» » » Kinh Bát Đại Nhân Giác Lược Giải

Kinh Bát Đại Nhân Giác Lược Giải

Mục Tục Tạng Kinh | 0

Lược Giải Kinh Bát Đại Nhân Giác, thuộc tập X37 (Tục tạng kinh), kinh số 672.

Hậu Hán Sa Môn An Thế Cao dịch
Minh Ngẫu Ích Thích Trí Húc giải
Thích Thiện Huệ Việt dịch

Toàn văn phân ra làm ba, trước là nêu chung, thứ là giải riêng, sau cùng là kết luận.

Nay nói phần đầu:

Là đệ tử Phật, phải ngày lẫn đêm, chí tâm tụng niệm, Tám Điều Giác Ngộ của bậc đại nhân.

Bất kể tại gia, xuất gia, hễ đã quy y nơi Phật, đều là đệ tử Phật. Đã là đệ tử Phật, ắt phải hằng tu Tám Điều Giác Ngộ này. Nói cả ngày lẫn đêm để nêu rõ công phu không gián đoạn. Bảo chí tâm là chỉ sự chân thành tha thiết. Lại nói tụng niệm, để hiển bày văn nghĩa thuần tịnh, ghi nhớ không quên vậy. Tám Điều Giác Ngộ, sẽ chú thích trong văn kết thán.

Thứ hai giải riêng tám điều:

– Trước nhất giác vô thường vô ngã:

Giác ngộ thứ nhất: Thế gian vô thường, quốc độ mong manh, tứ đại khổ không, năm ấm vô ngã, sinh diệt đổi dời, hư ngụy không chủ, tâm là nguồn ác, thân là mọi tội, quán sát như vậy, xa dần sinh tử.

Đây là cửa đầu nhập đạo, trước bầy pháp ngã pháp hai chấp. Trước tiên, quán thế gian vô thường, quốc độ mong manh, như các thứ bờ cao thành hồ, hang sâu hóa gò, quán như vậy, ắt nơi y báo (1) không còn tham cầu. Thứ đến do bốn đại quán thân, đất nước gió lửa gây hại lẫn nhau, nên có 404 bệnh khổ. Đại nào cũng không thật tính, nên cứu cánh đều không. Lại do năm uẩn quán tâm, thọ tưởng hành thức hợp cùng sắc thân gọi là năm ấm, nơi đây thực chẳng có ngã và ngã sở, chỉ là pháp sanh diệt biến hoại đổi dời trong từng sát na, không thật nên hư ảo, chẳng chân thành giả ngụy. Chỉ do nơi các tướng đổi thay nên thật không chủ, do vậy nơi chánh báo (2) không khởi tâm tham đắm. Lại thân tâm chính báo này, dẫu ta có yêu mến nó, cũng chí luống công chẳng được lợi ích, mà còn do vừa mê sáu trần duyên cảnh, cho là tướng tự tâm, tâm lập tức trở thành cội gốc của tội ác. Vừa mê bốn đại tưởng tướng của tự thân, thân liền thành chỗ chứa mọi tội lỗi. Nếu không xét thấu điều này, tất hại cho sự an lành vô cùng. Có quán sát được vậy, ắt hai chấp thân tâm giảm nhẹ, đó là phương tiện thứ nhất xa dần sinh tử.

– Thứ hai giác thường tu thiểu dục:

Giác tri thứ nhì: Đa dục là khổ, sinh tử nhọc nhằn, do tham dục khởi, thiểu dục vô vi (3), thân tâm tự tại.

Đã do điều giác ngộ thứ nhất hàng phục kiến hoặc (4) nay lại do điều giác ngộ thứ hai hàng phục tư hoặc (5) vậy. Tư hoặc tuy nhiều, dục tham đứng đầu, hễ tu thiểu dục, tất ngộ vô vi mà được tự tại.

– Thứ ba giác tri túc thủ đạo.

Giác tri thứ ba: Tâm không chán đủ, chỉ hay đa cầu, tăng trưởng tội ác, Bồ Tát không vậy, thường niệm tri túc, an bần giữ đạo, Huệ là sự nghiệp.

Đã tu thiểu dục, nên tu tri túc, bằng cách chuyên tâm nơi huệ nghiệp vậy. Người đa dục không tri túc, ngăn che trí huệ vô cùng. Nay nơi thiểu dục, lại thêm tri túc, tất huệ nghiệp tự nhiên thăng tiến.

– Thứ tư thường hành tinh tiến:

Giác tri thứ tư: Giãi đãi đọa lạc, thường hành tinh tiến, phá ác phiền não, hàng phục bốn ma, ra khỏi nhà ngục ấm giới.

Phàm gọi là thiểu dục tri túc, chính là muốn tự xét sức mình để làm các việc. Nếu mượn cớ tri túc mà ngồi trong hầm giãi đãi, tất đọa lạc càng sâu, nên phải thường hành tinh tiến để phá trừ hai món phiền não kiến tư. Trừ ma phiền não, ắt hàng phục được hết ấm ma, tử ma (6), có như vậy mới ra khỏi nhà ngục ngũ ấm thập bát giới (7).

– Thứ năm giác đa văn trí huệ.

Giác ngộ thứ năm: Sinh tử ngu si, Bồ Tát thường niệm, quảng học đa văn, tăng trưởng trí huệ, thành tựu biện tài, giáo hóa hết thảy, khiến được vui lớn.

Tuy nói tinh tiến, mà không quảng học đa văn để tăng trưởng trí huệ, tất thành cái lỗi ám chứng (8), lại có nghe mà không huệ, như đem lửa tự đốt; có huệ mà thiếu nghe, như cầm dao tự cắt. Nghe (Văn) và Huệ phải đầy đủ, mới tự lợi lợi tha.

– Thứ sáu giác bố thí bình đẳng.

Giác tri thứ sáu: Nghèo khổ đa oán, thường kết ác duyên, Bồ Tát bố thí, oán thân bình đẳng, không nhớ ác cũ, không ghét ác nhân.

Tuy có trí huệ mà không phúc đức, cũng không sao tự lợi lợi tha, nên cần hành đủ tam đàn vậy. Biết nghèo khổ nhiều oán trái, nên hành bố thí, đó là tài thí. Rõ oán thân nên bình đẳng, mà không nhớ ghét, tức vô úy thí. Pháp thí như văn trên đã nói, nay thêm tài thí và vô úy thí để đủ tam đàn vậy.

– Thứ bảy giác xuất gia phạm hạnh.

Giác ngộ thứ bẩy: Năm dục tội lỗi, tuy là tục nhân, không nhiễm dục lạc thế gian, thường niệm pháp thí, ba y một bát, chí nguyện xuất gia, thủ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao vời, từ bi mọi loài.

Tuy trí huệ phúc đức, nếu không dứt hẳn ngũ dục gia đình, ắt không sao thiệu long Tam Bảo, thụ trì Phật pháp. Phải biết ba đời chư Phật, chưa từng không thị hiện thân xuất gia mà thành đạo cả. Tam y (9), một là An Đà Hội, hai là Ưu Đa La Tăng, ba là Tăng Già Lê. Nên tuy cư thân xuất gia mà không giữ đạo thanh bạch, phạm hạnh cao vời, tư bi với muôn loài, tất chỉ là gã trộm Phật hình nghi, càng gây thêm tội, phải hiểu rõ như vậy.

– Thứ tám giác đại tâm phổ tế.

Giác tri thứ tám: Sinh tử thiêu đốt, khổ não vô cùng, phát tâm đại thừa, cứu vớt hết thảy, nguyện thay chúng sanh, chịu vô lượng khổ, khiến mọi chúng sanh, tất cánh an lạc.

Tuy đã xuất gia, không phát tâm Đại thừa rộng độ, tất từ tâm không trọn, không phát tâm chịu khổ thay chúng sanh, ắt bi tâm không vẹn. Từ bi trọn đủ mới thực là người con chấn hương gia nghiệp nhà Phật.

Phần kết thán:

Tám điều như vậy, là chỗ giác ngộ của Bậc Đại Nhân, chư Phật Bồ Tát tinh tấn hành đạo từ bi tu huệ, ngồi thuyền pháp thân đến bờ Niết Bàn lại vào sinh tử độ thoát chúng sanh, dùng tám điều này khai đạo tất cả, khiến các chúng sanh rõ sinh tử khổ, xả bỏ ngũ dục, tu tâm thánh đạo. Nếu đệ tử Phật, trong hằng mỗi niệm, tụng tám điều này, diệt vô lượng tội, tiến đến Bồ Đề, tốc chứng chính giác, vĩnh đoạn sanh tử, thường trụ khoái lạc.

Từ Tu Tám điều như vậy trở xuống đến chữ thứ 16, kết thành danh nghĩa. Từ Tinh Tiến hành đạo trở xuống đến chữ thứ 16, kết thành công đức tự giác. Thuyền Pháp thân chỉ cho đức tánh giác ngộ, bờ Niết Bàn hiển bày chỗ tu đức. Từ Lại vào sinh tử độ thoát chúng sanh trở xuống đến chữ thứ 32 (tu tâm thánh đạo), kết thành công đức giác tha, chỉ có tự giác mới giác tha được. Từ Nếu đệ tử Phật cho hết phần kết thán, kết thành công đức tụng niệm. Đã thường tụng văn này, tất khéo hiểu chân ý nghĩa, nhờ khéo tư duy nghĩa này, mà có thể tự giác giác tha. Do vậy diệt tội lỗi và đoạn trừ sinh tử khổ, hướng đến bờ giác và chứng được sự an lạc vĩnh hằng.

Chú Thích Kinh Bát Đại Nhân Giác

Y Báo: Y báo và chánh báo gọi chung là nhị báo. Y báo còn gọi là Y quả, tức quốc độ, thế giới, nhà cửa, khí cụ các thứ, do nghiệp đời trước mà chúng sanh cảm được, thân của chúng sanh nương các thứ này mà  tồn tại, nên gọi là Y báo.

Chính báo: Còn gọi là Chính quả, tức thân ngũ uẩn, chúng sanh do nghiệp đời trước mà cảm được thân này, đó là quả báo chính, nên gọi là chính báo (xem Hoa Nghiêm Đại sớ 1)

Kiến tư: Là Kiến hoặc và Tư hoặc, còn gọi là Kiến Ái, Kiến Tu, Tứ Trụ, Nhiễm Ô Vô Tri, Chi Mạt Vô Minh, Thông Hoặc, Giới Nội Hoặc, đều khái quát gọi chung phiền não của Tam Giới.

Kiến Hoặc: Các loại vọng kiến, phân biệt và suy lường lệch lạc của các đạo lý, mà phát sanh ra các thứ vọng hoặc như Ngã Kiến, Biên Kiến.

Tư Hoặc: Các mê tình như Tham, Sân, Si, các vọng hoặc phát khởi do tư lự các sự vật ở thế gian.

Như vậy dựa theo sự mê chấp, gọi là Kiến hoặc là Lý hoặc, Tư hoặc là Sự hoặc. Vì Kiến hoặc là những thứ tà tưởng, thường kiến, ngã kiến phát sanh bởi sự mê lầm chân lý, vô thường, vô ngã, và vì Tư hoặc là những vọng tình tham sân si phát sinh do sự mê nhiễm sắc thanh của cás sự vật ở thế gian. Song phân Kiến hoặc, Tư Hoặc theo mê lý và mê sự, là theo Pháp Tướng của Tiểu Thừa Câu Xá. Còn theo Pháp Tướng của Đại Thừa Duy Thức, thì phân loại theo hai thứ Phân Biệt khởi và Câu Sinh khởi. Hai chướng phiền não là sở tri do Phân Biệt khởi là Kiến hoặc, hai chướng phiền não và sở tri do Câu Sinh khởi là Tư hoặc. Lại gọi là Kiến vì gồm hai nghĩa.

  1. a) Các hoặc bị đoạn trừ khi chiếu kiến chân lý, nên gọi là kiến hoặc
  2. b) Kiến có nghĩa suy lường, hoặc này lấy suy lường làm tính, nên gọi là kiến hoặc.

Tư cũng có hai nghĩa:

  1. a) Một khi đã kiến thấy chân lý đoạn kiến hoặc rồi, lại tư duy tu tập chân lý để đoạn hoặc này, nên gọi là tư hoặc.
  2. b) Vì tư duy thế gian, vọng chấp sự vật mà khởi hoặc nên gọi là tư hoặc.

Cả hai hoặc này là nhân chính thọ sinh tử trong tam giới, đoạn hai hoặc này mới thoát được sanh tử trong tam giới. Ðoạn hoặc cũng theo thứ tự, trước đoạn kiến hoặc, sau đoạn tư hoặc. Kiến hoặc có tính mãnh lợi, khi kiến (thấy) đế lý liền đoạn sạch. Còn tính hoặc có tính độn muội , phải nhiều lần tư duy đế lý mới từ từ đoạn được. Vị đoạn kiến hoặc gọi là kiến đạo, vị đoạn tư hoặc gọi là tu đạo. Vị đoạn cả hai hoặc gọi là Vô Học đạo.

Thiên Thai Tông quy kết hết thảy vọng hoặc làm ba thứ:

  1. a) Kiến Tư là chướng ngăn Niết Bàn.
    b) Trần Sa là chướng ngăn Bồ Ðề.
    c) Vô Minh là chướng ngăn Trung Ðạo thật tướng.

Ấm ma, Thiên ma, Tử Ma: Gọi là Tam Ma. Chỉ trì tập âm nghĩa giải thích Tam Ma như sau:

1) Phiền não ma: Chỉ hết thảy vọng hoặc trong Tam giới, các vọng hoặc này nhiễu loạn tâm thần hành giả, khiến không thành tựu Bồ đề được, nên gọi là Phiền não ma. Ngũ ấm ma được nhiếp trong ma này.

2) Thiên ma: Tức trời thứ sáu của dục giới. Nếu người nào muốn cần tu các thắng thiện để siêu xuất sinh tử của Tam giới, ắt bị Thiên ma này chướng ngại, tạo nên đủ nhiễu loạn, khiến hành giả không thể thành tựu được thiện căn xuất thế. Gọi đó là Thiên ma.

3) Tử ma: Chỉ bốn đại phân tán, cái chết ngăn chận sự kéo dài huệ mệnh, nên gọi là Tử ma.

Lại Trí Ðộ Luận quyển năm và Nghĩa Lâm Chương quyển sáu gọi Phiền Não ma, Ấm ma, Thiên ma và Tử ma là Tứ ma.

1) Phiền não ma: Các thứ phiền não tham dục, san khuể thường gây não hại thân tâm, nên gọi là Ma.

2) Ấm ma: Hay còn gọi là ngũ chúng ma, tân dịch là Uẩn ma. Năm ấm thường sinh đủ mọi khổ não, nên gọi là Ma.

3) Tử ma: Sự chết hay đoạn mệnh căn của người nên gọi là Ma.

4) Thiên ma: TứcTha Hóa Tự Tại Thiên Tử Ma, tân dịch là Tự Tại Thiên Ma, là ma vương của trời thứ sáu dục giới, thường phá hại các thiện sự của người, nên gọi là ma. Chỉ có ma này trong tứ ma là bổn pháp, còn ba thứ kia theo ý nghĩa mà gọi là ma.

Thập bát giới: Gồm lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý). Lục trần: (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp),  và lục thức (nhãn cho đến ý thức). Giới có hai nghĩa sai khác, vật này vật nọ không xen tạp được nhau. Ðại Thừa Nghĩa Chương quyển tám: “Giới là phân giới, do các pháp có tính khác biệt gọi là Giới”. Vì lục căn, lục trần, lục thức có tính cách khác biệt, nên gọi chung là 18 giới. Lại Câu Xá Luận quyển nhất nói: “Giới có nghĩa các loại pháp (pháp chủng tộc), như trong một núi có nhiều loại như đồng, sắt, vàng, … gọi là đa giới (nhiều chất loại). Như vậy một thân hoặc một tương tục có đến 18 loại pháp chủng tộc, gọi là 18 giới. Hiểu theo nghĩa trên, giới của Tam giới và Thập Bát giới là giới theo Ða giới, không nên hiểu theo là pháp giới.

Ám Chướng: Chuyên lấy tọa thiền làm công phu, còn nơi văn nghĩa của nghĩa lý thì mờ ám.

Tam Y: Y phục do Phật chế phân làm ba loại :

1) Tăng Già Lê (Sanghati) dịch là Chú Tụ Thời Y. Y này để mặc vào những lúc đại chúng tề tập truyền giới hay thuyết giới .

2) Uất Ða La Tăng (Uttarasanga) dịch là Thượng Y (y trên) mặc trên y An Ðà Hội .

3) An Ðà Hội (Antarvasaka) dịch là Trung Trước Y (áo mặc bên trong).

Sau này ba y được theo Ðiều, như An Ðà Hội là Ngũ điều y, Uất Ðà La Tăng là Thất điều y, và Tăng Già Lê là Cửu điều trở lên, hay còn gọi là Ðại y.

卍新纂大日本續藏經 第37冊
No.672 八大人覺經略解 (1卷)
【明 智旭解】
第 1 卷

No. 672 八大人覺經略解

西土聖賢集 後漢沙門 安世高 譯

皇明藕益釋 智旭 解

△大文為三。初總標。二別明。三結歎。今初。

為佛弟子。常於晝夜。至心誦念八大人覺。

不論在家出家。但是歸依於佛。即為佛之弟子。既為佛子。即應恒修此八種覺。言常於晝夜者。明其功無間斷。言至心者。明其親切真誠。言誦念者。明其文義淳熟。記憶不忘也。八大人覺。釋現結歎文中。

△二別明即為八。初無常無我覺。

第一覺悟。世間無常。國土危脆。四大苦空。五陰無我。生滅變異。虗偽無主。心是惡源。形為罪藪。如是觀察漸離生死。

此入道之初門。破我法執之前陣也。先觀世間無常。國土危脆。如高岸為谷。深合為陵等。則於依報無可貪著。次以四大觀身。地水火風互相陵害。故有四百四病之苦。各無實性故究竟皆空。次以四陰觀心。所謂受想行識。并此色身。共名五陰。於中實無我及我所。但是生滅之法。剎那剎那遷變轉異。不實故虗。非真故偽。遞相乘代故無主。則於正報無可貪著。又此正報身心。不惟空愛惜之。於事無益。而且一迷六塵緣影為自心相。則心便為眾惡之源。一迷四大為自身相。則形便為眾罪之藪。倘不直下覷破。害安有極。若能如是觀察。則身心二執漸輕。即漸離生死之第一方便也。

△二常修少欲覺。

第二覺知。多欲為苦。生死疲勞。從貪欲起。少欲無為。身心自在。

此既以第一覺降伏見惑。次以第二覺降伏思惑也。思惑雖多。欲貪為首。能修少欲。則可以悟無為而得自在矣。

△三知足守道覺。

第三覺知。心無厭足。惟得多求。增長罪惡。菩薩不爾。常念知足。安貧守道。惟慧是業。

此既修少欲。復修知足。以專心於慧業也。多欲不知足人。最能障慧。今於少欲之中。又復知足。則慧業任運可進矣。

△四常行精進覺。

第四覺知。懈怠墜落。常行精進。破煩惱惡。摧伏四魔。出陰界獄。

夫所謂少欲知足者。正欲省其精力以辦出要耳。倘托言知足而反坐在懈怠坑中。則墜落不淺矣。故必常行精進以破見思煩惱。煩惱之魔既破。則陰魔天魔死魔皆悉摧伏。而五陰十八界獄乃可出也。

△五多聞智慧覺。

第五覺悟。愚癡生死。菩薩常念廣學多聞。增長智慧。成就辯才。教化一切。悉以大樂。

雖云精進。若不廣學多聞增長智慧。則成暗證之愆。又有聞無慧。如把火自燒。有慧無聞。如執刀自割。聞慧具足。方可自利利他。

△六布施平等覺。

第六覺知。貧苦多怨。橫結惡緣。菩薩布施。等念怨親。不念舊惡。不憎惡人。

雖有智慧。而無福德。亦不可以自利利他。故須具行三檀也。知貧苦之多怨而行布施。即財施也。知怨親之平等而不念不憎。即無畏施也。法施已於上文明之。今以財及無畏圓滿三檀耳。

△七出家梵行覺。

第七覺悟。五欲過患。雖為俗人。不染世樂。常念三衣瓦鉢法器。志願出家。守道清白。梵行高遠。慈悲一切。

雖修智慧福德。若不永離居家五欲。終不可以紹隆僧寶。住持佛法。當知三世諸佛。無有不示出家而成道者也。三衣。一安陀會。二優多羅僧。三僧伽梨也。然使身雖出家。而不能守道清白。梵行高遠。慈悲一切。則為竊佛形儀。罪加一等。不可不知。

△八大心普濟覺。

第八覺知。生死熾然。苦惱無量。發大乘心。普濟一切。願代眾生受無量苦。令諸眾生畢竟大樂。

雖復出家。不發大乘普濟之心。則慈心不周。不發代眾生苦之心。則悲心不切。慈悲周切。方是紹佛家業之真子也。

△三結歎。

如此八事。乃是諸佛菩薩大人之所覺悟。精進行道。慈悲修慧。乘法身船。至涅槃岸。復還生死。度脫眾生。以前八事。開導一切。令諸眾生覺生死苦。捨離五欲。修心聖道。若佛弟子誦此八事。於念念中。滅無量罪。進趣菩提。速登正覺。永斷生死。常住快樂。

如此八事下十六字。結成名義。精進行道下十六字。結成自覺功德。法身船。指所悟性德。涅槃岸。指修德所顯也。復還生死下三十二字。結成覺他功德。惟自覺方能覺他也。若佛弟子下三十二字。結成誦念功德。能誦其文。必能精思其義。能思其義。必能以此自覺覺他。故能滅罪而斷生死苦。趣覺而證常住樂也。

八大人覺經略解(終)

【經文資訊】卍新續藏第 37 冊 No. 0672 八大人覺經略解
【版本記錄】CBETA 電子佛典 2014.04,完成日期:2014/04/26
【編輯說明】本資料庫由中華電子佛典協會(CBETA)依卍新續藏所編輯
【原始資料】CBETA 人工輸入,CBETA 掃瞄辨識
【其他事項】本資料庫可自由免費流通,詳細內容請參閱【中華電子佛典協會資料庫版權宣告】

2404 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay