sáu loại, luận nghĩa ở trước đó, nay nói ở đây.
Lại nữa, ông nói kệ rằng:

Phá trước, bị phá sau
Như thế chẳng tương ưng,
Phá sau, hoặc cùng nhau
Như vậy biết hữu thể.

Kệ này, nay ta đáp, kệ rằng:

Nếu nói nhân ba thời
Trước như thế bình đẳng,
Ba thời nhân như thế
Tương ưng với thuyết không.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu phá nhân này ngôn ngữ trong ba thời, ở trước đã đáp, phải biết như thế. Tại sao vậy? Vì nhân bình đẳng vậy. Như phá ba thời, kia chẳng tương ưng. Ngôn ngữ kia cũng trong phần “phá, bị phá”. Nếu ý ông cho rằng, không có phá với bị phá, vì giống nên có thể phá, thì trước ta đã phá xong. Nhân trong ba thời này tương ưng với ngôn ngữ của người nói không.
Lại nữa, như thế nào thì trước đã nói xong, như kệ rằng:

Ta không có chút vật
Cho nên ta chẳng phá,
Như vậy ông vô lý
Ngang ngược mà vặn ta.

Nếu ông lại cho rằng phá ba thời thành, thấy có nhân của lúc trước, nhân của lúc sau, thấy nhân cùng lúc; nhân của lúc trước như cha với con, nhân của lúc sau như thầy và trò, nhân cùng lúc như đèn với ánh sáng. Điều này nay ta nói rằng chẳng phải như vậy. Ba loại nói ở trước, trong ba loại thì mỗi một loại lại có ba loại lỗi lầm. Điều này trước đã nói, lại lần lượt phá, ông lập tông sai lầm. Phá tự thể thành.
Kệ rằng:

Nếu ai tin nơi không
Người ấy tin tất cả,
Nếu ai chẳng tin không,
Hẳn không tin tất cả.

Kệ này nói lên nghĩa gì? Nếu ai tin không thì người ấy tin tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Tại sao thế? Nếu ai tin không ắt tin nhân duyên hòa hợp mà sinh; nếu tin nhân duyên hòa hợp mà sinh ắt tin Tứ Đế; nếu tin Tứ Đế, người ấy tin tất cả chứng đắc thù thắng; nếu ai có thể tin tất cả chứng đắc thù thắng ắt tin Tam Bảo, là: Phật, Pháp, Tăng.
Nếu tin nhân duyên hòa hợp mà sinh, người ấy ắt tin pháp nhân, pháp quả; nếu ai có thể tin pháp nhân, pháp quả, người ấy ắt tin nhân quả của phi pháp; nếu ai có thể tin pháp nhân quả, tin nhân của phi pháp, quả của phi pháp, người ấy ắt tin phiền não phiền não hòa hợp phiền não pháp vật. Người ấy như vậy đều tin, như trước đã nói, người ấy ắt tin vào ác hành và thiện hành. Nếu ai có thể tin vào thiện hành, ác hành, người ấy ắt biết phương tiện vượt khỏi ba đường ác. Người ấy như vậy tin tất cả các pháp thế gian, như vậy vô lượng không thể nói hết.

Không, tự thể, nhân duyên
Ba nói một trung đạo,
Con quy mạng đảnh lễ
Vô Thượng Đại trí Huệ.

Làm luận này là Long Thọ Bồ-Tát Ma-Ha-Tát, Ngài có thể giải thích tất cả nghĩa luận.

LUẬN HỒI TRÁNH

大正新脩大藏經 第32冊
No.1631 迴諍論 (1卷)
【龍樹菩薩造 後魏 毘目智仙共瞿曇流支譯】
第 1 卷

No. 1631

序迴諍論翻譯之記

迴諍論者。龍樹菩薩之所作也。數舒盧迦三十二字。此論正本凡有六百。大魏都鄴興和三年。歲次大梁。建辰之月。朔次癸酉。辛卯之日。烏萇國人剎利王種。三藏法師毘目智仙。共天竺國婆羅門人瞿曇流支。在鄴城內金華寺譯。時日所費二十餘功。大數凡有一萬一千九十八字。對譯沙門曇林之筆受。驃騎大將軍開府儀同三司御史中尉勃海高仲密啟請供養。且記時事。以章以聞。令樂法者。若見若聞。同崇翻譯矣。

迴諍論偈初分第一

龍樹菩薩造

後魏三藏毘目智仙共瞿曇流支譯

問曰偈言。

若一切無體 言語是一切
言語自無體 何能遮彼體
若語有自體 前所立宗壞
如是則有過 應更說勝因
汝謂如勿聲 是義則不然
聲有能遮聲 無聲何能遮
汝謂遮所遮 如是亦不然
如是汝宗相 自壞則非我
若彼現是有 汝可得有迴
彼現亦是無 云何得取迴
說現比阿含 譬喻等四量
現彼阿含成 譬喻亦能成
智人知法說 善法有自體
世人知有體 餘法亦如是
出法出法體 是聖人所說
如是不出法 不出法自體
諸法若無體 無體不得名
有自體有名 唯名云何名
若離法有名 於彼法中無
說離法有名 彼人則可難
法若有自體 可得遮諸法
諸法若無體 竟為何所遮
如有瓶有埿 可得遮瓶埿
見有物則遮 見無物不遮
若法無自體 言語何所遮
若無法得遮 無語亦成遮
如愚癡之人 妄取炎為水
若汝遮妄取 其事亦如是
取所取能取 遮所遮能遮
如是六種義 皆悉是有法
若無取所取 亦無有能取
則無遮所遮 亦無有能遮
若無遮所遮 亦無有能遮
則一切法成 彼自體亦成
汝因則不成 無體云何因
若法無因者 云何得言成
汝若無因成 諸法自體迴
我亦無因成 諸法有自體
若有因無體 是義不相應
世間無體法 則不得言有
前遮後所遮 如是不相應
若後遮及並 如是知有體

迴諍論偈上分第二

我語言若離 因緣和合法
是則空義成 諸法無自體
若因緣法空 我今說此義
何人有因緣 彼因緣無體
化人於化人 幻人於幻人
如是遮所遮 其義亦如是
言語無自體 所說亦無體
我如是無過 不須說勝因
汝言勿聲者 此非我譬喻
我非以此聲 能遮彼聲故
如或有丈夫 妄取化女身
而生於欲心 此義亦如是
同所成不然 響中無因故
我依於世諦 故作如是說
若不依世諦 不得證真諦
若不證真諦 不得涅槃證
若我宗有者 我則是有過
我宗無物故 如是不得過
若我取轉迴 則須用現等
取轉迴有過 不爾云何過
若量能成法 彼復有量成
汝說何處量 而能成此量
若量離量成 汝諍義則失
如是則有過 應更說勝因
猶如火明故 能自照照他
彼量亦如是 自他二俱成
汝語言有過 非是火自照
以彼不相應 如見闇中瓶
又若汝說言 火能自他照
如火能燒他 何故不自燒
又若汝說言 火能自他照
闇亦應如是 自他二俱覆
於火中無闇 何處自他住
彼闇能殺明 火云何有明
如是火生時 即生時能照
火生即到闇 義則不相應
若火不到闇 而能破闇者
火在此處住 應破一切闇
若量能自成 不待所量成
是則量自成 非待他能成
若不待所量 而汝量得成
如是則無人 用量量諸法
若所量之物 待量而得成
是則所量成 待量然後成
若物無量成 是則不待量
汝何用量成 彼量何所成
若汝彼量成 待所量成者
是則量所量 如是不相離
若量成所量 若所量成量
汝若如是者 二種俱不成
量能成所量 所量能成量
若義如是者 云何能相成
所量能成量 量能成所量
若義如是者 云何能相成
為是父生子 為是子生父
何者是能生 何者是所生
為何者是父 為何者是子
汝說此二種 父子相可疑
量非自能成 非是自他成
非是異量成 非無因緣成
若法師所說 善法有自體
此善法自體 法應分分說
若善法自體 從於因緣生
善法是他體 云何是自體
若少有善法 不從因緣生
善法若如是 無住梵行處
非法非非法 世間法亦無
有自體則常 常則無因緣
善不善無記 一切有為法
如汝說則常 汝有如是過
若人說有名 語言有自體
彼人汝可難 語名我不實
若此名無者 則有亦是無
若言有言無 汝宗有二失
若此名有者 則無亦是有
若言無言有 汝諍有二失
如是我前說 一切法皆空
我義宗如是 則不得有過
若別有自體 不在於法中
汝慮我故說 此則不須慮
若有體得遮 若空得言成
若無體無空 云何得遮成
汝為何所遮 汝所遮則空
法空而有遮 如是汝諍失
我無有少物 是故我不遮
如是汝無理 枉橫而難我
汝言語法別 此義我今說
無法得說語 而我則無過
汝說鹿愛喻 以明於大義
汝聽我能說 如譬喻相應
若彼有自體 不須因緣生
若須因緣者 如是得言空
若取自體實 何人能遮迴
餘者亦如是 是故我無過
此無因說者 義前已說竟
三時中說因 彼平等而說
若說三時因 前如是平等
如是三時因 與說空相應
若人信於空 彼人信一切
若人不信空 彼不信一切
空自體因緣 三一中道說
我歸命禮彼 無上大智慧

迴諍論釋初分第三

釋曰論初偈言。

若一切無體 言語是一切
言語自無體 何能遮彼體

此偈明何義。若一切法皆是因緣。則是因緣因緣和合離諸因緣。是則更無一切自體。如是一切諸法皆空。如芽非是種子中有。非地非水非火非風非虛空等因緣中有。非是一一因緣中有。非諸因緣和合中有。非離因緣因緣和合餘處別有。若此等中一切皆無。如是得言芽無自體。若如是無一切自體。彼得言空。若一切法皆悉空者則無言語。若無言語則不能遮一切諸法。若汝意謂言語不空言語所說一切法空。是義不然。何以故。汝言一切諸法皆空則語亦空。何以故。以因中無。四大中無。一一中無。和合中無。因緣和合不和合中一切皆無。如是言語咽喉中無。脣舌齒根齗鼻頂等一一皆無。和合中無。二處俱無。唯有因緣因緣和合。若離如是因緣和合。更無別法。若如是者。一切言語皆無自體。若如是無言語自體。則一切法皆無自體。若此言語無自體者。唯有遮名不能遮法。譬如無火則不能燒。亦如無刀則不能割。又如無水則不能瀾。如是無語。云何能遮諸法自體。既不能遮諸法自體。而心憶念遮一切法自體。迴者義不相應。又復有義。偈言。

若語有自體 前所立宗壞
如是則有過 應更說勝因

此偈明何義。若此言語有自體者。汝前所立義宗自壞。是則有過。若爾便應更說勝因。若汝意謂語有自體餘法空者。如是則違諸法空語。汝宗亦壞。又復有義。言語不離一切法數。若一切法皆悉空者。言語亦空。若言語空則不能遮一切諸法。若如是者。於六種中諍論相應。彼復云何汝不相應。汝說一切諸法皆空。則語亦空。何以故。言語亦是一切法故。言語若空則不能遮。彼若遮言一切法空則不相應。又若相應言語能遮一切法體。一切法空語則不空語。若不空遮一切法則不相應。若諸法空言語不空語何所遮。又若此語入一切中喻不相當。若彼言語是一切者。一切既空言語亦空。若語言空則不能遮。若語言空諸法亦空。以空能遮諸法令空。如是則空亦是因緣。是則不可。又若汝畏喻不相當。一切法空能作因緣。如是空語則不能遮一切自體。又復有義。一邊有過。以法有空亦有不空。彼若有過更說勝因。若一邊空一邊不空。如是若說一切法空無自體者。義不相應。又復有義。偈言。

汝謂如勿聲 是義則不然
聲有能遮聲 無聲何能遮

此偈明何義。若汝意謂聲能遮聲。如有人言汝莫作聲。彼自作聲而能遮聲。如是如是一切法空空語能遮。此我今說此不相應。何以故。以此聲有能遮彼聲。汝語非有則不能遮諸法自體。汝所立義。語亦是無諸法亦無。如是若謂如勿聲者。此則有過。偈言。

汝謂遮所遮 如是亦不然
如是汝宗相 自壞則非我

此偈明何義。若汝意謂。遮與所遮亦如是者。彼不相應。若汝說言。我語能遮一切諸法有自體者。彼不相應。此我今說。是義不然。何以故。知如是宗相汝過非我。汝說一切諸法皆空。如是汝義前宗有過咎不在我。若汝說言。汝遮所遮不相應者。是義不然。又復有義。偈言。

若彼現是有 汝何得有迴
彼現亦是無 云何得取迴

此偈明何義。若一切法有現可取。汝得迴我諸法令空。而實不爾。何以知之。現量入在一切法數則亦是空。若汝分別依現有比。現比皆空。如是無現比。何可得現之與比。是二皆無云何得遮。汝言一切諸法空者。是義不然。若汝復謂。或比或喻。或以阿含得一切法。如是一切諸法自體。我能迴者。此義今說。偈言。

說現比阿含 譬喻等四量
現比阿含成 譬喻亦能成

此偈明何義。比喻阿含現等四量。若現能成。比阿含等皆亦能成。如一切法皆悉是空。現量亦空。如是比喻亦空。彼量所成一切諸法皆悉是空。以四種量在一切故。隨何等法。若為比成亦譬喻成亦阿含成。彼所成法一切皆空。汝以比喻阿含等三量一切法所量亦空。若如是者法不可得量所量無。是故無遮。如是若說一切法空無自體者。義不相應。又復有義。偈言。

智人知法說 善法有自體
世人知有體 餘法亦如是

此偈明何義。法師說善法。善法一百一十有九。謂心一相。一者受。二者想。三者覺。四者觸。五者觀察。六者欲。七者信解脫。八者精進。九者憶念。十者三摩提。十一者慧。十二者捨。十三者修。十四者合修。十五者習。十六者得。十七者成。十八者辯才。十九者適。二十者勤。二十一者思。二十二者求。二十三者勢力。二十四者不嫉。二十五者自在。二十六者善辯才。二十七者不悔。二十八者悔。二十九者少欲。三十者不少欲。三十一者捨。三十二者不思。三十三者不求。三十四者不願。三十五者樂說。三十六者不著境界。三十七者不行。三十八者生。三十九者住。四十者滅。四十一者集。四十二者老。四十三者熱惱。四十四者悶。四十五者疑。四十六者思量。四十七者愛。四十八者信。四十九者樂。五十者不順。五十一者順取。五十二者不畏大眾。五十三者恭敬。五十四者作勝法。五十五者敬。五十六者不敬。五十七者供給。五十八者不供給。五十九者定順。六十者宿。六十一者發動。六十二者不樂。六十三者覆。六十四者不定。六十五者愁惱。六十六者求不得。六十七者荒亂。六十八者懈怠。六十九者憂憒。七十者希淨。七十一者內信。七十二者畏。七十三者信。七十四者慚。七十五者質直。七十六者不誑。七十七者寂靜。七十八者不驚。七十九者不錯。八十者柔軟。八十一者開解。八十二者嫌。八十三者燒。八十四者惺。八十五者不貪。八十六者不瞋。八十七者不癡。八十八者不一切知。八十九者放捨。九十者不有。九十一者愧。九十二者不自隱惡。九十三者悲。九十四者喜。九十五者捨。九十六者神通。九十七者不執。九十八者不妬。九十九者心淨。一百者忍辱。一百一者利益。一百二者能用。一百三者福德。一百四者無想定。一百五者不一切智。一百六者無常三昧(少十三法無處訪本)。如是如是。善法一百一十有九。如彼善法善法自體。彼不善法不善法自體。如是無記無記。本性無記本性無記。欲界欲界。色界色界。無色界無色界。無漏無漏。苦集滅道苦集滅道。修定修定。如是如是見有無量種種諸法皆有自體。如是若說一切諸法皆無自體。如是無體得言空者。義不相應。此復有義。偈言。

出法出法體 是聖人所說
如是不出法 不出法自體

此偈明何義。如說出法出法自體。如是不出法不出法自體。覺分覺分自體。菩提分菩提分自體。非菩提分非菩提分自體。如是餘法皆亦如是。若如是見彼無量種諸法自體。而如是說一切諸法皆無自體。以無自體名為空者。義不相應。又復有義。偈言。

諸法若無體 無體不得名
有自體有名 唯名云何名

此偈明何義。若一切法皆無自體說無自體。言語亦無。何以故。有物有名。無物無名。以一切法皆有名故。當知諸法皆有自體。法有自體故不得言一切法空。如是若說一切法空無自體者。義不相應。偈言。

若離法有名 於彼法中無
說離法有名 彼人則可難

此偈明何義。若汝意謂。有法有名離法有名。如是一切諸法皆空無自體成。非物無名有物有名。此我今說。若如是者。有何等人。說離法體別有名字。若別有名。別有法者。則不得示彼不可示。如是汝心分別別有諸法別有名者。是義不然。又復有義。偈言。

法若有自體 可得遮諸法
諸法若無體 竟為何所遮
如有瓶有埿 可得遮瓶埿
見有物則遮 見無物不遮

此偈明何義。有物得遮無物不遮。如無瓶埿則不須遮。有瓶得遮無瓶不遮。如是如是法無自體則不須遮。法有自體可得有遮。無云何遮。若一切法皆無自體而便遮言。一切諸法無自體者。義不相應。汝何所遮。若有遮體。能遮一切諸法自體。偈言。

若法無自體 言語何所遮
若無法得遮 無語亦成遮

此偈明何義。若法無體語亦無體。云何遮言。一切諸法皆無自體。若如是遮。不說言語亦得成遮。若如是者火冷水堅如是等過。又復有義。偈言。

如愚癡之人 妄取炎為水
若汝遮妄取 其事亦如是

此偈明何義。若汝意謂。如愚癡人取炎為水。於無水中虛妄取水。有黠慧人為迴彼心而語之言。汝妄取水。如是如是於無自體一切法中取法自體。為彼眾生妄心迴故。說一切法皆無自體。此我今說。偈言。

取所取能取 遮所遮能遮
如是六種義 皆悉是有法

此偈明何義。若當如是有眾生者。有取所取有能取者。得言虛妄遮所遮等。如是六種義成。若六義成而說諸法一切空者。是義不然。偈言。

若無取所取 亦無有能取
則無遮所遮 亦無有能遮

此偈明何義。若汝意謂無如是過。非取所取。非能取者。彼若如是虛妄取遮。一切諸法無自體者。彼遮亦無所遮亦無能遮亦無。偈言。

若無遮所遮 亦無有能遮
則一切法成 彼自體亦成

此偈明何義。若非有遮非有所遮非有能遮。是則不遮一切諸法。則一切法皆有自體。偈言。

汝因則不成 無體云何因
若法無因者 云何得言成

此偈明何義。若一切法空無自體。如是義中說因不成。何以故。一切諸法空無自體。何處有因。若法無因一切法空以何因成。是故汝說一切法空無自體者。是義不然。偈言。

汝若無因成 諸法自體迴
我亦無因成 諸法有自體

此偈明何義。若汝意謂。我無因成法無自體。如汝無因自體迴成。我自體法亦無因成。偈言。

若有因無體 是義不相應
世間無體法 則不得言有

此偈明何義。若汝意謂。我有因成因無自體。若如是者無自體義則不相應。何以故。一切世間無自體者。不得言有。偈言。

前遮後所遮 如是不相應
若後遮及並 如是知有體

此偈明何義。若遮在前所遮在後。義不相應。未有所遮遮何所遮。若遮在後所遮在前。亦不相應。所遮已成遮何能遮。若遮所遮二法同時不相因緣。遮不因所遮。所遮不因遮。皆有自體故。則不得言遮。如角並生各不相因。左不因右右不因左。如是若說一切諸法無自體者。是義不然。釋初分竟。

迴諍論釋上分第四

釋曰。如汝所說我今答汝。汝說偈言。

若一切無體 言語是一切
言語自無體 何能遮彼體

此偈。我今答。偈言。

我語言若離 因緣和合法
是則空義成 諸法無自體

此偈明何義。若彼言語。因中大中和合中無。離散中無。咽喉脣舌齒根齗鼻頂等諸處皆各有力。如是二處和合中無。若離如是因緣和合。更無別法。以如是故無有自體。無自體故我言一切皆無自體。空義則成。如此言語無自體空。諸法如是無自體空。是故汝言。汝語空故不能說空。是義不然。又復有義。偈言。

若因緣法空 我今說此義
何人有因緣 彼因緣無體

此偈明何義。汝不能解一切法空。不知空義何能咎我。如汝所言。汝語言空語無自體。無自體故不能遮法。此法若是因緣生者。生故得言一切法空。得言一切皆無自體。以何義故。知因緣生法無自體。若法一切皆因緣生。則一切法。皆無自體。法無自體則須因緣。若有自體何用因緣。若離因緣則無諸法。若因緣生則無自體。以無自體故得言空。如是我語亦因緣生。若因緣生則無自體。以無自體故得言空。以一切法因緣生者自體皆空。如輿瓶衣蕃等諸物。彼法各各自有因緣。世間薪草土所作器水蜜乳等。將來將去及舉掌等。又復寒熱風等障中諸受用法。因緣生故皆無自體。如是如是我語因緣和合而生。如是得言無有自體。若無自體如是得言無自體成。如是空語世間受用。是故汝言無自體故汝語亦空。則不能遮諸法自體。是義不然。又復有義。偈言。

化人於化人 幻人於幻人
如是遮所遮 其義亦如是

此偈明何義。如化丈夫於異化人。見有去來種種所作而便遮之。如幻丈夫於異幻人。見有去來種種所作而便遮之。能遮化人彼則是空。若彼能遮化人是空。所遮化人則亦是空。若所遮空遮人亦空。能遮幻人彼則是空。若彼能遮幻人是空。所遮幻人則亦是空。若所遮空遮人亦空。如是如是我語言空。如幻化空。如是空語。能遮一切諸法自體。是故汝言。汝語空故。則不能遮一切諸法有自體者。汝彼語言則不相應。若汝說言彼六種諍彼如是遮。如是我語非一切法。我語亦空諸法亦空。非一切法皆悉不空。又復汝說偈言。

若語有自體 前所立宗壞
如是則有過 應更說勝因

此偈。我今答。偈言。

言語無自體 所說亦無體
我如是無過 不須說勝因

此偈明何義。我此語言。以因緣生非有自體。如前所說。自體不生故得言空。如是得言此語言空餘一切法悉皆是空。如是空故我則無過。若我說言此語不空餘一切法悉皆空者。我則有過。我不如是是故無過。理實不得語言不空餘一切法皆悉是空。我以是故不說勝因。若語不空餘一切法皆悉空者。可說勝因。是故汝言。汝諍論壞語則有過。應說勝因。是義不然。又復汝說。偈言。

若謂如勿聲 是義則不然
聲有能遮聲 無聲何能遮

此偈。我今答。偈言。

汝言勿聲者 此非我譬喻
我非以此聲 能遮彼聲故

此偈明何義。此非我喻。如何人言莫作聲者。彼自作聲以聲遮聲。聲非不空我則不爾。語言亦空遮法亦空。何以故。譬如彼聲能迴此聲。我不如是。我如是說。一切諸法皆無自體。以無自體故得言空。何以故。若無體語迴無自體。則一切法皆成自體。如言勿聲聲能遮聲。如是如是無自體語遮無體法。若如是遮無自體者。則一切法皆成自體。若有自體則一切法皆悉不空。我說法空不說不空。譬喻如是。偈言。

如或有丈夫 妄取化女身
而生於欲心 此義亦如是

此偈明何義。如化婦女實自體空。如或丈夫於化女身。生實有想起於欲心。彼虛妄取諸法亦爾。彼或如來如來弟子聲聞之人。為迴彼人虛妄取心。或是如來威神之力。如來弟子聲聞威力。化作化人。如是如是語空如化。如化婦女無自體空。法如是空。取法自體能遮令迴。如是如是以此空喻能成空義。我則相應非汝相應。偈言。

同所成不然 響中無因故
我依於世諦 故作如是說

此偈明何義。若汝或謂如勿聲者因同所成。何以故。以因不離一切諸法無自體故。非彼聲響而有自體。以因緣生故無自體。若無自體汝說聲有能遮聲者。彼義則壞。又我所說不違世諦不捨世諦。依世諦故能說一切諸法體空。若離世諦法不可說。佛說偈言。

若不依世諦 不得證真諦
若不證真諦 不得涅槃證

此偈明何義。如是諸法非是不空。一切諸法皆無自體。此二無異。又復汝說偈言。

汝謂遮所遮 如是亦不然
如是汝宗相 自壞則非我

此偈。我今答。偈言。

若我宗有者 我則是有過
我宗無物故 如是不得過

此偈明何義。若我宗有則有宗相。若我有宗有宗相者。我則得汝向所說過。如是非我有宗。如是諸法實寂靜故。本性空故。何處有宗。如是宗相為於何處宗相可得。我無宗相何得咎我。是故汝言。汝有宗相得過咎者。是義不然。又復汝說偈言。

若彼現是有 汝可得有迴
彼現亦是無 云何得取迴
說現比阿含 譬喻等四量
現比阿含成 譬喻亦能成

此偈。我今答。偈言。

若我取轉迴 則須用現等
取轉迴有過 不爾云何過

此偈明何義。我若如是少有法物。則須現比阿含譬喻如是四量。復有四量。我若如是取轉迴者。我則有過。我既不取少法轉迴。若我如是不轉不迴。汝若如是與我過者。是義不然。若現等量復有量成量則無窮。汝如是義不能咎我。又復有義。偈言。

若量能成法 彼復有量成
汝說何處量 而能成此量

此偈明何義。若汝意謂量能成物。如量所量。現比阿含喻等四量。復以何量成此四量。若此四量更無量成。量自不成。若自不成能成物者。汝宗則壞。若量復有異量成者。量則無窮。若無窮者則非初成非中後成。何以故。若量能成所量物者。彼量復有異量來成彼量。復有異量成故。如是。無初。若無初者如是無中。若無中者何處有後。如是若說彼量復有異量成者。是義不然。偈言。

若量離量成 汝諍義則失
如是則有過 應更說勝因

此偈明何義。若汝意謂。量離量成。所量之物為量成者。若如是諍量成所量。汝則有過。有物量成有不量成。若如是者應說勝因。若說勝因則可得知。何者量成何者不成。汝不能示如是分別。義不相應。此我今說。如有人言。我所說量自他能成。而說偈言。

猶如火明故 能自照照他
彼量亦如是 自他二俱成

此偈明何義。如火自照亦能照他。量亦如是。自成成他。我今答彼偈言。

汝語言有過 非是火自照
以彼不相應 如見闇中瓶

此偈明何義。彼量如火自他能成難不相應。何以故。非火自照。如初未照闇中瓶等不可得見。以火照已然後得見。如是如是。若火自照。初火應闇後時乃明。如是得言火能自照。若初火明則不得言火能自照。如是分別火自他照義不相應。又復有義。偈言。

又若汝說言 火自他能照
如火能燒他 何故不自燒

此偈明何義。若汝說言。如火自照亦能照他。如是如是自照照他。如是如是既能燒他亦應自燒。而實不見有如是事。若說彼火自他能照義不相應。又復有義。偈言。

又若汝說言 火能自他照
闇亦應如是 自他二俱覆

此偈明何義。若汝說言。火自他照能却闇者。闇何以不自他皆覆。而實不見有如是事。若說彼火自他照者義不相應。又復有義。偈言。

於火中無闇 何處自他住
彼闇能殺明 火云何有明

此偈明何義。火中無闇火處無闇。云何名為明能破闇。若彼火中如是無闇。何處有闇火能破闇。若當無闇可破滅者。云何而得自他俱照。此我今說。若如是者非火中闇非火處闇。如是如是火自他照。彼火生時即能破闇。如是火中無闇火處無闇。如是火生能照自他。此我今說。偈言。

如是火生時 即生時能照
火生即到闇 義則不相應

此偈明何義。若火生時能自他照義不相應。何以知之。如是初火不能到闇。何以知之。若未到闇不能破闇。若不破闇不得有明。偈言。

若火不到闇 而能破闇者
火在此處住 應破一切闇

此偈明何義。若汝意謂。火不到闇能破闇者。火此處住則應能破一切世間所有處闇。何以故。俱不到故。而實不見有如是事。若俱不到。云何唯能破此處闇。不破世間一切處闇。若汝意謂。火不到闇而能破闇義不相應。又復有義。偈言。

若量能自成 不待所量成
是則量自成 非待他能成

此偈明何義。若汝意謂。量與所量如火成者。量則自成不待所量。何以故。若自成者則不待他。若待他者非自成故。此我今說。若不相待何不自成。若待於他則非自成。此我今說。若量不待所量之物為有何過。此我今說。偈言。

不待所量物 若汝量得成
如是則無人 用量量諸法

此偈明何義。若汝意謂。不待所量而量得成。則無有人用量量法。有如是過。若何等人須用量者。不待所量而得有量。若不待成彼得何過。則一切法皆不待量。若一切法不待量成。彼得何過。成得言成未成叵成。以無待故。若汝復謂。待所量物量得成者。如是四量皆有待成。何以故。若物未成云何相待。物若已成不須相待。天得未成則不待物。若已成者更不待成。如物已作無作因緣。又復有義。偈言。

若所量之物 待量而得成
是則所量成 待量然後成

此偈明何義。若所量物待量而成。是則以量成彼所量。何以故。所成非成量成所量。又復有義。偈言。

若物無量成 是則不待量
汝何用量成 彼量何所成

此偈明何義。若汝意謂。不待彼量所量成者。汝今何用求量而成。何以故。彼量義者為何所求。彼所量物離量成者。彼量何用。又復有義。偈言。

若汝彼量成 待所量成者
是則量所量 如是不相離

此偈明何義。若汝意謂。待所量物是故有量。畏有前過。汝若如是量所量一不得相離。汝若如是量即所量。何以知之。所量成量所量即量。量成所量量所量一。偈言。

若量成所量 若所量成量
汝若如是者 二種俱不成

此偈明何義。若汝意謂。量成所量見待量故。所量成量見待所量。汝若如是二俱不成。何以故。偈言。

量能成所量 所量能成量
若義如是者 云何能相成

此偈明何義。若量能成所量之物。彼所量物能成量者。量自未成因緣不成。云何能成所量之物。又復有義。偈言。

所量能成量 量能成所量
若義如是者 云何能相成

此偈明何義。若所量物能成彼量。彼量能成所量之物。所量未成因緣不成。云何成量。偈言。

為是父生子 為是子生父
何者是能生 何者是所生

此偈明何義。如有人言父能生子。彼若如是子亦生父。汝今為說。何者能生何者所生。汝如是說。量成所量所量成量。汝今為說。何者能成何者所成。又復有義。偈言。

為何者是父 為何者是子
汝說此二種 父子相可疑

此偈明何義。前說二種所謂父子。何者為父何者為子。父子二相若相待生彼則可疑。何者為父何者為子。如是如是。若汝說此量與所量。彼何者量何者所量。此之二種若能成物可得言量。若物可成得言所量則不疑云何者是量何者所量。如是能成可得言量。如是可成得言所量。此則不疑。何者是量何者所量。偈言。

量非能自成 非是自他成
非是異量成 非無因緣成

此偈明何義。如是量非自成。現非現成。比非比成。喻非喻成。阿含亦爾非阿含成。非是自他迭互相成。現非比喻阿含等成。比非現喻阿含等成。喻非現比阿含等成。阿含非現比喻等成。非異現比譬喻阿含別有現比譬喻阿含異量來成。如量自分和合不成。自他境界和合不成。非無因成非聚集成。此之因緣如先所說。二十三十或四五六。二十三十四十五十或有六十。若汝所說以有量故得言所量。有量所量證一切法皆有自體義不相應。又復汝說偈言。

智人知法說 善法有自體
世人知有體 餘法亦如是
出法出自體 是聖人所說
如是不出法 不出法自體

此偈。我今答。偈言。

若法師所說 善法有自體
此善法自體 法應分分說

此偈明何義。若彼法師。謂彼善法有自體者。應分分說此善自體。此之善法如彼善心。善心自體如是如是。一切諸法不如是見。若如是說亦法自體義不相應。又復有義。偈言。

若善法自體 從於因緣生
善法是他體 云何是自體

此偈明何義。若善法體從於因緣和合而生。彼是他體。善法云何得有自體。如善法體餘亦如是。若汝說言如彼善法善法自體。如是不善不善體等義不相應。又復有義。偈言。

若少有善法 不從因緣生
善法若如是 無住梵行處

此偈明何義。若汝意謂。少有善法不因緣生。如是不善不善自體。無記無記自體。若當如是無住梵行。何以故。汝若如是。是則捨離十二因緣。若當捨離十二因緣。是則捨見十二因緣。若如是無十二因緣。則不得見十二因緣。如其不見十二因緣。不得見法。世尊說言。若比丘見十二因緣。彼則見法。若不見法不住梵行。若離如是十二因緣。則離苦集。十二因緣是苦集故。若離苦集是則離苦。若無集者何處有苦。若無苦者云何有滅。若無苦滅當於何處修苦滅道。若如是者無四聖諦。無四聖諦則亦無有聲聞道果。見四聖諦如是則證聲聞道果。無聲聞果無住梵行。又復有義。偈言。

非法非非法 世間法亦無
有自體則當 常則無因緣

此偈明何義。若當如是離於因緣和合生者。汝得多過。以不得法及非法故。一切世間法皆不可得。何以故。因緣和合生一切法。以一切法皆從因緣和合而生。若無因緣和合生者。則一切法皆不可得。又復自體不從因緣和合而生。無因緣有則是常法。何以故。無因緣法則是常故。彼若如是無住梵行。又復汝法自有過失。何以故。世尊所說。一切有為皆悉無常。彼何自體皆悉無常。偈言。

善不善無記 一切有為法
如汝說則常 汝有如是過

此偈明何義。若說善法有法自體。不善無記亦如是說。若如是者。汝說一切有為法常。何以故。法若無因無生住滅。無生住滅非有為法。則一切法皆是無為。若說善等一切諸法皆有自體。則一切法皆悉不空。義不相應。又復汝說偈言。

諸法若無體 無體不得名
有自體有名 唯名云何名

此偈。我今答。偈言。

若人說有名 語言有自體
彼人汝可難 語名我不實

此偈明何義。若何人說名有自體。彼人如是汝則得難。彼人說言。有體有名無體無名。我不如是說有名體。何以知之。一切諸法皆無自體。若無自體彼得言空。彼若空者得言不實。若汝有名有自體者。義不相應。又復有義。偈言。

若此名無者 則有亦是無
若言有言無 汝宗有二失
若此名有者 則無亦是有
若言無言有 汝諍有二失

此偈明何義。若此名無如是宗失。如其是有如是諍失。我宗不爾。有物有名無物無名。如是諸法有自體者。義不相應。又復有義。偈言。

如是我前說 一切法皆空
我義宗如是 則不得有過

此偈明何義。我前已說。一切法空亦說名空。汝取空名而有所說。若一切法皆無自體名亦無體。我如是說義宗無過。我不說名有自體故。又復汝說偈言。

若離法有名 不在於法中
說離法有名 彼人則可難

此偈。我今答。偈言。

若別有自體 不在於法中
汝慮我故說 此則不須慮

此偈明何義。彼不須慮汝妄難我。我則不遮諸法自體。我不離法別有物取何人取法。彼人須慮我不取法故不遮法云何有過。若我取法有自體者。則可難言汝不相應。我不如是。汝難大賒全不相當。又復汝說偈言。

法若有自體 可得遮諸法
諸法無自體 竟為何所遮
如有瓶有泥 可得遮瓶泥
見有物則遮 見無物不遮

此偈。我今答。偈言。

若有體得遮 若空得言成
若無體無空 云何得遮成

此偈明何義。法若有者則可得遮法。若無者則不得遮。汝難我言。一切諸法皆無自體。實如汝言一切諸法皆無自體。何以知之。以汝遮法無自體成。若遮諸法無自體成。得言一切諸法皆空。偈言。

汝為何所遮 汝所遮則空
法空而有遮 如是汝諍失

此偈明何義。若一切法遮有自體。若無自體彼得言空彼空亦空。是故汝言有物得遮無物不遮。義不相應。又復有義。偈言。

我無有少物 是故我不遮
如是汝無理 抂橫而難成

此偈明何義。若我如是少有物遮汝得難我。我無物遮。如是無物我無所遮。如是無遮一切法空。如是無物遮與所遮。是故汝向如是難言何所遮者。此汝無理抂橫難我。又復汝說偈言。

若法無自體 言語何所遮
若無法得遮 無語亦成遮

此偈。我今答。偈言。

汝言語法別 此義我今說
無法得說語 而我則無過

此偈明何義。若汝說言無有言語亦成遮者。隨何等法。彼一切法皆無自體。說彼諸法無自體語。非此言語作無自體。此我今答。若說諸法無自體語。此語非作無自體法。又復有義。以無法體知無法體。以有法體知有法體。譬如屋中實無天得。有人問言。有天得不。答者言有。復有言無。答言無者語言。不能於彼屋中作天得。無但知屋中空無天得。如是若說一切諸法無自體者。此語不能作一切法無自體。無但知諸法自體無體。若汝說言。若無物者則不得言法無自體。以無語故。不得成法無自體者。義不相應。又復汝說偈言。

如愚癡之人 妄取炎為水
若汝遮妄取 其事亦如是
取所取能取 遮所遮能遮
如是六種義 皆悉是有法
若無取所取 亦無有能取
則無遮所遮 亦無有能遮
若無遮所遮 亦無有能遮
則一切法成 彼自體亦成

此四行偈。我今答汝偈言。

汝說鹿愛喻 以明於大義
汝聽我能答 如譬喻相應

此偈明何義。汝若說此鹿愛譬喻。以明大義。汝聽我答。如喻相應。偈言。

若彼有自體 不須因緣生
若須因緣者 如是得言空

此偈明何義。若鹿愛中妄取水體。非因緣生。汝喻相當。鹿愛因緣彼顛倒見。顛倒見者以不觀察因緣而生。如是得言因緣而生。若因緣生彼自體空。如是之義如前所說。又復有義。偈言。

若取自體實 何人能遮迴
餘者亦如是 是故我無過

此偈明何義。若鹿愛中取水體實。何人能迴。若有自體則不可迴。如火熱水濕空無障礙。見此得迴。如是取自體空。如是如是。餘法中義應如是知。如是等如取無實。餘五亦爾。若汝說彼六法是有。如是得言一切諸法皆不空者。義不相應。又復汝說偈言。

汝因則不成 無體云何因
若法無因者 云何得言成
汝若無因成 諸法自體迴
我亦無因成 諸法有自體
若有因無體 是義不相應
世間無體法 則不得言有

此偈。我今答。偈言。

此無因說者 義前已說竟
三時中說因 彼平等而說

此偈明何義。如是大義於前已說。此則無因應如是知。如是論義前因已說遮六種迴。彼前論義今於此說。又復汝說偈言。

前遮後所遮 如是不相應
後遮若俱並 如是知有體

此偈我今答。偈言。

若說三時因 前如是平等
如是三時因 與說空相應

此偈明何義。若遮此因三時言語。此先已答。應如是知。何以故。因平等故。如遮三時彼不相應。彼語亦在遮所遮中。若汝意謂。無遮所遮猶故得遮。我已遮竟。此三時因與說空人言語相應。又復云何。先已說竟。如向偈言。

我無有少物 是故我不遮
如是汝無理 抂橫而難我

若汝復謂。三時遮成。見前時因。見後時因。見俱時因。彼前時因如父以子。後時因者如師弟子。俱時因者如燈以明。此我今說。此不如是前說三種。彼三種中一一復有三種過失。此前已說。復次第遮。汝立宗失如是等自體遮成。偈言。

若人信於空 彼人信一切
若人不信空 彼不信一切

此偈明何義。若人信空。彼人則信一切世間出世間法。何以故。若人信空。則信因緣和合而生。若信因緣和合而生。則信四諦。若信四諦。彼人則信。一切勝證。若人能信一切勝證。則信三寶謂佛法僧。若信因緣和合而生。彼人則信法因法果。若人能信法因法果。彼人則信非法因果。若人能信法因法果信非法因信非法果。則信煩惱煩惱和合煩惱法物。彼人如是一切皆信。如是前說彼人則信善行惡行。若人能信善行惡行。彼人則信善惡行法。若人能信善惡行法。則知方便過三惡道。彼人如是能信一切世間諸法。如是無量不可說盡。

空自體因緣 三一中道說
我歸命禮彼 無上大智慧

釋迴諍論偈義已竟。

作此論者。阿闍梨龍樹菩薩摩訶薩。一切論義皆能解釋。

迴諍論一卷

【經文資訊】大正藏第 32 冊 No. 1631 迴諍論
【版本記錄】CBETA 電子佛典 2014.04,完成日期:2014/04/26
【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依大正藏所編輯
【原始資料】蕭鎮國大德提供,維習安大德提供之高麗藏 CD 經文,日本 SAT 組織提供,北美某大德提供
【其他事項】本資料庫可自由免費流通,詳細內容請參閱【中華電子佛典協會資料庫版權宣告】

1003 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay