» » Quy Y A Di Đà Phật

Quy Y A Di Đà Phật

Mục Tàng Kinh Các | 0

Quy Y A Di Đà Phật

Tỳ kheo Thích Thiện Huệ
giảng tại chùa Từ Dung ở Pháp Quốc
ngày 03.01.2010
[Tâm Quán ghi lại]

Hôm nay nhân vào dịp vía đức Phật A Di Đà, đó là nói chung vía của một vị Phật thật là quen thuộc sau đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà thôi. Hầu như tất cả Phật tử theo Phật giáo đại thừa thì ai cũng biết đến danh xưng của đức Phật A Di Đà cả. Chúng ta biết rằng, đức Phật A Di Đà là giáo chủ của thế giới Tây phương, cõi ấy mang tên là Cực lạc. Về lịch sử của đức Phật A Di Đà thì ai cũng am tường và rành rẽ, cho nên chúng ta không cần nhắc lại nữa. Ở đây chúng ta chỉ nhấn mạnh lý do gì mà đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni lại nhắc đến đức Phật A Di Đà và khuyến khích tất cả mọi người cầu vãng sinh về thế giới Cực lạc A Di Đà bằng thông qua nhiều phương cách, song phương pháp phổ thông và dễ hành nhất là niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Có rất nhiều lý do, trong đó lý do phổ thông mà người Phật tử hay thường biết đến là càng xa với thời chính pháp và tượng pháp, tức là càng đi sâu vào thời mạt pháp, thì nghiệp chướng con người càng lúc càng nặng, chúng ta biết rằng một khi cách xa thời chính pháp và thời tượng pháp thì đồng nghĩa với việc nghiệp lực của con người cách xa với giáo pháp giác ngộ của Như lai, tức là nghiệp lực đi ngược chiều với sự giác ngộ của Như lai, vì vậy chúng sinh khó tu hành giống như thời chính pháp và tượng pháp, bởi lẽ căn tính đi ngược lại với trí huệ, vì lý lẽ trên mà đức Bổn Sư mới chỉ bày cho một phương pháp gọi là có thể đáp ứng với hoàn cảnh xa lìa thời chính pháp và tượng pháp. Khi xa lìa thời chính pháp và tượng pháp thì chúng sinh khó tu hành vô cùng, cho nên Đức Phật phải phương tiện để làm thế nào giúp cho trong những trường hợp nói trên mà vẫn còn có thể tu được.

Đức Phật nổ lực dạy cho con người một pháp môn ở thời mạt pháp để cứu vớt con người, làm sao cho con người trong thời mạt pháp này có được kết quả khả quan. Nhất thiết chư Phật, chư Bồ tát khi mới bắt đầu phát tâm tu hành, các Ngài đều quán sát thấy những điểm chính yếu như sau:

  • Thấy nhân sinh thị khổ
  • Thấy tất cả các pháp đều là vô thường
  • Thấy tất cả các pháp đều là vô ngã

Do thấy tất cả các yếu tố trên mới phát nguyện tu hành. Có nghĩa là đạo Phật khác với những tôn giáo khác, ở điểm tu hành làm sao cho cái ngã này hưởng phước, mà đạo Phật tu hành là vì thấy rõ cái ngã của ta và của nhất thiết chúng sinh vốn là vô thường, vô ngã. Các pháp cũng đều như vậy, cho nên tu tập đến mức thiền định tức là lúc nào cũng nhận chân ra được những điều nói trên mà không bị ngộ nhận, tức là không bị vọng tưởng để cảm thấy rằng cái ngã và các pháp này là có thật để mà đeo đuổi và truy cầu. Cho nên phát nguyện tu hành không những giải thoát cho mình mà còn tu hành phát nguyện giải thoát cho nhân sinh. Song muốn làm công việc mà thiên hạ cho là nan hành, thì phải phát nguyện tu đạo giải thoát và còn cứu độ tha nhân nữa. Những điều đó nếu không có nguyện lực duy trì thì không có cách gì mà tiến bước và kiên trì được. Cho nên nguyện là lực duy trì từ khi bắt đầu phát tâm cho đến thành chánh quả. Nếu không có nguyện thì không đủ lực và đủ sức để hành trì, bởi vì chúng sinh luôn luôn bị nghiệp chi phối, mà nghiệp này là sức mạnh mãnh liệt làm cho chúng sinh chao đảo trước tất cả mọi sự, mọi vật và mọi pháp.

Vì muốn chống lại nghiệp lực nói trên, chúng sinh phải có lực đề kháng lại với nghiệp lực đó. Lực đề kháng này không khác gì hơn nguyện, và nguyện phải làm cho tới cùng, nguyện phải giác ngộ cho mình và cho cả tha nhân. Nếu mà không lập được nguyện kiên cố thì đương nhiên sẽ bị nghiệp lực phá tan, và khi bị thất nguyện thì đương nhiên trở lại con đường cũ, tức là con đường xa lìa chánh pháp, xa lìa với tượng pháp. Vì vậy nên nhất thiết chư Phật và chư Bồ tát xác quyết cho việc tu hành là phải phát nguyện, cho nên chúng ta thấy Phật và Bồ tát nào cũng có phát nguyện cả. Nguyện đó là gì?

Nói chung nguyện đó là độ nhất thiết chúng sinh, nguyện thành Phật quả. Nguyện độ nhất thiết chúng sinh chính là tiến lên con đường thành Phật đạo. Do phát nguyện thì tự nhiên đó chính là cái lực hướng dẫn chúng ta có thể đi trên con đường tiến đến chính pháp, chính quả.

Nghiệp là con đường luôn xa lìa chính pháp và chính quả, đó chính là con đường luân hồi sinh tử. Nguyện thường là con đường đưa đến sự giải thoát, cho nên đức Phật A Di Đà trong tiền thân, khi còn là tỳ kheo tăng mang pháp hiệu là Pháp Tạng tỳ kheo, đã phát ra bốn mươi tám lời nguyện mà chúng ta được biết qua kinh Vô Lượng Thọ, những nguyện này đều vì lòng từ bi độ chúng sinh và Ngài kết luận trong bốn mươi tám lời nguyện rằng: “Nếu mà sự độ sinh không đúng được như ý nguyện thì Ngài thề sẽ không thành chính đẳng chính giác”. Ý chính của các nguyện đều nêu lên “nếu chúng sinh sinh về thế giới của Ngài thì được sống trong cảnh tu hành thanh tịnh, an lạc và không thối chuyển”, nếu không được như vậy thì ngài không thành chánh đẳng chánh giác. Như vậy nếu xét các nguyện của Phật A Di Đà đều là nguyện độ nhất thiết chúng sinh, không nói đến việc mong cầu Phật đạo mà chỉ mong cầu độ nhất thiết chúng sinh, như vậy việc mong cầu Phật quả không quan trọng bằng cầu độ nhất thiết chúng sinh, vì vậy nếu độ sinh không được thề không thành chánh đẳng chánh giác. Đó là đặc điểm để cho chúng ta học hỏi và để ý đến mà suy nghĩ, bởi vì hầu hết chúng ta tu hành cầu mong làm như thế nào để chúng ta mau chóng thành tựu cái quả gì đó, nhưng mà chư Phật thì đến cái quả cao cả nhất là thành Phật đạo mà cũng chẳng cầu mong, chỉ cầu mong độ nhất thiết chúng sinh mà thôi. Con đường độ sinh mới chính là con đường thành Phật đạo, cho nên bỏ con đường độ sinh thì con đường thành Phật không còn nữa.

Tiểu thừa Phật giáo cũng tu hành nhưng không phát tâm độ nhất thiết chúng sinh, chỉ cầu cho họ được chứng quả, tức là được thoát ly sinh tử, do vậy được quả thoát ly sinh tử nhưng không được quả thành Phật đạo, vì thế người tu theo nhị thừa chỉ đắc quả Bích Chi Phật hay là A La Hán, mà không thể nào thành Phật được, trừ khi họ chịu phát tâm đại thừa, tức độ nhất thiết chúng sinh thì mới thành Phật. Cho nên tâm độ nhất thiết chúng sinh và Phật là một, vì vậy chư Phật không nhấn mạnh đến quả vị thành Phật mà chỉ nhấn mạnh đến nhân là độ sinh mà thôi. Bồ tát chú trọng nhân mà không cần đến quả, như khi đói không cầu no mà chỉ cầu ăn mà thôi, cứ ăn thì tự nhiên sẽ no. Cho nên muốn thành Phật thì không cần cầu mà chỉ cần gieo nhân, đó là nhân độ sinh, khi độ sinh thì Phật quả tự nhiên sẽ thành. Phải hiểu rằng độ sinh là nhân, thành Phật là quả.

Qua đó thấy rằng tất cả Bồ tát tu để thành Phật và nhất thiết chư Phật là những người đã thành quả đều do nơi con đường của nguyện mà thành đạo. Thanh văn và những tôn giáo khác đều không có tinh thần độ nhất thiết chúng sinh. Những tôn giáo khác, mục đích tối cao nhất cũng chỉ thờ phụng Thượng đế, để được nương nhờ vào phước báo của Thượng đế ở cảnh thiên đường, mà không hề quan tâm đến độ sinh. Nếu nương vào phúc báo của Thượng đế thì cảnh giới đó được gọi là thiên đường, nhưng nếu nương nhờ vào công đức của chư Phật thì được sự giải thoát hay còn gọi là Bát Niết Bàn.

Nếu nương vào chư Phật tùy theo sự phát tâm mà:

  • Tu thập thiện thì sinh thiên.
  • Tu thập nhị nhân duyên hay tứ diệu đế thành được nhị thừa, chứng được quả của A La Hán hay là Bích Chi Phật.
  • Tu lục độ thì thành được Bồ Tát.
  • Tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo thì thành được Phật quả.

Cho nên nguyện lực của chư Phật bao quát hết tất cả các quả ở trong tam giới. Nương vào một phúc báo nào của cõi trời mà tu hành thì chỉ đạt đến cõi trời mà thôi. Thế nhưng cõi trời cũng chỉ nằm trong tam giới, cho nên cũng thuộc vào cảnh giới luân hồi. Vì vậy chư thiên khi đến ngày hết phước thì cũng “ngũ suy tướng hiện”, tức là chết đi và sẽ tái sinh ở thế giới thấp hèn hơn.

Nếu nương theo nguyện lực của chư Phật thì tùy theo sự phát nguyện của mình mà phân thành:

  • Nguyện của hạ phẩm thì chỉ được phúc báo nhân thiên
  • Nguyện của trung phẩm thì chứng được hàng Thinh Văn, Duyên Giác
  • Nguyện của thượng phẩm thì có thể chứng được quả Bồ Tát hay là Phật.

Cho nên tùy theo lực của nguyện mà cảnh giới đạt được khác nhau, nguyện từ nơi tâm mà phát, cho nên tất cả cảnh giới mà đạt được đều do tâm mà thành, nếu không dùng tâm mà phát nguyện thì không được quả gì ngoài quả của tam giới. Chúng sinh vì không phát tâm nên mới trôi nổi trong tam giới lục đạo. Không phát tâm có nghĩa là có lúc phát tâm thiện, lúc phát tâm ác, và phát tâm nhất thời cho nên thiện ác giao dung, vì thế cảnh giới của chúng sinh là cảnh giới rất là hỗn tạp của khổ và lạc, tức là lúc khổ, lúc lạc. Nhưng nếu phát tâm chuyên hành thiện, dụ như cứu giúp mọi người và từ thiện, cầu mong cho mình được phước, thì nhờ nghiệp thiện này sinh thiên. Tại vì nguyện này cũng thuộc vào bản ngã, tức là nguyện cho mình, nên vẫn là nguyện của nghiệp, cho nên còn sinh ở cõi nghiệp, vì vậy nghiệp đó vẫn còn có luân chuyển, không phải là con đường ra khỏi ba cõi. Nếu phát được nguyện cao thượng hơn là tiêu diệt cái ngã tự lợi vốn gây ra nhiều khổ cho mình thì có thể chứng được quả niết bàn tịch tĩnh, tức là không còn bị cái ngã của vô thường và vô ngã quấy động. Dứt được ngã và vọng nghiệp, cho nên nguyện này là nguyện thoát ly ra khỏi mọi cái ngã, vì thế nên cảnh giới này không còn bị luân chuyển nữa, nên được gọi là xuất thể gian hay là bất thối chuyển. Nhưng quả này cũng chỉ cho cá nhân mình thôi, nên vẫn còn cái ngã vi tế.

Nếu phát nguyện hoàn toàn dùng cái ngã này vào việc độ nhất thiết chúng sinh thì cái ngã này trở thành cái công cụ để phục vụ nhất thiết chúng sinh, cho nên cái ngã này trở thành tự giác và đồng thời giác tha, vừa tự lợi và đồng thời lợi tha. Thành thử cái ngã này còn siêu xuất hơn cái ngã tu hành giải thoát, tức là diệt được nghiệp lực mà thành tựu được nguyện lực, do vậy ngã này trở thành cái ngã nguyện, tức là nguyện này là ngã và ngã này tức là nguyện. Cho nên ngã không còn gì tham dục hay si mê nữa, nhờ vậy mới giải thoát viên mãn, không còn nghiệp nữa mà chỉ còn lại nguyện mà thôi. Do đó có thể nhận ra được đức Phật là nguyện còn chúng sinh là nghiệp, vì thế cái ngã của Ngài là để độ chúng sinh, còn cái ngã của chúng sinh là chuyên đòi hỏi mà không dùng để độ sinh, cũng như đòi hỏi chư Phật nhiều hơn là phụng sự chư Phật, cho nên con đường tu tập chúng sinh cầu xin nhiều hơn là nguyện. Cầu xin là chỉ cho bản thân còn nguyện là cho tất cả chúng sinh, cho nên chư Phật vì chúng sinh phát đại nguyện, do vậy hiện thân của Ngài là vì độ sinh. Muốn thay đổi nghiệp của mình thì phải đổi nhân, nghiệp của chúng sinh không có cửa để ra, song cửa để vào là ngã chấp, thế nên mỗi lần sinh nghiệp tham, sinh nghiệp sân, sinh nghiệp si đều do ngã mà ra, dụ như thích, ghét, ao ước, thù hận… và tất cả những tinh thần cái tôi, nhờ vậy nghiệp thành tựu và hiện ra, qua đó rõ ràng cánh cửa để vào nghiệp đó là cái Tôi và ngã chấp. Vì Tôi, đó là năng lực thúc đẩy sinh nghiệp. Còn cửa ra của nghiệp là cửa gì?

Đã biết rằng vì tôi mà sinh nghiệp, cho nên xả “vì tôi” đi thì ra khỏi nghiệp. Nhưng cái “vì tôi” này rất là khó xả, tại vì Tôi làm nên sao xả được. Chỉ còn cách là đem cái Tôi này vì chúng sinh mà tư duy và hành xử thì cái Tôi vì chúng sinh sẽ là cánh cửa để ra khỏi nghiệp và đồng thời vào thế giới của nguyện, cho nên không thể nào diệt cái Tôi bằng Tôi, mà phải “vì người” mới có thể diệt được cái Tôi mà thôi, bởi cái tôi này không đòi hỏi, không sách nhiễu, mà cứu người và độ chúng sinh. Được như vậy thì chúng sinh đi vào thế giới của nguyện, cho nên được thoát khỏi cái nghiệp xưa nay.

Thế nhưng, nay phát mai không thì sẽ trở lại thế giới của nghiệp, vì vậy khi đã phát nguyện thì phải làm cho phát nguyện được kiên cố, được trưởng dưỡng. Muốn được như vậy thì mỗi ngày cần phải tư duy và hành cũng giống như mỗi ngày phải ăn mới có thể kéo dài được mạng sống, cũng như thường xuyên phải tư duy làm thế nào để kéo dài cái mạng sống. Như người phát nguyện thì vấn đề mạng sống của họ là độ sinh, do vì mỗi ngày phải tư duy làm thế nào để độ sinh, chính cái tư duy này làm cho nguyện được thọ mạng lâu dài, cũng như không ăn thì mạng sống không được kéo dài, ở đấy có hai việc lý và sự. Sự là phải ăn và lý là làm thế nào duy trì được mạng sống. Cũng vậy khi còn ở nơi nguyện thì đứng ngoài vòng sinh tử, vì vậy nguyện chính là mạng sống chân thật của chúng sinh. Vì là mạng sống chân thật nên phải trưởng dưỡng và duy trì nguyện bằng cách mỗi ngày phải hành nguyện này. Nguyện đó chính là vì chúng sinh. Nguyện này là lắng nghe sự nhu cầu của chúng sinh để mà đáp ứng.

Do thân tâm luôn vì chúng sinh nên thân tâm là sự bố thí, đó là nguyện hành hạnh bố thí. Khi bố thí như vậy thì thân tâm đều bố thí, bởi vì tâm luôn luôn nghĩ cách làm cho người, đó là tâm bố thí. Thân thì luôn luôn hành xử sự bố thí là cho người. Trong khi hành sự bố thí như vậy thì trong tâm tự nhiên năng sinh ra một thiện pháp khác để củng cố cho sự bố thí, đó là không cảm thấy có người bố thí, người nhận bố thí và vật bố thí. Cảm nhận được sự bình đẳng trong sự bố thí, bởi do cho người ta mà mình nhận được rất nhiều phúc báo, như vậy cái cho đồng với cái nhận. Của cải để thí là của vật vô thường, nhất thời và không đem theo được sau khi chết. Còn nhận thì là phúc, phúc này thì đem theo được đến đời sau và khắp mọi nơi. Dụ như có thể cho người nghèo bát cơm, mẩu bánh, những vật này chỉ có giá trị trong thời gian rất là ngắn, còn phúc nhận được thì thời hạn có thể vĩnh viễn. Qua đó thấy rằng sự bố thí rất là bình đẳng, bởi vì ngay lúc cho của cải thì ngay lúc đó nhận lại được phúc báo, cho nên người nhận cũng là người cho và ngược lại. Vì vậy ngay lúc khi bố thí cần nên tri ân người nhận sự bố thí, mà không nên coi người nhận là hạng hèn kém, cũng như không thấy cái ngã của mình cao thượng, cho nên không có sự phân biệt người cho và người nhận.

Do đó bố thí trên là đúng theo pháp của chư Phật, tức là bố thí vô ngã. Bố thí này luôn có ý nghĩa hành thiện đoạn ác, bố thí mọi lợi ích, an bình cho thiên hạ và tránh cho chúng sinh bị thiệt thòi hay đau khổ. Bố thí này chính là bố thí ba la mật, vì vậy khi hành bố thí này thì bao gồm luôn trì giới, nhờ đoạn ác hành thiện là tinh thần của giới. Khi hành bố thí hay nguyện như trên thì cần phải nhẫn, vì phải nhẫn với chính mình và với người. Nói chung là phải nhẫn với dư âm của nghiệp lực vì nghiệp này luôn luôn tấn công và cản trở cái nguyện đã phát bằng tất cả mọi mặt của hưởng thụ, tham dục, không hài lòng, bất mãn, không như ý của sân khuể. Do đó phải nhẫn để duy trì nguyện, nhẫn với nghiệp của chính mình và của tha nhân, có nghĩa là nếu chúng sinh không như ý, nhưng vẫn bố thí cho họ, nhất quyết không vì vậy mà khởi tâm ác, vì họ mà khởi tâm từ và tâm bi, cho nên trong bố thí này có trì giới và nhẫn. Ngoài ra cần phải sách tiến và tăng trưởng, không bao giờ ngừng nghĩ, chán nản sự bố thí này, vì vậy bố thí này cần phải được tinh tiến. Hành việc bố thí, trì giới, nhẫn nhục và tinh tiến luôn bất động, không bị nao núng trong bất kể hoàn cảnh nào, muốn được như vậy cần phải có thiền định.

Nhờ thành tựu năm yếu tố trên mà có được một sự hiểu biết rõ ràng về nguyên nhân để độ sinh, đó là hiểu về khổ và tập và giúp cho chúng sinh ra khỏi khổ tập, đó là con đường của diệt và đạo. Vì vậy hành bố thí là có thể hành được khổ, tập, diệt và đạo cho chúng sinh, cho nên bố thí như vậy có trí tuệ. Bố thí này đưa chúng sinh từ cảnh giới khổ tập qua cảnh giới diệt đạo, tức là từ bờ bến khổ tập qua bên bờ diệt đạo, nên được gọi là Bố Thí Ba La Mật Đa.Tương tự như bố thí cho nên Trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ được gọi là Ba La Mật Đa. Do đó khi phát nguyện độ sinh thì phát khởi tu tập Ba La Mật, vì vậy đức Phật nói chỉ có hàng bồ tát mới hành lục độ ba la mật.

Hành lục độ ba la mật của hàng Bồ tát là con đường thông suốt tứ đế với ý nghĩa đại thừa, tứ đế này không chỉ đem lại quả cho mình mà còn cho nhất thiết chúng sinh, một tứ đế không giới hạn, ta cũng có thể gọi đây là đại thừa tứ đế.

Trong lục độ ba la mật bố thí được đứng đầu, bởi bố thí là việc hành ngay sau khi phát nguyện, vì việc nguyện độ sinh sẽ khởi động lập tức đến tâm bố thí. Nếu nguyện cho cá nhân mình thì lời phát nguyện này chỉ là cầu xin. Hành được nguyện chân chính này thì nghiệp sẽ được tiêu diệt, cho nên thật tính của nghiệp chính là nguyện và vọng tính của nguyện là nghiệp, dụ như thật tính của mình là mình đây, còn mình trong giấc mơ cũng là mình, nhưng hai loại mình này không phải một mà cũng không phải là hai, cho nên nghiệp và nguyện cũng tương tự như vậy, tức là dùng cái ngã của nghiệp mà phát nguyện và nghiệp này chịu sự chỉ dẫn của nguyện, hành theo con đường của nguyện, thì nghiệp này có thể tạm gọi là nghiệp giải thoát và nó chính là nguyện, thế nên thật tính của nghiệp chính là nguyện. Ngài Vĩnh Gia nói thật tính của vô minh tức là Phật tính, Phật tính chính là nguyện và thật tướng của cái thân huyễn hóa này chính là pháp thân. Trong giấc mơ thân của mình là huyễn hóa, bản thể chân thật của nó chính là cái thân này, cho nên nghiệp được cải thành nguyện, vì vậy tất cả chúng sinh phát nguyện đều chứng quả, có nghĩa là thoát ly khỏi tam giới gia, tức lìa khỏi nghiệp đau khổ, nghiệp sinh lão bệnh tử, nghiệp tham sân si. Từ lúc ra đời cho đến khi chết luôn sống với nan hành, tức là muốn duy trì mạng sống này không phải là chuyện dễ, có được kiến thức cũng không phải dễ, khi trưởng thành có được công ăn việc làm cũng không dễ, duy trì và tăng tiến trong việc làm cũng không dễ, lập được mái ấm gia đình không phải là dễ, sinh con và nuôi dưỡng con cũng không phải dễ. Khi con lớn để có thể nhờ đến cũng không phải là dễ. Đến già có được cuộc sống yên ổn cũng không phải dễ. Để được cái chết an lành cũng không phải là dễ. Sau khi chết được đầu thai thân người cũng không phải là dễ.

Vì vậy suốt trong cuộc sống của con người đều là hành nan sự, nghiệp thúc đẩy nên con người phải hành nan sự như vậy. Nhưng vì là nghiệp nên con người không thấy là nan hành mà lại chấp nhận làm việc này, không những cá nhân mình làm mà còn truyền lại cho con cháu làm việc nan hành. Thế nhưng khi tìm đến cách giải quyết việc nan hành này thì con người lại cho là việc khó nhất, đó là việc phát nguyện để giải quyết tất cả các nỗi khó đó.

Và rồi con người lại cho phát nguyện là việc cực kỳ khó, mà chấp nhận hứng chịu mọi việc khó trong đời này và vô lượng đời sau. Nhưng khi phát nguyện rồi thì tất cả các điều mà thế nhân tưởng là khó đều trở thành dễ. Thí dụ như khi không phát nguyện thì việc bố thí thật là khó, thế nhưng khi đã phát nguyện thì việc làm bố thí này thật là dễ dàng và ngược lại, có nghĩa là khi đã phát nguyện thì làm những việc do nghiệp thúc đẩy lại cảm thấy rất là khó hành, dụ như việc cầu mong chức tước, lập gia đình… Vì vậy chính cái nguyện mới đưa mình và nhất thiết chúng sinh đến sự an lạc giải thoát thật sự, bởi vì có vào được cảnh giới của nguyện thì mới được tự tại, ngoài nguyện ra thì không thể nào tự tại được, vì đôi khi thế nhân muốn bỏ mọi sự đau khổ hay là sinh lão bệnh tử, nhưng không thể nào lìa nó được, vậy mới biết đó là nghiệp hay trong đạo Phật thường nói là vô minh.

Nếu lập nguyện thì có thể thông hiểu được, tại sao chúng sinh phải luôn chịu cái quả khổ như vậy, và qua đó mới có thể cứu được mình và chúng sinh. Ngài Pháp Tạng tỳ kheo cũng lập nguyện mà thành Phật, lại cũng do lập nguyện mà cảnh giới của Pháp Tạng là cực lạc, không còn gì là khổ nửa.

Khi quy y với đức Phật A Di Đà chúng sinh hay lầm lẫn: ”Quy y nhân, bất quy Pháp”, trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân có nhấn mạnh rằng: “Nếu bất cứ ai muốn báo ân chư Phật thì nên tu tứ Y”.

Tứ Y đó là:

  • Y pháp bất y nhân: y theo pháp chứ không y theo con người.
  • Y nghĩa bất y cú: y theo nghĩa của câu văn chứ không y theo chữ của câu văn.
  • Y trí bất y thức: y vào hiểu biết chứ không y theo mắt thấy tay nghe. (thí dụ như lá cờ rũ xuống không phải là hình chữ nhật, nhưng thật sự lá cờ hình chữ nhật )
  • Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa: Y vào những gì sáng tỏ rõ ràng, theo đây có thể nói rằng y vào nguyện, còn y vào nghiệp đều là bất liễu nghĩa hết.

Người nào tu như vậy tức là biết báo ân Phật.

Thế nhưng hầu hết tất cả chúng sinh quy y theo Phật Di Đà đều quy y nhân mà không quy y pháp, có nghĩa là chúng sinh không quy y bổn nguyện của Ngài, vì vậy chúng sinh chỉ biết kính trọng Phật Di Đà mà không hề biết phát nguyện, cho nên không hành được nguyện của Ngài, tức là nguyện độ chúng sinh. Chúng sinh nghe Phật Thích Ca dạy quy y Phật Di Đà, thì lại y cú bất y nghĩa, vì Phật Di Đà có phát bốn mươi tám nguyện độ nhất thiết chúng sinh, nên chúng sinh cần quy y Ngài, tức có nghĩa là quy y nguyện của Ngài.

Giả sử chúng sinh y theo bất liễu nghĩa có nghĩa là y theo nhân, chúng sinh cũng có thể vãng sinh, nhưng chỉ hạ phẩm, cho nên không thấy được Phật Di Đà, bởi vì Phật Di Đà là pháp, cho nên khi Ngài Ưu Ba Ly hỏi Phật Thích Ca trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân: “Quy Y Phật là quy y pháp thân hay là quy y sắc thân?”. Phật trả lời: “Quy y pháp thân”.

Vì sắc thân là hư huyễn, chỉ có pháp thân mới là thân thật của chư Phật, cho nên ngay lúc quy y pháp thân thì đã quy Phật, quy y pháp và quy tăng vì Phật là người giác ngộ và là bậc pháp vương. Khi thờ kính Phật Di Đà mà chưa bao giờ thật thấy được Phật là vì chỉ thấy sắc thân của Ngài mà không hề thấy pháp thân của Phật Di Đà, khi thấy sắc thân thì không phải là Phật thật, cho nên khi sinh về cõi cực lạc không thấy được Phật Di Đà.

Trong Kinh Vô Lương Thọ nói hàng hạ phẩm không thể nào thấy được Phật Di Đà, từ hàng trung phẩm trung sinh trở xuống không thể nào thấy được Phật. Muốn thật thấy được Phật Di Đà thì phải thấy bằng liễu nghĩa, bằng trí, bằng nghĩa và bằng pháp. Nếu nhìn Phật bằng nhân, cú, thức và bằng bất liễu nghĩa thì không nhận ra được Phật thật. Tổ Vĩnh Minh Diên Thọ nói: “Mười người tu tịnh độ thì mười người chứng”. Nếu theo nghĩa của thượng phẩm thì những hạng người đó đều nhờ đã phát nguyện của Pháp Tạng tỳ kheo, tức là độ nhất thiết chúng sinh. Người thật sự phát nguyện độ chúng sinh là lấy nguyện này làm sinh mạng, trong luận đại trượng phu có nói: “Đức Bổn Sư đã trải qua bao nhiêu đời xả thân, thọ thân”.

Với cái nhìn của nghiệp thì Ngài có sinh tử, nhưng với cái nhìn của nguyện thì vô sinh, vô tử. Sắc thân thì thọ bao đời sinh tử, nhưng pháp thân là nguyện thì vô sinh tử. Cho nên với cái sinh tử này làm nguyện của Ngài kiên cố và thọ mạng lâu dài mà không bị diệt, do nguyện xả thân và thọ thân nên pháp thân của Như Lai trường thọ, còn gọi là Vô Lượng Thọ. Nguyện này đồng thời quang minh vô cùng nên cũng được gọi là Vô Lượng Quang.

Nếu người nào phát nguyện độ sinh như Phật Di Đà, thì nguyện của người ấy và nguyện của Phật Di Đà hòa nhập lại với nhau, giống như là ánh đèn nhỏ và ánh đèn lớn hòa lại nhau, nên không còn phân biệt được đâu là ánh sáng của đèn nhỏ và đâu là ánh sáng của đèn lớn nữa. Khi phát nguyện được như vậy thì mới thật sự sinh vào cảnh giới nguyện của Phật Di Đà, đó mới là cảnh giới chân chính và do sống bằng nguyện nên đủ cả thọ và quang, không còn bị nghiệp sai xử. Cảnh giới của tịnh độ và thân Phật là một, vì cảnh giới tịnh độ do nguyện mà thành, nếu lìa nguyện mà thấy cảnh giới Phật và thân Phật đều là hư vọng.

Y theo nguyện thì thấy được Phật Di Đà và cảnh giới cực lạc chân chính, tỏa khắp mười phương và suốt ba đời, do đó mà ngay trong cõi ta bà cũng không thấy khổ hà huống là ở Cực lạc.

Khi đã phát tâm quy y về Phật Di Đà thì nên quy y về nguyện của Ngài. Y vào vô lượng quang, y vào nguyện của Phật Di Đà, y vào pháp của Phật Di Đà, y như vậy tức là trí, đó mới là chân chính quy y Phật Di Đà.

Khi ấy tất cả nghiệp hoàn toàn nương về nguyện, pháp, trí, thật nghĩa của Ngài, cho nên sẽ cảm được Ngài, do đó mới nói bất thối bồ tát vi bạn lữ, là vì chúng sinh cùng bồ tát dung thông với nhau.

Nếu theo nghiệp mà suy tưởng cõi Phật, thì cảnh giới ấy cũng do nghiệp của chúng sinh tự tạo ra, cho nên không thể nào dung thông với Phật hay bồ tát. Vì mỗi chúng sinh đều có nghiệp riêng nên khi biệt nghiệp va chạm với nhau thì liền sinh ra phiền não. Vì vậy khi quy y với Phật Di Đà thì cần nên phát nguyện, nhờ phát nguyện mà lục ba la mật được phát sinh, và làm tất cả các thiện pháp như bố thí, phóng sinh, từ thiện,.. để hồi hướng vãng sinh.

Đối với người sống vì nghiệp thì sợ hãi việc không vãng sinh, nhưng đối với người phát nguyện thì không còn sợ nữa, thậm chí cho đến không cần phải nguyện vãng sinh nữa, mà chỉ cần nguyện sao cho cái nguyện cứu tế, độ sinh được vô lượng thọ, được như vậy thì không cầu nhưng vẫn được vãng sinh.

Nhưng đối với người đầy nghiệp chướng, nghe như vậy thì khởi tâm sợ hãi, và nghĩ rằng như thế thì mình không cầu vãng sinh tịnh độ hay mình không phải là tu theo pháp môn tịnh độ. Trên phương diện của nghiệp thì nói là cầu sinh tịnh độ, nhưng một khi phát nguyện thì nhận thấy phát nguyện là đã trụ ở cửa sinh tịnh độ rồi, dụ như trong Kinh Di Đà: “Nhược dĩ sinh, nhược đương sinh”. Nếu nguyện được kiên cố và thọ mạng lâu bền trải qua nhiều đời nhiều kiếp thì nguyện đó thuộc về vô lượng thọ, nhất định phải vãng sinh về thượng phẩm hay cõi thường tịch quang, cho nên tất cả chư Phật hay bồ tát đều nguyện “nếu không độ sinh thề không thành chính giác”, dụ như ngài Địa Tạng nguyện:”Địa ngục vị không thệ bất thành Phật” hoặc ngài A Nan thệ: “Như nhất chúng sinh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn”, cũng như Phật A Di Đà thường xuyên lập lại trong bốn mươi tám lời nguyện:”Không thành chánh giác, nếu không thành tựu sự độ sinh”.

Bồ tát luôn trụ trong sinh tử, nghĩa là không xả nghiệp, thế nhưng nghiệp này trở thành công cụ của nguyện độ sinh, vì vậy đức Bổn sư mới xả thân và thọ thân bao kiếp vì chúng sinh. “Nghiệp độ sinh” của ngài được tự tại, giải thoát, vì thế nghiệp này gọi là thị hiện. Vì vậy chư Phật và Bồ tát không lìa nghiệp, tức là không lìa bỏ cảnh giới ngũ trược ác thế này, thế nhưng không giống như hàng phàm phu.

Do nguyện nên được vô úy với nghiệp để xả thân độ sinh, dụ như bà lão hỏi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm:”Hòa thượng dạy cho con pháp môn nào mau mau thành Phật, bởi vì con lớn tuổi không có thời gian nhiều nữa”. Ngài trả lời rằng:”Bà nên làm tất cả mọi thiện pháp, nhưng luôn phát nguyện đem công đức hồi hướng cho nhất thiết chúng sinh đồng thành Phật đạo, con đây là người cuối cùng”. Ngài đã chỉ cho bà lão con đường thoát ra khỏi nghiệp của mình, nguyện càng lớn càng mạnh thì mau dứt được nghiệp và ngược lại, nguyện lớn này chính là nguyện độ nhất thiết chúng sinh.

Vì vô trí nên chúng sinh suy nghĩ, “nếu không hành được sự phát nguyện của mình thì sẽ bị đọa”, thế nhưng chúng sinh có bao giờ mà không đọa. Hoặc cho rầng “đợi khi vãng sinh lên cực lạc thế giới rồi sẽ phát nguyện”, song chúng sinh đã quên rằng phải phát nguyện tối thiểu đó là nguyện theo Ngài, do đó Bổn sư mới nói nên phát nguyện niệm danh hiệu Phật Di Đà để giảm đi cái niệm ngã của mình bằng tăng trưởng niệm Phật.

Khi đã đến giai đoạn thường luôn niệm Phật, đó là nhất tâm bất loạn, thế nhưng không phải là chuyện dễ hành, dụ như ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, vị mà được chọn lấy ngày tịch của Ngài là ngày vía Phật Di Đà, Ngài là tổ thứ sáu của liên tông, Ngài niệm mỗi ngày mười vạn lần danh hiệu Phật.

Niệm niệm danh hiệu Phật Di Đà tức còn có nghĩa là:

  • Niệm niệm đều nguyện thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.
  • Niệm niệm đều nguyện thâm nhập kinh tạng trí tuệ như hải.
  • Niệm niệm đều nguyện thể giải đại đạo phát vô lượng tâm.

Đó chính là niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tăng.

Nếu niệm được như trên thì dù có không muốn vãng sinh cũng không được, sự vãng sinh đó có thể được gọi là bất động vãng sinh, vì tuy vẫn còn hiện hữu trong thế gian này nhưng cũng đã vãng sinh rồi, cho nên không còn khởi tâm sợ chết, mà cái chết chỉ là nghiệp sinh tử không còn liên quan gì ngã nguyện này, như ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói:”Liễu tri sinh tử vô tương quan”. Có nghĩa là cái sinh tử với ta không có liên quan với nhau, bởi cái chết chỉ là nghiệp, còn ta đây là nguyện.

Do vậy quy y Phật Di Đà hay bất cứ chư Phật nào cũng đều phải phát nguyện độ sinh, như thế thì đời đời kiếp kiếp được an lạc, bình an vô sự. Vì vậy như người lớn tuổi không chỉ cần niệm danh hiệu vãng sinh thôi mà cần phải nỗ lực phát nguyện và hành việc thiện như bố thí, cứu tế, ăn chay, phóng sinh… để tích tụ được phước. Dụ như trong kinh Địa Tạng có nói người đã quá cố mà cũng cần phải làm phúc báo cho họ, hà huống khi mình còn sống mà không tự tạo dựng phúc báo cho mình, khi còn sống mà hành thiện thì được bảy phần trọn vẹn, còn khi chết thì chỉ có được một phần mà thôi.

Khi hành thiện pháp thì hồi hướng cho mình và đối tượng được cứu giúp đồng phát bồ đề tâm, đồng sinh Tây phương, đồng thành Phật đạo, hàng được mình giúp đỡ cũng đã giúp cho mình thành tựu được nguyện, như trong luận Đại Trượng phu nói: “Người bố thí thường phải tri ân người nhận”. Vì vậy người sinh thượng phẩm có thể hóa thân hay thị hiện trong cõi này để cứu độ chúng sinh, có nghĩa không lìa tịnh độ mà ở cõi ta bà độ sinh, đó là trụ nơi nguyện, cho nên mới biết Phật đạo ngay trong nguyện, tịnh độ ở ngay trong nguyện, quả Phật ngay trong nguyện, nguyện đó từ trong ta phát ra, từ đây mà biết được nguyện đó bản lai xưa nay vẫn có trong ta và mọi chúng sinh.

Phật hay bất cứ cảnh giới nào cũng không phải từ bên ngoài đến, mà chính từ trong tâm mà thành, tâm đó chính là nguyện vậy, vì bản lai đã có nguyện nên gọi là bản nguyện. Thế thì ta nương vào bản nguyện của Phật Di Đà để khai mở bản nguyện của mình, nương vào tha lực để khai mở cái tự lực, như câu kệ trong kinh Hoa nghiêm nói: ”Như nhập ám thất trung, vô đăng bất năng kiến, Phật pháp vô nhân thuyết, tuy huệ bất năng liễu”. Nghĩa là như ta vào căn nhà tối tuy có mắt nhưng không có đèn cũng không thấy gì hết, cũng như bổn lai mình có Phật tính, nhưng không có người nói thì cũng không thể nào tự ngộ được. Cho nên nhờ vào đức Phật thuyết mà ngộ được, vì vậy phát nguyện vào nguyện lực Phật Di Đà tất phát sinh được bản nguyện của mình vậy.

Bản nguyện này hàm chứa đủ tính chất vô lượng quang và vô lượng thọ. Vì vậy quy y vào bản nguyện của Phật, đó là quy y Vô Lượng Quang và quy y Vô Lượng Thọ. Vô lượng là thể, còn quang và thọ là dụng của thể. Cho nên khi niệm “Nam mô A Di Đà Phật” chính là niệm nguyện, nguyện này nhiếp nhất thiết pháp, nên nói là vô lượng, khi niệm Phật mà Phật và “pháp tiếp độ” hiện ra nơi bản nguyện của ta thì niệm Phật này mới được coi như là chân chính, và là tam muội.

Nếu niệm Phật mà khởi động từ tinh thần nhị biên tha và ngã, tức là tướng Phật và tôi, như thế là có đủ tứ tướng như nhân, ngã, chúng sinh và thọ mạng, thì đối với kinh Kim cương như vậy vẫn không thấy Phật, chỉ khi nào nhận thấy được bản nguyện của mình thì mới thấy pháp thân Phật, đó mới chính là ý nghĩa quy y Phật A Di Đà, được như vậy thì khẳng định mười người tu mười người chứng được quả.

Tóm lại, chúng ta cần nên phát nguyện của Pháp Tạng tỳ kheo “nguyện độ nhất thiết chúng sinh”, nguyện lập cảnh giới tịnh độ cho nhất thiết chúng sinh. Nếu chúng sinh an trụ trong nguyện thì được an lạc, tự tại và thanh tịnh, còn an trụ trong nghiệp thì bị sinh tử luân hồi thiêu đốt, vì thế tịnh độ không ngoài nguyện, do không phát nguyện nên hàng Thanh văn, Duyên giác không có tịnh độ.

Cuối lời cho buổi giảng nhân dịp ngày vía Phật A Di Đà, xin hồi hướng và nguyện hồng ân Tam Bảo từ bi gia hộ cho Thầy trụ trì chùa Từ Dung, quý Thầy Cô cùng chư Phật tử hiện diện, đời đời kiếp kiếp luôn luôn quy y vào được bản nguyện của Phật A Di Đà, đồng phát bồ đề tâm, đồng sinh Tây phương và đồng thành Phật đạo.

Nguyện đem công đức này hồi hướng cho cha mẹ chúng ta hiện còn tại thế được phước thọ thăng long, cha mẹ quá vãng cũng như cha mẹ nhiều đời đều được sinh Tây phương lạc quốc.

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

3337 Tổng số lượt xem 1 lượt xem ngày hôm nay