» » Luận Kim Cang Châm

Luận Kim Cang Châm

Mục Sách mới | 0

LUẬN KIM CANG CHÂM
(Asvaghosas Vajra-Suci)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, Luận Tập Bộ Toàn
Thứ tự Kinh Văn số 1642. Từ trang 169 đến trang 171.
Pháp Xứng Bồ-Tát tạo
Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng Triêu Tán Đại Phu Thí Hồng Lư;
Thiếu Khanh Truyền Giáo Đại Sư phụng chiếu dịch.
Sa-môn Thích Như Điển Phương Trượng chùa Viên Giác Hannover Đức Quốc
Dịch từ chữ Hán sang chữ Việt tại tu viện Đa Bảo Úc-Đại-Lợi
Từ ngày 22.12.2004, nhân lần nhập thất lần thứ hai
Thích Hạnh Nhẫn hiệu đính xong lần thứ nhất vào ngày 18 tháng 10 năm 2015.

Như Bà-la-môn nói, trong các kinh điển, bốn Vệ-Đà là chính; Lại, trong đó, niệm là chính ; lại trong niệm này, năng thuyên và sở thuyên là chính; lại trong đó , năng thuyên là chính, chỉ điều này là cao nhất, không có pháp cao hơn. Thế gian nếu không có nghiệp này thì làm sao hành động? Do cái năng thuyên này, hoặc yêu hoặc giận từ đây mà khởi; như trong tất cả dòng tộc, Bà-la-môn là cao, nay cái ngôn thuyên này cũng lại như vậy.

Lý này không đúng, tại sao thế? Bà-la-môn kia họ nào, mệnh nào? Lại, làm sao biết hành nghiệp thế nào? Làm sao được cái tên Bà-la-môn này?

Lại, Vệ- Đà này, vì sao gọi là chính? Đế-Thích Hoàn Nhân vì sao mà bàng sinh, bàng sinh rồi làm sao sinh nơi Nguyệt Thiên, Nhật Thiên Hoàn Nhân, trở lại sinh bàng sinh; gió trời, lửa trời, nước trời Hoàn Nhân, xoay vòng lui tới, làm sao như vậy?

Lại, họ vọng chấp rằng, trong cõi trời chết rồi, lại sinh trong cõi trời; trong cõi người chết rồi, lại sinh trong cõi người; bàng sinh cũng thế.

Trong bốn Vệ-Đà nói như thế, đều không phải chính lý. Mạng này là gì? Nhân nào gọi là mạng? Bà-la-môn…cũng lại như vậy.
Lại, Bà-la-môn ngoại đạo của ông nói: Được nói bởi chính điển, núi Bà-La-Đế sinh ra bảy cầm thú, núi Na-Bà-La-đà và núi Biệt-Lộc-Ca-Lăng-Nặc-Ly; núi ấy có các loài chim Oanh vũ, cò, ngỗng, hươu…;sinh trong loài người Câu-Lỗ-Khất-Lệ; từ đó chết rồi, sinh trong Bà-la-môn, giải thích luận của bốn Vệ-Đà.

Các loài cầm thú hươu, ngỗng uyên ương này, sinh ra trong loài người, mạng thú của chúng là Bà-la-môn hay không phải Bà-la-môn?Tại sao thế? Mạng của chúng nếu là(Bà-la-môn) thì không phải cầm thú; mạng của chúng nếu không phải (Bà-la-môn) mà chúng lại sinh làm Bà-la-môn. Điều này phi lý.

Bà-la-môn chấp rằng, luận của bốn Vệ-Đà là gốc của vạn pháp, cũng tên là chân như; không ở nơi họ tộc khác mà chấp nhận thọ thực. Nhưng ,ở chỗ thủ-đà-la thọ nhận vô số lợi, thì chính là ngược với tự tông, sao gọi là thanh tịnh? Do đây nên cũng không phải là Bà-la-môn chân chính .

Lại, pháp Bà-la-môn của bốn Vệ-Đà vọng chấp vào chính mạng và chính pháp của chủng tộc Bà-la-môn cũng lại phi lý. Làm sao gọi là chính pháp? chủng tính gián tạp , làm sao gọi là tối thượng , tại sao thế? Không phải là tối thượng mà gián đoạn, tạp nhạp .Sự này thế nào? Ví như tên cha là Na-Lạc-Khất-Xoa thì con tên là Binh-Nga-La-Tiên. Lại như tên cha là A-Nga Tất-Đế, con của ông ta cũng tên là A-Nga tất-Đế(Hai tên hợp); lại như tên cha là Bố-Sa Dã(hợp hai )-Tả, con ông ta lại tên là Kiều-Thi-Ca; lại như nghười cha tên là Câu-Xá-Tử, con ông ta tên là Tăng-tát Đa( hợp hai)-Nga; lại như cha tên Ca-Si-Na, con ông ta tên Ca-Si-Na; lại như cha tên Bà-Tả-Ngô Sào-Ma( hợp hai), con tên Kiều-Hằng-Ma; lại như cha tên Ca-La-Xá (dẫn), con tên là Nạp-Lô-Na-Tả; cha tên Để-Dật-Để-Lý, con tên Đệ-Đế-Lý-Nữ-Ca (hai hợp); lại cha tên Nại-Ca-Mâu, con tên Tiên Giác; lại như người săn bắn,hái rau, đánh cá sinh, thì con gọi là Phược-Dã (nhị hợp)-Tăng-Tử-Giác-Khất-Lệ (nhị hợp dẫn ); cha có họ Thủ-đà-la thì con tên Vĩ-Thấp-Di-Hằng-Lãm; mẹ là Chiên-Đà-La thì con tên là Phược-Sắt-Trạch (nhị hợp). Mẹ tên Điểu-Lý-Phược (nhị hợp)-Thi, thì người nữ được trời sinh, không phải Bà-la-môn.

Như đã được nói ở trên, thì vì cớ gì chấp mà nói rằng Bà-la-môn là cao nhất trong nhân gian? Lại như chấp kinh Mậu-Lô (nhị hợp)-Để là chính thì cũng lại phi lý. Cho nên pháp Bà-la-môn cũng không có đạo lý.

Lại, như pháp Bà-la-môn chấp , các vật như thịt mới, tử khoáng và mặn thì Tuất- Đà mới thọ. Bà-la-môn của ông chẳng nên thọ nó, nay sao lại không như thế nữa?

Lại, như họ chấp rằng :Bà-la-môn nếu bán sữa thì đi trên hư không bị rớt, không phải Bà-la-môn; ăn thịt mà bị rơi từ hư không thì cũng phi lý như thế. Cho nên phải biết rằng, Bà-la-môn mua bán sữa, thịt thì không phải là pháp Tuất-Đà.

Do điều này phải biết rằng, tất cả những ai không ăn thịt, sữa và không mua, bán, đều được gọi chung là Bà-la-môn tà. Cho nên phải biết rằng, tính chuyện bán sữa, thịt không phải Bà-la-môn, đây là vọng chấp phi pháp.

Lại, họ thế gian mà vọng chấp là tối thượng cũng không phải là chính pháp. Như Sát-đế-lợi , Tì-Xá, Tuất- Đạt, mỗi tộc đều chấp là tối thượng, thì cũng đều phải gọi chung là tộc tính Bà-la-môn.

Lại, chấp rằng hành khổ thân xác gọi là Bà-la-môn, thì tất cả những ai có thân khổ cũng phải gọi là Bà-la-môn.

Lại, họ vọng chấp rằng, giết Bà-la-môn bị tội nặng, hại quyến thuộc của họ tội cũng như thế. Lại, chấp rằng họ từ miệng trời sinh ra, tộc tính Sát-đế-lợi từ thân trời thanh tịnh sinh ra, Tì-xá, Thủ-đà từ chân mà sinh ra, nên nếu giết họ thì bị tội nặng.

Cái chấp của họ phi lý, tại sao thế? Vì có thể giết những tộc tính khác mà không có tội, hại quyến thuộc khác cũng không có tội.Do điều này nên là vọng chấp,không khế hợp với chính lý.

Lại, họ vọng chấp rằng, phá hoại sự thực hành của họ, phá hoại nơi hành cúng của họ và sự nhận bố thí họ, thì hoặc bằng trí hoặc bằng thân đều bị tội nặng. Điều này không đúng, tại sao thế? Trong thân, trong trí, cái gì được danh hiệu Bà-la-môn? Thích đáng là, Thủ-đà-la…cũng đều có thân và trí, đều đáng được gọi là Bà-la-môn tà.

Lại, họ vọng chấp rằng, giải hiểu bốn bộ Vệ-Đà ,Di-bà cùng Tăng khư luận, Vĩ thế sử ca, cho đến các luận – đều trọn thông đạt sáng tỏ thì gọi là Bà-la-môn. Điều này cũng phi lý. Như Thủ-đà…cũng hiểu luận của họ, rõ nghĩa của họ, đều đáng được gọi là Bà-la-môn tà.

Nếu tu khổ hành mà gọi là Bà-la-môn thì Thủ-đà …kia cũng có thể hành cái đó, cũng phải được gọi là Bà-la-môn.
Hiểu các thuật số mà được gọi là Bà-la-môn thì, những người đánh cá, các người ham vui kia, hiểu đủ loại thuật số khác nhau, cũng có thể được gọi là Bà-la-môn tà.
Cho nên phải biết rằng, hành không phải Bà-la-môn, nghiệp không phải Bà-la-môn, hành cúng , thọ thực…không phải Bà-la-môn. Sát-đế-lợi, Tì-xá, Thủ-đà kia cũng có thể làm như thế, phải đều được gọi là Bà-la-môn.

Cho nên phải biết rằng, không phải tộc tính, không phải nghiệp, không phải hành, không phải sinh, cho đến có đức mà gọi là Bà-la-môn.

Họ nhân cái gì mà lập là hoa Quân-Na, cũng giống mặt trăng? Lìa tất cả nhiễm , khéo tu thắng hành, oai nghi không thiếu, giới hành đầy đủ; khéo điều phục các căn, dứt trừ phiền não; không ta, không người, lìa các chấp trước, và tham sân si trọn đều lìa bỏ, như thế mới gọi là Bà-la-môn chân chính.

Lại, lìa ái nhiễm cho đến súc sinh, chẳng sinh tham trước, tu hành thanh tịnh, gọi là Bà-la-môn.

Cho nên, biết được điều này được nói bởi Tốc-Cốt-Lô Đại Tiên: Bà-la-môn này không phải tộc tính, không phải nghiệp, không phải đức, không phải hành, cũng không phải công xảo. Nếu Chiên-đà-la, giỏi bốn Vệ-đà, có thể giỏi nghề nghiệp, đức hành đầy đủ, cũng có thể gọi là Bà-la-môn tà.

Cho nên phải biết rằng, không phải mạng, không phải dòng tộc, không phải trí, không phải thân, cũng không phải hành nghiệp mà gọi là Bà-la-môn.

Lại, như Thủ-đà, tu học khổ hành, hiểu bốn Vệ-Đà, được năm thông của bậc Tiên, thì Bà-la-môn các ông làm sao nêu sự việc này , rằng đây là chủng tính thấp?

Lại, đạo Tiên kia, bốn chủng tính đều được, làm sao các chủng tính khác thì gọi là chẳng phải tối thượng?

Lại, như Đế-Thích, do quá khứ tu nghiệp thanh tịnh nên được sinh làm trời ấy thì vốn là chủng tính thấp, chính văn của kinh ấy nói như thế; Bà-Già-Vãn và Đế-Thích này, họ là chủng tính thấp, bằng chứng cật vấn như thế đều căn cứ như ở trước.

Lại, kinh ấy nói, Đại Tự Tại Thiên và Thiên Hậu , từ trong miệng, sinh ra Đế-Thích thiên và khí thế gian; không phải là thế gian sinh ra Đại Tự Tại Thiên và sinh ra Thiên Hậu; gốc có thể sinh ngọn, ngọn không thể sinh gốc. Cho nên lời này ngược với chính thuyết của nó. Vốn là chủng tính thấp, làm sao vọng chấp từ kia mà sinh, nên biết là phi lý.

Lại, như Thủ-đà-la mạng chung sinh Đại Tự Tại Thiên kia, Bà-la-môn các ông làm sao đưa ra sự việc rằng nó là chủng tính thấp?

Lại, như ông nói, pháp Bà-la-môn,bổ khí bằng nhĩ dược, khổ hành tuyệt thực gọi là Bà-la-môn.

Thủ-đà-la…kia cũng có thể làm điều đó, đây phải được gọi là Bà-la-môn tà.

Lại, họ chấp rằng, nhận đồ ăn trong tay của Thủ-đà thì trải qua một tháng, thân hiện tại này sẽ biến làm thân Thủ-đà, hậu báo sẽ quyết định sinh làm chó. Lại, Bà-la-môn cưới người nữ Thủ-đà làm vợ thì cha mẹ, gia đình ,tôi tớ đều trọn lìa xa, chết đọa địa ngục.

Cái chấp này phi lý. Họ Bà-la-môn với Thủ-đà kia có gì khác nhau? Như đại tiên Ca-Si-Na từ thai hươu mà sinh, khổ hành tu học bèn chứng đạo Tiên. Vị tiên này há có thể từ Bà-la-môn mà sinh tà?

Như đại tiên Phược-Giả-Bà vì được sinh từ người nữ đánh cá , nên khổ hành tu học mà thành đạo Tiên. Vị Tiên này há là tộc tính Bà-la-môn?

Cho nên là vọng chấp, không khế hợp với chính lý.

Lại, như đại tiên Phược-Tư-Sắt-Ngật, được sinh bởi người nữ Điểu-Lý-Phược-Thi, khổ hành tu học mới được đạo Tiên. Vị Tiên này há là Bà-la-môn sinh?

Lại, như đại Tiên Lộc Giác, sinh nơi thai hươu, tu học khổ hành mà thành đạo Tiên. Vị Tiên này há là Bà-la-môn tà?

Lại, như đại Tiên Vĩ-Thấp-Phược-Di-Hằng-Lô, được sinh từ người nữ gia đình Chiên-đà-la. Vị Tiên này há là Bà-la-môn chăng?
Cho nên phải biết rằng, điều phục các căn, không chấp ta, người, chăm tu Phạm hành, lìa xa dục nhiễm, vĩnh viễn đình chỉ các hoặc, do đây mới gọi là Bà-la-môn chân chính, chứ không phải từ tộc tính kia mà sinh. Làm sao vọng chấp rằng tộc tính Bà-la-môn là tối thượng trong thế gian?

Cho nên phải biết, Bà-la-môn kia, không phải tộc tính, không phải mạng, không phải dòng tộc, không phải nghiệp, không phải sinh mà gọi là Bà-la-môn.

Lại, như nhiều người vốn chủng tính thấp, trì giới tu phúc mà được sinh cõi trời, làm sao nhân tộc tính mà sinh cõi trời tà.
Lại như đại tiên Ca-Si-Nang, đại tiên Vĩ-Dã-Bà, đại tiên Phược-Thi-Sắt-Sấp, đại tiên Giác Thiện, đại tiên Vĩ-Thấp-Phược, đại tiên Di-Hằng-La, đại tiên Nang-La-Na, các đại tiên như thế đều từ dòng chủng tộc thấp mà sinh. Nếu do nhân tu hành mà được đạo Tiên thì vì cớ gì mà chấp rằng chủng tính không tạp là tối thượng trong thế gian? Cho nên lời hư ngụy không nên tin nhận.

Lại, như họ chấp rằng, tộc tính Bà-La-Môn sinh từ miệng Phạm Thiên, tộc tính Sát-Đế-Lợi từ tay mà sinh, chủng tính Tì-Xá sinh từ đùi Phạm Thiên, từ chân Phạm Thiên mới sinh ra Thủ-đà. Cho nên hư vọng làm nhiều chấp trước.

Lại, chấp rằng, khổ hành giữ chắc ý chí gọi là Bà-la-môn. Thế thì người đánh cá, làm Thầy của Thủ-đà…vững chí khổ hành đều phải gọi chung là Bà-la-môn tà.

Lại, chấp hình thức của họ, kết bện râu tóc, lưng mang lụa thắt, tay cầm gậy gỗ, y trắng, ít ăn gọi là Bà-la-môn. Các Tuất- Đà khác cũng có thể hành cái đó, cái này đáng gọi chung là Bà-la-môn tà.

Lại, chấp rằng bốn họ đều từ Phạm Thiên sinh. Làm sao cha là một mà tộc tính của con lại khác? Có thể nào Thủ-đà cho đến các tộc tính khác là con được sinh bởi một cha mà tộc tính khác nhau? Điều này đã không đúng thì luận thuyết kia làm sao đúng?

Lại, Bà-la-môn từ trong miệng một Phạm Thiên mà sinh; chị em ,anh em tự giao phối với nhau, là điều bị thế gian trách mắng, các ông có thể làm điều đó thì làm sao thanh tịnh? Cho nên vọng chấp, không thanh tịnh mà xưng là thanh tịnh. Như một cha mẹ mà sinh bốn con, không thể có họ khác. Như thế nào mà vọng chấp: đây là Bà-la-môn, đây là Sát-đế-lợi, đây là Tì-xá, đây là Thủ-đà? Làm sao một cha mà con lại mỗi người họ khác? Cho nên vọng chấp bốn họ khác nhau.

Không phải như voi, ngựa, trâu, dê, lạc đà, hươu, sư tử, hổ, sói hình chân khác nhau; đây là vết chân trâu cho đến vết chân voi, có thể phân ra khác nhau.

Lại, như một cây sinh ra hoa quả, không có khác nhau ; không phải hoa cỏ khác,chỗ sinh không giống nhau thì không thể khiến cho giống.

Nay bốn họ của ông cũng thế, hoặc Bà-la-môn, hoặc Sát-đế-lợi cho đến Thủ-đà, vì đều được sinh từ một cha, nên làm sao vọng chấp bốn họ khác nhau?

Lại có vua trời tên là Dụ-Địa-Sắt-Trí-La cung kính chắp tay, đến chỗ tiên nhân Phệ-bà-Ba-Lệ, đầu mặt lễ chân mà thưa với tiên nhân rằng, thế nào được gọi là đức của Bà-la-môn, lại thế nào gọi là tướng của Bà-la-môn, các tướng khác nhau lại có bao nhiêu loại, nguyện diễn nói khiến tôi hiểu rõ.

Lúc ấy tiên nhân Phệ-Bà-Ba-Lệ mới bảo vua rằng:nhẫn nhục, tinh tiến, tĩnh lự bát-nhã, đây mới gọi là đức của Bà-la-môn; xa lìa tham sân và các sự giết hại tất cả hữu tình, gọi là tướng thứ nhất của Bà-la-môn. Với tất cả tài vật của người khác có mà không tham thọ, gọi là tướng thứ hai của Bà-la-môn. Lìa xa tất cả tính bạo ác, hành ôn hoà, không ? ta, người, lìa bỏ trói buộc và các dục nhiễm, gọi là tướng thứ ba của Bà-la-môn. Với người nữ, thiên nữ cho đến bàng sinh hằng lìa nhiễm trước, gọi là tướng thứ tư của Bà-la-môn.

Lại còn thành thục tất cả hữu tình, hằng khởi tâm bi mẫn; điều phục các căn thanh tịnh tối thắng, gọi là tướng thứ năm của Bà-la-môn.

Năm loại như thế trọn đều đầy đủ gọi là Bà-la-môn.

Nếu chấp ngã , không đủ năm tướng đều gọi là Thủ-đà.

Tiên nhân còn bảo Dụ-Địa-Sắt-Nhĩ-La rằng: không phải chủng tộc, không phải họ và tu khổ hành mà thành Bà-la-môn. Chiên-đà…kia, đủ năm tướng cũng được gọi là Bà-la-môn chân chính.

Do lý như vậy, Bà-la-môn kia cũng gọi là Thủ-đà, Thủ-đà kia cũng gọi là Bà-la-môn.

Dụ-Địa-Sắt-Nhĩ-La thưa với tiên nhân rằng: Bà-la-môn kia thực hành không giết, vì thực hành nên được quả thanh tịnh, điều này mới ít phần gọi là Bà-la-môn.

Tiên nhân lại bảo Dụ-Địa-sắt-Nhĩ-La rằng: Bốn họ khác nhau này, đều do nhân duyên nghiệp quá khứ. Như hữu tình của thế gian lúc bắt đầu sinh, tất cả đều từ nơi căn ô uế mà sinh, có gì khác nhau? Cho nên thực hành giới, lại tu đức nghiệp, gọi là Bà-la-môn; cho đến Thủ-đà-la tu đức hành cũng thành Bà-la-môn.

Nếu Bà-la-môn không tu đức nghiệp, đây cũng được gọi là Thủ-đà hạ liệt. Lại, năm căn này có thể khởi nghiệp ác, hằng phải điều phục. Giống như biển lớn, hữu tình chìm đắm phải cầu tế độ, khiến vượt đến bờ kia.

Lúc bấy giờ vua Dụ-Địa-Sắt-Nhĩ-La nghe tiên nói, hiểu rõ, vui mừng nhảy nhót, đem những điều được nghe hồi hướng đến vô biên hữu tình, trọn khiến hiểu ngộ; không phải vì tự mình và tham mạng sống của mình, tôi nay đêm ngày tu tập nhẫn nhục, lìa xa quyến thuộc và các tật đố, tất cả cảnh dục rốt lại chẳng đam trước; hướng cầu giải thoát , hằng tu tịnh hành.

Tiên nhân lại bảo vua Dụ-Địa-Sắt-Nhĩ-La rằng: Không giết hữu tình, xa lìa tham sân thanh tịnh không gì sánh, như thế gọi là cái hành của Bà-la-môn. Điều phục các căn, bố thí, nhẫn nhục, chân thật Phạm hành, bi niệm thương xót bảo hộ tất cả hữu tình, tu tập trí tuệ, như thế gọi là cái hành của Bà-la-môn. Lìa khổ hành tà, phải biết các khổ của hữu tình, như thế gọi là cái hành của Bà-la-môn.
Lại, Bà-la-môn Nga-Dã-Hằng-Lý, trong kinh chú có nói, khổ hành mà lìa chấp, điều phục các cân, bốn thời hành bố thí, ái niệm hữu tình, lìa bỏ ngủ nghỉ, hằng tu tịnh hành; trải qua nghìn kiếp mới được gọi là Bà-la-môn chân chính.

Tiên nhân lại bảo vua Dụ-Địa-Sắt-Nhĩ-La rằng: nếu người hiểu rõ luận của bốn Vệ-Đà gọi là tộc tính tối thượng thì, tộc tính Thủ-đà-la khác cũng có thể hiểu rõ, sao chẳng gọi là tối thượng?

Ví như bốn họ cùng đi đến thánh cảnh, vết chân có đó, không thể phân biệt rằng: đây là dấu chân của người này, không phải dấu chân của người kia. Một họ và bốn họ cũng lại như thế, do thi thiết giả, vốn không khác nhau.

Lại, như hình trâu, ngựa của thế gian, tướng trạng tuy khác, nhưng hai căn nam, nữ cùng loại chẳng khác. Bà-la-môn với Sát-đế-lợi, Tì-xá, Thủ-đà kia,cái tướng một họ với bốn họ cũng vậy.

Lại, như máu thịt, phân tiểu, tay chân, các căn của một người, với máu thịt…của những người khác, cũng cùng loại như thế.
Lại, như quang sắc của hoa sen, hoa sát-hằng-lý, mặt trăng, loa ốc có thể phân khác nhau; nơi bốn họ kia sắc tướng không khác, khác nhau như thế nào?

Lại, như trâu, ngựa cho đến voi,hươu hành dục nhiễm, nhưng không có sự giao phối nào có thể phân khác nhau. Nay Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Tì-xá, Thủ-đà cùng nhau qua lại giao phối mà hành dục nhiễm, đều cùng là thai sinh, có gì khác nhau?

Lại, như người nữ được sinh bởi Bà-la-môn, đối với chị em cùng tộc tính Bà-la-môn khác, làm sao giao phối; chị em, anh em làm vợ chồng cũng thế. Thủ-đà-la của thế gian không hành pháp này.

Ví như cây Ưu-đàm-bát trong thế gian, hoa quả, cành lá tuy nhiều nhưng gốc, thân không khác, không thể phân biệt hoa đây, hoa kia. Bà-la-môn các ông cũng lại như thế, không thể giao hợp chị em cùng họ, bị thế gian trách mắng, không thể làm vậy.
Lại như lìa bỏ thân, ngữ bất tịnh, hằng tu tịnh nghiệp gọi là Bà-la-môn; Tì-xá… kia cũng có thể hành điều ấy, nên được đại tiên tên là Phược-Tư-Sắt-Đà kia.

