» » Kinh Ni Kiền Tử Hỏi Về Nghĩa Vô Ngã

Kinh Ni Kiền Tử Hỏi Về Nghĩa Vô Ngã

Mục Sách mới | 0

KINH NI-KIỀN-TỬ HỎI VỀ VÔ NGÃ
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh , Luận Tập Bộ Toàn thứ 32
Kinh Văn số 1643
Bồ-Tát Mã Minh tập
Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng Triêu Tán Đại Phu Thí Hồng Lô , Thiếu Khanh Tuyên Phạm Đại Sư, Sắc Tứ Sa-Môn Thần Nhật Xứng Phụng chiếu dịch (Phạn -Hán)
Sa-môn Thích Như Điển phương trượng chùa Viên Giác Đức quốc
Dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, ngày 22.12.2004
Tại tu viện Đa Bảo, Úc Đại lợi; nhân kỳ nhập thất lần thứ hai
Thích Hạnh Nhẫn hiệu đính lần thứ nhất xong vào ngày 15 tháng 10 năm 2015.

Lúc bấy giờ, các Ni-kiền-tử tâm có dị kiến, phát khởi nghi hoặc, tìm cầu mà đến chỗ vị giải thích Đại thừa. Đến rồi làm lễ, cung kính chắp tay, hỏi về nghĩa vô ngã để trừ ngu tối: như được Phật nói, vì tôi khai thị. Nếu nói thân này không có Ngã thì cái Ngã tối thượng kia cũng không có; vì cớ gì trong thân hiện thấy các sự: khóc ,cười, vui đùa, phẫn nộ, ngã mạn, tật đố, lưỡng thiệt? Hoặc có hoặc không chẳng thể quyết rõ; chỉ nguyện nhân giả vì tôi mà trừ nghi.
Vị giải Đại thừa nói với Ni-kiền-tử rằng: trước hết, cái Ngã tối thượng được ông chấp thì quyết định là hư vọng; lấy gì gọi là có, lấy cái gì gọi là không có, trong hai điều này đều không thể được. Nếu lấy :tóc, móng, da, thịt, gân, xương, mỡ, tủy, bàng quang, dạ dày, tay, chân -tất cả chi phần của thân làm cái Ngã tối thượng, thì tìm kiếm trong, ngoài có cái gì có thể thấy?
Lúc ấy, Ni-kiền-tử thưa với người trí rằng: tôi dùng mắt thịt nên chẳng thể thấy, người khác có thiên nhãn thì họ có thể thấy.
Người trí nói: cũng không phải thiên nhãn có thể thấy; nó không phải là hiển sắc cũng không phải là hình sắc, vì tự tính không nên có cái gì có thể thấy? Ni-kiền-tử nói: nó quyết định không có chăng?
Người trí nói: nếu nói là không thì làm sao lại hiện thấy?Từ nhân duyên sinh, các tướng khóc, cười mà hoặc nói là có, hoặc nói là không có thì cả hai đều tà vọng, không phải chính lý.
Ni-kiền-tử nói: hoặc có hoặc không đều chẳng thể nói thì, như thế nào mà thân này hiện có chỗ trụ?
Người trí nói: không có chút nào thấy có tướng được trụ.
Ni-kiền-tử nói: nếu không trụ trước tức giống hư không?
Người trí nói: Như được ông nói; vì như hư không.
Ni-kiền-tử nói: nếu thế thì các tướng khóc, cười phải làm sao trừ?
Người trí nói: ở trong nghĩa này nhưng có hai loại: một là thế tục, hai là thắng nghĩa. Nương thế tục mà nói, ắt có: tự, tha, mạng giả, sĩ phu, bổ-đặc-già-la, tác giả, thọ giả, tài bảo, vợ con, thân quyến, bè bạn…khác nhau như thế. Nương thắng nghĩa mà nói, ắt không có :tự,tha, mạng giả cho đến bè bạn, cũng không có một chút nào các tướng khác nhau. Nếu thế tục nói, ắt có sinh ,diệt, quả báo thiện, ác; trong thắng nghĩa, ắt không có sinh, diệt, quả báo thiện ác. Pháp chân như kia tự tính thanh tịnh, không có phiền não, không có ô nhiễm cũng không có giác liễu, xưa nay tịch tĩnh, đây gọi là tự tính chân như. Nói lại nghĩa này, dùng kệ tụng rằng:

Thế tục, thắng nghĩa đế
Hai loại, nay sẽ nói:
Thế tục tức thế pháp,
Thắng nghĩa không cao hơn.
Hữu tình nương thế tục
Tăng trưởng nơi phiền não,
Ở lâu trong luân hồi,
Không rõ pháp thắng nghĩa.
Do nương thế tục nên
Sinh chấp khắp tự, tha
Khởi phân biệt, nghi hoặc,
Mà chịu các khổ não.
Phàm phu ngu si kia
Lâu dài chịu bức bách,
Không tu nhân xuất ly
Sao biết lý giải thoát ?
Người ngu thường nương tựa
Pháp thế gian sinh diệt,
Trôi lăn trong năm đường
Liên tục mà không dứt.
Do không đạt thắng nghĩa
Không diệt khổ ách yếu.
Quay vòng chịu luân hồi
Như tằm tự trói buộc,
Cũng như vòng nhật, nguyệt
Chuyển vòng chẳng dừng nghỉ,
Chúng sinh trong ba hữu
Tới lui cũng như vậy.
Các hành trọn vô thường
Biến diệt trong sát-na.
Xa lìa pháp thế tục,
Phải cầu thắng nghĩa đế;
Cho đến các cõi trời
Và các Càn-thát-bà…
Chẳng khỏi vô thường kia
Đều là quả thế tục;
Các dạ-xoa, quỷ, thần
Trì minh được thành tựu
Chẳng khỏi đọa ác đạo
Đều là quả thế tục;
Đế-Thích, Chuyển Luân Vương
Phúc báu không ai sánh,
Không khỏi đọa bàng sinh,
Đây đều quả thế tục.
Năm dục cõi trời, người
Quyết định phải xả bỏ,
Nơi tâm Bồ-đề kia
Lấy huệ thường quán sát.
Tự tính không chỗ chấp,
Tất cả trọn đều không;
Siêu việt chỗ hí luận
Là tướng tâm Bồ-đề;
Không cương, không mềm mại,
Chẳng nóng cũng chẳng lạnh
Không xúc, không chấp thọ
Là tướng tâm Bồ-đề;
Không dài cũng chẳng ngắn,
Không tròn cũng chẳng vuông,
Chẳng tế cũng không thô
Là tướng tâm Bồ-đề;
Không trắng và không hồng,
Không đen cũng không trắng,
Không hình sắc, hiển sắc
Là tướng tâm Bồ-đề;
Không sắc không ánh sáng,
Không động, chẳng trói buộc,
Chẳng trụ như hư không
Là tướng tâm Bồ-đề;
Lìa tư duy, quán sát,
Chẳng cảnh giới ngoại đạo,
Với Bát-nhã tương ưng
Là tướng tâm Bồ-đề;
Không tợ, không đối đãi,
Không sánh, thường tịch tĩnh,
Tự tính vốn ngưng nhiên
Là tướng tâm Bồ-đề.
Như bọt nổi tích tụ,
Như huyễn hoá, dương diễm,
Vô ngã cũng vô thường,
Tất cả không vững chắc.
Thân này như ngói gạch,
Hư huyễn mà sung mãn,
Tương ưng với ba độc,
Rốt ráo không, không có.
Như nơi trăng, trong mây
Sát-na chẳng hiện hữu,
Lấy Bát-nhã thâm sâu
Đạt hữu vi như huyễn.
Chúng sinh, khí thế gian
Tất cả đều như mộng,
Do tự tâm phân biệt,
Tâm ấy cũng như mộng.
Nếu ai nương chính lý
Lấy huệ mà tu tập,
Vứt bỏ các chướng, nhiễm
Chóng được đạo vô thượng.
Bát-nhã tối thắng này
Được chư Phật ca ngợi,
Người trí khéo suy lường
Cẩn cầu pháp vô thượng.
Lìa hữu vi lầm lỗi,
Chứng thắng đức chân thường.
Do đây giải thoát nên
Tất cả không nhiễm trước.
Lúc ấy các ngoại đạo
Nghe rồi, sinh hoan hỉ,
Khéo quán sát trừ nghi,
Ngộ được trí Đại thừa.
KINH NI-KIỀN-TỬ HỎI VỀ NGHĨA VÔ NGÃ

大正新脩大藏經 第32冊
No.1643 尼乾子問無我義經 (1卷)
【馬鳴菩薩集 宋 日稱譯】
第 1 卷

No. 1643

尼乾子問無我義經

馬鳴菩薩集

西天譯經三藏朝散大夫試鴻臚少卿宣梵大師賜紫沙門臣日稱等奉 詔譯

爾時尼乾子等。心懷異見發起疑惑。尋求往詣解大乘者所。到已作禮合掌恭敬。問無我義使除暗鈍。如佛所說為我開示。若說此身無有我者。彼最上我亦無所有。何故身中現見啼笑嬉戲忿怒我慢嫉妬兩舌等事。於有於無不能決了。唯願仁者為我除斷。解大乘者謂尼乾子言。汝先所執最上我者。決定虛妄。以何名有以何名無。於此二中都無所得。若以自身髮甲皮肉筋骨脂髓膓胃手足一切身肢。為最上我。內外尋求何有可見。時尼乾子白智者言。我以肉眼故不能見。餘有天眼彼可得見。智者曰。亦非天眼之所能見。彼非顯色亦非形色。自性空故。何有可見。尼乾子言。彼定無耶。智者曰。若說無者。云何現見。從因緣生啼笑等相。或說為有。或說為無。二皆邪妄。非其正理。尼乾子言。若有若無俱不應說。如何此身現有所住。智者曰。無有少分見所住相。尼乾子言。若無住著即同虛空。智者曰。如汝所說如虛空故。尼乾子言。若爾啼笑等相當云何遣。智者曰。於是義中而有二種。一者世俗。二者勝義。依世俗說。則有自他命者士夫補特伽羅作者受者財寶妻子親眷朋屬。如是差別。依勝義說。則無自他命者乃至朋屬等事。亦無少分差別等相。若世俗說。則有生滅善惡果報。若勝義中。則無生滅善惡果報。彼真如法自性清淨。無有煩惱無有染污亦無覺了。本來寂靜。此說是名真如自性。重明此義以偈頌曰。

世俗勝義諦 二種今當說
世俗即世法 勝義無過上
有情依世俗 增長於煩惱
久處於輪回 不了勝義法
由依世俗故 自他生遍計
起分別疑惑 而受諸苦惱
彼愚癡凡夫 長時受逼迫
不修出離因 何知解脫理
愚人常依止 世間生滅法
馳流五趣中 相續而不斷
由不達勝義 則無滅苦要
展轉受輪迴 如蠶自纏縛
亦如於日月 旋轉無休息
眾生三有中 來往亦如是
諸行悉無常 剎那而遷變
遠離世俗法 當求勝義諦
乃至住諸天 及乾闥婆等
不免彼無常 此皆世俗果
夜叉鬼神等 得持明成就
不免墮惡趣 此皆世俗果
帝釋轉輪王 福報無與等
不免墮傍生 此皆世俗果
人天五欲樂 決定當棄捨
於彼菩提心 以惠常觀察
自性無所著 一切悉皆空
超越所戲論 是菩提心相
非剛非柔軟 非熱亦非冷
非觸非執受 是菩提心相
非長及非短 非圓亦非方
非微細非麁 是菩提心相
非白及非紅 非黑亦非黃
非形色顯色 是菩提心相
非色非光明 非動非纏縛
非住如虛空 是菩提心相
離思惟觀察 非外道境界
與般若相應 是菩提心相
無似無對待 無等常寂靜
自性本凝然 是菩提心相
如聚沫浮泡 如幻化陽焰
無我亦無常 一切非堅固
是身如坏器 虛幻而充滿
與三毒相應 畢竟空無有
如月處雲中 剎那而不現
以甚深般若 達有為如幻
眾生器世間 一切皆如夢
由自心分別 彼心亦如夢
若人依正理 以惠而修習
棄背諸障染 速得無上道
此最勝般若 諸佛所稱讚
智者善籌量 勤求無上法
離有為過失 證真常勝德
由此解脫故 一切無染著
時彼外道眾 聞已生歡喜
善觀察除疑 得悟大乘智

尼乾子問無我義經

【經文資訊】大正藏第 32 冊 No. 1643 尼乾子問無我義經
【版本記錄】CBETA 電子佛典 2014.04,完成日期:2014/04/26
【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依大正藏所編輯
【原始資料】蕭鎮國大德提供,維習安大德提供之高麗藏 CD 經文,北美某大德提供
【其他事項】本資料庫可自由免費流通,詳細內容請參閱【中華電子佛典協會資料庫版權宣告】

1017 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay