» » » Kinh Viên Giác

Kinh Viên Giác

Mục Bộ Kinh Tập | 0

KINH VIÊN GIÁC thuộc tập T17, kinh số 842 (Bộ Kinh Tập), tổng cộng 1 quyển, – Đường Phật Đà Đa La dịch, bản Việt dịch của HT Thích Nhất Chân

Phần Tựa

Tôi nghe như vầy: Một thời Bạc Già Bà nhập vào Tam muội chính thọ [gọi là] Tạng Thần Thông Đại Quang Minh, là nơi trụ trì sáng suốt đẹp đẽ (quang nghiêm) của tất cả chư Như Lai, là vùng Giác thanh tịnh của các chúng sinh. [Lúc ấy] thân tâm ngài tịch diệt [và đều] thuộc về lãnh vực căn bổn hoàn toàn bình đẳng (bình đẳng bổn tế), [hiện hữu] trọn vẹn đầy hết khắp mười phương (viên mãn thập phương), [hoàn toàn] tùy thuận theo lý “không hai” (bất nhị tùy thuận). Và trong cảnh giới Không Hai hiện ra các Tịnh Độ.

Ngài cùng với các đại Bồ Tát Ma Ha Tát gồm trăm ngàn vị. Tên các vị ấy là: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ tát, Phổ Nhãn Bồ Tát, Kim Cương Tạng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát, Oai Đức Tự Tại Bồ Tát, Biện Âm Bồ Tát, Tịnh Chư nghiệp Chướng Bồ Tát, Phổ Giác Bồ Tát, Viên Giác Bồ tát, Hiền Thiện Thủ Bồ Tát … là các vị Bồ Tát cầm đầu, cùng với các quyến thuộc đồng nhập vào Tam muội, đồng trụ trong Pháp hội bình đẳng của Như Lai.

*****

Chương Văn Thù thứ 1

Nhân đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế tôn đại bi, xin vì các Pháp chúng đến trong hội này mà nói lên sự thực hành Pháp thuộc giai đoạn gieo nhân thanh tịnh vốn dĩ của Ngài (bổn khởi thanh tịnh nhân địa pháp hành); cũng như nói lên cách thức lìa xa các bệnh với các Bồ tát đã phát tâm thanh tịnh đối với Đại Thừa, khiến cho chúng sinh nào trong đời mạt pháp vị lai mà cầu Đại Thừa không bị đọa vào tà kiến.

Nói như thế xong, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng:

– Khéo thay, khéo thay, thiện nam tử! Như các ông mới có thể vì các Bồ Tát mà tìm hỏi việc thực hành Pháp thuộc giai đoạn gieo nhân của Như lai, mới có thể vì các chúng sinh cầu pháp Đại Thừa trong đời mạt pháp được chân chính yên trụ vững vàng (đắc chính trụ trì) [trong Đại Thừa] mà không đọa lạc vào tà kiến. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà giảng nói.

Thời Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi vân lời hân hoan, cùng chư đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, đấng Vua Pháp Tối Thượng không gì cao hơn có pháp môn đại đà la ni gọi là Viên Giác, từ đó tuôn chẩy ra tất cả các Chân Như thanh tịnh, Bồ Đề, Niết Bàn, cùng các Ba La Mật giáo huấn cho Bồ Tát. Nhân căn bổn [thành Đạo] của tất cả Như Lai [gieo trồng thực hành] đều do nơi chiếu sáng “viên” mãn tướng “giác” thanh tịnh [nhờ đó] mà vĩnh viễn đoạn dứt vô minh, mới thành Phật Đạo.

Thế nào là Vô Minh? Tất cả các chúng sinh từ thuở không có lúc ban đầu cho đến nay điên đảo đủ cách, y như kẻ mê, bốn phương rong ruổi, vọng nhận bốn Đại là tướng của thân mình, hình bóng đối tượng sáu trần (lục trần duyên ảnh) là tướng của tâm mình. Ví như mắt có bệnh thấy hoa trong không hoặc thấy mặt trăng thứ hai.

Thiện nam tử, trong không thật sự không có hoa mà do kẻ bệnh vọng chấp, do vọng chấp nên không phải chỉ là lầm lạc (hoặc) tự tính của hư không, mà còn thành mê lầm (mê) luôn cả “chỗ” [có] hoa thật phát sinh nữa (thật hoa sinh xứ). Do Vọng ấy mà có sinh tử luân chuyển, thế nên gọi là Vô Minh. Thiện nam tử, Vô Minh này không phải thật có bản thể (phi thật hữu thể), mà như người trong mộng, lúc mộng thì không phải là không có, song đến khi tỉnh rồi thì rõ ràng là không có đâu hết (liễu vô sở đắc). Như các hoa trong không [cũng vậy] khi diệt đi trong không, thì không thể nói được rằng là quyết chắc có “chỗ” diệt (hữu định diệt xứ). Tại sao vậy? Vì không hề có “chỗ” sinh vậy. Tất cả chúng sinh ở nơi “không hề có sinh” mà vọng thấy có sinh và diệt (ư vô sinh trung vọng kiến sinh diệt), thế nên mới nói đó là sinh tử luân hồi.

Thiện nam tử, Như Lai ở giai đoạn gieo nhân mà tu Viên Giác là do “biết” (tri) [ra lẽ] hoa trong không kia chính tức là không hề có luân chuyển, cũng không có thân và tâm nào để thọ chịu sinh tử kia. Không phải là do làm ra mà thành không có như thế, mà do bổn tính vốn là không có như thế vậy (phi tác cố vô, bổn tính vô cố). Cái “biết hiểu” (tri giác) kia y như hư không; cái “biết” như hư không ấy (tri hư không giả) chính [lại] là tướng hoa trong không, song cũng không thể nói là không có tính “biết hiểu” (diệc bất khả thuyết vô tri giác tính). Có [biết] và không có [biết] đều khiển trừ hết, thì như thế gọi là tùy thuận theo Tịnh Giác. Tại sao vậy? Do [như] tính của hư không [vậy], do thường có bất động, do trong Tạng Như Lai không có khởi [lên] diệt [xuống], do không có thấy biết (tri kiến), do như tính của Pháp Giới vốn cứu cánh và viên mãn có khắp mười phương. Như thế thì gọi là thực hành Pháp trong giai đoạn gieo nhân (nhân địa pháp hành). Bồ Tát nhân đó mà phát tâm thanh tịnh ở giữa đại chúng, chúng sinh đời mạt y theo đó mà tu hành sẽ không đọa tà kiến.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa ấy nên nói kệ rằng:

Văn Thù ông phải biết
Tất cả các Như Lai
Từ gốc lúc gieo nhân
Đều dùng trí huệ Giác
Thấu tỏ rõ Vô Minh
Biết như hoa trong không
Lại như người trong mộng
Khi tỉnh chẳng có đâu.
Người giác như hư không
Bình đẳng không động chuyển
Giác biến mười phương giới
Tức đắc thành Phật Đạo.
Không chỗ nào huyễn diệt
Thành Đạo cũng chẳng có
Bổn tính viên mãn vậy.
Bồ tát ở nơi ấy
Mà phát Bồ Đề tâm
Đời mạt các chúng sinh
Tu theo miễn tà kiến.

Chương Phổ Hiền thứ 2

Nhân đó, Bồ Tát Phổ Hiền ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế tôn đại bi, xin vì chư Bồ Tát chúng trong hội này cùng với tất cả chúng sinh tu theo Đại Thừa trong đời mạt pháp nghe được cảnh giới thanh tịnh thuộc Viên Giác này, thì họ phải tu làm sao?

Thế Tôn, nếu các chúng sinh ấy biết [tất cả] như huyễn, thân và tâm cũng là huyễn, thì làm sao lại lấy huyễn mà tu với huyễn?

Nếu các tính huyễn đều tận diệt hết, thì sẽ không còn có tâm nữa, lấy ai ra mà tu hành đây? Thì làm sao lại nói là “tu hành như huyễn”?

Nếu các chúng sinh mà vốn không tu hành, ở trong sinh tử thường ở trong huyễn hóa, lại chưa từng tỏ rõ cảnh giới như huyễn, thì làm sao với tâm vọng tưởng ấy mà làm cho giải thoát được (linh vọng tưởng tâm vân hà giải thoát) ?

Xin ngài vì tất cả chúng sinh đời mạt mà đưa ra phương tiện nào để họ tu tập thứ tự từ từ, khiến cho các chúng sinh được vĩnh viễn lìa khỏi các huyễn.

Nói như thế xong, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo với Phổ Hiền Bồ Tát rằng:

– Khéo thay, khéo thay, thiện nam tử ! Như các ông mới có thể vì các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp mà tu tập tam muội Như Huyễn cùng các phương tiện thứ tự từ từ (phương tiện tiệm thứ) của Bồ Tát, [nhờ đó] mà làm cho chúng sinh được lìa khỏi các huyễn. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà giảng nói.

Thời Bồ Tát Phổ Hiền vân lời hân hoan cùng chư đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, tất cả mọi loại huyễn hóa của chúng sinh đều sinh khởi [từ] Tâm vi diệu Viên Giác của Như Lai (giai sinh Như Lai viên giác diệu tâm). Cũng như hoa trong không là từ không mà có, hoa huyễn kia tuy diệt, song tính của không không hề hoại. Tâm huyễn của chúng sinh [mà diệt là] cũng y theo [lẽ] huyễn mà diệt, các huyễn diệt hết mà Tâm Giác vẫn không hề động. Y theo huyễn mà nói Giác, thì [Giác ấy] cũng vẫn chỉ là huyễn; hoặc nói là có Giác, thì cũng vẫn là chưa lìa huyễn; mà nói là không có Giác, thì cũng y vậy chẳng khác gì [cũng vẫn chỉ là huyễn]. Thế nên huyễn diệt thì gọi là “bất động”.

Thiện nam tử, tất cả Bồ Tát và chúng sinh đời mạt cần phải lìa xa cảnh giới hư vọng huyễn hóa. [Được thế là] do kiên cố chấp giữ tâm lìa xa ấy, tâm [lìa xa] lại như huyễn nên cũng phải lìa xa [tâm lìa xa ấy]; lìa xa cũng chính là huyễn nên cũng phải lìa xa [lìa xa ấy]; lìa lìa xa này cũng là huyễn nên lại phải lìa xa nữa… Bao giờ không còn gì để lìa nữa, thì mới chính là trừ hết các huyễn. Ví như dùi lửa hai khúc củi làm nhân cho nhau, lửa phát ra thì củi tận, tro bay khói lặng. Dùng huyễn để tu huyễn cũng y như vậy, các huyễn tuy tận hết mà không bị rơi vào đoạn diệt.

Thiện nam tử, biết huyễn tức là lìa [huyễn] (tri huyễn tức ly) không cần phải đặt ra phương tiện. Lìa huyễn tức là Giác cũng không hề có thứ tự từ từ. Tất cả Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp y theo đây mà tu hành, thì như thế mới có thể vĩnh viễn lìa hết các huyễn.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ rằng:

Phổ Hiền ông phải biết
Tất cả huyễn Vô minh
Vô thủy của chúng sinh
Đều kiến lập từ tâm
Viên Giác của Như Lai,
Y như hoa trong không
Y không mà có tướng
Mà nếu không hoa diệt
Hư không vẫn không động,
Huyễn từ chư Giác sinh
Huyễn diệt Giác viên mãn
Bởi Giác tâm bất động.
Nếu chư Bồ Tát kia
Và chúng sinh đời mạt
Thường phải lìa xa huyễn
Các huyễn trọn đều lìa,
Như trong củi sinh lửa
Củi tận lửa cũng diệt,
Giác ắt không thứ tự
Cũng không hề phương tiện.

*****

Chương Phổ Nhãn thứ 3

Nhân đó, Bồ Tát Phổ Nhãn ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế tôn đại bi, xin vì chư Bồ Tát chúng trong hội này cùng với tất cả chúng sinh trong đời mạt pháp mà diễn nói về thứ tự tu hành từ từ (tu hành tiện thứ) của Bồ Tát: Phải tư duy ra sao? Phải trụ giữ như thế nào? Chúng sinh chưa tỏ ngộ thì phải đưa ra phương tiện nào để làm cho khắp đều được khai mở tỏ ngộ?

Thế Tôn, nếu các chúng sinh kia mà không có phương tiện chân chính và không tư duy chân chính, thì khi nghe Phật Như Lai nói về Tam muội này, tâm sẽ sinh mê mờ, thời không thể tỏ ngộ mà tiến vào (ngộ nhập) Viên Giác được.

Xin ngài ban bố từ bi, vì chúng con và chúng sinh đời mạt pháp mà lập nói ra (giả thuyết) phương tiện.

Nói như thế xong, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Nhãn rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về thứ tự tu hành từ từ, tư duy, trì giữ, cho đến lập nói ra đủ loại phương tiện. Ông nay nghe cho kỹ, ta sẽ giảng nói cho ông.

Thời Bồ Tát Phổ Nhãn vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, các Bồ Tát mới học (tân học) và chúng sinh đời mạt pháp mà muốn cầu tâm Viên Giác thanh tịnh của Như Lai, thì phải chân chính niệm tưởng (chính niệm) lìa xa các huyễn, trước hết y theo pháp Sa ma tha mà thực hành, kiên trì cấm giới, xắp xếp đồ chúng, yên ngồi trong tĩnh thất.

(1) Thường nghĩ tưởng như sau: Thân ta ngày nay do bốn Đại hòa hợp, nào là lông, tóc, móng tay, răng, da, thịt, gân, cốt, tủy, não, cấu sắc, đều quy về Đất. Dãi, nước mũi, mủ, máu, nước dãi, nước bọt, đờm, nước mắt, tinh khí, nước tiêu nước tiểu, đều quy về Nước. Hơi nóng quy về Lửa. Chuyển động quy về Phong. Bốn Đại mỗi thứ tách lìa, ngày nay thân vọng kia hiện ở chỗ nào? Thời thấy rõ thân này rốt cuộc không có tự thể, lấy sự hòa hợp [của bốn Đại] làm tướng, thật y như huyễn hóa.

Bốn duyên hợp lại chỉ là giả (giả hợp), mà vọng có sáu căn. Sáu căn và bốn Đại trong với ngoài hợp thành, mà vọng ra “như là có [đối tượng để] duyên” (vọng hữu duyên khí), trong ấy lại tích tụ tợ như có tướng duyên, giả gọi là “tâm”. Thiện nam tử, tâm hư vọng này nếu không có sáu trần ắt không thể có được, mà khi bốn Đại phân tán ra, thì không trần cảnh nào có được. Khi ấy trần cảnh và [tâm] duyên mỗi thứ đều quy về tán diệt, cuối cùng không thấy có tâm duyên nào nữa hết (vô hữu duyên tâm khả kiến).

(2) Thiện nam tử, do thân huyễn của các chúng sinh kia diệt, nên tâm huyễn cũng diệt. Do tâm huyễn diệt nên trần huyễn cũng diệt. Do trần huyễn diệt nên cái “diệt huyễn” kia cũng diệt. Do cái “diệt huyễn” diệt thời [cái gì] không phải huyễn sẽ không diệt. Ví như mài kính, cấu hết thì sáng hiện. Thiện nam tử, phải biết thân và tâm đều là huyễn cấu. Tướng cấu đã vĩnh viễn diệt, thì mười phương đều thanh tịnh.

Thiện nam tử, ví như bảo châu ma ni thanh tịnh hiện bóng năm mầu, thì tùy theo các phương đều hiện năm mầu. Các kẻ ngu si thấy ngọc ma ni kia thật có năm mầu. Thiện nam tử, tính thanh tịnh của Viên Giác hiện nơi thân và tâm, tùy theo mỗi loại [chúng sinh] thế nào thì hiện như vậy (tùy loại các ưng), các kẻ ngu si cho rằng Viên Giác thanh tịnh thật có tự tướng thân tâm như thế, cũng y như vậy. Do đó mà không thể rời xa huyễn hóa, thế nên ta nói thân và tâm là huyễn cấy, đối lại mà lìa huyễn cấu thì gọi đó là Bồ Tát. Cấu tận thì “đối lại” cũng không còn, tức không còn “đối” với cấu cùng người gọi tên (thuyết danh giả) nữa.

Thiện nam tử, Bồ Tát này cùng với chúng sinh đời mạt pháp do chứng đắc “hình bóng” các huyễn diệt (chư huyễn diệt ảnh tượng), thì lúc ấy liền đắc hư không vô biên thanh tịnh vô hạn (vô phương thanh tịnh vô biên hư không) do Giác hiển hiện khai phát ra (giác sở hiển phát).

Do Giác sáng khắp (viên minh) nên hiển ra tâm thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh nên thấy trần thanh tịnh. Do thấy thanh tịnh nên căn mắt thanh tịnh. Do căn [mắt] thanh tịnh nên nhãn thức thanh tịnh. Do [nhãn] thức thanh tịnh nên nghe trần thanh tịnh. Do nghe thanh tịnh nên căn tai thanh tịnh. Do căn [tai] thanh tịnh nên nhĩ thức thanh tịnh. Do [nhĩ] thức thanh tịnh nên giác trần thanh tịnh. Cứ thế cho đến mũi, lưỡi, thân và ý cũng đều như vậy.

Thiện nam tử, do căn thanh tịnh nên sắc trần thanh tịnh. Do sắc thanh tịnh nên thanh trần thanh tịnh. Hương, vị, xúc, pháp, cũng y như vậy. Thiện nam tử, do sáu trần thanh tịnh nên địa đại thanh tịnh. Do địa đại thanh tịnh nên thủy đại thanh tịnh. Hỏa đại và phong đại cũng y như vậy. Thiện nam tử, bốn Đại thanh tịnh nên mười hai Xứ, mười tám Giới và hai mươi lăm Hữu đều thanh tịnh.

Do các thứ ấy thanh tịnh nên mười Lực, bốn Vô Sở Úy, bốn Trí vô ngại, mười tám Pháp bất cộng của Phật, ba mươi bẩy Phẩm trợ Đạo, đều thanh tịnh. Cứ thế cho đến tám mươi bốn ngàn môn Đà la ni, tất cả đều thanh tịnh.

Thiện nam tử, do tất cả thật tướng [cũng như] tính đều thanh tịnh (nhất thiết thật tướng tính thanh tịnh) nên một thân thanh tịnh. Do một thân thanh tịnh nên nhiều thân thanh tịnh. Do nhiều thân thanh tịnh nên cứ thế cho đến chúng sinh khắp mười phương đều thanh tịnh Viên Giác. Thiện nam tử, do một thế giới thanh tịnh nên nhiều thế giới thanh tịnh. Do nhiều thế giới thanh tịnh nên cứ thế cho đến tận cùng hư không, bao trọn ba đời, tất cả bình đẳng, thanh tịnh, bất động.

Thiện nam tử, hư không bình đẳng bất động như thế, thời phải biết là Giác Tính bình đẳng bất động. Do bốn Đại bất động nên phải biết là Giác Tính bình đẳng bất động. Cứ thế cho đến tám mươi bốn ngàn môn Đà la ni bình đẳng bất động nên Giác Tính bình đẳng bất động.

Thiện nam tử, do Giác Tính có khắp mọi nơi (biến mãn), thanh tịnh, bất động, bao tròn (viên), không giới hạn, nên phải biết là sáu căn có khắp cùng pháp giới. Do căn có khắp cùng nên phải biết là sáu trần có khắp hết pháp giới. Do trần có khắp hết nên phải biết là bốn Đại có khắp cùng pháp giới. Cứ thế cho đến các môn Đà la ni có khắp cùng pháp giới.

Thiện nam tử, do Giác Tính vi diệu kia có cùng khắp hết, nên tính của căn và tính của trần không hề hư hoại không hề xen tạp (vô hoại vô tạp). Do căn và trần không hư hoại [không tạp] nên cứ thế cho đến các môn Đà la ni không hoại không tạp. Như trăm ngàn ngọn đèn cùng chiếu sáng một căn phòng, ánh sáng mỗi ngọn đều tỏa khắp hết mà không hề bị hoại không hề xen tạp.

Thiện nam tử, do Giác thành tựu, nên phải biết là Bồ Tát không trói buộc vào pháp, không cầu thoát khỏi pháp, không chán sinh tử, không ái Niết Bàn, không kính trì giới, không ghét hủy phạm cấm giới, không trọng tu tập lâu năm, không khinh mới học. Tại sao vậy? Do tất cả là Giác vậy. Ví như cái sáng của mắt nhận rõ (nhãn quang) cảnh trước mặt, cái sáng này tràn đầy khắp (viên mãn), hoàn toàn không thương không ghét. Tại sao vậy? Do bản thể của cái sáng này không hề phân hai (vô nhị) [cực đối nhau], không hề thương hay ghét.

Thiện nam tử, nếu Bồ Tát này và chúng sinh đời mạt pháp tu tập tâm [Giác] này mà được thành tựu, thì [sẽ thấy là] trong [sự thành tựu tâm Giác] ấy không có tu cũng không có thành tựu, [nà chỉ có] Viên Giác chiếu khắp, tịch diệt không phân hai [cực đối nhau]. Trong [sự thành tựu tâm Giác] ấy trăm ngàn vạn ức vô số không thể nói hết được lần số cát sông Hằng thế giới của chư Phật [hiện ra] y như hoa trong không lao xao khởi rồi lao xao diệt (loạn khởi loạn diệt), không phải chính tức là [tâm Giác] không phải tách lìa khỏi [tâm Giác] (bất tức bất ly), không có gì trói buộc không có gì giải thoát. Mới rõ chúng sinh xưa nay đã thành Phật rồi, sinh tử và Niết Bàn y như giấc mộng đêm qua.

Thiện nam tử, do như giấc mộng đêm qua nên phải biết là sinh tử cùng với Niết Bàn không khởi cũng không diệt, không đến cũng không đi. Những gì mà được chứng [chính chỉ là] không được gì hết cũng không mất gì hết (vô đắc vô thất), không nắm lấy được gì cũng không xả bỏ gì hết (vô thủ vô xả). Còn cái làm người chứng thời không hề có làm cũng không hề dừng chỉ (vô tác vô chỉ), không phải làm gì hết mà cũng không hề diệt (vô nhậm vô diệt). Ở trong sự “chứng” này không có cái gì chứng cũng không cái gì được chứng (vô năng vô sở), rốt cùng là không có “chứng” gì hết (vô chứng), cũng không ai người chứng (vô chứng giả), tất cả Pháp Tính bình đẳng không diệt hoại.

Thiện nam tử, Các Bồ Tát kia tu hành như vậy, tuần tự từ từ như thế, tư duy như thế, trụ giữ như thế, phương tiện như thế, khai mở tỏ ngộ như thế, cầu pháp như thế, thời sẽ không mê mờ.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa này nên nói kệ rằng:

Phổ Nhãn ông nên biết
Tất cả các chúng sinh
Thân tâm đều như huyễn
Tướng thân thuộc bốn Đại
Tâm tính quy sáu trần
Thể mỗi Đại tách ly
Ai là người hòa hợp ?
Từ từ tu như thế
Tất cả đều thanh tịnh
Bất động khắp pháp giới
Không tạo, ngừng, làm, diệt,
Cũng không ai người chứng.
Tất cả thế giới Phật
Y như hoa trong không
Ba đời đều bình đẳng
Rốt cùng không đến đi.
Bồ Tát mới phát tâm
Cùng chúng sinh đời mạt
Muốn cầu vào Phật Đạo
Phải tu tập như thế.

*****

Chương Kim Cương Tạng thứ 4

Nhân đó, Nhân đó, Bồ Tát Kim Cương Tạng ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi đã khéo vì tất cả chư Bồ Tát chúng tuyên dương sự thực hành Pháp trong giai đoạn gieo nhân, vốn là đại Đà la ni thanh tịnh Viên Giác của Như Lai, cùng các phương tiện tuần tự từ từ để khai mở sự mê muội mù mờ của chư chúng sinh, khiến cho trong hội pháp chúng nhờ Phật từ bi dạy bảo mà màng huyễn sáng tỏ, mắt huệ trong lành.

Thế Tôn, nếu chư chúng sinh vốn xưa nay đã thành Phật rồi, thì tại sao lại có ra tất cả các vô minh? Nếu các vô minh này là do chúng sinh sẵn có, thì nhân duyên gì mà Như Lai lại nói là [chúng sinh] xưa nay đã thành Phật rồi? Nếu dị sinh ở mười phương xưa nay đã thành Phật, sau đó lại khởi vô minh, thì tất cả các Như lai vào lúc nào sẽ sinh lại tất cả các phiền não đây?

Con xin ngài đừng bỏ tâm đại từ vô ngại, vì chư Bồ Tát mà mở ra tạng bí mật, cũng là để cho tất cả chúng sinh đời mạt pháp được nghe pháp môn liễu nghĩa thuộc giáo pháp của Tu đa la như thế mà vĩnh viễn đoạn dứt mọi nghi ngờ hối tiếc.

Nói như thế xong, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Kim Cương Tạng Bồ Tát rằng:

– Khéo thay, khéo thay ! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về phương tiện cứu cánh vô cùng bí mật thâm sâu. Đây là sự giáo hóa tối thượng của chư Bồ Tát, là Đại Thừa [ở mức độ] liễu nghĩa, có thể làm cho các Bồ Tát tu học trong mười phương và tất cả chúng sinh trong đời mạt pháp đạt được lòng tin dứt khoát vĩnh viễn đoạn hết nghi ngờ hối tiếc. Ông nay nghe cho kỹ, ta sẽ giảng nói cho ông.

Thời Bồ Tát Kim Cương Tạng vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, tất cả các thế giới nào đầu đuôi sinh diệt, trước sau có không, tụ tán khởi dừng, niệm niệm tương tục, tuần hoàn qua lại, đủ loại giữ bỏ (thủ xả), đều là luân hồi. Chưa ra khỏi luân hồi mà bàn về Viên Giác, thì tính Viên Giác kia cũng đồng với lưu chuyển. Nếu [đã thế mà đòi] miễn khỏi luân hồi, thì làm gì có sự việc như thế được! Ví như động đậy con mắt có thể [thấy thành] xao động mặt nước lắng trong, [ngược] lại như giữ yên mắt nhìn thì do đốm lửa quay vòng [mà lại thấy thành vòng lửa]; mây trôi mà [thấy] thành trăng chuyển, thuyền chạy mà [thấy] thành bờ đi, cũng y như vậy.

Thiện nam tử, [lực] xoay vòng còn chưa dứt mà [đòi] vật [xoay vòng] kia [phải] đứng lại trước [đã] còn không thể nào làm được, thì huống gì là [dùng] tâm cấu uế của sinh tử luân hồi chưa từng thanh tịnh mà quán Viên Giác của Phật, thì [Viên Giác của Phật] sao lại không “lòng vòng” (toàn phục) cho được? Thế nên các ông mới nẩy sinh ba nghi hoặc [như trên].

Thiện nam tử, ví như do màng “huyễn” (huyễn ế) [nơi mắt] nên vọng thấy hoa trong không, nếu màng huyễn mà trừ đi thì không thể nói là “màng này đã diệt thì lúc nào lại khởi lại tất cả các màng?”. Tại sao vậy? Bởi màng mắt và hoa không phải là hai pháp cần phải có nhau (tương đãi) [vì cả hai chỉ là huyễn không thật].

Cũng như khi hoa trong không diệt đi mất trong không, thì không thể lại nói rằng: “Hư không đến lúc nào lại khởi lại hoa trong không kia?” Tại sao vậy? Do hư không vốn không có hoa, không thuộc về [vấn đề] khởi [hoa] hay diệt [hoa].

Sinh tử và Niết Bàn đồng với khởi và diệt, còn Viên Giác vi diệu chiếu sáng (diệu viên giác chiếu) kia thì lìa ngoài hoa [trong không] và màng [lòa mắt]. Thiện nam tử, phải hiểu rằng hư không không phải là tạm có cũng không phải là tạm không có, thì huống gì là Viên Giác của Như Lai do tùy thuận mà làm thành bổn tính bình đẳng của hư không.

Thiện nam tử, như nấu chẩy quặng vàng [để lọc lấy vàng], thì vàng không phải do nấu chẩy ra mà có. Khi đã thành vàng thì không trở lại thành quặng nữa. [Cho dù] trải qua bất tận thời gian, tính vàng [trước sau] vẫn không hủy hoại, không nên nói rằng là “[vàng] vốn không hề thành tựu sẵn !” (bổn phi thành tựu). Viên Giác của Như lai cũng giống như vậy.

Thiện nam tử, tâm Viên Giác vi diệu của tất cả Như Lai vốn không hề có Bồ Đề cùng với lại Niết Bàn, cũng không hề có thành Phật hay là không thành Phật, không hề có vọng luân hồi hay là chẳng luân hồi. Thiện nam tử, chỉ mới cảnh giới mà chư Thanh Văn đã viên thành, [nơi ấy] thân tâm ngôn ngữ đều đoạn diệt sạch, [nên] rốt cuộc [chính họ] cũng không thể nào đến được Niết Bàn mà do họ thân chứng làm hiển hiện ra, thì huống gì là có thể dùng tâm có tư duy mà đo lường cảnh giới Viên Giác của Như Lai được! Như lấy lửa đom đóm mà đi đốt núi Tu Di, thì chung cùng chẳng cách gì bén được. [Cũng thế] dùng tâm luân hồi mà phát sinh cái nhìn (kiến) của luân hồi mà [muốn] nhập vào trong biển đại tịch diệt của Như Lai, thì rồi ra không cách gì thành công được. Thế nên ta mới nói: “Tất cả Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp phải đoạn dứt cái gốc gác của luân hồi (luân hồi căn bổn) trước đã !”.

Thiện nam tử, các tư duy “có tạo tác” (hữu tác tư duy) là do nơi tâm “có” (hữu tâm) mà khởi, đều là do cái khí lực vọng tưởng làm [thành đối tượng để] duyên (vọng tưởng duyên khí) của sáu trần [mà khởi nên tư duy tạo tác], [tư duy ấy] không phải là bản thể thật của tâm, mà vốn như hoa trong không. Dùng tư duy ấy mà bàn về cảnh Phật, thì y như hoa trong không mà lại kết thành quả trong không nữa, cứ thế mà lòng vòng vọng tưởng, đâu có lẽ nào như thế được!

Thiện nam tử, tâm hư vọng bập bềnh (hư vọng phù tâm) có lắm cái thấy lắt léo (xảo kiến), không thể [dùng tâm ấy mà] làm thành phương tiện cho Viên Giác được. Thế nên phân biệt [vấn đề như ông đã đặt ra] như thế, không phải là câu hỏi đúng vấn đề (chính vấn).

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Kim Cương Tạng nên biết
Tính tịch diệt Như Lai
Chưa từng có đầu đuôi.
Nếu dùng tâm luân hồi
Tư duy sẽ lòng vòng
Chỉ đến ranh luân hồi
Không vào biển Phật được.
Ví như nấu quặng vàng
Đâu phải nấu mới có,
Song tuy vẫn là vàng
Phải nấu ra mới thành.
Khi thành vàng thật rồi
Không thành quặng trở lại,
Sinh tử và Niết Bàn
Phàm phu cùng chư Phật
Đồng như hoa trong không,
Tư duy như huyễn hóa
Huống gì các hư vọng.
Nếu rõ được Tâm này
Sau mới cầu Viên Giác

*****

Chương Di Lặc thứ 5

Nhân đó, Bồ Tát Di Lặc ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi đã tường tận khai mở tạng bí mật cho các Bồ Tát, khiến cho đại chúng hiểu ra luân hồi một cách thâm sâu, phân biệt được tà với chính, có thể ban cho tất cả chúng sinh trong đời mạt pháp con Mắt vô úy của con đường Đạo (vô úy đạo nhãn), mà sinh được lòng tin dứt khoát đối với Đại Niết Bàn, không còn tùy theo cảnh giới luân chuyển mà khởi các cái thấy tuần hoàn nữa. Thế Tôn, nếu các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp muốn dạo chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai, thì (1) phải làm sao để đoạn dứt được gốc rễ của luân hồi? (2) Có bao nhiêu tính chất chủng loại (chủng tính) ở trong các luân hồi? (3) Và tu Bồ Đề của Phật có bao loại sai khác nhau? (4) Khi quay trở vào trần lao phải dùng bao nhiêu loại phương tiện giáo hóa để độ các chúng sinh được mắt huệ trong xanh, được gương tâm chiếu sáng, và tỏ ngộ trọn vẹn (viên ngộ) sự Thấy Biết tột cùng không gì cao hơn nữa (vô thượng tri kiến) của Như Lai?

Nói như thế xong, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về ý nghĩa vi diệu thâm áo bí mật này của Như Lai, làm cho các Bồ Tát được trong suốt Mắt huệ, và khiến cho tất cả chúng sinh thời mạt pháp vĩnh viễn đoạn dứt luân hồi, tâm tỏ rõ ra tướng thật (ngộ thật tướng), hội đủ nhẫn vô sinh. Ông nay nghe cho kỹ, ta sẽ giảng nói cho ông.

Thời Bồ Tát Di Lặc vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– (1) Thiện nam tử, tất cả chúng sinh từ khi không có lúc ban đầu (vô thủy tế) cho đến nay, do có đủ loại ân ái tham dục nên mới có luân hồi. Nếu tất cả các chủng loại tính chất của thế gian như loài sinh bằng trứng, loài sinh bằng thai, loài sinh bằng ẩm thấp và loài sinh bằng biến hóa, đều nhân nơi dâm dục mà mới có được tính mệnh, thì phải hiểu rằng luân hồi Ái là gốc gác. Do có các Dục giúp cho tính Ái phát sinh, thế nên mới làm cho sinh tử liên tục nối liền. Dục lại nhân nơi Ái mà sinh, thân mạng (mệnh) nhân nơi Dục mà có. Chúng sinh ái thân mạng thì vẫn chỉ là y nơi gốc Dục: ái [dâm] Dục là nhân, ái [thân] mạng là quả.

– (2) Do khởi lên thích thú và không thích thú đối với các đối tượng của Dục (dục cảnh): – Đối tượng mà trái ngược với tâm ái thì sinh ghen ghét, tạo đủ loại nghiệp, thế nên lại sinh vào Địa ngục và Ngạ quỷ. – Khi biết được Dục là đáng chán, tâm ái chán ghét con đường nghiệp (nghiệp đạo), bỏ ác ưa thiện, thì lại hiện thành cõi trời và người. – Lại do biết các Ái là đáng chán, là ác, thế nên bỏ ái ưa xả, thời vẫn còn là vun tưới gốc ái (tư ái bổn), liền hiện thành các quả thiện hữu vi cao thượng hơn nữa (hữu vi tăng thượng thiện quả). Do tất cả đều là luân hồi, nên không thành Thánh Đạo được. Cho nên chúng sinh muốn thoát khỏi sinh tử, miễn hết các luân hồi, thì trước phải đoạn tận các Tham Dục, trừ diệt các Khát Ái. Thiện nam tử, Bồ Tát biến hóa thị hiện ra trong thế gian, không phải do Ái là gốc gác, mà chỉ do từ bi muốn cho chúng sinh xả bỏ Ái, mượn (giả) các tham Dục mà nhập vào sinh tử.

– (3) Nếu tất cả chúng sinh trong thời mạt pháp mà có thể xả bỏ được các Dục và trừ bỏ thương và ghét (tắng ái), vĩnh viễn đoạn hết luân hồi, mà chăm chỉ mong cầu cảnh giới Viên Giác của Như Lai, thì do nơi tâm thanh tịnh mà liền được khai mở tỏ ngộ (khai ngộ). Thiện nam tử, tất cả chúng sinh do gốc là Tham Dục, phát triển Vô Minh, mà hiển hiện ra năm tính loại sai biệt không đồng. Y theo hai loại Chướng mà hiện thành nông với sâu. Thế nào là hai Chướng? Một là Lý Chướng làm trở ngại không cho Thấy Biết được chân chính (chính tri kiến); Hai là Sự Chướng làm tiếp tục sự sinh tử. Thiện nam tử, nếu hai Chướng này mà chưa được đoạn diệt, thì gọi là chưa thành Phật. (1) và (2) Nếu các chúng sinh vĩnh viễn xả bỏ Tham Dục, trước hết trừ được Sự Chướng, song chưa đoạn được Lý Chướng, thì chỉ có thể tỏ ngộ mà đi vào (ngộ nhập) [con đường] Thanh Văn và Duyên Giác, chứ chưa có thể an trụ hẳn hòi vào cảnh giới Bồ Tát. (3) Thiện nam tử, nếu tất cả chúng sinh vào đời mạt pháp muốn lướt trên biển Đại Viên Giác của Như Lai, thì trước hết phải phát nguyện chăm chỉ đoạn trừ hai Chướng. Khi đã làm chủ được hai Chướng (nhị chướng dĩ phục) thì có thể tỏ rõ mà đi vào (ngộ nhập) cảnh giới của Bồ Tát. (4) Nếu cả Sự và Lý Chướng đều vĩnh viễn đoạn diệt xong, thì sẽ đi vào được Viên Giác vi diệu của Như Lai, [thành tựu] viên mãn đầy đủ Bồ Đề và Đại Niết Bàn. (5) Thiện nam tử, tất cả chúng sinh đều chứng Viên Giác được: [Như] gặp thiện tri thức, y theo pháp tu nhân do họ đề ra mà thực hành (y bỉ sở tác nhân địa pháp hành), lúc ấy mà tu tập thời có mau lẹ và từ từ (đốn tiệm). Nếu gặp được con đường tu hành chân chính thuộc Bồ Đề tối thượng không gì hơn (vô thượng Bồ Đề) của Như Lai, thì chẳng phân căn thành Đại hay Tiểu, mà đồng thành quả Phật. Nếu các chúng sinh tuy cầu bạn tốt (thiện hữu) mà lại gặp kẻ tà kiến, nên chẳng được tỏ ngộ chân chính, như thế gọi là tính chất thuộc chủng loại Ngoại Đạo (ngoại đạo chủng tính). Trường hợp ấy là do sai lầm của tà sư, chứ không phải là lỗi lầm của chúng sinh. Như thế gọi là năm Tính loại sai khác của chúng sinh.

– (4) Thiện nam tử, Bồ Tát duy chỉ dùng phương tiện đại bi mà nhập vào các thế gian, khai mở cho những ai chưa tỏ ngộ, cho đến hiển hiện đủ loại hình tướng và cảnh giới thuận hay nghịch, cùng sinh hoạt chung (đồng sự) với [chúng sinh], giáo hóa khiến họ thành Phật… đều là y nơi năng lực của Nguyện thanh tịnh từ vô thủy đến giờ.

Nếu tất cả chúng sinh đời mạt pháp mà khởi tâm tăng thượng đối với Đại Viên Giác, thì phải phát Đại Nguyện thanh tịnh của Bồ Tát. Phải nói như sau: Nguyện con ngày nay trụ nơi Viên Giác của Phật, cầu được Thiện Tri Thức, đừng gặp Ngoại Đạo cùng với Nhị Thừa. Y theo Nguyện mà tu hành, dần đoạn các Chướng. Chướng tận Nguyện mãn, liền bước lên điện Pháp thanh tịnh giải thoát, chứng được cõi diệu trang nghiêm của Đại Viên Giác.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Di Lặc ông phải biết
Tất cả các chúng sinh
Không đắc đại giải thoát
Đều là do tham dục
Đọa lạc vào sinh tử.
Nếu đoạn được thương ghét
Cùng với tham sân si,
Không tùy tính sai biệt
Đều đắc thành Phật Đạo.
Hai chướng tiêu diệt dứt
Càu thầy được chính ngộ
Tùy thuận Bồ Tát nguyện
Y chỉ Đại Niết Bàn.
Mười phương chư Bồ tát
Đều dùng đại bi nguyện
Thị hiện vào sinh tử.
Người tu hành hiện tại
Cùng chúng sinh thời mạt
Chăm đoạn các Ái, Kiến
Liền về Đại Viên Giác.

*****

Chương Thanh Tịnh Huệ thứ 6

Nhân đó, Bồ Tát Thanh Tịnh Huệ ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi vì các chúng con mà nói tường tận về sự việc không thể nào suy lường nổi như thế, [một sự việc] mà chúng con xưa nay chưa từng thấy, xưa nay chưa từng nghe. Con nay nhờ nơi Phật khéo dẫn dụ, mà thân tâm được thông xuốt (thái nhiên), được lợi ích lớn. Con nguyện sẽ tuyên nói lại Giác Tính viên mãn này của bậc Pháp Vương cho tất cả các chúng học Pháp trong tương lai (chư lai pháp chúng). Những gì chứng được và đắc được của tất cả chúng sinh và của chư Bồ Tát, cũng như của Như Lai Thế Tôn, khác biệt nhau như thế nào? Khiến cho chúng sinh đời mạt pháp nghe đến thánh giáo này sẽ tùy thuận theo mà được khai mở tỏ ngộ, tuần tự tiến vào được.

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Thanh Tịnh Huệ rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì chúng sinh đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về các thứ bậc tuần tự [chứng đắc] sai khác nhau như thế. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Thời Bồ Tát Thanh Tịnh Huệ vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe :

– Thiện nam tử, tự tính của Viên Giác [tuy] không phải là Tính (phi tính), [song hễ khi nào] có Tính (tính hữu), [thì] cứ tùy theo các Tính mà khởi, không nhận lấy bất cứ gì mà cũng không có gì là chứng hết (vô thủ vô chứng). Ở trong Tướng Thật thật sự không có Bồ Tát hay chúng sinh gì hết. Tại sao vậy? Bồ Tát và chúng sinh đều là huyễn hóa. Do huyễn hóa [làm công việc] diệt nên không có ai nhận lấy bất cứ gì hay chứng đắc gì (vô thủ chứng giả) hết. Ví như căn mắt không tự thấy chính mắt được, Tính [cũng vậy] tự chính nó bình đẳng mà không có ai bình đẳng hết (tính tự bình đẳng, vô bình đẳng giả). Chúng sinh mê mờ đảo ngược, chưa thể trừ diệt tất cả mọi huyễn hóa. Trong lúc ra công để diệt cái vọng chưa diệt này (ư diệt vị diệt vọng công dụng trung) mà hiển hiện ra các sai biệt. Nếu tùy thuận theo được Tịch Diệt của Như Lai, thời thật sự ra không có tịch diệt cũng không có ai tịch diệt hết:
– (1) Thiện nam tử, tất cả chúng sinh từ khi không có lúc ban đầu cho tới ngày nay do vọng tưởng [cho là có] Ngã với lại ái [vào] Ngã ấy, chưa từng tự biết rằng [mọi pháp] sinh diệt trong từng niệm một, nên khởi lên thương và ghét, mê đắm vào năm Dục. Nếu gặp được Bạn tốt dạy dỗ cho khai mở và tỏ ngộ được Tính Viên Giác thanh tịnh, thời khám phá ra được cái Diệt của [mọi pháp] khởi (phát minh khởi diệt), mới biết rằng cái sinh này (thử sinh) [của mọi pháp] tính nó tự mệt mỏi âu lo (tính tự lao lự). Nếu lại có ai vĩnh viễn đoạn hết mệt mỏi âu lo, đắc pháp giới thanh tịnh, thì cái hiểu tỏ về thanh tịnh kia lại thành tự chướng ngại họ (tức bỉ tịnh giải vi tự chướng ngại), nên đối với Viên Giác vẫn không được tự tại, thì gọi là [giai đoạn] các phàm phu tùy thuận theo Giác Tính.
– (2) Thiện nam tử, tất cả Bồ Tát thấy hiểu tỏ (giải) là chướng ngại, tuy đoạn chướng ngại hiểu tỏ (giải ngại) này, song vẫn còn trụ nơi thấy biết (kiến giác). Chính cái biết chướng ngại lại là chướng ngại (giác ngại vi ngại) mà không thành tự tại, như thế thì gọi là [giai đoạn] các bậc Bồ Tát chưa vào đến Địa (vị nhập địa) tùy thuận theo Giác Tính.
– (3) Thiện nam tử, có chiếu rõ có nhận biết (hữu chiếu hữu giác) đều gọi là chướng ngại. Thế nên Bồ Tát luôn nhận biết (giác) mà không trụ [lại nơi nhận biết ấy], chiếu sáng và người chiếu sáng cùng lúc đồng tịch diệt. Ví như có người tự cắt đầu mình, đầu đã cắt rồi nên không còn người cắt nữa, cũng thế dùng tâm chướng ngại để diệt các chướng ngại, chướng ngại đã đoạn diệt rồi, thì không còn người diệt chướng ngại nữa. Giáo lý của Tu Đa La như công cụ để chỉ mặt trăng, nếu đã thấy mặt trăng rồi, mới rõ cái để chỉ cuối cùng ra chẳng phải là mặt trăng. Tất cả mọi thứ ngôn thuyết của Như Lai để khai mở chỉ bày cho Bồ Tát cũng y như vậy. Như thế gọi là [giai đoạn] các Bồ Tát đã vào đến Địa tùy thuận theo Giác Tính.
– (4) Thiện nam tử, Tất cả các chướng ngại tức chính là sự Giác ngộ tột cùng (cứu cánh giác), có niệm hay mất niệm không thứ nào lại không phải là giải thoát, thành pháp hay phá pháp đều gọi là Niết Bàn, trí huệ và ngu si đều là Bát Nhã, pháp mà Bồ Tát hay là ngoại đạo mà có thành tựu đồng là Bồ Đề, vô minh hay Chân Như không phải là hai cảnh giới khác nhau, các Giới Định Huệ và dâm nộ si đều là Phạm Hành, chúng sinh và cõi nước đồng một Pháp Tính, địa ngục và thiên cung đều là Tịnh Độ, có Tính hay không có Tính đều thành Phật Đạo, tất cả phiền não rốt cùng là giải thoát. Biển Huệ [tương ưng với] pháp giới chiếu rõ các tướng y như hư không, thì đó gọi là Như Lai tùy thuận theo Giác Tính.
– (5) Thiện nam tử, tuy nhiên các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp nếu trong suốt tất cả các thời mà không khởi vọng niệm, đối với các vọng tâm cũng không hề dứt diệt, trụ nơi cảnh vọng tưởng không rõ biết gì thêm hết (bất gia liễu tri), đối với chỗ không rõ biết ấy cũng không luận gì là chân thật hết (ư vô liễu tri bất biện chân thật), các chúng sinh ấy khi nghe Pháp Môn này mà tin tưởng hiểu rõ thọ nhận giữ gìn (tín giải thọ trì) không thấy sợ hãi, thì dó gọi là “tùy thuận Giác Tính”. Thiện nam tử, các ông phải biết là các chúng sinh ấy đã từng cúng dường trăm ngàn vạn ức hằng hà sa chư Phật và các đại Bồ Tát, đã trồng các gốc đức, Phật nói người ấy chính là thành tựu Trí biết tất cả các chủng loại Đạo Pháp (Nhất Thiết Chủng Trí).

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa ấy nên nói kệ rằng:

Thanh Tịnh Huệ nên biết
Tính Bồ Đề viên mãn
Không nhận cũng không chứng
Không Bồ Tát chúng sinh.
Giác với khi chưa giác
thứ tự có sai biệt :
“Hiểu” làm ngại chúng sinh;
Bồ Tát chưa lìa “biết”;
Vào Địa tịch diệt xong
Không trụ tất cả tướng;
Đại giác trọn viên mãn
Gọi là tùy thuận khắp;
Các chúng sinh đời mạt
Tâm không sinh hư vọng,
Phật nói người như thế
Đời ấy (hiện thế) tức Bồ Tát,
Cúng dường hằng sa Phật
Công đức đã viên mãn.
Tuy có nhiều phương tiện
Đều là tùy thuận Trí.

*****

Chương Oai Đức Tự Tại thứ 7

Nhân đó, Bồ Tát Oai Đức Tự Tại ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi đã vì tất cả chúng con mà phân tích (phân biệt) về sự việc tùy thuận theo Giác Tính như vậy khiến cho các Bồ Tát được Tâm Giác sáng suốt. [Thật mới chỉ] nhờ nơi âm thanh viên mãn của Phật chứ không phải nhân nơi tu tập mà đã được lợi ích tối thiện như thế.

Thế Tôn, ví như thành lớn ngoài có bốn cửa, tùy ở phương nào thì theo phương đó mà lại, chứ không phải chỉ một đường mà thôi. Tất cả các Bồ Tát [xây dựng] trang điểm cõi Phật [của mình] và thành được Bồ Đề, cũng không phải chỉ một phương tiện mà thôi. Con xin Thế Tôn hãy vì tất cả chúng con mà tuyên nói lên mọi thứ phương tiện tuần tự từ từ, và các người tu hành có tất cả là bao loại? Khiến cho các Bồ Tát trong hội này và chúng sinh nào cầu Đại Thừa trong đời mạt pháp, mau được khai mở tỏ ngộ, mà dạo chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai.

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Oai Đức Tự Tại rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì các Bồ Tát và các chúng sinh trong đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về các phương tiện như vậy. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Thời Bồ Tát Oai Đức Tự Tại vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, Diệu Giác tối thượng không gì cao hơn này có khắp hết mười phương, [từ đó] sinh ra chư Như Lai và tất cả các pháp, đồng một bản thể [hoàn toàn] bình đẳng. Nên [xét lại] các người tu hành [hoàn toàn đồng đẳng], thật sự không hề có hai. Song [nói đến] các phương tiện tùy thuận [theo Giác Tính] thì con số đến vô lượng, nhiếp trọn hết mọi “lối về”. Song tùy theo tính chất khác nhau [của người tu hành], thời có ba loại như sau:

– (1) Thiện nam tử, nếu các Bồ Tát tỏ ngộ ra Viên Giác thanh tịnh, rồi dùng Tâm Giác thanh tịnh ấy giữ lấy sự yên tĩnh lấy đó [làm đường hướng] thực hành (thủ tĩnh vi hành). Do lắng đọng các niệm xuống (trừng chư niệm), mới phát giác ra (giác) “thức” rất phiền động. [Từ chỗ phát giác ấy một thứ] Huệ tĩnh lặng (tĩnh huệ) phát sinh. Thân và tâm như “khách” với “bụi”, từ đó diệt dứt không còn, nên bên trong mới phát được một niềm an lạc nhẹ nhàng [vô cùng] yên tĩnh dứt lặng (tịch tĩnh khinh an). Do yên tĩnh dứt lặng nên tâm của chư Như Lai trong mười phương thế giới hiển hiện trong [sự tĩnh lặng] đó, như hình bóng hiện trong gương. Phương tiện như thế gọi là Sa Ma Tha.
– (2) Thiện nam tử, nếu các Bồ Tát tỏ ngộ ra Viên Giác thanh tịnh, rồi dùng Tâm Giác thanh tịnh ấy mà nhận biết tính ra tâm tính (tri giác tâm tính) cùng với căn và trần, đều là nhân nơi huyễn hóa. [Biết thế rồi] liền khởi lên các huyễn để mà trừ huyễn, biến hóa ra các [phương tiện] huyễn để khai mở cho “chúng huyễn”. Do khởi huyễn như thế, nên bên trong mới phát sinh được một niềm an lạc nhẹ nhàng của Đại Bi (đại bi khinh an). Tất cả các Bồ Tát từ đó mà phát khởi [con đường] thực hành, tuần tự từ từ tăng trưởng tiến bộ. Do [trí] quán huyễn kia không đồng với huyễn, lại do [trí] quán mà không đồng với huyễn đó cũng đều là huyễn, nên vĩnh viễn lìa tướng huyễn. Đó là sự thực hành vi diệu do chư Bồ Tát viên thành (thị chư bồ tát sở viên diệu hành), như đất nuôi dưỡng lúa mầm. Phương tiện như thế gọi là Tam Ma Bát Đề.
– (3) Thiện nam tử, nếu chư Bồ Tát tỏ ngộ ra Viên Giác thanh tịnh, rồi dùng Tâm Giác thanh tịnh ấy không thủ giữ huyễn hóa cùng với các tướng tĩnh lặng. [Bờ Tát này] rõ biết (liễu tri) thân và tâm đều là trở ngại, cái “sáng suốt” [rõ biết] không có biết cảm (vô tri giác minh) [ấy] không y theo các trở ngại, vĩnh viễn siêu quá khỏi các cảnh trở ngại và không trở ngại. [Lúc ấy Bồ Tát] thọ nhận mà sử dụng (thọ dụng) thế giới cùng với thân và tâm ngay trong cõi trần, như tiếng chuông (hoàng) trong lòng chuông (khí), mà âm vang phát ra ngoài. Phiền não và Niết Bàn không trở ngại được [người ấy], nên bên trong mới phát sinh được một niềm an lạc nhẹ nhàng thuộc về tịch diệt (tịch diệt khinh an). [Lúc ấy] Diệu Giác tùy thuận theo cảnh giới tịch diệt mà thân và tâm của chính mình hay của mọi người đều đều không thể nào với tới được (tự tha thân tâm sở bất năng cập), [mới hay rằng] thọ mệnh của chúng sinh đều là tâm tưởng nổi trôi (phù tưởng). Phương tiện như thế gọi là Thiền Na.

Thiện nam tử, cả ba pháp môn này đều là tùy thuận và cận kề với Viên Giác. Mười phương Như Lai nhân nơi ấy mà thành Phật. Mọi loại phương tiện của mười phương Bồ Tát có đồng hay khác nhau thì tất cả cũng đều y nơi ba loại “sự nghiệp” ấy. Nếu “chứng” có được “viên” mãn, thì mới thành Viên Giác.

Thiện nam tử, giả sử có người tu hành Thánh Đạo và giáo hóa thành tựu cả trăm ngàn vạn ức A La Hán và Bích Chi Phật, cũng không bằng có người nghe được pháp môn Viên Giác vô ngại này, rồi tùy thuận tu tập [dù chỉ] trong một khoảng sát na thôi.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa ấy nên nói kệ rằng:

Oai Đức ông phải biết
Tâm đại Giác vô thượng
Nơi gốc không hai tướng
Các phương tiện tùy thuận
Số nhiều đến vô lượng.
Như lai tổng khai thị
Thời gồm có ba loại :
Tịch tĩnh Sa Ma Tha
Như gương soi hình bóng,
Như huyễn Tam Ma Đề
Như mầm dần tăng trưởng,
Thiền Na là tịch diệt
Như tiếng trong lòng chuông.
Ba pháp môn vi diệu
Đều là tùy thuận Giác.
Mười phương chư Như Lai
Cùng chư đại Bồ Tát
Nhân đó được thành Đạo.
Do ba sự viên chứng
Gọi cứu cánh Niết Bàn.

*****

Chương Biện Âm thứ 8

Nhân đó, Bồ Tát Biện Âm ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi, pháp môn như thế thật vô cùng hiếm có. Thế Tôn, khi tất cả các Bồ Tát ở nơi “môn” Viên Giác thời có bao nhiêu cách tu tập đối với các phương tiện này? Xin ngài vì đại chúng và tất cả chúng sinh đời mạt pháp [mà bày] phương tiện khai mở chỉ bảo, cho được tỏ ngộ tướng thật.

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Biện Âm rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì chư đại chúng và các chúng sinh trong đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về các cách tu tập như thế. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Thời Bồ Tát Biện Âm vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, Viên Giác của tất cả Như Lai thời thanh tịnh, vốn không hề có việc tu tập cùng người tu tập. Tất cả các Bồ Tát cùng chúng sinh đời mạt pháp y theo lực huyễn [do] chưa Giác mà tu tập. Lúc ấy sẽ có đến hai mươi lăm loại Định Luân thanh tịnh như sau:
– (1) Nếu các Bồ Tát nào chỉ giữ chắc lấy (thủ) sự yên tĩnh cùng cực, thì do lực tĩnh lặng này mà vĩnh viễn đoạn dứt phiền não, cứu cánh [của sự tu hành] thành tựu, không dời khỏi chỗ ngồi mà nhập ngay vào Niết Bàn. Vị Bồ Tát này gọi là “riêng tu Sa Ma Tha”.
– (2) Nếu các Bồ Tát nào chỉ quán [tất cả các pháp] như huyễn mà thôi, do nơi lực của Phật mà biến hóa ra đủ thứ tác dụng của thế giới, để thực hành đầy đủ mọi thực hành vi diệu (diệu hành) thanh tịnh của Bồ Tát, đối với các Đà la ni không đánh mất niệm tịch lặng, [cũng không để mất] các huệ thanh tịnh. Các Bồ Tát ấy gọi là “riêng tu Tam Ma Bát Đề”.
– (3) Nếu các Bồ Tát nào chỉ diệt các huyễn mà thôi, chứ không giữ lấy các tác dụng [của huyễn]. Riêng [chỉ dùng Viên Giác để] đoạn phiền não mà thôi, thì khi phiền não đoạn tận liền chứng tướng thật. Vị Bờ Tát này gọi là “riêng tu Thiền Na”.
– (4) Nếu các Bồ Tát nào trước giữ lấy tĩnh lặng đến cùng (thủ chí tĩnh), rồi dùng tâm huệ tĩnh lặng ấy chiếu soi các huyễn, và ngay trong [các huyễn] ấy khởi lên sự thực hành của Bồ Tát, thì vị Bồ Tát này được gọi là “trước tu Sa Ma Tha sau tu Tam ma Bát Đề”.
– (5) Nếu các Bồ Tát nào do huệ tĩnh lặng mà chứng [lấy] cái tính tĩnh lặng cho đến cùng, thì sẽ đoạn phiền não, vĩnh viễn ra khỏi sinh tử. Vị Bồ Tát này gọi là “trước tu Sa Ma Tha sau tu Thiền Na”.
– (6) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng huệ tịch tĩnh rồi lại hiện lực huyễn thành đủ loại biến hóa mà độ chúng sinh, sau đó mới đoạn phiền não mà vào tịch diệt, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Sa Ma Tha, giữa tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na”.
– (7) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tĩnh lặng cùng cực (chí tĩnh lực) mà đoạn phiền não rồi, sau mới khởi lên các thực hành vi diệu thanh tịnh của Bồ Tát mà độ chúng sinh, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Sa Ma Tha, giữa tu Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát Đề”.
– (8) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tĩnh lặng cùng cực, [dùng] tâm đoạn dứt phiền não, [cùng lúc] lại độ chúng sinh, kiến lập thế giới, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Sa Ma Tha, sau cùng tu Tam Ma Bát Đề và Thiền Na”.
– (9) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tĩnh lặng cùng cực giúp sức phát khởi biến hóa, rồi sau đó mới đoạn phiền não, thì Bồ tát đó được gọi là “trước cùng tu sa Ma Tha và Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na”.
– (10) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tĩnh lặng cùng cực giúp thêm cho tịch diệt, sau đó mới khởi lên tác dụng biến hóa ra thế giới, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước cùng tu Sa Ma Tha và Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát Đề”.
– (11) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa [hiện ra] đủ loại tùy thuận [Viên Giác] mà giữ lấy [trạng thái] tĩnh lặng cùng cực, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Sam Ma Tha”.
– (12) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa [hiện ra] đủ loại cảnh giới mà giữ lấy [trạng thái] tịch diệt, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Thiền Na”.
– (13) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa để làm phật sự, rồi mới an trụ vào tịch tĩnh để đoạn phiền não, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Tam Ma Bát Đề, giữa tu Sam Ma Tha, sau tu Thiền Na”.
– (14) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa, do [khởi lên] tác dụng vô ngại đoạn phiền não, nên mới an trụ vào tịch tĩnh, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Tam Ma Bát Đề, giữa tu Thiền Na, sau tu Sam Ma Tha”.
– (15) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa, [khởi lên] tác dụng làm phương tiện, [khiến] tịch tĩnh cùng cực và tịch diệt cả hai cùng tùy thuận [theo Viên Giác], thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Tam Ma Bát Đề, sau cùng tu Sam Ma Tha và Thiền Na”.
– (16) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa, khởi lên đủ thứ tác dụng giúp thêm cho [trạng thái] tịch tĩnh cùng cực, sau đó mới đoạn phiền não, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước cùng tu Tam Ma Bát Đề và Sam Ma Tha, sau tu Thiền Na”.
– (17) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực biến hóa, giúp thêm cho [trạng thái] tịch diệt, sau đó mới trụ vào tĩnh lự vô tác thanh tịnh, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước cùng tu Tam Ma Bát Đề và Thiền na , sau tu Sam Ma Tha”.
– (18) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt mà khởi lên [trạng thái] tĩnh lặng cùng cực trụ vào thanh tịnh, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Thiền Na, sau tu Sam Ma Tha”.
– (19) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt để khởi lên tác dụng, đối với tất cả các cảnh đều tùy thuận theo “tịch” và “dụng”, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Thiền Na, sau tu Tam Ma Bát Đề”.
– (20) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt với đủ loại tự tại an trụ vào tĩnh lự mà khởi lên các biến hóa, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Thiền Na, giữa tu Sam Ma Tha, sau tu Tam Ma Bát Đề”.
– (21) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt với [lực] tự tại vô tác mà khởi lên tác dụng, [làm thành] cảnh giới thanh tịnh quy về tĩnh lự, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Thiền Na, giữa tu Tam Ma Bát Đề, sau tu Sam Ma Tha”.
– (22) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt với đủ loại thanh tịnh mà trụ vào tĩnh lự khởi lên biến hóa, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước tu Thiền Na, sau cùng tu Sam Ma Tha và Tam Ma Bát Đề”.
– (23) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt trợ giúp cho [trạng thái] tĩnh lặng cùng cực để mà khởi lên biến hóa, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước cùng tu Thiền Na và Sam Ma Tha, sau tu Tam Ma Bát Đề”.
– (24) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng lực tịch diệt trợ giúp cho biến hóa để khởi lên huệ cảnh trong sáng thuộc [trạng thái] tĩnh lặng cùng cực, thì Bồ Tát đó được gọi là “trước cùng tu Thiền Na và Tam Ma Bát Đề, sau tu Sam Ma Tha”.
– (25) Nếu các Bồ Tát nào mà dùng huệ Viên Giác “viên” hợp tất cả lại, ở nơi các tính và tướng không hề lìa khỏi Giác Tính, thì Bồ Tát đó được gọi là “viên tu ba loại tự tính [một cách hoàn toàn] tùy thuận thanh tịnh (viên tu tam chủng tự tính thanh tịnh tùy thuận)”.
Thiện nam tử, như thế gọi là hai mươi lăm “Luân” của Bồ Tát. Tất cả các Bồ Tát tu hành là như vậy. Nếu các Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp mà y theo các luân này, thời phải trì giữ sự thực hành thanh tịnh (phạm hành), phải dứt lặng yên tĩnh mà tư duy, cầu khẩn sám hối, trải qua hai mươi mốt ngày. Rồi đem hai mươi lăm Luân ấy ghi ra rõ ràng đâu đó, chí tâm cầu khẩn, rồi tùy tay mà rút lấy một thăm. Y theo thăm đó bảo sao, thì sẽ rõ biết “đốn” “tiệm” thế nào. Nếu có niệm nghi ngờ do dự sẽ không thành tựu được nữa.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Biện Âm ông nên biết
Huệ thanh tịnh vô ngại
Của tất cả Bồ Tát
Đều y thiền định sinh.
Đó là Sam Ma Tha,
Tam Ma Đề, Thiền Na,
Ba pháp đốn tiệm tu
Gồm hai mươi lăm cách,
Mười phương chư Như Lai,
Người tu hành ba đời,
Ai cũng nhân pháp này
Mà đắc thành Bồ Đề
Duy trừ người “đốn Giác”
Và không tùy thuận Pháp.
Tất cả chư Bồ Tát
Cùng chúng sinh đời mạt
Thường phải trì Luân này
Tùy thuận chăm tu tập,
Y Phật đại bi lực
Không lâu chứng Niết Bàn

*****

Chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát thứ 9

Nhân đó, Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi, đã vì chúng con mà giảng nói tường tận sự việc không thể suy lường nổi này, đó là các sự thể thực hành (hành tướng) trong giai đoạn gieo nhân của tất cả chư Như Lai, làm cho cả đại chúng được điều chưa từng có, thấy được cảnh giới nhọc nhằn cần mẫn với bao nhiêu công sức của đấng Điều Ngự trải qua hằng sa kiếp mà chỉ y như trong một niệm mà thôi. Bồ Tát chúng con tự cảm thấy an ủi hân hoan vô cùng.

Thế Tôn, nếu Tâm Giác này bổn tính thanh tịnh, thì nhân đâu mà thành ô nhiễm, làm cho chúng sinh mê mờ không vào được [Tâm Giác ấy]? Con xin cùng Như Lai hãy vì chúng con mà tường tận khai mở cho tỏ ngộ ra Pháp Tính, khiến cho đại chúng này cùng chúng sinh đời mạt pháp có được con mắt “tương lai”.

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng rằng:

– Khéo thay, khéo thay ! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì chư đại chúng và các chúng sinh trong đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về các phương tiện như vậy. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Thời Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, tất cả chúng sinh từ khi không có lúc bắt đầu cho đến nay, vọng tưởng chấp có “ta, người, chúng sinh, cùng với thọ mệnh”, nhận bốn điên đảo làm ngã thể thật sự. Do đó mà mới sinh ra hai cảnh thương và ghét, nên đối với cái thể hư vọng ấy lại chấp thêm một lớp hư vọng nữa. Hai vọng ấy nương theo nhau mà làm thành con đường của nghiệp hư vọng (hư vọng nghiệp đạo). Do có nghiệp vọng nên vọng thấy [mình] lưu chuyển [sinh tử]. Nếu lại chán ngán lưu chuyển, thì vọng thấy Niết Bàn. Do đó mà không thể tiến vào [cảnh giới] Giác thanh tịnh được.

Không phải là do Giác kháng cự không cho các người muốn vào, mà do bởi [hễ đã] có các “người” tiến vào thì không phải là “tiến vào Giác” nữa (hữu chư năng nhập phi giác nhập cố). Thế nên động lên các niệm tưởng hay diệt dứt các niệm tưởng (động niệm tức niệm) đều quy về mê muộn. Tại sao vậy? Do có cái vô minh vốn dĩ từ khi không có lúc ban đầu tới nay, làm chủ chính mình (kỉ chủ tể), nên tất cả chúng sinh sinh ra không có mắt huệ, tính chất của các thứ thân hay tâm gì cũng đều là vô minh. Ví như người ta không tự đoạn mạng của mình được. Thế nên phải biết là có ai thương “ta” thì tôi sẽ thuận theo, còn ai không thuận theo [“ta”] thì [tôi] liền sinh oán ghét. Do tâm thương ghét này nuôi dưỡng vô minh, nên liên tục cầu Đạo mà không sao thành tựu:
– (1) Thiện nam tử, Thế nào là cái tướng “ta” (ngã tướng)? Chính là cái [chỗ] “chứng” của tâm chúng sinh (tâm sở chứng giả). Thiện nam tử, ví như có người trăm khớp điều hòa thoải mái (điều thích) chợt bỗng như quên mất thân mình với tứ chi co giãn nữa (hốt vong ngã thân tứ chi huyền hoãn), đến khi [thân thể] điều dưỡng không đúng cách, thì chỉ châm hay cứu ngải chút xíu thôi, liền biết là [mình] có “ta”. Thế nên chứng rõ [là lúc giờ] mới hiện ra cái bản thể Ta. Thiện nam tử, cái tâm này cho đến ngay cả chứng được sự rõ biết tột cùng (tất cánh liễu tri) của Như Lai hay [chứng] Niết Bàn thanh tịnh đi nữa cũng đều là cái tướng Ta (ngã tướng).
– (2) Thiện nam tử, thế nào là cái tướng “người” (nhân tướng)? Chính là cái [chỗ] “ngộ chứng” (ngộ chứng giả) của tâm chúng sinh. Thiện nam tử, ngộ ra là có Ta, rồi không chấp nhận Ta nữa (ngộ hữu ngã giả bất phục nhận ngã). Cái được ngộ ra (sở ngộ) không phải là Ta nữa, thì ngộ cũng y như vậy [cũng không phải là Ta]. Nếu “ngộ” này đã siêu quá tất cả mọi cái “chứng” [là có Ta], thì chung cùng ra [ngộ ấy] chính là tướng “người” (tất vi nhân tướng) vậy. Thiện nam tử, tâm này cho đến [mức độ] Viên ngộ hay Niết Bàn, thì cũng đều là Ta. Mà tâm còn một chút ngộ nào, [cho dù] có tận hết [mọi cái Ta kia] mà chứng lý, thì cũng đều là tướng Người (nhân tướng).
– (3) Thiện nam tử, thế nào là tướng Chúng Sinh? Chính là cái [chỗ] mà “tự chứng” và “ngộ” cũng không tới đến được (chư chúng sinh tâm tự chứng ngộ sở bất cập giả) của tâm chúng sinh. Thiện nam tử, ví như có người nói như sau: “Ta là chúng sinh!”. Ắt rõ là cái “chúng sinh” mà Người kia nói đó không phải là Ta (phi ngã), cũng không phải là Người kia (phi bỉ). Tại sao không phải là Ta? Ta [ở đây] là chúng sinh, [đã là chúng sinh] nên đâu phải là Ta. Tại sao không phải là Người kia? Ta là chúng sinh, [bởi là chúng sinh] nên không hề phải là Người kia hay là Ta gì hết (phi bỉ ngã). Thiện nam tử, [khi người kia nói thế] thời chỉ là chư chúng sinh mà thôi, còn chứng rõ (liễu chứng) hay tỏ ngộ (liễu ngộ) thời đều là Ta (ngã) và Người (nhân). Song cái mà khi tướng Ta và Người đều “không tới đến được”, mà còn có chút gì được tỏ rõ đó (tồn hữu sở liễu), thì được gọi là tướng Chúng Sinh.
– (4) Thiện nam tử, thế nào là tướng Thọ Mệnh? Chính là cái [chỗ] mà “Giác chiếu một cách thanh tịnh” thấy rõ (chiếu thanh tịnh giác sở liễu giả) của tâm chúng sinh. [Chỗ này] tất cả mọi hoạt động của trí (nghiệp trí) đều không tự thấy được, y như Mệnh căn. Thiện nam tử, nếu tâm chiếu thấy tất cả mọi cái “giác” đều là trần cấu, do “giác” và cái “được giác” (sở giác) không lìa khỏi “trần”. [Thì lúc ấy] như ngâm nước nóng làm chẩy băng, [khi] không [thấy] có băng nào khác nữa, thời biết là băng chẩy vậy. Giữ Ta hay “giác” ra Ta [tận hết rồi] (tồn ngã giác ngã) cũng y như vậy.

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp không rõ được bốn tướng này, nên tuy trải qua bao kiếp cần khổ tu Đạo, vẫn chỉ gọi là “hữu vi”, rốt cuộc không thành được tất cả các quả thánh, thế nên mới gọi là đời chính Pháp mạt. Tại sao vậy? Do đi nhận tất cả các cái Ta làm Niết bàn vậy, lại do “có chứng”, “có ngộ”, mà gọi là thành tựu. Ví như có người nhận giặc làm con, thì tài bảo của gia đình ấy rốt sẽ không thành tựu được. Tại sao vậy? Hễ đã “ái Ta” (hữu ngã ái giả) thì cũng “ái” Niết Bàn, nhiếp phục cái căn “ái Ta” ấy để làm tướng Niết Bàn. Hễ đã “ghét Ta” (hữu tắng ngã giả) thì cũng “ghét” sinh tử. Không hề rõ rằng cái “ái” [Niết Bàn] ấy chính thật là sinh tử; và chuyên “ghét” sinh tử, thì gọi là không giải thoát.

Làm sao biết được là Pháp mà không giải thoát? Thiện nam tử, các chúng sinh đời mạt pháp khi tu tập Bồ Đề, được chút ít chứng đã tự cho là thanh tịnh. Đó là do vì chưa tận hết được gốc gác của tướng Ta. Lại có người khác ca ngợi pháp của người ấy, nên người ấy liền sinh vui mừng, bèn muốn tế độ; nếu lại có ai hủy báng chỗ [chứng] đắc của người ấy, thì liền sinh sân hận. Ắt rõ tướng Ta được chấp trì kiên cố, nằm ẩn trong Tạng Thức, dạo chơi qua các căn, chưa từng gián đoạn.

Thiện nam tử, kẻ tu Đạo kia không trừ tướng Ta, thế nên không thể tiến vào Giác thanh tịnh. Thiện nam tử, nếu biết Ta là không, thì có ai hủy phạm Ta đâu, song còn có ta nói pháp đó, thì là do Ta chưa đoạn vậy. Chúng Sinh và Thọ Mệnh cũng y như vậy.

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp nói “bệnh” mà cho là [mình] nói pháp, thế nên mới được gọi là đáng thương xót. Tuy chăm chỉ tinh tiến mà chỉ tăng trưởng thêm bệnh, thế nên không tiến vào Giác thanh tịnh được.

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp không rõ về bốn tướng, lấy chỗ hiểu biết và chỗ thực hành của Như Lai ra mà tự tu hành theo, rốt cuộc không thành tựu được. Hoặc có chúng sinh chưa đắc mà cho là đắc, chưa chứng mà cho là chứng, thấy người tiến hơn thì tâm sinh tật đố. Do các chúng sinh đó chưa đoạn “ái Ta”, thế nên không thể tiến vào Giác thanh tịnh được.

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp, hy vọng thành Đạo, mà không tìm cách cầu cho ngộ, chỉ thêm nghe nhiều (đa văn), tăng trưởng cái thấy Ta (ngã kiến).

[Thế nên] cần phải tinh cần hàng phục phiền não, khởi đại dũng mãnh : những gì chưa chứng làm cho chứng, những gì chưa đoạn làm cho đoạn. Tham, sân, ái, mạn, xảo trá, tật đố, đối cảnh không sinh; Ta, người, ân ái, tất cả tịch diệt. Phật nói người ấy sẽ tuần tự từ từ mà thành tựu. Lại phải cầu Thiện tri thức để khỏi đọa vào tà kiến. Nếu đối với điều mình cầu mong mà riêng sinh thương ghét, thì sẽ không thể tiến vào biển Giác thanh tịnh được.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa này nên nói kệ rằng:

Tịnh Nghiệp ông phải biết
Tất cả các chúng sinh
Đều do chấp ái Ta
Vô thủy vọng lưu chuyển
Chưa trừ bốn loại tướng
Không thành được Bồ Đề.
Thương ghét sinh nơi tâm
Xảo trá tồn nơi niệm
Thế nên lắm mê mờ
Không vào thành Giác được.
Nếu về cõi Ngộ được
Trước khử tham sân si
Tâm không tồn ái pháp
Tuần tự được thành tựu.
Thân ta vốn không có
Thương ghét làm sao sinh,
Người này cầu “bạn tốt”
Sẽ không đọa tà kiến.
Có cầu lại sinh tâm
Rồi ra không thành tựu.

*****

Chương Phổ Giác Bồ Tát thứ 10

Nhân đó, Bồ Tát Phổ Giác ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi, đã mau mắn mà nói về bệnh của Thiền (thiền bệnh) khiến chư đại chúng hay được những gì chưa từng có, tâm ý thoát sạch, được đại an ổn.

Thế Tôn, chúng sinh đời mạt pháp ngày càng cách xa Phật, hiền thánh ẩn khuất, pháp tà tăng thịnh. Vậy chư chúng sinh phải cầu những bậc người nào? Y theo các pháp nào? Thực hành các sự thực hành nào? Trừ khử các bệnh nào? Và làm sao phát tâm? Để khiến cho chúng mù lòa khỏi đọa lạc vào tà kiến.

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Giác rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể thưa hỏi Như Lai về các sự tu hành như vậy, mới có thể thí cho các chúng sinh trong đời mạt pháp con “mắt pháp” dũng mãnh không hề khiếp sợ (vô úy đạo nhãn), khiến các chúng sinh ấy được thành Thánh Đạo. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Thời Bồ Tát Phổ Giác vâng lời hân hoan, cùng với đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp nào mà có ý phát Đại Tâm, cầu thiện tri thức, mong muốn tu hành, thì phải cầu người có tri kiến chân chính biết tất cả (nhất thiết chính tri kiến nhân).

[Người ấy] tâm không trụ tướng, không dính mắc vào cảnh giới của Thanh Văn và Duyên Giác; tuy hiện tướng trần lao mà tâm hằng thanh tịnh; tâm hiện bày ra có các lỗi lầm mà ca ngợi sự thực hành thanh tịnh (phạm hành), không để cho chúng sinh rơi vào chốn không luật nghi (bất luật nghi). Cầu được người như thế thời sẽ được thành tựu A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.

Chúng sinh đời mạt pháp gặp được người như thế thì phải nên cúng dường đến mức không tiếc cả thân mạng.

Vị thiện tri thức kia thường hiện thanh tịnh trong bốn oai nghi, cho đến còn hiện bày ra đủ thứ sai lầm tội lỗi, mà tâm [chúng sinh còn] không [dám] kiêu mạn [đối với thiện tri thức], thì huống gì là đồ ăn, tiền tài, vợ con, quyến thuộc.

Thiện nam tử, đối với vị “bạn tốt” kia [nếu chúng sinh] không khởi niệm ác, thì rồi ra sẽ thành tựu được chính giác, tâm hoa phát minh chiếu khắp mười phương cõi.

Thiện nam tử, diệu pháp mà vị thiện tri thức này chứng được cần phải lìa bốn thứ bệnh. Thế nào là bốn thứ?

– (1) Một là bệnh “làm” (tác bệnh): Nếu lại có người nói như sau : “Ta đối với bổn tâm đã làm đủ loại thực hành để cầu Viên Giác… ” Do tính chất của Viên Giác kia không phải do “làm” mà có được, nên mới nói [nói như trên] là bệnh.
– (2) Hai là bệnh “để mặc” (nhậm bệnh): Nếu lại có người nói như sau: “Chúng ta giờ đây không đoạn sinh tử, không cầu Niết Bàn. Đối với Niết Bàn và sinh tử đều không có niệm khởi hay diệt gì hết, cứ để mặc tất cả mọi thứ ấy, mà tùy theo các pháp tính. [Để mặc như thế là] vì muốn cầu Viên Giác.” Do bởi tính chất của Viên Giác kia không phải do “để mặc” mà có được, thế nên mới nói [nói như trên] là bệnh.
– (3) Ba là bệnh “ngừng” (chỉ bệnh): Nếu lại có người nói như sau: “Nay ta tự tâm vĩnh viễn dứt hết các niệm, đắc được thể tính của tất cả, tịch lặng bình đẳng, cũng để mà cầu Viên Giác.” Do tính chất của Viên Giác kia không phải do “ngừng” như thế mà thích ứng, thế nên mới nói [nói như trên] là bệnh.
– (4) Bốn là bệnh “diệt” (diệt bệnh): Nếu lại có người nói như sau: “Ta nay vĩnh viễn đoạn dứt tất cả các phiền não, thân tâm chung cùng không, không có gì hết, huống gì là cảnh giới hư vọng thuộc căn trần, tất cả vĩnh viễn diệt hết là để cầu Viên Giác vậy.” Do tính chất của Viên Giác kia không phải là tướng tịch diệt (tịch tướng), thế nên mới nói [nói như trên] là bệnh.

Ai lìa bốn bệnh ấy, thời sẽ biết được thanh tịnh. Quán như thế gọi là chính quán, nếu quán khác đi thì gọi là tà quán.

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp ai muốn tu hành, thì cần phải tận cả sinh mạng mình mà cúng dường “bạn tốt” (thiện hữu), và phụng sự thiện tri thức. Vị thiện tri thức kia muốn lại gần gũi mình, thời phải đoạn trừ kiêu mạn đi; nếu lại lìa xa mình, thời phải đoạn diệt sân hận. [Quán] cảnh thuận hay nghịch [do thiện tri thức] hiện ra như thế, y như hư không, rõ biết thân và tâm chung cùng đều bình đẳng, cùng với chúng sinh đồng một bản thể không khác. Tu hành như thế mới tiến vào Viên Giác được.

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp không thành Đạo được là do có tất cả các chủng tử “ta người (tự tha), thương ghét” từ khi không có lúc ban đầu đến nay, nên chưa giải thoát được. Nếu lại có người coi kẻ thù kia như chính cha mẹ mình, tâm không có hai [cực đối đãi], thì sẽ trừ được các bệnh. Đối với tất cả các pháp, ta người, thương ghét, cũng y như vậy [không hề phân hai].

Thiện nam tử, chúng sinh đời mạt pháp mà muốn cầu Viên Giác, thì phải phát tâm, nói như sau: “tất cả chúng sinh tận cùng hư không, con đều khiến nhấp vào Viên Giác cứu cánh.” Lại đối với Viên Giác không giữ lấy Giác, trừ hết mọi tướng Ta, Người… Phát tâm như thế thời không đọa vào tà kiến.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Phổ Giác ông nên biết
Chúng sinh đời mạt pháp
Muốn cầu thiện tri thức
Cần phải cầu Chính Kiến,
Tâm lìa xa Hai Thừa.
Trừ bốn bệnh nơi Pháp
Là “làm, ngưng, mặc, diệt”.
Gần gũi không kiêu mạn
Xa lìa không buồn hận,
Thấy đủ mọi cảnh giới
Tâm phải sinh hiếm có
Y như Phật ra đời.
Không phạm phi luật nghi
Căn giới luôn thanh tịnh
Độ tất cả chúng sinh
Cứu cánh vào Viên Giác,
Không tướng Ta, Người kia
Phải y chính trí huệ
Liền được siêu tà kiến
Chứng đắc nhập Niết Bàn.

*****

Chương Viên Giác thứ 11

Nhân đó, Bồ Tát Viên Giác ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi, vì các chúng con mà tường tận giảng nói về đủ cách phương tiện thuộc về Tịnh Giác, khiến cho chúng sinh đời mạt pháp có được thêm ích lợi to tát.

Thế Tôn, chúng con ngày nay đã được khai mở tỏ ngộ. Nếu sau khi Phật diệt rồi, chúng sinh đời mạt pháp chưa được tỏ ngộ, thì làm sao an cư để tu cảnh giới thanh tịnh của Viên Giác này? Ba loại tịnh quán trong Viên Giác này, loại nào là [tu] trước tiên hết? Những mong Đại Bi vì chư đại chúng cùng chúng sinh đời mạt pháp mà thí cho các ích lợi lớn lao ấy.

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Viên Giác rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể thưa hỏi Như Lai về các phương tiện như vậy, đem lợi ích lớn lao mà thí cho chúng sinh. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.

Thời Bồ Tát Viên Giác vâng lời hân hoan, cùng đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, tất cả các chúng sinh hoặc vào khi Phật còn tại thế, hoặc vào khi Phật đã diệt rồi, hoặc vào khi Pháp mạt, có các chúng sinh có đủ tính chất Đại Thừa, tin vào Tâm đại Viên Giác bí mật của Phật, muốn tu hành [theo đó]. Hoặc khi tại già lam xắp xếp đồ chúng [đâu đó rồi], mà nếu do có duyên sự gì, thì cứ tùy theo tình huống mà suy xét [tu tập] như ta đã nói.

Nếu lại không có bất cứ nhân duyên việc gì khác, thì hãy dựng đạo tràng, lập hạn kỳ. Nếu lập hạn dài là 120 ngày, hạn vừa phải là 100 ngày và hạn ngắn là 80 ngày, mà thu xếp ở yên.

Nếu Phật còn ở đời thì phải chân chính tư duy. Nếu sau khi Phật diệt thì phải xắp đặt hình tượng, tâm chăm chú mắt quán tưởng, sinh tâm nhớ tưởng chân chính, y như là lúc Như Lai vẫn còn có mặt. Lại treo các cờ và hoa, trải qua 21 ngày đầu lậy Danh Hiệu của mười phương chư Phật, cầu khẩn sám hối. Thấy được cảnh giới thiện thì tâm được nhẹ nhàng an lạc (khinh an). Qua khỏi 21 ngày đó rồi, thì một lòng tóm giữ lại các tưởng nhớ (nhiếp niệm) [của mình].

[Lúc ấy] nếu trải qua đầu hạ, vừa lúc ba tháng an cư, thì phải theo hành Bồ Tát thanh tịnh mà ở yên một chỗ (đương vi thanh tịnh Bồ Tát chỉ trụ), tâm lìa Thanh Văn [Đạo], không nhờ cậy đến đồ chúng. Đến ngày an cư, đến trước nơi Phật mà nói như sau: “Con Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tên… trú nơi Bồ Tát Thừa, tu hành tịch diệt, đồng nhập vào thật tướng thanh tịnh mà trụ vững ở đấy (trụ trì). Con lấy đại Viên Giác làm già lam của con, thân và tâm an cư nơi Bình Đẳng Tính Trí, do tự tính của Niết Bàn không có hệ thuộc [nơi đâu hết]. Nay con kính thỉnh, không y theo Thanh Văn, mà sẽ cùng mười phương Như Lai cùng đại Bồ Tát an cư ba tháng, do để tu đại nhân duyên diệu Giác tối thượng không gì hơn của Bồ Tát nên không dính líu với đồ chúng. Thiện nam tử, như thế gọi là Bồ Tát hiện bày ra an cư (thị hiện an cư). Qua khỏi ngày của ba hạn kỳ trên rồi, thì tùy ý đi lại không có gì ngại.

Thiện nam tử, nếu các chúng sinh tu hành vào đời mạt pháp mà cầu Bồ Tát Đạo nên “vào” ba hạn kỳ trên. [trong hạn kỳ tu tập ấy] tất cả các cảnh giới mà không phải là những gì mình đã được nghe [nơi Pháp Phật], thì làm sao cũng không được giữ lấy (chung bất đắc thủ).

(1) Thiện nam tử, nếu các chúng sinh tu Sam Ma Tha, trước hết giữ lấy chỗ tĩnh lặng cùng cực, không khởi suy nghĩ nhớ tưởng gì hết. Tĩnh lặng cùng cực thì sẽ Giác (tĩnh cực tiện giác). Cái tĩnh lặng đầu tiên như thế [trải ra] từ một thân cho đến một thế giới, thì Giác cũng như vậy.

Thiện nam tử, nếu Giác biến khắp trọn một thế giới, thì trong một thế giới ấy có một chúng sinh khởi lên một niệm, [người giác] đều biết rõ hết. Trăm ngàn thế giới cũng y như vậy. Tất cả các cảnh giới mà không phải những gì đã được nghe [trên đây], thì làm sao cũng không được giữ lấy.

(2) Thiện nam tử, nếu các chúng sinh tu Tam Ma Bát Đề, trước tiên phải nhớ tưởng đến mười phương Như Lai và tất cả Bồ Tát trong mười phương thế giới, rồi y theo đủ loại pháp môn, tuần tự từ từ tu hành Tam muội cần khổ. Lại phát đại nguyện rộng lớn mà tự huân tập thành chủng tử. Tất cả các cảnh giới nào mà không phải là những điều đã được nghe [trên đây], thì làm sao cũng không được giữ lấy.

(3) Thiện nam tử, nếu các chúng sinh tu tập Thiền Na, thì trước hết chọn lấy pháp môn “đếm” (sổ môn). Trong tâm rõ biết các niệm sinh, trụ và diệt, phân định số mục đâu đó. Cứ thế biến khắp trọn trong bốn cử động của thân (tứ oai nghi) đều phân biệt nhớ rõ các con số, không gì không rõ biết (liễu tri). Dần dần tăng tiến, cho đến biết được trăm ngàn thế giới, một giọt nước mưa, cũng y như thấy ngay trước mắt các vật mình sử dụng. Tất cả các cảnh giới nào mà không phải là những điều đã được nghe [trên đây], thì làm sao cũng không được giữ lấy.

Như thế thời gọi là phương tiện đầu tiên hết của ba Quán.

(4) Nếu các chúng sinh tu đủ cả ba loại, chuyên cần thực hành tinh tiến, thì chính là Như Lai xuất hiện ở đời.

Nếu chúng sinh độn căn đời mạt pháp sau này mà tâm muốn cầu Đạo song không được thành tựu, thì đó là do nghiệp chướng xa xưa, cần phải sám hối, thường khởi hy vọng [đừng thối tâm]. Lại trước tiên phải đoạn trừ thương, ghét, tật đố, xảo trá, và cầu tâm vươn lên cao hơn nữa (thắng thượng tâm). Đối với ba loại Tịnh quán này, cứ tùy theo mà học lấy một loại. Nếu Quán này không được, thì lại tập Quán kia, tâm đừng buông bỏ, tuần tự từ từ mà cầu chứng.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên nói lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Viên Giác ông nên biết
Tất cả các chúng sinh
Muốn cầu vô thượng Đạo
Trước phải hạn ba kỳ,
Sám hối nghiệp vô thủy
Trải qua hăm mốt ngày
Sau đó chính tư duy
Không phải cảnh được nghe
Rốt cuộc không nắm giữ :
Sam Ma Tha cực tĩnh,
Tam Ma chính nhớ giữ (chính ức trì)
Thiền Na rõ môn đếm (minh sổ môn)
Gọi là ba Tịnh quán.
Nếu chuyên cần tu tập
Gọi là Phật ra đời.
Độn căn chưa thành tựu
Thường phải chăm tâm sám
Vô thủy tất cả tội,
Các chướng nếu tiêu trừ
Phật cảnh sẽ hiện tiền.

*****
Chương Hiền Thiện Thủ thứ 12

Nhân đó, Bồ Tát Hiền Thiện Thủ ở giữa đại chúng đứng giậy khỏi tòa, đỉnh đầu lậy dưới chân Phật, rồi theo phía bên phải của Phật mà đi quanh ngài ba vòng, sau đó quỳ xuống chắp tay bạch Phật rằng:

– Thế Tôn đại bi, vì các chúng con và chúng sinh đời mạt pháp mà khai mở cho tỏ ngộ sự việc không thể nghĩ lường nổi như vậy. Thế Tôn, giáo pháp Đại Thừa này tên gọi là những gì? Làm sao để tuân hành trì giữ? Chúng sinh tu tập được công đức gì? Làm sao cho chúng con bảo hộ được người trì Kinh ? Và lưu truyền Kinh này đến Địa nào?

Nói như thế rồi, toàn thân với cả năm phần cơ thể đều gieo xuống đất lễ lậy, ba lần thưa thỉnh, cứ thỉnh xong xuôi thì lại thỉnh lại từ đầu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ Tát Hiền Thiện Thủ rằng:

– Khéo thay, khéo thay! Thiện nam tử, các ông mới có thể vì chư Bồ tát và chúng sinh đời mạt pháp mà thưa hỏi Như Lai về danh tự và công đức của Kinh giáo như thế. Nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói.
Thời Bồ Tát Hiền Thiện Thủ vâng lời hân hoan, cùng chư đại chúng im lặng lắng nghe:

– Thiện nam tử, Kinh này là do trăm ngàn vạn ức hằng hà sa chư Phật tuyên nói, và được ba đời chư Như Lai giữ gìn bảo hộ, là nơi quay về của mười phương chư Bồ Tát, là con mắt trong sạch của mười hai bộ Kinh. Kinh này có tên là Đại Phương Quảng Viên Giác Đà La Ni, cũng còn có tên là Tu Đa La Liễu Nghĩa, cùng còn có tên là Bí Mật Vương Tam Muội, cũng còn có tên là Như Lai Quyết Định Cảnh Giới, cũng còn có tên là Như Lai Tạng Tự Tính Sai Biệt, ông hãy theo đó mà tuân thủ giữ gìn.

Thiện nam tử, Kinh này duy chỉ hiển ra cảnh giới của Như Lai, duy chỉ có Phật Như Lai mới có thể tuyên thuyết tận cùng hết được. Nếu chứ Bồ Tát và chúng sinh đời mạt pháp y theo đó mà tu hành, tuần tự từ từ tăng tiến, thời đến tận Phật Địa.

Thiện nam tử, Kinh này gọi là Giáo Lý “trực tiếp và lập tức” của Đại Thừa (Đốn Giáo Đại Thừa). Chúng sinh có khả năng tính “trực tiếp lập tức” (đốn cơ) do Kinh này mà được khai mở tỏ ngộ, [song Kinh này] cũng gồm luôn tất cả mọi phẩm chất tu tập từ từ (tiệm tu). Ví như biển cả [tuy] không “nhường” dòng nhỏ, [song] cho đến muỗi ruồi cùng A tu la mà uống nước ấy, thì đều được thỏa đủ.

Thiện nam tử, giả như có người đem toàn bẩy báu chất đầy thế giới đại thiên ba ngàn để mà bố thí, thì [công đức] cũng không bằng được có người nghe được tên của Kinh này hay chỉ một câu ý nghĩa [trong Kinh] thôi.

Thiện nam tử, giả như có người giáo hóa con số chúng sinh nhiều đến trăm lần số cát sông Hằng đều đắc quả A La Hán, [công đức] cũng không bằng có người tuyên nói lên Kinh này hay chỉ phân giải chừng nửa câu kệ [trong Kinh].

Thiện nam tử, nếu lại có người khi nghe được tên của Kinh này mà tâm tin ngay không hề nghi hoặc, phải biết người ấy không phải chỉ gieo trồng phúc và huệ ở nơi một vị Phật hay hai vị Phật, mà đã gieo trồng các gốc thiện và nghe được Kinh giáo này đối với cho đến tận hết tất cả chư Phật nhiều như số cát sông Hằng như vậy.

Thiện nam tử, cần phải bảo hộ cho người tu hành trong đời mạt pháp, đừng để cho ác ma cùng với ngoại đạo làm não loạn thân và tâm của họ, khiến sinh thối thất hàng phục.

Bấy giờ trong hội có các thần Kim Cương như Hỏa Thủ Kim Cương, Tồi Toái Kim Cương, Ni Lam Bà Kim Cương… đến tám mươi ngàn vị, cùng với các quyến thuộc, lập tức đứng giậy khỏi tòa, đầu lễ dưới chân Phật, đi quanh Phật ba vòng theo phía phải của Ngài, mà bạch cùng Phật rằng:

– Thế Tôn, Nếu vào đời mạt pháp sau này, tất cả chúng sinh nào mà có thể trì giữ được pháp Đại Thừa quyết định này, chúng con sẽ hộ vệ che chở cho như hộ giữ chính mắt mình vậy; cho đến đạo tràng, chỗ tu hành của người ấy, Kim Cương chúng con sẽ tự mình hướng dẫn đồ chúng ngày đêm hộ vệ giữ gìn người ấy, khiến họ không bị thối chuyển. Cho đến nhà cửa của họ sẽ không bao giờ có tai nạn, rủi ro;, tật bệnh đều tiêu sạch; của báu sung túc, không bao giờ thiếu sót.

Bấy giờ, các vua trời như vua trời Đại Phạm, hai mươi tám vua trời, cùng vua núi Tu Di và các vua trời hộ vệ đất nước (Hộ Quốc Thiên Vương)… liền đứng giậy khỏi tòa, đầu lậy dưới chân Phật, đi quanh Phật ba vòng theo phía bên phải của Ngài, mà bạch cùng Phật rằng:

– Thế Tôn, Chúng con cũng sẽ bảo vệ che chở cho người trì Kinh này, luôn làm cho họ an ổn, tâm không thối chuyển.

Bấy giờ, có vua quỷ có năng lực rất lớn (đại lực quỷ vương) tên là Cát Bàn Trà cùng với trăm ngàn vua quỷ liền đứng giậy khỏi tòa, đầu lậy dưới chân Phật, đi quanh Phật ba vòng theo phía bên phải của Ngài, mà bạch cùng Phật rằng:

– Chúng con cũng sẽ bảo vệ che chở cho người trì Kinh này, sớm hôm hầu hạ hộ vệ, khiến họ không thối thất khuất phục. Người ấy ở chỗ nào, thì trong vòng một do tuần quanh đó mà có thần quỷ nào xâm phạm vào lãnh vực ấy, chúng con sẽ cho hắn vỡ nát ra như bụi trần.

Phật nói Kinh này rồi, tất cả các Bồ Tát, trời rồng, quỷ thần, tám bộ, quyến thuộc, cùng các vua trời, vua Phạm v.v… tất cả đại chúng nghe những gì Phật nói đều hết sức vui mừng, tin tưởng thọ nhận tuân theo thực hành.

3000 Tổng số lượt xem 2 lượt xem ngày hôm nay