Lại, như lửa trong thế gian có thể đốt củi mà chẳng phân biệt, nay Bà-la-môn đối với các họ còn lại cũng chẳng khác như vậy.

Lại như đại tiên Di-Dã-Bà của tông ông, vốn được sinh bởi người cha đánh cá, cũng không phải là Bà-la-môn sinh.

Lại, như vua Bán-Nô-Phược, anh em năm người cùng một mẹ sinh, còn cha khác nhau; đây là do nghiệp xưa khiến cùng mẹ khác cha, không phải do tộc tính mà vọng chấp là khác

Lại, như chỗ nước mặn trong thế gian, hình tuy có thể ẩn nhưng vị mặn chẳng phải không có, nghiệp xưa tùy theo thân mà ẩn hoặc hiển ra cũng như vậy.

Vọng chấp như thế, những người có trí nên phải thẩm sát ,trọn không thể tin nương.

LUẬN KIM CANG CHÂM

大正新脩大藏經 第32冊
No.1642 金剛針論 (1卷)
【法稱菩薩造 宋 法天譯】
第 1 卷

No. 1642

金剛針論

法稱菩薩造

西天譯經三藏朝散大夫試鴻臚少卿傳教大師臣法天奉 詔譯

如婆羅門言。眾典之內。四圍陀正。又於此中念為其正。又此念中能所詮正。又於此中能詮為正。唯此最上無法過此。世若無此業云何作。由此能詮。若愛若恚從此而生。如一切姓婆羅門上。今此言詮亦復如是。

此理不然。所以者何。彼婆羅門何姓何命。復云何知。行業云何。如何得此婆羅門名。又此圍陀。云何稱正。帝釋元因。云何傍生傍生云何。生於月天。日天元因。復生傍生。風天火天水天元因。展轉往來。云何如是。

又彼妄執。天中死已復生天中。人中死已復生人中。傍生亦然。四圍陀內作此說者。皆非正理。此命是何。何因名命。婆羅門等亦復如是。

又汝外道婆羅門言。正典所說。婆囉帝山產七禽獸。那娑囉陀及別鹿迦陵惹哩山。彼山所有鸚鵡鷺[斯/鳥]鵝鹿之類。生在人中俱嚕乞曬(二合此云福地)。從彼死已生在婆羅門中。解四圍論。

此等禽獸鹿鵝鴛鴦。出生人中。彼獸之命。是婆羅門非婆羅門。所以者何。彼命若是而非禽獸。彼命若非彼生婆羅。此言非理。

婆羅門執。四圍陀論是萬法本。亦號真如。非於餘姓而許受食。

於首陀處數數受利。正違自宗。何名淨行。由此亦非真婆羅門。

又四圍陀婆羅門法。妄執正命及於正法婆羅門種。亦復非理。云何正法。種姓間雜。何名最上。所以者何。非最間雜。其事云何。

且如父名那洛乞叉。其子乃名兵誐羅仙。又如父名阿誐悉帝。其子亦名阿誐悉帝(二合)。又如父名布沙野(二合)左。其子乃名嬌尸迦。又如其父名俱舍子。其子名為僧薩多(二合)誐。又如父名迦癡那。其子亦名迦癡那。又如父名婆左虞臘麼(二合)。其子乃名嬌怛麼。又如父名迦羅舍(引)。其子乃名訥嚕(二合)拏左哩野(二合)。又如父名底逸底哩。其子乃名底帝哩[口*女](尼所引)迦。又如父名捺囉(二合)[牟*含]。子名仙覺。又如母名野鹿採魚人生。其子乃名嚩野(二合)僧子覺乞曬(二合引)。父首陀姓其子乃名尾濕(二合)彌怛覽(二合)。母是氈陀羅。子名嚩瑟姹(二合)。母名烏哩嚩(二合)尸。天所生女非婆羅門。如上所說。何因固執言婆羅門人間最上。又如所執戌嚕(二合)底經正亦非理。是故所有婆羅門法。道理亦非。

又如所執。婆羅門法。新肉紫礦及鹽等物。戌陀應受。汝婆羅門。勿宜受之今何不爾。

又如彼計。乳賣婆羅門行虛空墮落非婆羅門。食肉墮空非理亦爾。是故應知。買賣乳肉婆羅門。非戌陀之法。由此當知。一切非食肉乳等人及非買賣。皆總得名婆羅門邪。是故應知。乳肉計賣非婆羅門。妄執非法。

又世間姓妄執最上。亦非正法。如剎帝利。毘舍戌達各執最上。應皆總名婆羅門姓。

又執苦身名婆羅門。諸有苦身一切總應名婆羅門。

又彼妄執殺婆羅門而獲罪重。害彼眷屬獲罪亦爾。復執彼從淨天口生。剎帝利姓彼天身上。毘舍首陀身足而生。若殺於彼故獲重罪。

彼執非理。所以者何。應殺餘姓其罪非有。害餘眷屬非有亦然。由是妄執不契正理。

又彼所執。破壞彼行。破壞檀行。及彼受施。若智若身皆獲重罪。

此不應然。所以者何。身智之中何者得名號婆羅門。應首陀等皆有身智。悉應得名婆羅門邪。

又彼妄執。解四圍陀及彌[牟*含]婆。并僧佉論尾世史迦。乃至諸論皆悉了達。名婆羅門。

此理亦非。如首陀等。亦解彼論曉了彼義。應皆得名婆羅門邪。

若修苦行名婆羅門。彼首陀等亦能行之。應亦得名婆羅門邪。

解諸術數名婆羅門。彼採魚人及諸樂人。了解術數種種差別。亦可得名婆羅門邪。

是故應知。行非婆羅門。業非婆羅門。檀行受者非婆羅門。

彼剎帝利毘舍首陀。亦能行之。應皆得名婆羅門邪。是故應知。非族非業非行非生。乃至於德名婆羅門。

彼因何立日如軍那花。亦似白月。離一切染善修勝行。威儀無缺戒行具足。善伏諸根除斷煩惱。無我無人離諸執著。及貪瞋癡悉皆遠離。如是乃名真婆羅門。

又離愛染乃至畜生。不生貪著修清淨行。名婆羅門。

是故得知此速骨嚕(二合)大仙所說。此婆羅門非姓非業非德非行。亦非工巧。如旃陀羅。善四圍陀工巧藝能德行具足。應可得名婆羅門邪。是故應知。非命非姓非智非身。亦非業行名婆羅門。

又如首陀。苦行修學解四圍陀。獲五通仙。汝婆羅門云何奉事此下種姓。又彼仙道四姓皆得。云何餘姓名非最上。

又如帝釋。往修善業得生彼天。本下種姓。彼經正文作如是說。此婆伽晚及於帝釋。彼下種姓。如是徵詰。一准於前。又彼所說。大自在天。及於天后口中。生彼帝釋諸天及器世間。非從世間生大自在及生天后。本能生末非末生本。是故此言違彼正說。本下種姓。云何妄執從彼而生。故知非理。又如首陀命終生彼大自在天。汝婆羅門。云何奉事彼下種姓。

又如汝說。婆羅門法。服氣餌藥苦行絕食。名婆羅門。

彼首陀等亦能行之。此應得名婆羅門邪。

又彼所執。於首陀處手中受食經於一月。現身變為首陀之身。後報生中決定作狗。

又婆羅門娶首陀女以為其妻。父母家神皆悉遠離。死入地獄。

此執非理。婆羅門姓與彼首陀有何差別。

如迦癡那大仙。從於鹿胎而生。苦行修學乃證仙道。此仙豈可從婆羅門而乃生邪。

如嚩野(二合)娑大仙。從採魚女之所生故。苦行修學而成仙道。此仙豈是婆羅門姓。是故妄執不契正理。

又如嚩斯瑟吒(二合)大仙。從於烏哩嚩(二合)尸天女所生。苦行修學乃獲仙道。此仙豈是婆羅門生。

又如鹿角大仙。生於鹿胎。修習苦行而成仙道。此仙豈是婆羅門邪。

又如尾濕嚩(二合)彌怛嚕(二合)大仙。從於旃陀羅家女之所生。此仙豈是婆羅門耶。是故應知。調伏諸根不執我人。勤修梵行遠離染欲。永息諸惑。由此方名真婆羅門。而非從彼族姓而生。如何妄執。婆羅門姓世間最上。戒行清潔族姓無雜。以此妄執非最為最。是故當知。彼婆羅門。非姓非命非族非行非業非生名婆羅門。

又如多人本下種姓。持戒修福而得生天。何因族姓乃生天邪。

又如汝宗迦癡曩大仙。尾野(二合)娑大仙。嚩尸瑟吒(二合)大仙。覺善大仙。尾濕嚩(二合)大仙。彌怛囉(二合)大仙。曩囉那大仙。此等大仙皆從下姓種族而生。苦行修因乃獲仙道。何故妄執種姓非雜世間最上。是故虛言應非信受。

又如彼執。婆羅門姓梵王口生。剎帝利姓梵天臂生。毘舍種姓梵天髀生。從於梵足乃生首陀。是故虛妄多作是執。又執苦行堅守其志名婆羅門。應採魚人染師皮作及首陀等。堅志苦行。應皆總名婆羅門邪。

又執彼形編其髻髮。腰帶索繫手執木杖。衣素儉食名婆羅門。餘戌陀等亦能行之。應此總名婆羅門邪。又執四姓皆從梵生。如何父一子姓乃別。應可首陀乃至餘族一父所生子姓應殊。此既不爾。彼云何然。

又婆羅門從一梵天口中而生。姊妹兄弟自相交契。世所呵厭。汝能行之。云何清淨。是故妄執非淨稱淨。如一父母而生四子非可別姓。如何妄執。此婆羅門。此剎帝利。此是毘舍。此是首陀。云何一父子姓各別。是故四姓妄執差別。

非如象馬牛羊駝鹿師子虎狼形足各異。此是牛跡乃至象跡可分差別。又如一樹出生花果。可無有異。非餘花卉。生處不同非可令同。汝今四姓道理亦然。若婆羅門若剎帝利乃至首陀。皆從一父之所生故。云何妄執四姓差別。

復有天王名喻地瑟致(二合)囉。虔恭合掌來詣仙人吠娑波灑頭面禮足而白大仙。云何得名婆羅門德。復云何名婆羅門相。差別之相復有幾種願今演說令我了解。

時彼仙人吠娑波灑。乃告王言。忍辱精進靜慮般若。此乃名為婆羅門德。遠離貪瞋及諸殺害一切有情。是名第一婆羅門相。於他所有一切財物而非貪受。是名第二婆羅門相。遠離暴惡性行溫和。不封我人。捨離繫縛及諸欲染。是名第三婆羅門相。於人天女乃至傍生恒離染著。是名第四婆羅門相。又復成熟一切有情恒起悲愍。調伏諸根清淨最勝。是名第五婆羅門相。如是五種悉皆具足。名婆羅門。若封彼我非具五相。皆名首陀。仙人復告喻地瑟恥(二合)囉言。非族非姓及修苦行成婆羅門。彼旃陀等具足五相。亦得名為真婆羅門。由如是理。彼婆羅門亦名首陀。首陀亦名真婆羅門。

彼喻地瑟恥(二合)囉白仙人言。彼婆羅門行不殺行獲果清淨。此乃少分名婆羅門。

仙人復告喻地瑟恥(二合)囉言。此四姓別。皆由過去宿業因緣。猶如世間胎生有情。一切皆從穢處根生。有何差別。是故戒行復修德業。名婆羅門。乃至首陀修於德行。成婆羅門。

若婆羅門不修德業。此亦得名下劣首陀。

又此五根能起惡業。恒應調伏。猶如大海沈溺有情。應求濟度令超彼岸。爾時喻地瑟恥(二合)囉王。聞仙所說。了解踊躍。以此所聞迴施一切無邊有情。悉令曉悟。非為自身及貪己命。我今日夜修習忍辱。遠離眷屬及於嫉妬。一切欲境更不耽著。趣求解脫恒修淨行。

仙人復告喻地瑟恥(二合)囉言。不殺有情遠離貪瞋清淨無比。如是名為婆羅門行。調伏諸根。布施忍辱。真實梵行。悲念愍護一切有情。修習智慧。如是名為婆羅門行。離邪苦行。應有情機所有眾苦。如是名為婆羅門行。

又婆羅門誐野怛哩(二合)經呪中說。苦行離執調伏諸根。四時行施愛念有情。捨離睡眠。恒修淨行經於千劫。方得名為真婆羅門。

仙人復告喻地瑟恥(二合)囉言。若人解了四圍陀論。名婆羅門。稱姓最上。餘首陀姓亦能了解。何非最上。

譬如四姓同遊聖境。所有蹤跡。不可分別此人之蹤非彼人跡。一姓四姓亦復如是。由假施設本無差別。

又如世間牛馬等形。相狀雖異。男女二根同類不殊。彼婆羅門與剎帝利毘舍首陀。一姓四姓相望亦然。

又如一人血肉屎尿手足諸根。與眾多人所有血肉同類亦然。

又如蓮花剎怛哩花月螺光色可分差別。於餘四姓色相無異。如何差別。又如牛馬乃至象鹿行於染欲。而非交契可分差別。今婆羅門與剎帝利毘舍首陀。互相交契而行染欲。皆同胎生有何差別。

又如婆羅門所生之女。對餘婆羅門同姓姊妹。云何交契。姊妹兄弟夫妻乃爾。世間首陀非行此法。

譬如世間憂曇鉢樹。花果枝葉雖復眾多根身無異。非能分別此彼之花。汝婆羅門亦復如是。非可交會同姓姊妹。世所呵厭非可行之。

又如捨離身語不善恒修淨業名婆羅門。破毘舍等亦能行之。得彼大仙名嚩私瑟姹(二合)。

又如世間之火能燒柴薪而無分別。今婆羅門對餘諸姓無異亦然。

又如彼宗彌野(二合)娑大仙。本是採魚父之所生。亦非是彼婆羅門生。

又如半拏嚩王。兄弟五人同一母生父乃各別。此由宿業同母別父非由於姓。而妄執別。

又如世間鹽處於水。形雖可隱鹽味非無。宿業隨身隱顯亦然。如是妄執。諸有智人。應當審悉非可依信。

金剛針論

【經文資訊】大正藏第 32 冊 No. 1642 金剛針論
【版本記錄】CBETA 電子佛典 2014.04,完成日期:2014/04/26
【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依大正藏所編輯
【原始資料】蕭鎮國大德提供,維習安大德提供之高麗藏 CD 經文,北美某大德提供
【其他事項】本資料庫可自由免費流通,詳細內容請參閱【中華電子佛典協會資料庫版權宣告】

907 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay